1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa chăm và vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của người chăm ninh thuận

115 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa Chăm Và Vấn Đề Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Văn Hóa Của Người Chăm Ninh Thuận
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Ngọc Thạch
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 809,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là những ngôi tháp Chàm, thành quách, tượng Kut với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc bởi nhiều phong cách, sắc thái khác nhau, mang đậm nét dân tộc và nhân chủng người Chăm, đó là nhữn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2005

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

·¸

LÊ THỌ

VĂN HOÁ CHĂM VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Nguời hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH NGỌC THẠCH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2005

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Nếu có sự gian dối, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

NGƯỜI THỰC HIỆN

LÊ THỌ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA

1.1 Khái quát về lịch sử dân tộc Chăm và người Chăm ở Ninh Thuận 7

1.1.1.Khái quát lịch sử dân tộc Chăm7

1.1.2.Khái quát về người Chăm ở Ninh Thuận 12

1.2 Các dạng thức văn hoá của người Chăm Ninh Thuận 21

1.2.1 Các sinh hoạt tín ngưỡng - lễ hội và tôn giáo 21

1.2.2 Kiến trúc, điêu khắc và ngành nghề truyền thống,

1.2.3 Văn hoá giao tiếp của người Chăm trong hình thái

1.3 Những đặc điểm của văn hoá Chăm dưới góc độ triết học văn hoá 50

1.3.2 Tính hỗn dung và giàu yếu tố tâm linh trong văn hoá Chăm 54

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN 60

2.1 Một số thách thức đối với việc bảo tồn văn hoá Chăm 60

2.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của người

2.2.1 Những luận điểm nền tảng, xuất phát 77

2.2.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân tộc Chăm là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có nền văn hoá truyền thống lâu đời Theo thư tịch cổ, dân tộc Chăm thuộc vương quốc Champa xưa có tên gọi là Tượng Lâm, nằm ở phía Nam đất Giao Chỉ, tức vùng đất từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay Vùng đất này bị các vương triều phong kiến Trung Hoa chiếm đóng và đô hộ từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên Cư dân các bộ lạc Chăm cổ không chịu khuất phục, đã liên kết nhau cùng đấu tranh, lật đổ nền thống trị ấy, lập nên nhà nước Lâm Ấp vào năm 192, là tiền thân của nhà nước Champa sau này Trong suốt nhiều thế kỷ tồn tại, trải qua nhiều biến động trong lịch sử đấu tranh với các quốc gia lân bang thời Phong kiến, đồng thời, quá trình phát triển và giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá khác - đặc biệt là văn hoá, văn minh Ấn Độ, Malaysia, Java… nền văn hoá của dân tộc Chăm được hình thành và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Đó là những ngôi tháp Chàm, thành quách, tượng Kut với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc bởi nhiều phong cách, sắc thái khác nhau, mang đậm nét dân tộc và nhân chủng người Chăm, đó là những lễ hội cùng các lễ nghi tôn giáo khác biệt, không giống với các hệ thống tôn giáo thế giới, là những vũ điệu con công, múa quạt, đội nước, những bài dân ca trữ tình, mộc mạc, là những nét khác biệt trong hàng loạt các phong tục tập quán lâu đời được duy trì, tiếp nối qua nhiều thế hệ người Chăm, một bộ phận cư dân của vương quốc Champa… tạo nên những nét độc đáo trong đời sống văn hoá của người Chăm trong hiện tại Ngày nay, những yếu tố văn hoá độc đáo ấy chính là bộ phận hữu cơ của cộng đồng văn hoá các dân tộc thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nó góp phần khẳng định sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá Việt

Trang 6

Nam

Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, người Chăm đã sát cánh cùng các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đấu tranh chống các thế lực xâm lược, giành lại nền độc lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của tổ quốc Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, cùng với các dân tộc anh em, người Chăm trên cả nước nói chung, ở Ninh Thuận nói riêng, cũng đang cùng hướng tới mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong bối cảnh phức tạp của đời sống xã hội hiện đại, tất cả các quốc gia, dân tộc phải đối mặt với những vấn đề của thời đại có tầm quan trọng to lớn, bởi toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, tuy nhiên, toàn cầu hoá lại là vấn đề có tính hai mặt: một mặt, nó mở ra những triển vọng, tiềm năng to lớn, mở rộng không gian giao tiếp kinh tế, văn hoá, chính trị, tạo cơ hội phát triển cho các quốc gia trên bước đường hội nhập, mặt khác, toàn cầu hoá cũng chính là những thách thức, cản ngại cho các quốc gia, dân tộc trên con đường phát triển, đó là sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế, là tác nhân làm bào mòn và phá vỡ những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hoá các dân tộc

Điều đó cho thấy trong tình hình hiện nay, nền văn hoá các dân tộc trên đất nước Việt Nam nói chung, văn hoá dân tộc Chăm nói riêng đang đối mặt với những thách thức to lớn Trong điều kiện ấy, việc nghiên cứu tìm hiểu đời sống văn hoá dân tộc Chăm, thực trạng của nó, gợi mở những giải pháp định hướng nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống là điều cần thiết, có tính thời đại, phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước ta trong giai đoạn mới

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về văn hoá Chăm là vấn đề đã được tiến hành từ rất lâu Có thể chia làm hai giai đoạn trước và sau năm 1975

Ở giai đoạn trước 1975, các hoạt động nghiên cứu, khai quật các di chỉ khảo cổ trên những lãnh địa trước kia của các vương triều Champa được tiến hành từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX bởi phần nhiều các học giả, các nhà khảo cổ người Pháp và các nhà nghiên cứu của trường Viễn Đông Bác Cổ Các ngành được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học là ngôn ngữ học, sử học, tôn giáo, kiến trúc, dân tộc học, nghệ thuật Một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như E Aymonier, L Finot, A Cabaton, G Maspéro, H Parmentier, Coral, Remusat, Nguyễn Văn Tố, G Coedes, R Stern, F Crawford, E.M Durant, Nguyễn Đình Hoà… Tuy nhiên, đó chỉ là những nghiên cứu đặt nền móng ban đầu, số lượng công trình không nhiều Giai đoạn từ 1945 đến 1975, ngoài các tác giả người Pháp, người Mỹ, còn có các tác giả người Việt Nam tham gia các hoạt động nghiên cứu văn hoá Champa như Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Luận, Nghiêm Thẩm và một số trí thức, học giả người Chăm tham gia các hoạt động nghiên cứu và cho

ra đời các tác phẩm của mình về văn hoá Chăm là Thiên Sanh Cảnh, Dohamide, Dorohiêm…

Sau năm 1975, với đường lối, chính sách dân tộc và văn hoá đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, các hoạt động nghiên cứu về văn hoá Chăm được đẩy mạnh, thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Nhiều công trình có giá trị khoa học lần lượt ra đời, giải đáp những tiềm ẩn và đáp ứng yêu cầu tìm hiểu những thành quả văn hoá của dân tộc Chăm Có thể nêu ra

một số tác phẩm và bài viết tiêu biểu như: “Tín ngưỡng trong Kút ở người Chăm Thuận Hải”, (Lý Kim Hoa, Tạp chí Dân tộc học, số 4/1977), “Văn hoá Chăm”,(Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Nxb Khoa học xã hội,

Trang 8

Hà Nội, 1991),”Văn học Chăm I”, (Inrasara, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994), “Điêu khắc Chăm”,(Cao Xuân Phổ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998),“Giữ gìn những kiệt tác kiến trúc trong nền văn hoá Chăm”, (Lưu Trần Tiêu, Nxb Văn hoá dân tộc, 2000),“Gia đình và hôn nhân của người Chăm

ở Việt Nam”,(Bá Trung Phụ, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000),“Lễ hội của người Chăm”, (Văn Món, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2003), “Văn hoá xã hội Chăm”,(Inrasara, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003) Trong “Văn hoá Chăm” nhóm tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp bằng

cái nhìn khái quát, khả năng phân tích và tổng hợp đã giới thiệu những nét đặc trưng tiêu biểu của văn hoá Chăm, đồng thời nhấn mạnh yếu tố hỗn dung của văn hoá tâm linh trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và các lễ hội như nền tảng đời sống tinh thần của người Chăm Trong các tác phẩm chuyên khảo về văn học, điêu khắc, kiến trúc, gia đình và hôn nhân của người Chăm, các tác giả đã làm nổi bật bản sắc của dân tộc Chăm trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, khẳng định rằng các giá trị mang tính bản sắc đó cần được bảo tồn và phát huy, trở thành hành trang trong quá trình giới thiệu văn hoá Việt Nam ra thế giới trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá Ngoài các công trình tiêu biểu vừa nêu, còn có khá nhiều bài viết

đi sâu tìm hiểu tính đa dạng của văn hoá Chăm và những thách thức đối với văn hoá Chăm trong điều kiện kinh tế thị trường

Các công trình vừa nêu là nguồn chất liệu phong phú, giúp người viết tìm hiểu bước đầu vấn đề văn hoá Chăm và bảo tồn văn hoá Chăm từ góc độ của triết học văn hoá

Cũng xin được nói thêm rằng chúng tôi nhấn mạnh yếu tố “bảo tồn” trong đề tài nghiên cứu của mình, bởi lẽ, trong “bảo tồn” đã hàm chứa lưu

giữ, kế thừa, làm cơ sở để phát huy các giá trị truyền thống trong điều kiện mới

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Luận văn bước đầu tìm hiểu khái quát những vấn đề hiện tại của văn hoá Chăm, đưa ra những giải pháp định hướng bảo tồn văn hoá Chăm trong điều kiện hiện nay Để đạt mục đích đó, luận văn xác định những nhiệm vụ cụ thể:

- Một là, tìm hiểu khái quát về văn hoá Chăm Ninh Thuận, xác định

vị trí của nó trong nền văn hoá thống nhất của các dân tộc Việt Nam

- Hai là, tìm hiểu thực trạng văn hoá Chăm trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập và toàn cầu hoá cùng với những biểu hiện của nó trong thực tế cuộc sống ở Ninh Thuận

- Trên cơ sở đó, nêu ra những giải pháp định hướng đối với việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Chăm

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận CNDVBC và CNDVLS, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp cụ thể được sử dụng như phương pháp tổng hợp, phân tích, loại suy…

5 Giới hạn đề tài

Luận văn không có tham vọng trình bày sâu rộng và toàn diện các vấn đề và các loại hình văn hoá Chăm, mà chỉ cố gắng trình bày một cách

khái quát một số mặt nổi bật trong đời sống văn hoá hiện tại của người

Chăm Ninh Thuận, đưa ra cách tiếp cận triết học đối với văn hoá Chăm

Mặt khác, luận văn còn xác định thực trạng và đề ra những giải pháp định hướng nhằm góp phần bảo tồn văn hoá Chăm trong thời kỳ đất nước ta đang từng bước hội nhập với thế giới, đời sống văn hoá đang đối mặt với những thách thức và có nguy cơ làm tổn thương những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Trang 10

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết

Trang 11

Chương 1 ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ DÂN TỘC CHĂM VÀ NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN

1.1.1 Khái quát về lịch sử dân tộc Chăm

Dân tộc Chăm là một trong 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, người Chăm luôn sát cánh cùng người Việt và các dân tộc anh em khác chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc Có thể nói, từ khi người Chăm trở thành một bộ phận hữu cơ của đại gia đình dân tộc trên đất nước Việt Nam, mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn với sự đóng góp công sức của các thế hệ người Chăm Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn và thách thức nhất, đồng bào Chăm càng chứng tỏ lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực tự cường, không chỉ bảo vệ tổ quốc, mà còn gìn giữ các giá trị văn hoá thiêng liêng, những giá trị mà thông qua đó chúng ta tự hào khẳng định vị thế của mình trong sự giao lưu với các nền văn hoá khác của nhân loại

Văn hoá Chăm là nền tảng tinh thần của đồng bào Chăm, được hình thành cùng với lịch sử đầy thăng trầm của các tộc người Chăm

Người Chăm sống trên đất Ninh Thuận hiện nay vốn là cư dân của vương quốc cổ Champa có niên đại từ thế kỷ II đến thế kỷ XV Champa là tên một loài hoa đẹp - hoa Đại, hay hoa Sứ - có hương thơm, cánh trắng, nhuỵ vàng Người Chăm thường hay trồng loại hoa này ở những nơi thờ tự, trang trọng, dùng nó như lễ vật quý trong các ngày lễ hội Champa còn là tên của một địa danh ở Ấn Độ thời cổ đại, xuất phát từ những mối quan hệ giao lưu và ảnh hưởng về văn hoá, tôn giáo của các vương triều Champa với

Trang 12

văn hoá, văn minh Ấn Độ mà người Chăm đã đặt tên Champa cho quốc gia của mình Theo truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Chăm, vua sáng lập ra đất nước Champa là một nữ vương, vốn là người nhà trời có tên là Nưgar (hay Thiên y a na) giáng sinh ở núi Đại An Được sự giúp đỡ của thần tiên, bà ẩn mình vào một cây gỗ trầm hương để theo sóng biển đi khắp đó đây Sau bà gặp một người đàn ông rồi họ lấy nhau, sinh được hai người con Sau một thời gian bà lại trở về với người Chăm Thấy dân chúng lầm than khổ sở, bà

ra công đoàn tụ người Chăm ở khắp mọi nơi lại thành vùng và xưng làm vua Từ đó trở đi, người Chăm có các chế độ vua thay nhau lên ngôi [7, 49] Theo những tư liệu lịch sử, vương quốc Champa có hình thức nhà nước liên bang - hình thành từ các bộ lạc cổ, trong đó có các bộ lạc người Chăm, địa bàn lãnh thổ của Champa kéo dài từ Quảng Bình đến tận tỉnh Bình Thuận ngày nay Địa bàn phân bố nói trên phù hợp với những di chỉ khảo cổ và sự phát hiện ra nền văn hoá cổ Sa Huỳnh: “Điều đáng chú ý là vùng đất bản bộ Chăm, như đã được ghi trong các thư tịch, bi ký cổ, hoặc dựa vào các di tích, trùng hợp với địa bàn phân bố của một nền văn hoá cổ đã từng phát triển rực rỡ suốt dãi đất miền Trung Trung Bộ đến miền Đông Nam Bộ, từ thiên niên kỷ IV trước Công nguyên đến đầu Công nguyên Đó là nền văn hoá Sa Huỳnh Các nhà nghiên cứu cho rằng, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh là những người làm ruộng giỏi, lại kết hợp với nghề biển, nghề rừng… Từ lâu lắm rồi, dễ có đến hai ngàn năm trước, ở miền Trung Trung Bộ Việt Nam đã xuất hiện trong lịch sử một tộc người mà nay gọi là người Chăm” [61, 187]

Vương quốc cổ Champa với nhiều tên gọi khác nhau đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sư.û Thời kỳ thứ nhất có tên gọi Lâm Ấp (192 - 749), liên kết giữa nhiều bộ lạc khác nhau hình thành nên một nhà nước thống nhất, trong đó, Lâm Ấp là quốc gia lớn mạnh nhất, đại diện cho vương quốc Thời kỳ

Trang 13

thứ hai, trong các thư tịch cổ Trung Hoa gọi tên là Hoàn Vương (758 - 859), các bộ lạc ở phía nam lớn mạnh (bộ lạc Cau) thống lĩnh vương quốc, đặt kinh đô ở Kauthara (Khánh Hoà) và vùng đất Panduranga (Ninh - Bình Thuận) Thời kỳ thứ ba là thời kỳ Champa hay Chiêm Thành (875 - 1471), với kinh đô Indrapura (875 - 982) và về sau dời đô về Panduranga, là thời kỳ nắm quyền của các bộ lạc phía bắc (bộ lạc Dừa), tên gọi Indrapura là kinh đô Đồng Dương của vương quốc (thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay), đây là giai đoạn lịch sử vương quốc Champa trải qua những biến động to lớn, nhiều cuộc chiến tranh thanh toán đất đai với các quốc gia láng giềng như cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, chiến tranh với Đại Việt, với Java, Khơme, Chân Lạp, Phù Nam… từ đó, dẫn đến sự suy tàn dần của vương quốc Năm 1471, Champa chấm dứt sự tồn tại với tư cách một quốc gia độc lập, trở thành chư hầu của Đại Việt, sau đó lại tiếp tục suy yếu và chấm dứt sự tồn tại với tư cách một nước chư hầu vào năm 1832 [12, 134] Từ chỗ là một quốc gia độc lập, rất mạnh về quân sự, ngoại thương… nhưng lại bị suy yếu dần và cuối cùng là sụp đổ, tiêu vong, vương quốc cổ Champa đã để lại cho người đời sau nhiều vấn đề cần nghiên cứu và lời giải đáp về những nguyên nhân đã dẫn đến sự sụp đổ ấy Nhà khoa học Phạm Đức Dương cho rằng: “Mặc dù Nhà nước cổ đại Champa đã trở thành quốc gia vững mạnh và có nền văn hoá nổi tiếng thế giới, nhưng cũng bộc lộ những nhược điểm dẫn đến sự tiêu vong Đó là tình trạng mất ổn định về chính trị Trong nội bộ vương quốc đó thì các triều đình thôn tính lẫn nhau, tranh giành quyền lực, các vương triều luôn bị thay thế, bị hãm hại, bị chia cắt bởi các lực lượng địa phương và không thể tạo dựng một quốc gia thống nhất bền vững”[18, 03]

Sự vận động lịch sử lâu dài và nhiều biến động đã làm thay đổi nhiều vương triều và sự dời chuyển kinh đô nhiều lần, do vậy, để lánh nạn, tránh sự đàn áp, tàn sát của các thế lực cai trị, các cuộc bạo loạn, những cuộc

Trang 14

chiến tranh với các quốc gia láng giềng như Java, Kampuchia, Đại Việt cư dân Chăm đã có nhiều đợt thiên cư, phân tán khắp nơi, vượt Trường Sơn lên Tây Nguyên, sang Kampuchia và nhiều nước khác như Thái Lan, Malaysia, Indonesia… Riêng ở Việt Nam, cư dân Chăm tụ cư chủ yếu từ Bình Định - Phú Yên cho đến các tỉnh Nam Trung Bộ, một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và ở An Giang

Với tính cách là cộng đồng trong địa phương nhiều cộng đồng dân tộc như Ninh Thuận, sự tồn tại và phát triển của người Chăm gặp nhiều thuận lợi, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Về thuận lợi, nhờ giao lưu và học hỏi với các dân tộc khác trên địa bàn tỉnh, người Chăm đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong tổ chức đời sống xã hội, hoạt động kinh tế và thương mại, hạn chế những thói quen lạc hậu và điều chỉnh các chuẩn mực phù hợp với điều kiện phát triển chung Với tinh thần

“học hỏi, tiếp thu cái mới nhưng không đánh mất bản sắc”, người Chăm Ninh

Thuận từ bao đời nay đã sát cánh cùng các dân tộc khác trên địa bàn tỉnh phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi tập quán canh tác, từng bước tiếp cận với thành quả mới trong khoa học và công nghệ, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, lành mạnh hoá môi trường xã hội - nhân văn, từ đó, phát huy thế mạnh vốn có của mình, hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quá trình giao tiếp ấy giúp người Chăm có điều kiện giới thiệu những thành quả văn hoá của mình, không chỉ với các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam mà còn với cộng đồng quốc tế

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào người Chăm và các dân tộc nói chung luôn luôn là nhân tố tích cực, tạo nên niềm tin và sự phấn khởi trong nhân dân, kích thích tinh thần sáng tạo văn hoá

của tộc người Chăm Có thể nói, chính sách dân tộc “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” đã trở thành cơ sở vững chắc để tập hợp các dân tộc Việt Nam,

Trang 15

trong đó có đồng bào Chăm Ninh Thuận chung sức, chung lòng xây dựng

một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Bên cạnh đó, trong sự phát triển của mình, đồng bào Chăm đang

đứng trước những thử thách và khó khăn, trong đó có những vấn đề liên quan đến phong tục, tập quán, lối sống, trình độ dân trí của người Chăm, có những vấn đề thuộc về cơ chế, chính sách và sự tác động từ bên ngoài Về phong tục, tập quán và lối sống, do những đặc thù của lịch sử để lại mà một bộ phận người Chăm vẫn duy trì các phong tục tập quán lạc hậu, với lối

sống khép kín, tách biệt, không vượt qua khuôn khổ của “Phương thức sản xuất Châu Á” Trong bộ “Tư bản”, C Mác xem “Phương thức sản xuất Châu Á” là lối tổ chức đời sống và các quan hệ xã hội theo phương thức công xã

nông thôn, chậm tiếp thu cái mới Chính điều này đã cản trở quá trình hội nhập tích cực với các cộng đồng khác Trong điều kiện hiện nay, nếu duy trì quá lâu tình trạng này sẽ kìm hãm sự phát triển của chính người Chăm {49, 125] Hơn nữa, vì lý do kinh tế và thói quen ý thức, một số vùng đồng bào Chăm không có điều kiện nâng cao trình độ học vấn cộng đồng, kết quả là trình độ dân trí nói chung chưa đạt đến mặt bằng chung Cuối cùng, không thể không nói đến sự xuyên tạc phá hoại của các phần tử xấu, gây ảnh hưởng không tốt đến tâm lý người dân, tạo nên sự xáo trộn trong đời sống, gây chia rẽ nội bộ và sự mất lòng tin vào Đảng và Chính quyền địa phương

Nêu ra những thuận lợi và thách thức ấy để thấy rằng trong chiến lược phát triển chung của đất nước, việc quan tâm đến đồng bào các dân tộc, trong đó có đồng bào Chăm tại Ninh Thuận, xây dựng các chính sách hợp lý về phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là nhu

cầu khách quan, tất yếu, cấp bách và lâu dài

1.1.2 Khái quát về người Chăm ở Ninh Thuận

Trên đất nước Việt Nam hiện nay, có nhiều nhóm người Chăm sinh

Trang 16

sống ở các địa bàn cư trú khác nhau Theo số liệu thống kê điều tra dân số toàn quốc ngày 01, tháng 4, năm 1999, dân số Chăm ở Việt Nam có 152.312 người, phân bổ trong 11 tỉnh của miền Trung và miền Nam Việt Nam Do những đặc điểm về địa bàn cư trú, đời sống văn hoá vật chất, tinh thần, ngôn ngữ, phong tục tập quán… có thể tạm chia ra các nhóm người Chăm như sau:

Nhóm thứ nhất, có những sinh hoạt, phong tục tập quán khá gần gũi với các tộc người ở Tây Nguyên, sinh hoạt tôn giáo của họ chủ yếu là thờ phụng tổ tiên và các hình thức tín ngưỡng dân gian, là nhóm Chăm Hơroi ở địa bàn các tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà

Nhóm thứ hai, có đặc điểm chung về tôn giáo, chủ yếu là theo tín

ngưỡng của các đạo Bàlamôn, đạo Bàni ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận

Nhóm thứ ba, có đặc điểm chung là những cộng đồng Chăm theo tôn

giáo Islam, bao gồm người Chăm Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và An Giang

Tỉnh Ninh Thuận nằm ở cực Nam Trung Bộ, vị trí địa lý từ 11 độ 18’14” đến 12 độ 09’05” độ vĩ Bắc và từ 108 độ 09’08” đến 109 độ 14’25” độ kinh Đông Phía bắc giáp tỉnh Khánh Hoà, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp tỉnh Lâm Đồng, phía đông giáp biển Đông Là một tỉnh nằm ở vị trí trung điểm giao thông dọc theo quốc lộ 1A, tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam và quốc lộ 27 lên Tây Nguyên Diện tích tự nhiên 3.360,06 km2 Dân số của Ninh Thuận, theo điều tra ngày 01 tháng 4 năm

1999 là 505.327 người, có 27 dân tộc anh em đang sinh sống, người Kinh có 394.018 người (78%), người có Chăm 58.770 người (11,6%), người Raglai có 45.137 người (8,93%), các dân tộc khác có 7.402 người chiếm 1,47% gồm có người K’ho, Chu Ru, Hoa, Mường, Tày, Nùng…[9, 23]

Theo thống kê mới nhất của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Thuận

Trang 17

(tháng 7/ 2005), hiện có trên 62.000 người Chăm sinh sống tại Ninh Thuận Như vậy, Ninh Thuận là tỉnh có người Chăm sinh sống nhiều nhất so với các tỉnh, thành phố khác ở Việt Nam có người Chăm sinh sống (chiếm tỷ lệ 59,36% dân số Chăm toàn quốc)

Người Chăm thuộc chủng tộc Nam Á, tiếng nói thuộc ngữ hệ Mã Lai -

Đa Đảo (Malayo - Polinesien) Họ dựa vào chữ Phạn (Sanskrit) để sáng tạo nên một loại chữ riêng của dân tộc họ gọi là Akhar thrah Chữ Chăm tương tự như chữ Kampuchia và chữ Mã Lai, chúng đều có liên quan đến gốc miền Nam Ấn Độ Chữ Chăm cũng là một loại văn tự cổ nhất Viễn Đông có nguồn gốc chữ Phạn [60, 48] “Khoảng cuối thế kỷ IV, chữ Chăm cổ xuất hiện trong minh văn Đông Yên Châu, sau hơn một thế kỷ người Chăm dùng Sanskrit để ghi Thế kỷ XI phổ biến là chữ Chăm cổ nét cong Đến thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV, chữ Chăm cổ nét vuông được dùng phổ biến hơn trong hệ thống bi ký Chăm”[29, 94]

Về phân bố dân cư, người Chăm ở Ninh Thuận sống tập trung theo đơn vị palay (làng), có tất cả 22 palay người Chăm ở 4 huyện thị, trong đó, có 1 palay ở huyện Ninh Sơn, 1 palay ở thị xã Phan Rang - Tháp Chàm, 3 palay thuộc huyện Ninh Hải và huyện Ninh Phước có 17 palay

Người Chăm theo các tôn giáo được du nhập từ các quốc gia như Ấn Độ, Ả Rập Xê Út, Java (Indonesia), Malaysia… nhưng đã được cải biến theo phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian của người Chăm, là đạo Bàlamôn (15 palay - 34.637 người), Bàni (7 palay - 21.798 người) và Islam chính thống được tách ra từ một bộ phận của các palay theo đạo Bàni (3 palay - 1.735 người) đó là Văn Lâm, Phước Nhơn, An Nhơn

Về đời sống kinh tế, người Chăm sinh sống chủ yếu bằng hoạt động

sản xuất nông nghiệp, có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng lúa nước và những thành tựu thuở xưa vẫn còn phát huy tác dụng đối với nền sản xuất

Trang 18

nông nghiệp của địa phương, đó là trình độ làm thuỷ lợi rất giỏi, thể hiện ở một hệ thống mương, suối và các đập nước Nha Trinh, Lâm Cấm, Ma Rên:

“… người Chăm đã biết áp dụng thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp Hiện nay, ở Ninh - Bình Thuận đã tồn tại nhiều công trình thuỷ lợi luôn được người dân tu sửa và sử dụng dẫn nước về đồng như công trình của vua Pô Yang In, Pô Klong Girai, Pô Rômêâ… Người dân nông nghiệp Chăm đã biết xem thời tiết, tính nông lịch làm điểm để canh tác, trồng trọt đã có nhiều tiến bộ ngang tầm với các dân tộc chuyên về nông nghiệp trong vùng Đông Nam Á” [49, 5-6] Ngoài sản xuất lúa, họ còn trồng nhiều loại cây hoa màu và các loại cây công nghiệp khác như đậu, bắp, khoai, mía, ớt, cà, bông vải, hành, cây thuốc nam… Thời gian gần đây, nhiều hộ gia đình trồng nho đem lại lợi ích kinh tế khá cao Các nghề khác là nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm như bò, dê, cừu, vịt, gà ở qui mô vừa và nhỏ, các nghề thủ công như dệt vải thổ cẩm, nung gốm, một số hành nghề buôn bán mở các tiệm, cửa hàng dọc theo đường quốc lộ, bán thuốc nam ở các tỉnh xa… Một số ngành nghề rất phát triển và nổi tiếng thời vương quốc Champa cổ như nghề thủ công mỹ nghệ, chế tác các vật dụng bằng vàng bạc, nữ trang, nghề đi biển đánh bắt cá… hầu như không còn nữa, chỉ còn trong các bài hát dân ca, trong các sản vật khai thác từ biển của thời xưa cũ còn lưu giữ được, hoặc một số tục lệ như nghi thức ăn cá biển, cúng cá đuối trong các buổi cúng lễ, mặc dầu có hai palay sống gần biển là Tuấn Tú ở huyện Ninh Phước và palay Bỉnh Nghĩa ở huyện Ninh Hải nhưng họ chỉ sống thuần về nghề nông, không có các hoạt động đánh bắt cá, tôm hay khai thác sản vật từ biển cả, hay ngành ngoại thương, ngày xưa vốn là một ngành rất mạnh, nay cũng chỉ còn trong ký ức: “Vào thế kỷ XIV, Champa đã có những thương thuyền lớn, vượt biển mang hàng hoá đến các cảng Nam Trung Hoa, và một số nơi ở Đông Nam Á như Java, Malacca, Chao, Pray… chắc chắn trong các thế kỷ

Trang 19

XIV - XV, các hoạt động tiêu biểu của người Chăm, trong đó có ngoại thương chiếm ưu thế, đã đem lại những lợi nhuận lớn cho vương quốc Champa xa xưa” [02, 689]

Về chính trị, trong lịch sử người Việt và người Chăm đã từng sát cánh bên nhau, đoàn kết chống giặc ngoại xâm từ những thế kỷ trước như cuộc đấu tranh chống quân xâm lược nhà Hán những năm đầu Công nguyên, cuộc chiến đấu đánh đuổi quân Java vào thế kỷ thứ VIII, chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII: “Tháng 12 năm 1282 quân Mông - Nguyên xâm lược Champa, nhân dân Champa anh dũng kháng chiến và phối hợp với cuộc kháng chiến của Đại Việt Cuộc kháng chiến thắng lợi của Đại Việt vào năm 1285 đã góp phần giải phóng hoàn toàn Champa” [70, 86] Cùng sát cánh bên nhau dưới ngọn cờ khởi nghĩa của phong trào Tây Sơn chống lại tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn vào cuối thế kỷ XVIII Đến khi vương triều cuối cùng của Champa tan rã, dân tộc Chăm trở thành bộ phận của đại gia đình các dân tộc Việt Nam [66, 15]

Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đi theo ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Chăm đã từng kề vai sát cánh với các dân tộc anh em để đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại nền độc lập, thống nhất cho đất nước: “Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bọn địch luôn đàn áp và chia rẽ đồng bào Chăm, nhưng họ vẫn đoàn kết và dũng cảm chiến đấu Lúc đó dân Chăm vang lên tiếng hát giết giặc, nhất là trong các đội tự vệ, dân quân Chăm Họ thường hát rằng: “Bay ai tray loi pok phao nao chuôn Tây” đại ý: “Hỡi anh

em hãy cầm gậy, cầm súng đi đánh Tây” Bằng vũ khí thô sơ các đội du kích dân quân Việt - Chăm đã lập nhiều chiến công… Trong thời Mỹ - Nguỵ đồng bào Chăm vẫn phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết với các dân tộc anh em chống khủng bố, đàn áp, lừa phỉnh, mua chuộc của bọn Mỹ -

Trang 20

Nguỵ Họ tích cực tham gia các cuộc biểu tình, tham gia các đội du kích để bảo vệ cách mạng Có nhiều người đã bị bắt, bị tù đày, bị đánh đập dã man Họ vẫn giữ vững tinh thần đấu tranh cách mạng, như các đồng chí Bố Xuân Long, Nguyễn Thị Quán, Bố Xuân Đồng (Bình Thuận)[07, 52] Ở Ninh Thuận, nhiều cơ sở cách mạng hình thành và phát triển trong các thôn xóm người Chăm như thôn Hậu Sanh (xã Phước Hữu), Như Bình (xã Phước Thái), Vĩnh Thuận (thị trấn Phước Dân) Nhiều gương sáng tiêu biểu: anh hùng liệt

sĩ Đổng Dậu, liệt sĩ Phú Như Lập, Tài Đại Thông, Từ Hậu, Lưu Đặng và nhiều tên tuổi khác [66, 15]

Người Chăm Ninh Thuận sinh sống trên một vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên rất đặc biệt, là một vùng đồng bằng cuối duyên hải Trung Bộ Đó là vùng đồng bằng nhỏ hẹp, ba mặt bắc, tây, nam được bao bọc bởi núi non trùng điệp, chỉ có phía đông giáp với biển Đông Đời sống kinh tế của người Chăm chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi địa hình của vùng đất mà họ sinh sống, đó là kinh tế Núi rừng - Biển - Đồng bằng Những điều kiện thiên nhiên có phần ưu đãi từ sản vật phong phú của núi rừng, biển cả và hệ thống sông suối ấy, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp của người dân Mặt khác, Ninh Thuận có cấu tạo địa hình rất đặc biệt, đồng thời, khí hậu nơi đây cũng vô cùng khắc nghiệt, làm cho người dân hứng chịu nhiều khó khăn, vất vả Địa hình của Ninh Thuận là vùng đất lòng chảo, bị núi non bao bọc nên chịu ảnh hưởng của nắng và gió rất nặng nề Khí hậu chia làm hai mùa mưa và nắng rất rõ, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, lượng mưa ít, thấp nhất của cả nước, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau, do vậy, tình trạng khô hạn thường xuyên xảy ra làm thiếu thốn lượng nước canh tác, ngược lại, khi có mưa thì mưa ào ạt gây ra lũ lụt, tàn phá nặng nề cuộc sống và sản xuất của người dân Cũng do địa thế

bị núi bao bọc và ở lọt thỏm trong đồng bằng nhỏ hẹp nên vào mùa đông

Trang 21

bắc, sức gió lùa rất mạnh, càng tạo nên khí hậu khô nóng và cản trở những làn mây mang hơi nước và mưa đến, làm cho vùng đất này vốn đã khô hạn lại càng khô hạn hơn [70, 13-49] Nhìn chung, môi sinh vùng Chăm Ninh Thuận khá khắc nghiệt đối với điều kiện sinh sống của con người Đó là vùng đất cằn cỗi, khô hạn, ít mưa, nóng bức, thiếu nguồn nước, thảm thực vật và chủng loại động vật nghèo nàn Sản xuất nông nghiệp là nguồn sống chủ yếu của đồng bào Chăm, nhưng rõ ràng trong một môi trường về đất đai và khí hậu như Ninh Thuận đã hạn chế rất nhiều cho việc canh tác cùng các hoạt động kinh tế khác của người Chăm [06, 76] Song song với tình trạng khô hạn và mưa nắng thất thường đó, khí hậu nhiệt đới còn gây ra nhiều dịch bệnh như sốt rét, thương hàn, đậu mùa, thổ tả… nơi rừng thiêng nước độc có nhiều thú dữ, bệnh tật đã cướp đi biết bao mạng sống của con người Đứng trước tình trạng ấy, mỗi ngọn núi, dòng sông, cửa biển, cây cổ thụ… đều được người Chăm xem là có linh hồn, có thể tác động tốt hoặc xấu đến đời sống của con người Do đó, với trình độ khoa học chưa phát triển, tư duy đơn giản người Chăm chưa lý giải được các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm chớp… mà cho rằng tất cả là do quyền năng của Thượng đế vô hình sinh ra Vì vậy, để được may mắn, bình an, được mùa màng, mưa thuận gió hoà, tôm cá đầy khoang, con đàn cháu đống… họ tôn thờ các vị thần linh như thần núi, thần biển, thần mây, mưa, sấm chớp… Họ đem lễ vật đến cầu cúng ở tất cả mỏm núi, dòng sông, đồng ruộng, cửa biển, hải đảo để mong được các vị thần linh phù trợ Đây chính là nhân tố, là tiền đề tạo nên lễ hội Chăm Và như vậy, điều kiện tự nhiên, môi sinh ấy có tác động mạnh mẽ, góp phần hình thành nên sự phong phú, đa dạng và nhiều sắc màu của lễ hội Chăm [56, 22]

Trong suốt quá trình tồn tại, nền văn hoá dân tộc Chăm đã trải qua rất nhiều thăng trầm cùng với những biến động trong lịch sử nhiều thế kỷ đấu

Trang 22

tranh để tồn tại, mở rộng cương vực lãnh thổ của vương quốc Champa Nền văn hoá Chăm có những thời kỳ hưng thịnh, phát triển rực rỡ, nhưng lại lắm phen bị chiến tranh tàn phá, huỷ hoại, rồi lại được khôi phục, phát triển và cuối cùng là sụp đổ, phân tán… Cùng với những yếu tố lịch sử, yếu tố thời gian và sự khép kín trong phạm vi mỗi gia đình, mỗi một dòng tộc cũng đã làm cho văn hoá, văn minh ấy phần nào bị mai một, mất mát đi rất nhiều - người Chăm có thói quen lưu giữ những tư liệu lịch sử, văn thơ, những hiện vật xưa quý giá của tổ tiên để lại rất kỹ, họ xem là những vật gia bảo và không bao giờ tiết lộ, do vậy, có nhiều tư liệu bị hư hỏng, mục nát do trải qua thời gian dài và không có cách bảo quản tốt Những nội dung nghiên cứu về văn hoá Chăm trên mọi lĩnh vực được các nhà khoa học căn cứ trên thư tịch cổ Trung Hoa, các sử liệu của Việt Nam qua nhiều thời kỳ lịch sử, các bi ký còn tìm thấy được trên các đền tháp, trong quá trình khai quật các

di tích từ Quảng Bình cho đến tận Ninh - Bình Thuận, các văn bản chép tay còn lưu trữ được của nhân dân Chăm, ở các viện bảo tàng, các hiện vật mà nhân dân Chăm đang sở hữu, sử dụng, những tư liệu sống… và đặc biệt là cuộc sống, sinh hoạt văn hoá vật chất, tinh thần phong phú của người Chăm hiện tại là cơ sở để nghiên cứu tìm hiểu và có cái nhìn khái quát về nền văn hoá của dân tộc Chăm

Người Chăm hiện nay là hậu duệ của cư dân các bộ lạc vương quốc cổ Champa, có đời sống văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng thể hiện qua những thành tựu về kiến trúc, điêu khắc, những hoạt động tín ngưỡng, lễ hội, những phong tục, tập quán… đậm nét bản sắc dân tộc Chăm Tính đa dạng và phong phú của văn hoá Chăm xuất phát từ quá trình vận động phát triển nội tại, mặt khác, văn hoá Chăm chịu sự tác động khách quan của lịch sử, của quá trình chung sống, giao lưu lâu dài với nhiều dân tộc, tôn giáo khác, đặc biệt, là sự tiếp nhận những yếu tố văn hoá, văn minh Ấn Độ trong

Trang 23

tín ngưỡng Bàlamôn và của Phật giáo Đại thừa thời kỳ Đồng Dương: “Đông Nam Á đã nhận từ Ấn Độ hai tôn giáo quan trọng: Bàlamôn giáo và Phật giáo… Từ sau Công nguyên, Bàlamôn giáo trở thành một tôn giáo quan trọng

ở nhiều nước Đông Nam Á như Kampuchia, Champa, Java và cũng có ảnh hưởng ở nhiều nước khác Bộ ba thần chủ Brahma, Vishnu, Shiva cùng với hàng loạt thần linh khác như Krishna, Yama, Ganesha… đã làm nên bộ mặt tinh thần của Đông Nam Á một thời” [26, 334] Tuy nhiên, dù đã trải qua nhiều biến đổi trong hàng ngàn năm, nhưng về cơ bản, người Chăm vẫn giữ nguyên vẹn được bản sắc và những nét độc đáo riêng có trong nền văn hoá của dân tộc mình Điều đó được chứng minh qua sự du nhập và tiếp biến đạo Islam khi tôn giáo này được truyền bá vào cộng đồng người Chăm ở Việt Nam khoảng thế kỷ XIII - XIV Tín ngưỡng Islam được tiếp nhận bằng cách kết hợp với các yếu tố nền tảng của dân tộc Chăm và lâu ngày trở thành một tôn giáo riêng theo cách thức của họ, gọi là đạo Bàni Về cơ bản, có thể nói đạo Bàni có nguồn gốc ban đầu từ đạo Islam, nhưng nhiều nội dung và hình thức của đạo Islam đã biến đổi khác đi cho phù hợp với phong tục cổ truyền của người Chăm, hay có thể nói đạo Bàni là hiện tượng “Dân tộc hoá đạo Islam” của người Chăm ở vùng Ninh - Bình Thuận

Ninh Thuận là một trong những địa bàn xưa của kinh đô Panduranga, là thành luỹ cuối cùng thời kỳ suy tàn của vương quốc Do đó, vùng đất Phan Rang là nơi tập trung đông nhất cư dân Chăm sinh sống, cũng là nơi còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hoá truyền thống của dân tộc Chăm, mặc dầu ngày nay, những đặc điểm đó có sự biến đổi ít nhiều trong quá trình giao lưu, chung sống với nhiều dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Những nội dung đã nêu là cơ sở để luận văn tập trung tìm hiểu, phân tích những đặc trưng tiêu biểu và cơ bản nhất về đời sống văn hoá của người

Trang 24

Chăm Ninh Thuận, những yếu tố phát triển nội tại và mối quan hệ giao lưu với văn hoá các dân tộc khác, từ đó, rút ra những giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá Chăm trong tiến trình đi lên xây dựng cuộc sống mới của người Chăm Ninh Thuận

Trên cơ sở những điều kiện địa lý tự nhiên, nhân văn, quá trình sinh sống và chịu sự tác động của các yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội… lâu dài trên đất nước Việt Nam và ngay tại vùng đất Ninh Thuận, đời sống văn hoá của người Chăm Ninh Thuận ngày nay có những đặc điểm nổi bật được khái quát lại dưới đây

1.2 CÁC DẠNG THỨC VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN

1.2.1 Các sinh hoạt tín ngưỡng - lễ hội và tôn giáo

Quá trình tồn tại phát triển, tiếp xúc với nhiều tôn giáo và nền văn hoá đã tạo nên tính hỗn dung trong văn hoá tinh thần của người Chăm Không chỉ tại Ninh Thuận mà còn ở hầu khắp các địa phương khác, từ miền Trung đến khu vực Nam Bộ Theo nghĩa rộng, tính hỗn dung văn hoá thể hiện sự kết hợp các yếu tố khác nhau vào cùng một hệ thống, nhằm phục vụ cho lợi ích của một cộng đồng nhất định trong đời sống văn hoá Tính hỗn dung của văn hoá Chăm thể hiện trước hết ở văn hoá tinh thần, cụ thể là ở tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo

Người Chăm có cuộc sống tâm linh phong phú được đặc trưng bởi

nhiều hình thức tín ngưỡng, nhất là tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng dân

gian thâm nhập và chi phối hầu như toàn bộ đời sống, sinh hoạt vật chất và tinh thần của họ, kể cả các hình thức sinh hoạt tôn giáo Có thể nói bản sắc dân tộc của người Chăm là nền tảng, là yếu tố để giữ vững nét đặc sắc riêng có của văn hoá Chăm trong quá trình giao lưu, tiếp biến với nhiều nền văn hoá, văn minh khác nhau Các hình thức tín ngưỡng như tín ngưỡng vật linh, phồn thực, thờ cúng tổ tiên, dòng họ, tín ngưỡng liên quan đến đời sống, sản

Trang 25

xuất nông nghiệp và lâu dần trở thành những tập quán truyền thống, đó là những lễ nghi trong phạm vi một gia đình, dòng họ và những lễ hội lớn thu hút cả cộng đồng người Chăm

Trước hết, với những tài liệu về bi ký, văn thơ, truyền thuyết dân gian… cho phép chúng ta khẳng định ngày xưa trên dãi đất miền Trung đã từng tồn tại bộ lạc Cau và bộ lạc Dừa Ngày nay, người Chăm có sự phân biệt giữa dòng Núi (Atâu Chơk) đối tượng thờ cúng của bộ lạc Cau và dòng Biển (Atâu Tathih) đối tượng thờ cúng của bộ lạc Dừa, mà sự phân biệt này thể hiện qua lễ Rija Praung và các hình thức khác thực hiện trong lễ tang

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Chăm là một đặc thù văn hoá thể hiện rất rõ qua những lễ nghi liên quan đến cuộc sống và cái chết trong cuộc đời của mỗi con người, trong gia đình, dòng họ Đó là lễ Rija cúng tổ tiên của một dòng họ gọi là Rija lệ, hay còn gọi là Lễ múa lớn (Rija Praung), là lễ cầu nguyện cho những người trong dòng họ khỏi đau yếu bệnh tật, các lễ khác như lễ tang, cúng tuần, lễ nhập Kut, viếng nghĩa địa

Cuộc sống văn hoá tinh thần của cộng đồng người Chăm Ninh Thuận

có đặc điểm nổi bật là có những lễ hội gắn kết sinh hoạt tôn giáo với tín ngưỡng dân gian, nhất là các lễ hội liên quan đến hoạt động sản xuất nông

nghiệp, từ lễ mở luống cày, cất chòi, cho đến lễ cúng ruộng, đắp đập, cầu mưa, mừng lúa mới… Nghi lễ được tiến hành bởi các thầy lễ dân gian như bà Bóng, ông thầy Vỗ, thầy Cò ke, ông Cai Đập, ông Cai Mương, ông Hammu

Ia (chủ lễ)… đôi khi còn có sự phối hợp với các chức sắc của đạo Bàni hoặc đạo Bàlamôn

Các lễ cúng lớn có tính chất lễ hội của người Chăm gồm các lễ Rija, lễ Mbăng Katê, lễ Ramưwan, Kinh Hội, các lễ nghi trong nông nghiệp

Lễ Rija Nưgar (lễ giao mùa), là lễ cầu xin thần Pô Nưgar và các thần ban phước lành, ban những điều tốt đẹp cho dân chúng như sức khoẻ, mùa

Trang 26

màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà, tránh những xui rủi như dịch bệnh, hạn hán, lụt lội, mất mùa… “Rija Nưgar là lễ hội chuyển mùa (từ mùa khô sang mùa mưa) Bởi vậy, một trong những mục đích chính của lễ hội này là tống tiễn, là dập đi cái nóng, cái khô của mùa khô, đồng thời là cầu mong nước, cầu mong mưa của cả mùa mưa để xuống đồng làm ăn” [11, 07]

Lễ Rija Praung (lễ hội múa lớn - hay lễ tạ ơn), được xem là lễ lớn

nhất trong hệ thống các lễ hội múa Rija, được tổ chức khi trong tộc họ có người bệnh nặng để cầu thần linh giúp chữa bệnh, hoặc trong tộc họ tôn

chức Vũ sư (Muk Rija) để trông coi “Chiết Atâu” cúng lễ cho tộc họ, lễ này

có nguồn gốc tôn giáo và câu chuyện kể từ thời xa xưa: “Lễ Rija Praung diễn lại mối quan hệ giữa một công chúa Chăm và hoàng thân Mã Lai đồng thời thể hiện giữa dòng Núi và dòng Biển của người Chăm” [14, 273]

Ngoài ra còn có lễ Rija harei (Lễ hội múa ban ngày) của gia đình, tộc họ nhằm cầu an cho gia tộc, lễ Rija Dayuap (lễ hội múa ban đêm) cầu xin thần linh giúp cho tộc họ vượt qua những khó khăn, những đau ốm, bệnh tật…

Lễ hội lớn nhất của người Chăm Bàlamôn là Mbăng Katê, được tiến

hành mỗi năm một lần vào tháng 7 Chăm lịch Mbăng Katê là lễ bày tỏ lòng tưởng nhớ của người Chăm đối với các vị anh hùng dân tộc và ông bà tổ tiên đã khai sinh ra họ Các vị thần như Pô Inư Nưgar, Pô Klong Girai, Pô Rômê và các anh hùng dân tộc khác Tuy là lễ của người Bàlamôn nhưng qui mô tổ chức rất lớn, qui tụ đông đảo người tham gia gồm những vị tu sĩ, chức sắc, thân hào nhân sĩ, tín đồ Bàlamôn và cả những người Bàni, Islam, cùng những người dân tộc Raglai ở địa phương, nơi trước đây đã được các dòng tộc vương hầu của người Chăm gởi lại những báu vật để đi lánh nạn lên miền núi, xuống miền Tây Nam Bộ, hay qua nước Kampuchia Tác giả Văn Món nêu lên ý nghĩa của lễ Mbăng Katê: “Lễ hội Mbăng Katê biểu

Trang 27

hiện một nửa cấu trúc lưỡng hợp thuộc về Dương đối lập với yếu tố Âm - Lễ Mbăng ChaBur (lễ cúng các Nữ thần tháng 9) Cấu trúc lưỡng hợp là một đặc trưng phổ quát ở người Chăm được thể hiện sâu sắc trên nhiều bình diện như: ăn, mặc, màu sắc, nghi lễ, hội hè cho đến loại hình nghệ thuật Theo tinh thần đó người Chăm luôn phân chia sự vật ra làm hai nửa: đực - cái, ngày - đêm, sáng - tối, vùng cao - thấp (bộ lạc Cau - bộ lạc Dừa)… Tất cả đều thể hiện ước vọng phồn thực trong sự liên kết lứa đôi, cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi và mùa màng tốt tươi của một cư dân nông nghiệp Bản thân lễ hội Mbăng Katê chứa đựng triết lý ấy” [57, 515] Trong lễ này, người Chăm tổ chức các nghi thức lễ rước y phục từ nơi những người Raglai đang giữ, cúng lễ vật, tắm rửa tượng thần, thay áo cho tượng thần, khấn vái cầu xin phước lành cho nhân dân, cho xứ sở, kết hợp với lễ là các bài hát, múa dân gian vui tươi, sôi động, những bài ca lịch sử ca ngợi công đức của các vị vua - thần phù hợp với nội dung lễ Sau buổi lễ trên tháp là lễ cúng ông bà tổ tiên ở gia đình, thăm viếng chúc tụng lẫn nhau, tổ chức ăn uống, vui chơi văn nghệ, thể thao trong nhiều ngày

Lễ hội quan trọng và được xem như ngày tết của những người theo

đạo Bàni là Ramưwan - có xuất xứ từ lễ Ramadan, tháng chay tịnh của người

theo đạo Islam, vào tháng 9 Hồi lịch Nhưng lễ Ramưwan ở người Chăm Bàni diễn ra theo cách thức của riêng họ Lễ diễn ra trong thời gian một tháng, trước đó ba ngày, họ tập trung mọi người trong dòng họ để thực hiện lễ tảo mộ, lễ cúng tưởng nhớ gia tiên và họp mặt vui vẻ của những người trong gia đình Họ tổ chức tiệc vui tết, tiếp đãi khách đến chúc mừng, đồng thời, các palay tổ chức những hoạt động văn nghệ thể thao, các trò vui chơi có tính chất dân gian, sau ba ngày ấy là lễ chay niệm trong vòng một tháng

ở thánh đường

Người Chăm Bàni còn có một lễ hội rất đặc biệt là Sug Yiêng ( Kinh

Trang 28

Hội) Lễ được tổ chức 3 năm một lần, trong thời gian gần hai tháng - tháng

11 hoặc tháng 12 Hồi lịch Mỗi palay Chăm Bàni tổ chức lễ hội Sug Yiêng vào một ngày thứ sáu được cộng đồng định trước, lần lượt đến palay khác vào thứ sáu tuần sau, và liên tục cho đến hết 7 tuần lễ liền sau đó Lễ hội này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cộng đồng dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, vì đây là dịp họp mặt các chức sắc tín ngưỡng, tôn giáo của tất cả các palay Chăm theo đạo Bàni và Bàlamôn trong toàn tỉnh Lễ hội này tạo điều kiện cho cộng đồng người Chăm cùng nhau thảo luận và quyết nghị mọi vấn đề có quan hệ mật thiết đến tình đoàn kết dân tộc mà các bên cùng quan tâm Những nội dung thực hiện trong 3 năm vừa qua về lịch pháp, phong tục tập quán, hôn nhân, tang lễ… được tổng kết và đề ra phương hướng thực hiện trong 3 năm tiếp theo Mục đích của Kinh Hội là để các vị chức sắc cao cấp của hai hệ thống tôn giáo Chăm Bàlamôn và Bàni gặp gỡ, bàn bạc thống nhất một số vấn đề của đạo và đời nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc, xây dựng và phát triển văn hoá giàu bản sắc của tộc người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận Trước tiên, hội thảo được tổ chức để đại biểu thảo luận ra nghị quyết chung, sau đó, những tu sĩ Bàni vào thánh đường làm lễ, các gia đình Chăm trong palay đều mang lễ vật đến dâng cúng Nghi lễ tiến hành xong, các gia đình sẽ mời bạn bè về nhà dự tiệc, cũng trong ngày này, địa phương đăng cai lễ Sug Yiêng tổ chức các hoạt động vui chơi văn nghệ, thể thao rất sôi nổi, nhộn nhịp

Các lễ nghi trong nông nghiệp gồm lễ Pơh Mbăng Yang là lễ xin thần linh khai thông đập nước, chuẩn bị cho vụ mùa sản xuất mới, đồng thời, là lễ xin cho được mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt; lễ Yôr Yang và Plao Kasah (lễ cầu đảo) tức là lễ cầu mưa, lễ hạ điền; lễ Cakap Hlâu Krong là lễ chận nguồn, ý nghĩa là lễ cầu xin không bị lũ lụt, làm hại đến cuộc sống, sản xuất; lễ Mbăng Chabur là lễ tạ ơn thần thánh; lễ Ngap Kabau Yang

Trang 29

Patao là lễ chém trâu tế thần, cứ 7 năm tiến hành một lần, liên quan đến sự tích núi Đá Trắng Ngoài ra, còn một số các lễ dân gian liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của cây lúa là các lễ cúng ruộng như lễ dựng chòi cày (Padang Paday tuan), lễ cúng thần ruộng lúc lúa đẻ nhánh (Iêu Pô Bhum), lễ cúng lúa làm đòng (Đôk tian), lễ mừng lúa về nhà (Khoa paday da- a)…

Đời sống tín ngưỡng của một bộ phận người Chăm còn nặng mê tín, họ tin tưởng vào thầy Pháp và các bùa ngải, pháp thuật do ông ta sử dụng để chữa bệnh Nhiều người vẫn còn tin có ma quỉ làm điều hại con người và cho rằng thầy Pháp có khả năng khống chế ma quỉ, trị bệnh cho con người… Một trong những quan niệm lạc hậu còn dư âm đến ngày nay là các palay Chăm không trồng những cây cao, họ sợ bóng mát của những loại cây này sẽ là nơi trú ngụ của ma quỉ, làm hại cuộc sống của con người

Có thể nói, cuộc sống sinh hoạt của người Chăm là một chuỗi nối tiếp của những tín ngưỡng và lễ hội, là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá của họ Inrasara viết: “Ngày nay, thế hệ trẻ Chăm không còn biết đến các nghi lễ cúng tế có tính nông nghiệp như Yor Yang, Palao Kasah, Pakap Halơv Kraung hay các cuộc lễ mang đậm tính chất mê tín như Ngap Kabau Yang Patao nữa, nhưng lễ Rija Nưgar với những Ragơm (nhịp, điệu) trống và các điệu luân vũ của nó mãi mãi là những biểu hiện độc đáo của tâm hồn Chăm, luôn để lại trong ký ức những người Chăm trẻ tuổi những ấn tượng đậm nét khó quên” [37, 64]

Đặc trưng nổi bật là trong văn hoá tinh thần của người Chăm là tín ngưỡng dân gian Chăm có vị trí chi phối, nền tảng của mọi sinh hoạt văn hoá, kể cả sinh hoạt tôn giáo Do nguyên nhân xuất phát ấy, sinh hoạt tôn giáo của người Chăm có tính hỗn dung rất rõ và trở thành nét riêng có, làm nên bản sắc văn hoá độc đáo của người Chăm Ninh Thuận

Cùng với tín ngưỡng truyền thống, tôn giáo là yếu tố rất quan trọng, là

Trang 30

bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống tâm linh và cả trong các mặt sinh hoạt vật chất của cá nhân và cộng đồng người Chăm Trong đời sống văn hoá người Chăm Ninh Thuận, tính hỗn dung thể hiện ở sự tồn tại của một số tôn giáo, gồm đạo Bàni, đạo Bàlamôn, đạo Hồi (Islam chính thống) và đạo Phật, trong đó, hai tôn giáo đầu tiên chiếm ưu thế

Trong số cư dân người Chăm của tỉnh Ninh Thuận hiện nay, số lượng người theo đạo Bàlamôn chiếm tỷ lệ 58,93% Người Chăm theo đạo này được gọi là “Chăm Chuh” (Chăm hoả táng) Họ chịu ảnh hưởng rõ rệt của Bàlamôn giáo Ấn Độ về đời sống tín ngưỡng, tinh thần, sinh hoạt vật chất, phong tục tập quán… Tuy nhiên, có thể nói Bàlamôn giáo của người Chăm Ninh Thuận đã có nhiều biến đổi, dung hợp với những đặc điểm của dân tộc Chăm, kể cả trong đó cũng đã có sự du nhập một số yếu tố của những tôn giáo khác Do vậy, trong quá trình tồn tại lâu dài, tôn giáo này đã phát triển theo cách thức riêng của người Chăm, hoà nhập vào với các yếu tố văn hoá bản địa của họ Tuy nhiên, những ảnh hưởng của đạo Bàlamôn đối với tín ngưỡng, lễ hội, trong phong tục tập quán và đời sống hàng ngày của họ rất sâu sắc, thông qua việc thờ phụng các vị thần của đạo Bàlamôn, các nghi lễ, các tác phẩm điêu khắc, công trình kiến trúc, tầm quan trọng của việc hiến tế, tục kiêng ăn thịt bò, nhiều tu sĩ sống và hành đạo giống như cách thức tu hành của những người tu sĩ Bàlamôn của Ấn Độ

Đối tượng thờ cúng của người Chăm Bàlamôn, ngày xưa, là những vị thần của Bàlamôn giáo Ấn Độ như thần Brahma, Vishnu, Shiva Ngày nay, trong các đền tháp, điện thờ của người Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận chủ yếu chỉ thờ những vị thần, những anh hùng của dân tộc Chăm Đó là thần Pô Inư Nưgar - Thần Mẹ Xứ Sở - tại lăng Pô Inư Nưgar thuộc làng Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận: “Thần có tên là Pô Yan Inư Nưgar Taha (Thần Mẹ Xứ Sở), là nữ thần lớn của nước Chăm Thần có

Trang 31

tên nữa là Muk Juk (Bà Đen) thường được tôn gọi là Patao Kunay (Vua của đàn bà) hoặc Stri Ratjnhi (Chúa của phụ nữ) Thần sinh ra từ mây và bọt biển Thần sinh ra đất, gỗ trầm, lúa gạo” [33, 154 -155] Vị thần thứ hai là vua Pô Klong Girai (1151 - 1206)[15, 139] người có công xây dựng hệ thống thuỷ lợi, đặc biệt là đập Nha Trinh (ở địa phương) và đẩy mạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp trong thời gian ông trị vì Tháp thờ vua Pô Klong Girai nằm trên ngọn đồi ở phía tây bắc thị xã Phan Rang - Tháp Chàm Vị thần thứ ba là vua Pô Rômêâ (1627 -1651) là người có công xây dựng đập nước

Ma Rên Tháp thờ vua Pô Rômêâ được xây dựng trên một ngọn đồi thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận Ngoài ra, người Chăm Bàlamôn còn thờ các vị vua, hoàng hậu, tướng lĩnh của lịch sử dân tộc họ Nhiều palay có lăng thờ một vị anh hùng có công của dân tộc Chăm Riêng tháp Pô Klong Girai, tháp Pô Rômêâ và lăng Pô Inư Nưgar thì

do nhiều palay Chăm quanh khu vực thờ cúng, chứ không riêng một palay nào

Quá trình bản địa hoá, dân tộc hoá đạo Bàlamôn diễn ra trong thời gian rất dài, thể hiện rõ qua cách kiến trúc lăng tháp, trong văn chương, bi ký và ngày nay thể hiện trong lối sống, trong tục lệ thờ cúng, tế lễ của họ Trước tiên, là hiện tượng đồng nhất các thần Ấn giáo với các thần trong thần thoại dân tộc Chăm, các vị vua, hoàng hậu có truyền thống đặt tên tượng thần và gọi tên hiệu của mình gắn với vị thần mà họ sùng kính: “Ở vương quốc cổ Champa, nơi Shiva được thờ cúng một cách phổ biến Những vị vua Chăm thường đồng nhất mình với thần thánh thông qua chính những đền thờ Shiva Chẳng hạn, Bhadravarman tôn thờ thần chủ Shiva, đã lập một ngôi đền ở Mỹ Sơn (Quảng Nam) và gọi tên đền một cách kết hợp là Brada + Shiva = Bhadresvara”[29, 95] Về sau, dần dần ảnh hưởng của Bàlamôn giáo giảm bớt, người ta thờ những vị thần, những anh hùng dân tộc cụ thể

Trang 32

gắn với hiện thực cuộc sống Mặt khác, trong lịch sử dân tộc Chăm, ở các thế kỷ XIII, XIV trở đi, Hồi giáo được truyền bá mạnh mẽ vào các quốc gia Đông Nam Á, mà ở vương quốc Champa có thời kỳ trở thành quốc giáo Tình hình ấy đã đưa những người Chăm theo đạo Bàlamôn trở về với tín ngưỡng dân gian, mặc dù trong xã hội vẫn còn tồn tại một tầng lớp tu sĩ Những tu sĩ này, ngày nay trở thành những thầy lễ phục vụ trong các lễ hiến tế ở các lăng tháp, lễ tang

Tầng lớp tu sĩ ở người Chăm Bàlamôn được gọi là Pasêh, họ rất được cộng đồng kính trọng do chức năng, nhiệm vụ đặc biệt, là người thực hiện các nghi lễ cúng tế trong các dịp lễ, nhiệm vụ thiêng liêng cao cả mà không người nào thay thế được Trong số các thầy Pasêh có các cấp Đungkok, Lyah, Puah và Tapah Cấp Tapah là cấp cao nhất, chỉ có tu sĩ ở cấp này mới được lựa chọn để bầu ra người chủ lễ tại lăng tháp chính của palay Chăm (Cả Sư) phụ trách việc hiến tế (gọi là Pô Adhia hay Tapah Mưnan) Họ được cả cộng đồng kính trọng, tổ chức lễ tấn phong linh đình và khi qua đời, đám tang được tổ chức trọng thể Họ được coi là tu sĩ chính thức và chỉ có Tapah mới có nhiệm vụ thiêng liêng cao quí là truyền dạy kinh luật của đạo

Một bộ phận người Chăm Ninh Thuận theo một tín ngưỡng tôn giáo khác là đạo Bàni Đạo Bàni là một hình thức biến thể của người Chăm theo đạo Islam - còn gọi là đạo Hồi: “Từ thế kỷ XIII, các thương nhân Hồi giáo cũng hoạt động mạnh ở vùng biển Đông Nam Á Mặc dù họ đã có mặt ở vùng Panduranga (Champa) từ thế kỷ IX để làm ăn buôn bán, nhưng phải đến các thế kỷ XIII - XIV mới có những bằng chứng lịch sử trực tiếp liên quan đến hoạt động kinh tế, tín ngưỡng của Hồi giáo ở vùng Đông Nam Á, mà trước tiên là vùng hải đảo”[29, 97] Nhưng sự du nhập này được dung hợp với những tàn tích tín ngưỡng Bàlamôn, tập tục truyền thống dân tộc và những tín ngưỡng dân gian xưa của họ Do vậy, họ tuân theo giáo lý của đạo

Trang 33

Islam theo cách riêng của họ, khác với những người Islam chính thống, thậm chí có những nội dung, hình thức tiến hành nghi lễ và những phong tục tập quán hoàn toàn xa lạ với giáo luật của đạo Islam chính thống

Trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Chăm Bàni là một ngôi thánh đường của mỗi palay, ở đó, họ thực hiện mọi hoạt động tôn giáo như thờ thánh Alla (Âuloah), tiến hành các thánh lễ, cầu nguyện, giảng kinh, tu hành và thực hiện tháng ăn chay Ramưwan (tương tự tháng Ramadan của Islam) Mặt khác, thánh đường Bàni còn là nơi hội họp của những người có

uy tín ở địa phương, những chức sắc, tu sĩ để bàn bạc những vấn đề quan trọng liên quan thiết thực đến cuộc sống của cộng đồng

Đạo Bàni không giống như đạo Islam vì đạo này có hẳn một tầng lớp

tu sĩ “Pô Achar” hay “Pô Char” Những tu sĩ có y phục riêng như áo màu

trắng, mặc chăn và cạo đầu, bịt bằng khăn, giữ gìn kiêng cữ trong sinh hoạt, ăn uống Họ được tổ chức theo từng palay, có bốn cấp là A Char hay Char, những người mới gia nhập hàng ngũ tu sĩ, Khotip hay Tip là người chuyên giảng giáo lý trong thánh lễ trưa thứ sáu, Imưm hay Mưm là người điều khiển các buổi lễ trưa thứ sáu và Pô Grù - Thầy Cả - là người đứng đầu tôn giáo của một palay, một thánh đường Bàni, là người có tiếng nói quan trọng trong việc quyết định các vấn đề của địa phuơng cả trên phương diện đạo và đời, ông còn là người quyết định các ngày lễ ở tư gia và những ngày lễ khác Điều này được phản ánh trong Adat - Luật tục Chăm: “Ở trên có mặt trời, ở dưới có ông Cả Sư” [60, 74]

Người Chăm Bàni thực hiện giáo luật không giống với đạo Islam chính thống và có nhiều khác biệt như người Islam chỉ tin tưởng tuyệt đối vào một vị thần duy nhất (nhất thần - thánh Ala), còn người Bàni thì tin tưởng sự hiện diện của rất nhiều vị thần tự nhiên trong đời sống tâm linh của họ như thần Mưa, thần Núi, thần Biển… , việc thực hiện nghi lễ cầu cúng các

Trang 34

thần thuộc tín ngưỡng dân gian thì đôi khi có sự phối hợp các tu sĩ Bàni với những thầy cúng dân gian Người Bàni chỉ tuân theo những nội dung của

kinh Coran, nhưng họ cũng thực hiện sai lệch đi rất nhiều so với nguyên

bản, do hiểu khác đi những nguyên tắc qui định trong bộ kinh ấy, họ còn cải biến kinh cho phù hợp với tập tục của cộng đồng, ghi thêm chữ của họ vào trong các trang sách ấy Đối với tín đồ Islam, mỗi ngày phải làm lễ năm lần, hướng về thánh địa Mecca, nhưng với tín đồ Bàni thì không, chỉ có tầng lớp

tu sĩ mới thực hiện vào tháng chay Ramưwan Như vậy, mặc dầu theo tín ngưỡng Islam, nhưng trong điều kiện khép kín, cô lập với thế giới bên ngoài, tín ngưỡng của họ đã khác đi rất nhiều, không còn đúng với giáo luật của đạo Islam chính thống, ngược lại, những nền tảng của tín ngưỡng dân gian đã bắt rễ sâu trong cuộc sống của họ, trở thành tập quán lâu đời và tạo nên một hình thức tín ngưỡng Islam đã được bản địa hoá, dân tộc hoá, đó là đạo Bàni của một bộ phận cư dân Chăm ở Ninh Thuận

Cùng với hai tôn giáo trên, từ những năm 60 của thế kỷ XX, tại Ninh Thuận đã hình thành một số cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi, nguyên gốc đạo Islam Đạo Islam ở người Chăm Ninh Thuận có số lượng tín đồ rất

ít, chiếm tỷ lệ dân số thấp trong bộ phận người Chăm, chỉ có 3 địa phương theo tín ngưỡng Islam và sinh hoạt tôn giáo riêng là Phước Nhơn, An Nhơn (huyện Ninh Hải), Văn Lâm (huyện Ninh Phước) Những người theo tôn giáo này thực hiện các sinh hoạt tôn giáo, phong tục tập quán và sinh hoạt cộng đồng, gia đình đúng theo những nguyên tắc, giáo luật của đạo Islam

Bàn về sự phân biệt giữa Bàni và Islam, nhà văn hoá Phú Văn Hẳn nêu ý kiến: “Sự tiếp xúc Chăm - Islam trên xứ sở Champa khá sớm, vào khoảng thế kỷ X, hoặc trễ lắm cũng vào khoảng thế kỷ XIV - XV Về mặt nguồn gốc tôn giáo thì cả Chăm Bàni và Chăm Islam đều có chung một tôn giáo Islam, song do quá trình lịch sử người Chăm Bàni vừa gắn với các yếu

Trang 35

tố tín ngưỡng dân gian truyền thống ở địa phương; còn Chăm Islam do đã tiếp xúc với người Islam ở Malay, Nam Dương (nay là Malaysia, Indonesia) nên sinh hoạt tôn giáo Islam của bộ phận này gần gũi hơn với người Islam trong khu vực” [28, 637]

Vương quốc Champa cũng đã từng có một giai đoạn lịch sử theo tín

ngưỡng Phật giáo Đại thừa ở thời kỳ Đồng Dương Nhưng ngày nay, tôn

giáo này không còn hiện diện trong cuộc sống của người Chăm, chỉ còn lại những chứng tích tìm thấy tại di chỉ Đồng Dương - kinh đô xưa của vương quốc Champa: “Những pho tượng Phật hiện còn trưng bày tại Viện Bảo tàng Chàm Đà Nẵng đã chứng minh đạo Phật có thời kỳ được thịnh hành ở Champa khoảng từ thế kỷ IX đến thế kỷ XI và nghệ thuật điêu khắc kiến trúc những pho tượng Phật đã mang nhiều ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ” [73, 25]

Từ sự phân tích tín ngưỡng - lễ hội và tôn giáo của đồng bào Chăm,

có thể nhận thấy: Thứ nhất, càng gần với thời đại ngày nay, tôn giáo, tín

ngưỡng - lễ hội càng trải qua sự thẩm định và sàng lọc của nhu cầu phát triển Quy luật kế thừa nhấn mạnh yếu tố lưu giữ và phủ định biện chứng, nghĩa là, những gì còn phù hợp trong điều kiện mới tiếp tục được lưu giữ, những gì không phù hợp, thậm chí cản trở sự phát triển đã, đang và sẽ tiếp tục chịu sự đào thải tất yếu Vấn đề là ở chỗ cần có sự định hướng một cách nghiêm túc, phù hợp với quan điểm phát triển chung về văn hoá, để tạo nên sự đồng thuận trong nhân dân với tính cách là chủ thể sáng tạo trong văn

hoá và hưởng thụ văn hoá Thứ hai, ngay trong các hình thức tín ngưỡng - lễ

hội của người Chăm chúng ta có thể nhận thấy rằng cùng với những biến đổi của đời sống và quá trình giao lưu với các dân tộc khác, hình thức tín

ngưỡng đã cải biến ít nhiều, không còn “thuần Chăm” như trước đây Sự cải

biến này là cần thiết nhằm thu hút sự tham gia của các dân tộc khác, vượt ra

Trang 36

khỏi khuôn khổ lễ hội của một cộng đồng, trở thành lễ hội của toàn dân

Thứ ba, cần kết hợp giáo dục ý thức hội nhập lẫn ý thức tôn trọng truyền

thống trong giới trẻ, nhất là giới trẻ thuộc đồng bào Chăm Trên thực tế, hiện nay xét về độ tuổi phần lớn những người tham gia lễ hội đều thuộc về lớp người già và trung niên Thực trạng đáng lo ngại này cần được tính đến để có giải pháp thích hợp, nhằm thu hút giới trẻ vào các lễ hội truyền thống, giúp họ hiểu rõ hơn nguồn cội, để từ giá đỡ truyền thống ấy mà hoàn thiện cả tri thức lẫn lối sống của mình

1.2.2 Kiến trúc, điêu khắc và ngành nghề truyền thống, tính độc đáo của văn hoá Chăm

Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hoá với các dân tộc khác đều thực hiện sự tiếp biến văn hoá, nghĩa là, một mặt, giới thiệu nét đặc sắc của dân tộc mình ra bên ngoài, mặt khác, tiếp thu các giá trị từ bên ngoài, biến cái bên ngoài thành yếu tố nội lực, nhằm hoàn thiện hơn nữa những giá trị sẵn có của mình Vì lẽ đó, nói đến văn hoá Chăm không thể không đề cập đến các di sản văn hoá vật thể và các ngành nghề truyền thống như những điểm son làm nổi bật tính cách người Chăm, tính độc đáo, tính không lặp lại của họ trong nền văn hoá thống nhất và đa dạng của dân tộc

Trong di sản văn hoá vật thể của người Chăm hiện nay, nổi bật nhất là hệ thống đền tháp, điêu khắc, tượng thờ, thành quách, bi ký… Hầu hết từ miền Trung cho đến Tây Nguyên, nơi nào có người Chăm sinh sống thì họ đều xây dựng đền tháp để thờ thần Điều đó cho thấy đối với người Chăm các đền tháp rất quan trọng Tuy nhiên, hiện nay trong tổng số khoảng 250

di tích đã được người Pháp thống kê trước đây, chỉ còn 20 nhóm đền tháp với 40 công trình tạm đứng vững [68, 08] “Dọc miền Trung, nhiều di sản văn hoá hữu thể còn tồn tại trên mặt đất Đó là các tháp Chàm phơi sương gió cùng năm tháng Lịch sử đi qua bao nỗi thăng trầm, cuộc đời phải trải

Trang 37

qua bao cơn dâu bể, tháp Chàm vẫn sừng sững như một dấu ấn không thể phai mờ” [76, 205] Tất cả các đền tháp Chăm được xây dựng để thờ ba vị thần của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu Về sau, người Chăm thờ những vị vua, những anh hùng dân tộc của họ và gọi là những vị vua - thần, như vua Pô Klong Girai, vua Pô Rômê Đặc điểm chung của các đền tháp Chăm là một cụm kiến trúc bao gồm một tháp trung tâm và bao quanh bởi 4 tháp nhỏ ở 4 hướng và ngoài cùng là hào rãnh, tháp trung tâm vuông, thon, nhọn tượng trưng cho ngọn núi Mêru - Ấn Độ, nơi ngự trị của thánh thần, 4 tháp chung quanh tượng trưng cho các lục địa và hào ngoài cùng thì biểu hiện của đại dương Nhà nghiên cứu J.C Sharma cho rằng sơ đồ kiến trúc xây dựng đền tháp Chăm được xây dựng theo mô hình vũ trụ luận Ấn Độ [38, 42] “…đền Hindu Bắc Ấn nổi bật với tháp Shikhara hình trụ, thon dần lên ngọn và mái hình cong Parabol là sự diễn đạt dưới hình thức biểu tượng những ngọn núi thiêng liêng hoặc những cung điện thần thánh, nơi cư ngụ của các thần linh”[67, 240] Tháp còn có đặc điểm chung là được xây bằng gạch, có 4 mặt hình vuông đối xứng nhau, mặt trước hướng về phía đông, có cửa ra vào, ba mặt kia có cửa giả Mỗi tháp thường có 3 tầng, càng lên cao thì càng được thu nhỏ hơn và tận cùng ở trên nóc là hình một linga bằng đá Về kỹ thuật xây dựng và cách gắn kết, có thể nói đây là một kỹ thuật độc đáo và là một bí ẩn kỹ thuật xây dựng của người Chăm, mà cho đến ngày nay, bằng nhiều cách giải mã, cũng như kết hợp với các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại, người ta cũng chưa giải đáp được những bí ẩn đó [56, 43] “Trở ngại lớn nhất cho việc bảo tồn hệ thống tháp Chăm ở miền Trung hiện nay là chưa giải mã được bí ẩn công nghệ xây dựng vật liệu và nguyên liệu liên kết, dù rằng không ít cá nhân, tổ chức khoa học trong và ngoài nước dày công tìm hiểu”[16, 61] Qua hàng chục năm chiến tranh ác liệt, phần lớn tháp Chăm đã bị tàn phá, hư hại nhưng: “…các tháp Chăm còn lại

Trang 38

nằm rải rác suốt từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Bình Thuận vẫn là những viên ngọc quý của nền kiến trúc cổ Việt Nam và Đông Nam Á” [10, 15]

Về điêu khắc, có thể nói người Chăm đã đạt một trình độ rất cao trong nghệ thuật điêu khắc các đền tháp Nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương đánh giá về tượng Vũ nữ Trà Kiệu (Apsara): “… đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng Champa và của cả miền Đông Nam Á”[62, 48] Nhìn chung, điêu khắc Chăm được thể hiện trên rất nhiều thể loại, đề tài, vừa phong phú, đa dạng, vừa độc đáo theo cách thể hiện riêng của người Chăm, dựa trên những nội dung tiếp thu được từ các quốc gia, dân tộc khác trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá của Ấn Độ, Ăngco (Khơme), Indonesia… Đó là tượng thờ thần Brahma, Shiva, Vishnu, cặp Linga - Yoni, vũ nữ Apsara, những con vật huyền thoại như chim thần Garuda, Kalan, bò thần Kaping, cảnh quan lễ cưới công chúa Sita trong trường ca Ramayana, cảnh những đạo sĩ đang trầm mặc, giảng kinh, luyện thuốc… Hầu hết những tác phẩm điêu khắc cũng như những kiến trúc của người Chăm đều đã được bản địa hoá, dân tộc hoá theo cảm quan thẩm mỹ, theo cuộc sống, phong tục tập quán của người Chăm, chứ không là sự sao chép đơn giản, máy móc các tác phẩm du nhập từ bên ngoài, đó là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm Đó là tượng thờ thần Shiva nữ tính, theo tín ngưỡng và nền tảng của chế độ mẫu hệ, kết hợp với tín ngưỡng phồn thực, về sau, tục thờ Shiva lại được cải biến thành tục thờ vua - thần (Mukhalinga), hay kỹ thuật xây dựng tháp Chăm bằng gạch, theo hình khối hình học, đơn giản khác với phong cách xây dựng tháp bằng đá và qui mô lớn, bề thế của những tháp ở Ấn Độ, ở Kampuchia Tháp Chăm luôn hướng về tác phẩm cân xứng, đẹp mắt, vừa độc đáo, vừa có cá tính kỹ thuật, có bí quyết riêng mà đến nay vẫn còn là một bí ẩn, là nét đặc sắc riêng biệt, “thể hiện sự sáng tạo, tài ba độc đáo của những nhà kiến trúc, điêu khắc Chăm thời xa xưa” [06, 45]

Trang 39

Sách Di sản thế giới ở Việt Nam đánh giá: “Nghệ thuật điêu khắc

Chăm tiếp nhận sâu sắc ảnh hưởng từ nghệ thuật Ấn Độ, nhưng trong quá trình phát triển tính bản địa ngày càng đậm nét và tính dân tộc ngày càng khẳng định, tạo nên vẻ độc đáo, sức hấp dẫn kỳ lạ Điêu khắc Chăm cũng có những hình ảnh thầy tu, vũ nữ khắc kỷ và khoái lạc nhưng đặc điểm về sức sống mãnh liệt của con người với nội tâm lúc bay bổng sảng khoái, lúc trầm tĩnh ưu tư, lúc trăn trở day dứt, những con vật thần thoại hay quen thuộc, những hoa lá tưởng như vô tri đều có vẻ rung lên, run rẩy, sống động dưới bàn tay tài ba, điêu luyện của các nghệ nhân Chăm” [03, 190]

Về kiến trúc, tháp Chăm ở Ninh Thuận được giới chuyên môn xếp loại phong cách kiến trúc độc đáo, khác phong cách kiến trúc tháp ở các địa phương có tháp Chăm như Bình Định, Quảng Nam

Tháp Pô Klong Girai, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XII - XIII để thờ vị vua Pô Klong Girai (1151 - 1205) là người có công lao lớn với dân, với nước, được người Chăm suy tôn là vua - thần Đây là cụm tháp độc đáo nhất, được xếp loại phong cách Muộn, kỹ thuật xây dựng kiến trúc đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật xây dựng của Champa xưa Quần thể tháp gồm một tháp chính cao 20.5 m, quay mặt về hướng đông, trong tháp thờ vua Pô Klong Girai bằng đá dưới hình thể Mukhalinga và một tượng bò thần Kaping bằng đá; một tháp lửa cao 9.31 m và một tháp cổng cao khoảng 8.56 m

“Hiện nay cụm tháp còn nguyên vẹn cả về công trình kiến trúc lẫn việc tổ chức thờ phượng, cúng kính của người Chăm… Đây là một công trình thờ phượng song có giá trị nghệ thuật kiến trúc xây dựng và điêu khắc các phù điêu như Thần Shiva, Bò thần Kaping, tượng vua… đạt mức hoàn mỹ Công trình đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia năm 1979” [34, 501]

Tháp Pô Rômêâ, được xếp theo phong cách nghệ thuật Pô Rômêâ Tháp

Trang 40

nằm trên ngọn đồi Bôn Acho, thuộc thôn Hậu Sanh, xã Hữu Đức, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Tháp Pô Rômê xây vào thế kỷ XVII, thờ vua Pô Rômê (1627 - 1651), được nhân dân Chăm tôn thờ là vua - thần, do có nhiều công lao trong việc xây dựng một hệ thống kênh mương ở vùng Ninh Phước, đặc biệt là đập Ma Rên và là người đã góp phần xây dựng tình đoàn kết các tôn giáo và các dân tộc láng giềng, hướng dẫn người Chăm tổ chức một số hội lễ dân gian [29, 67] Hiện nay, tháp Pô Rômê chỉ còn một tháp chính cao 19 m, bên trong thờ vua Pô Rômê dưới hình thể một Mukhalinga bằng đá và một tượng thờ hoàng hậu Bia Than Chan - người Êđê, phía sau tháp có một miếu nhỏ thờ hoàng hậu Bia Than Cih - người Chăm Hai tháp cũ là tháp lửa và tháp cổng đã bị sụp đổ hoàn toàn Tháp Pô Rômê được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc năm 1992

Một kiến trúc khác là tháp Hoà Lai, còn gọi là Ba Tháp, được xếp theo phong cách kiến trúc Hoà Lai, nằm trên một vùng đất phẳng, cách quốc lộ 1A khoảng 10m, thuộc thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận: “Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu phương Tây, khu tháp Hoà Lai hay còn gọi Tam Tháp là một trong những cụm di tích tháp Chăm cổ nhất (đầu thế kỷ IX) và đẹp nhất hiện còn”[13, 483] Trước kia, quần thể tháp gồm 3 ngôi tháp không thẳng hàng, có vòng thành bao quanh, nhưng hiện nay, tháp trung tâm và vòng thành đã bị sụp đổ, chỉ còn hai tháp nam và bắc, cửa tháp quay về hướng đông, ba mặt còn lại đều có cửa giả Nhân dân Chăm cho rằng tháp này là của người Miên xây dựng còn lỡ dở nửa chừng phải bỏ đi vì thua cuộc thi tài xây tháp với vua Pô Klong Girai Vì vậy, người Chăm không coi đó là sản phẩm của mình nên cũng không thờ cúng như các tháp khác [31, 34]

Những tính chất độc đáo của văn hoá Chăm không chỉ thể hiện trên lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc, mà còn được thể hiện trên nhiều phương diện

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2000), “Tượng Kut người Chăm”, Những thành tựu NCKH, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng Kut người Chăm
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
2. Phan An, Võ Công Nguyện (2000), “Hoạt động thương mại của người Chăm xưa và nay”, Những thành tựu NCKH, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thương mại của người Chăm xưa và nay
Tác giả: Phan An, Võ Công Nguyện
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
3. Lê Tuấn Anh (2005), Di sản thế giới ở Việt Nam, Nxb. Văn hoá Thông tin Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản thế giới ở Việt Nam
Tác giả: Lê Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin Tp.HCM
Năm: 2005
4. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Thuận (2001), Kỷ yếu Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lần thứ X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lần thứ X
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Thuận
Năm: 2001
5. Hoàng Chí Bảo (2003), Cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá (Giáo trình CNXHKH), Nxb. Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá (Giáo trình CNXHKH)
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991), Văn hoá Chăm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Chăm
Tác giả: Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1991
7. Lê Ngọc Canh (1992), “Người Chăm và xứ sở Champa”, Nghiên cứu lịch sử, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Chăm và xứ sở Champa
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nghiên cứu lịch sử
Năm: 1992
8. Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải (1995), Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm
Tác giả: Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
Năm: 1995
9. Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận (2001), Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận (2001)
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận
Năm: 2001
10. Ngô Văn Doanh (1995), Tháp cổ Champa, huyền thoại và sự thật, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháp cổ Champa, huyền thoại và sự thật
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 1995
11. Ngô Văn Doanh (1998), Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
Năm: 1998
12. Ngô Văn Doanh (2002), Văn hoá cổ Champa, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá cổ Champa
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
13. Ngô Văn Doanh (2004), Hoà Lai - Cụm tháp Khơme?, Nxb. Tổng hợp Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoà Lai - Cụm tháp Khơme
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. HCM
Năm: 2004
14. Phan Văn Dốp (1989), Tôn giáo của người Chăm, Nxb. Văn hoá thông tin, Thuận Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo của người Chăm
Tác giả: Phan Văn Dốp
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 1989
15. Dohamide, Dorohiêm (1967), Dân tộc Chàm lược sử, Nxb. Sống mới, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Chàm lược sử
Tác giả: Dohamide, Dorohiêm
Nhà XB: Nxb. Sống mới
Năm: 1967
16. Trương Minh Dục (2005), “Vấn đề bảo tồn các di sản văn hoá Champa hiện nay”, Dân tộc học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo tồn các di sản văn hoá Champa hiện nay
Tác giả: Trương Minh Dục
Nhà XB: Dân tộc học
Năm: 2005
17. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hoá tâm linh, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 1996
18. Phạm Đức Dương, “Nốt nhạc thiền hoà hiếu trong quan hệ Đại Việt và Champa thời Trần Nhân Tông”, Hội thảo Khoa học “Trần Nhân Tông và di sản văn hoá Yên Tử” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nốt nhạc thiền hoà hiếu trong quan hệ Đại Việt và Champa thời Trần Nhân Tông
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Hội thảo Khoa học “Trần Nhân Tông và di sản văn hoá Yên Tử”
19. Đảng CSVN (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng CSVN
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Đảng CSVN (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng CSVN
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm