1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx

56 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Trường học Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Chuyên ngành Kinh tế môi trường
Thể loại Đề cương
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 494 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thải các chất thải vào môi trường qua quá trình hoạt động và tái sản xuất Xét cho cùng thì  W =  R: Càng khai thác, sử dụng nguồn TNTN nhiều baonhiêu thì tất yếu sẽ càng thải vào môi t

Trang 1

Đề Cương Kinh Tế Môi Trường

Trang 2

Câu 1: Bản chất và mục đích nghiên cứu kinh tế môi trường

Hoạt động kinh tế của xã hội loài người có các thời kì(3):

- Kinh tế tự nhiên: Con người gắn chặt hữu cơ với hệ thống tự nhiên:

Hái lượm và săn bắt để sinh sống  chịu lệ thuộc hầu như hoàn toàn vào tự nhiên.

- Nền văn minh nông nghiệp: Con người đã tiến hành sản xuất trên cơ

sở phát triển các lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi ở những vùng đất có khả năng canh tác được  tác động nhất định đối với tự nhiên còn rất hạn chế và chưa

gây ra những biến đổi sâu sắc đối với môi trường sống

- Nền văn minh công nghiệp: Con người đã tiến hành rộng khắp các

hoạt động sản xuất  làm biến đổi ngày càng sâu sắc đối với môi trường sống.

- Dưới góc độ của nền kinh tế thị trường có hàng hoá môi trường

Môi trường với qui mô và chất lượng cho phép là một loại hàng hoá đặc biệt Hơn thế nữa, chất lượng môi trường khó có thể dùng tiền bạc và quyền lực

để giành lại được; do vậy nghiên cứu và giải quyết những vấn đề về môi trường

cần phải có sự hợp sức của toàn xã hội và toàn cầu

KTMT ra đời và PT là do đòi hỏi của sự PT KT- XH

Kinh tế môi trường nhằm nghiên cứu (3):

- Mối quan hệ biện chứng giữa môi trường với tư cách là hệ thống chỉnh

thể với các hoạt động kinh tế – xã hội

- Đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc đảm bảo sử dụng có

hiệu quả các nguồn TNTN và thành phần môi trường

- Ngăn chặn và giảm thiểu những sai lầm của thị trường, hoặc những

mặt trái trong các quyết định và cơ chế khai thác, sử dụng TNTN và môi trườngcho các hoạt động kinh tế – xã hội

Mục tiêu cơ bản của phần lớn các nước trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay (2):

- Sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm môi trường sống,

- Duy trì và cải thiện chất lượng của môi trường trong các hoạt động kinh

tế - xã hội.

Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, môi trường ngày càng mang

đậm tính chất của một dạng hàng hoá công cộng Môi trường với tất cả những tiện ích của mình, ngày càng trở thành tài sản chung của cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng

Bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững ngày càng trở thành

trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi quốc gia, mọi cộng đồng và mỗi cánhân

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu kinh tế môi trường (4):

1 Trang bị các lí luận, các kết quả điều tra nghiên cứu về môi trường do

các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xây dựng; đặc biệt là những lĩnhvực nghiên cứu về KTMT

2 Phổ biến sâu rộng các lí luận, các kinh nghiệm trong nghiên cứu về kinh tế môi trường cho mọi đối tượng khác nhau, nhất là các nhà sản xuất, các

nhà quản lí

Trang 3

3 Nghiên cứu, điều tra, nắm bắt những đặc điểm môi trường sống và những biến đổi của chúng do các tác nhân chi phối, đặc biệt là những biến đổi

do hoạt động phát triển kinh tế – xã hội tạo ra Qua đó cần đề cao và phát huynhững tác động tích cực; đồng thời phải hạn chế và loại trừ những tác động tiêucực

4 Tham gia các công tác bảo vệ và quản lí môi trường, hạn chế những thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, đảm bảo môi trường sống ngày càng tốt hơn Góp phần hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế – xã

hội một cách bền vững

Cõu2: Môi trường, chức năng, đặc trưng cơ bản của môi trường.

Môi trường của một sự vật hoặc một sự việc là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh

hưởng tới sự vật và sự việc đó

Môi trường sống (living environment) là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh

hưởng tới sự sống và phát triển của cơ thể sống

Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện (hoá học, vật lí, sinh vật

và xã hội) bao quanh có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của cá nhân và cộng đồngcon người

vừa phải nằm trong môi trường sống của thế giới sinh vật nói chung, lại vừa phải

có đặc thù riêng liên quan đến hoạt động sống của con người.

Cuộc sống của con người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 2 hệ thống:

Hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội (xem giản đồ hình 2.1)

Trong khoa học về môi trường và kinh tế môi trường chỉ giới hạn môi trường

trong hệ thống tự nhiên Môi trường được nghiên cứu ở đây chỉ gồm môi trường tự

nhiên và môi trường nhân tạo.

Luật Bảo vệ môi trường 12/12/2005 đã nêu:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (Mục 1, Điều 3, Chương 1) “Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác” (Mục 2, Điều 3)

2.1.2 Các chức năng cơ bản của môi trường (3)

Trang 4

2.1.2.1 Tạo không gian sống (không gian sinh tồn)

Lịch sử của loài người đã thấy rõ là, trong khi trái đất gần như không thay đổi về

độ lớn, nhưng dân số trên thế giới lại không ngừng gia tăng  diện tích đất tự nhiên bìnhquân đầu người ngày càng giảm sút nhanh chóng (xem bảng 2.1)

Bảng 2.1 Dân số và diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới qua các thời kì

2.1.2.2 Cung cấp tài nguyên thiên nhiên

Nguồn TNTN chứa trong môi trường là rất đa dạng và giàu có, nhưng không phải

là vô tận Sự khai thác quá mức các nguồn TNTN để phục vụ sản xuất và đời sống củacon người đã làm cho các nguồn này ở nhiều nơi bị cạn kiệt

2.1.2.3 Nơi chứa đựng, hấp thụ, trung hoà các chất thải độc hại

Đây được coi là chức năng tạo sự cân bằng tự nhiên của môi trường trong hệ sinhthái nuôi dưỡng Bản thân mỗi yếu tố môi trường đều có khả năng tự điều chỉnh trongmột giới hạn nhất định xoay quanh trạng thái cân bằng động

Tuy nhiên, quá trình đó chỉ có thể được đảm bảo khi lượng chất thải (W) vào môitrường không lớn hơn khả năng hấp thụ (A) của môi trường, tức là W< A

2.1.3 Các đặc trưng cơ bản của môi trường (4)

2.1.3.1 Môi trường có cấu trúc phức tạp

Môi trường bao gồm nhiều yếu tố cấu thành tạo nên hệ môi trường Các thànhphần môi trường thường xuyên tác động lẫn nhau, qui định và phụ thuộc lẫn nhau thôngqua dòng trao đổi vật chất – năng lượng – thông tin, làm cho hệ không ngừng vận động

và phát triển theo các chiều hướng khác nhau

2.1.3.2 Môi trường có tính động

Các thành phần trong hệ môi trường tồn tại, phát triển và vận động không ngừngtrong một trạng thái cân bằng động

Con người làm “hoa tiêu” lái môi trường phát triển theo những định hướng có lợi,

vừa đạt được hiệu quả môi trường, vừa mang lại hiệu quả kinh tế 2.1.3.3 Môi trường có tính mở

Trong hệ môi trường, các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục vậnđộng theo không gian và thời gian, từ nơi này đến nơi khác, từ thế hệ này sang thế hệkhác

2.1.3.4 Môi trường có khả năng tự tổ chức, điều chỉnh

Các thành phần trong hệ môi trường đều có khả năng tự tổ chức, tự điều chỉnh đểthích ứng với biến đổi bên trong theo qui luật của tự nhiên Hơn thế nữa, vật chất sốngtrong tự nhiên lại luôn có khả năng tự tiến hoá và vận động không ngừng để thích ứng vớiđiều kiện mới

Câu 3: Điều kiện cân bằng sinh thái trong môi trường.

Trang 5

2.1.4.1 Cấu trúc của hệ sinh thái trong môi trường

Con người cũng như các loài sinh vật khác muốn sống và phát triển được đều phải

nằm trong một hệ sinh thái nhất định Hệ này luôn luôn được đặt trong trạng thái cân

để mọi sinh vật sử dụng, biến đổi thành các chất hữu cơ sống

2- Các chất hữu cơ

Loại này được thể hiện dưới dạng các chất mùn rác chứa nhiều hợp chất hữu cơphức tạp (các dạng carbua hydro) Chúng liên kết các thành phần sinh vật và vô sinh vớinhau, tham gia vào các chu trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái

3- Thành phần vật lí của môi trường

Đó là các điều kiện vật lí của từng loại môi trường Mỗi loài, mỗi nhóm cá thể đòihỏi phải có các điều kiện vật lí của môi trường tương ứng

Các chất vô cơ, chất hữu cơ và thành phần vật lí của môi trường nêu trên tạo

thành sinh cảnh trong toàn hệ sinh thái.

4- Các sinh vật sản xuất

Đó là các các loài cây xanh, sinh vật có khả năng tự tổng hợp chất hữu cơ sống từcác chất vô cơ đơn giản thông qua quá trình quang hợp Quá trình quang hợp khôngchỉ tạo ra các loại sinh khối khác nhau (C6H12O6), mà còn trên cơ sở hấp thụ khí CO2 độchại để cung cấp dưỡng khí (O2) duy trì sự sống

Thành phần này đóng vai trò mở đầu cho các chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái, làmắt xích quan trọng, quyết định nhất cho sự sống của trái đất

5- Các sinh vật tiêu thụ

Đó thường là các loài động vật, kể cả con người là sinh vật dị dưỡng lớn, tức làthức ăn của chúng dựa vào các sinh vật khác Đây là thành phần động nhất trong hệ sinhthái

6- Các sinh vật hoại sinh

Đây là các sinh vật dị dưỡng bậc thấp, thường có kích thước nhỏ bé (vi khuẩn,nấm, mốc…) Nhờ có các loài sinh vật này mà tất cả các cơ thể sống khi chết đi sẽ đượcphân huỷ và được khép kín trong các chu trình tuần hoàn vật chất

Ba nhóm sinh vật nêu trên hợp thành nhóm gọi là quần xã sinh vật Giữa chúng

tạo thành các “chuỗi thức ăn”, trong đó mỗi mắt xích là một loài nhất định

2.1.4.2 Điều kiện đảm bảo cân bằng sinh thái

Trong mỗi hệ sinh thái, các thành phần có mối quan hệ gắn bó và tương hỗ vớinhau

Mối quan hệ đó, một mặt là tiền đề quan trọng để sự sống liên tục tồn tại và pháttriển; mặt khác, tạo cho từng hệ sinh thái có một sự ổn định tương đối, tạo nên cân bằngsinh thái  duy trì được sự cân bằng giữa các thành phần cơ bản trong hệ sinh thái

Câu 4: Các tác động của phát triển đến môi trường

Trang 6

Phát triển kinh tế có thể được hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt

của nền kinh tế trong một thời kì nhất định; trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế – xã hội Như vậy, phát triển kinh tế còn xem xét đến cả tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu và tính bền vững

2.2.2 Các tác động của phát triển đến môi trường (3)

2.2.2.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Nếu mức khai thác nhỏ hơn khả năng phục hồi nguồn tài nguyên, hoặc quá trìnhkhai thác sử dụng nguồn tài nguyên hợp lí thì môi trường được cải thiện Ngược lại,thường bị suy thoái

2.2.2.2 Thải các chất thải vào môi trường qua quá trình hoạt động và tái sản xuất

Xét cho cùng thì  W =  R: Càng khai thác, sử dụng nguồn TNTN nhiều baonhiêu thì tất yếu sẽ càng thải vào môi trường lớn bấy nhiêu  đẩy mạnh phát triển côngnghệ tinh, sử dụng khối lượng ngày càng ít nguyên liệu hơn, việc xây dựng lối sống lànhmạnh giảm thải vào môi trường chính là cải thiện môi trường sống

2.2.2.3 Tác động trực tiếp vào môi trường

Trong quá trình phát triển, tác động của con người vào môi trường phù hợp vớicác qui luật tự nhiên thì tạo ra hiệu quả tích cực Ngược lại, dẫn đến các hậu quả tiêu cực,gây hại cho môi trường  bất kì tác động nào của con người đối với môi trường đòi hỏiphải được tính toán, cân nhắc thận trọng

Câu 5: Mối quan hệ giữa môi trường với phát triển

2.3.1 Mối quan hệ qua lại, thường xuyên và lâu dài

Từ xa xưa đến nay, Con người và sự sống của con người vẫn luôn luôn lệ thuộc

và là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống tự nhiên

Ngược lại, trong quá trình sống và hoạt động của mình, con người cũng thườngxuyên, liên tục khai thác các nguồn TNTN và tác động vào môi trường theo các hướngkhác nhau

2.3.2 Mối quan hệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, phức tạp, sâu sắc và ngày càng mở rộng

Đối với quá trình phát triển, các yếu tố môi trường ngày càng có ý nghĩa nhiều hơn  lợi ích có thể nhìn thấy và khai thác được, mà còn cả lợi ích chưa thể nhận ra

Tác động của con người ngày càng trở nên mạnh mẽ về cường độ, phức tạp và sâu sắc về tính chất, và ngày càng mở rộng về qui mô.

Bởi vậy, cho đến nay trước sức mạnh của con người, trái đất và môi trường sốngngày càng trở nên nhỏ bé và mỏng manh, rất dễ bị tổn thương và bị tàn phá  Loàingười phải nhận thức rõ và đầy đủ vai trò và trách nhiệm của mình trước môi trườngsống

Câu 6: quan điểm phát triển bền vững trong kết hợp môi trường và phát triển

2.5.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Khi mà cuộc chạy đua kinh tế trên thế giới diễn ra ngày càng khốc liệt, thì khuynh

hướng phát triển bằng bất kì giá nào được đề cao  môi trường ngày càng bị suy thoái,

dẫn đến phát triển bị giảm sút

Cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa môi trường và phát triển Đây chính là cơ sở

cho sự phát triển bền vững

Trong báo cáo của Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc

năm 1987 “Phát triển bền vững (Sustainable Development) là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lí nguồn TNTN và bảo vệ môi trường, nhằm

Trang 7

đáp ứng nhu cầu hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ mai sau”.

Một hoạt động được gọi là bền vững phải đạt được ở mọi mặt: kinh tế, xã hội,

sinh thái và môi trường

2.5.2 Quan điểm phát triển bền vững trong kết hợp môi trường và phát triển

(4)

2.5.2.1 Tôn trọng các qui luật tự nhiên

Trước hết phải nắm rõ các qui luật tự nhiên thông qua việc không ngừng nâng

cao nhận thức của mỗi người và của cả cộng đồng dân cư đối với tự nhiên

Mặt khác, phải lựa theo các qui luật vốn có của tự nhiên để tác động vào tự nhiên một cách phù hợp Không can thiệp thô bạo và không được làm đảo lộn các qui luật vốn bền vững của tự nhiên để tránh sự “trả thù” của tự nhiên Xây dựng mối quan hệ thân thiện, “khiêm tốn” với tự nhiên Vấn đề “chinh phục tự nhiên” xem xét lại một cách

nghiêm túc hơn

2.5.2.2 Tiết kiệm trong khai thác, sử dụng các nguồn TNTN và thành phần môi trường

Để phát triển bền vững nhất thiết phải tiết kiệm

Trước hết, cần phải quản lí chặt chẽ môi trường, đặc biệt là các nguồn TNTN Mặt khác, cần phải tăng cường áp dụng các thành tựu giảm thiểu hao phí TNTN

và thành phần môi trường để tạo ra một đơn vị sản phẩm

2.5.2.3 áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong việc sử dụng tổng hợp và thay thế các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường

- Sử dụng tổng hợp các nguồn TNTN và thành phần môi trường là để hướng tới

tạo ra một nền sản xuất kín, không có hoặc có rất ít chất thải

- Thay thế các nguồn TNTN và thành phần môi trường là để sử dụng các nguồn dễ

kiếm, rẻ tiền, hoặc lấy từ nguồn TNTN có khả năng tái tạo hay vô hạn thay thế cácnguyên liệu truyền thống trước đây khó kiếm và dễ cạn kiệt

2.5.2.4 Tăng cường các biện pháp bảo vệ, phục hồi, cải tạo và làm phong phú hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thành phần môi trường

Bảo vệ môi trường gắn với bảo tồn, cải tạo, làm phong phú và giàu có hơn cácnguồn TNTN

Cõu7: Cỏc nguyờn tắc phỏt triển bền vững

2.5.3.1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, làm cơ sở đạo lí cho các nguyên tắc tiếp theo khác.Trước hết, sự phát triển của mỗi nước, mỗi cộng đồng không được làm tổn hạiđến quyền lợi của những nước khác, cộng đồng khác và của các thế hệ mai sau Mặtkhác, sự sống còn của con ngưòi lại phụ thuộc và do vậy phải tôn trọng tất cả các dạngsống trên trái đất

2.5.3.2 Cải thiện chất lượng cuộc sống con người

Sự phát triển chân chính chỉ có được khi nó làm cho cuộc sống của con người

được tốt lên không chỉ về kinh tế, mà còn cả về việc tạo một cuộc sống lành mạnh, có một nền giáo dục tốt, có đủ tài nguyên đảm bảo cuộc sống, có quyền tự do về chính trị, được sống an toàn và không có bạo lực.

2.5.3.3 Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của trái đất (3)

- Bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống Hệ thống này là những quá trình sinh thái

nuôi dưỡng và bảo tồn sự sống

Trang 8

- Bảo vệ tính đa dạng sinh học Sự đa dạng sinh học chính là tổng hợp các nguồn

gen trong hệ sinh thái, mà các nguồn này lại không ngừng biến đổi và liên tục tiến hoá

- Bảo đảm việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo (đất,

nước, động vật, thực vật…), để chúng có thể phục hồi lại

2.5.3.4 Hạn chế tới mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên không tái tạo

Tài nguyên không tái tạo là các nguồn tài nguyên khoáng sản (than đá, dầu khí,quặng mỏ…) Chúng ngày càng cạn kiệt cùng với quá trình khai thác

2.5.3.5 Giữ vững khả năng chịu đựng của trái đất

Khả năng chịu đựng có thể được hiểu là giới hạn có thể chấp nhận để có một sốlượng cá thể sống được trong vùng mà không gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái

2.5.3.6 Thay đổi thái độ và thói quen của mỗi người

Cần phải thay đổi thái độ và hạn chế tiêu dùng lãng phí

Tại các nước có thu nhập thấp, sự nghèo khổ buộc con người khai thác bừa bãiTNTN; ở các nước phát triển, tiêu dùng cho sinh hoạt và SX lớn  gây ra tác động xấuđến môi trường  cần thay đổi

2.5.3.7 Cho phép các cộng đồng tự quản lí lấy môi trường của mình

Môi trường là ngôi nhà chung, không phải của riêng ai  phải làm chủ nơi sinhsống, cần khuyến khích mọi người tự quản lí môi trường của mình

Đồng thời, chính phủ giúp đỡ hướng dẫn các cộng đồng thực hiện những nhiệm

vụ chung của đất nước theo hướng phát triển bền vững

2.5.3.8 Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc phát triển và bảo vệ

Mỗi khu vực, bộ phận lãnh thổ là một yếu tố cấu thành trong một thể thống nhấtcủa đất nước

 Thể chế đồng bộ, thống nhất, có sự bao quát đối với mọi lĩnh vực, trong đó cólĩnh vực về môi trường

 Cơ chế phù hợp, đảm bảo quyền lợi của con người, phục vụ đắc lực cho việcthực hiện các mục tiêu phát triển bền vững

2.5.3.9 Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu

Trong thế giới ngày nay, không có quốc gia nào có thể phát triển khép kín được.Muốn đạt được sự phát triển bền vững toàn cầu cần phải có sự liên minh chặt chẽ giữa tất

cả các nước

Tất cả đều có lợi ích trong sự phát triển bền vững chung, cũng như đều bị đe doạđến quyền lợi nếu chúng ta không đạt được điều này

Cần đẩy mạnh việc kí kết những công ước quốc tế đối với các quốc gia, đặc biệt

là đối với những nước có những vấn đề gay gắt và nhạy cảm về môi trường

Câu 8 : Mô hình khai thác đối với các tài nguyên vô hạn

Trong phạm vi sự sống của loài người thì mặt trời và nguồn năng lượng của nó vẫn được coi là vô hạn Nguồn năng lượng mặt trời đóng vai trò quyết định và là nguồn gốc của sự

sống trái đất

Từ năng lượng mặt trời được chuyển hoá, các dạng năng lượng khác được hình

thành và được tích luỹ dưới dạng tiềm năng: gió, sóng biển, dòng chảy biển và đại dương, dòng chảy sông suối,… và cuối cùng là năng lượng sinh khối

Nguồn tài nguyên này phân bổ không đều theo thời gian trong ngày và trong năm, theo không gian lãnh thổ

Trang 9

Loài người đã có nhiều thành tựu trong việc khác thác và sử dụng nguồn tàinguyên năng lượng mặt trời; hơn nữa, đây lại là loại năng lượng sạch, rất cần cho sự pháttriển bền vững Về cơ bản, trong phạm vi hoạt động kinh tế có thể xem xét theo haihướng cơ bản sau:

1) Tăng cường khai thác, sử dụng trực tiếp nguồn năng lượng từ mặt trời

cung cấp theo hai cách:

- Sử dụng nhiệt mặt trời :

+ Phơi, sấy khô các vật dụng và hàng hoá (phơi khô nông, lâm, thuỷ, hải sản; phơi khô các sản phẩm chế biến; phơi khô quần áo và đồ dùng gia đình…) Đây là một hình thức truyền thống rẻ tiền nhất Tuy nhiên, hình thức này lệ thuộc nhiều vào thời tiết  có

nhiều hạn chế

+ Đun nóng các nồi hơi để phát điện & sử dụng vào các mục đích khác.

- Sử dụng bức xạ chuyển hoá thành nguồn quang điện mặt trời

Sử dụng trực tiếp nguồn năng lượng mặt trời để phát điện (quang điện mặt trời) vàtích luỹ điện dưới dạng pin mặt trời

Việc không ngừng hạ giá thành và từng bước khắc phục những nhược điểm về mặt kĩ thuật đối với pin mặt trời sẽ mở ra triển vọng lớn của loài người.

2) Tăng cường khai thác các dạng năng lượng phái sinh từ năng lượng

mặt trời (2):

- Các nguồn năng lượng của gió, sóng biển; dòng chảy của đại dương, biển, sông suối; địa nhiệt…

+ Lợi dụng sức gió, sức của dòng chảy, nhiệt độ của các suối nóng v.v…

+ Các nhà máy điện chạy bằng sức gió (phong điện), sức nước của sông, suối(thuỷ điện), suối nóng (điện địa nhiệt)

Phát triển thuỷ điện được coi là phổ biến hơn cả với lợi ích nhiều mặt: SX điện năng, điều hoà lưu lượng dòng chảy; cung cấp nước dồi dào và ổn định hơn cho đời sống và sản xuất; hạn chế lũ lụt và hạn chế xói mòn, rửa trôi đất đai; tạo tiểu khí hậu ôn hoà hơn và cảnh quan đặc trưng vùng hồ; phát triển nghề cá, giao thông vận tải, dịch vụ

du lịch v.v…

- Các nguồn năng lượng sinh học (2):

+ Nguồn năng lượng từ các chất hữu cơ trong các quá trình sinh - địa - hoá:

Biogas, các nguồn nhiên liệu hoá thạch (Than đá, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên- nguồn

này sẽ được nghiên cứu riêng).

+ Nguồn năng lượng của các sinh vật sống, tức là từ sinh khối các loài động, thựcvật  quyết định đến sự sống

 Để thấy rõ mô hình khai thác đối với các nguồn tài nguyên vô hạn ta có thểxem xét qua sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ 3.1 Mô hình khai thác nguồn tài nguyên vô hạn

Trang 10

Câu9: nguyên lý khai thác đối với các tài nguyên sinh vật

Trong điều kiện hiện nay, con người mới chỉ có khả năng khai thác các dạng tài nguyênnăng lượng đạt hiệu suất dưới 1,5%, tức là nguồn này nhìn chung còn rất dồi dào, chúng

ta khai thác sử dụng là không đáng kể

Sản lượng khai thác đối với nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh (Y) được xác

định trên cơ sở mối quan hệ giữa trữ lượng (X) và tỉ lệ khai thác (E); tức là chúng đượcbiểu diễn qua biểu thức: Y= E.X; hay là E =

X 0 X1 X MSY XMAX X (Trữ lượng)

Hình 3.3 Quan hệ giữa tỉ lệ khai thác (E) với trữ lượng tài nguyên (X)

Qua công thức trên ta thấy, tỉ lệ khai thác E tỉ lệ thuận với sản lượng khai thác(Y), và tỉ lệ nghịch với trữ lượng (X); nhưng vì Y<X, nên E<1 Trong trường hợp này thìtrữ lượng của nguồn tài nguyên thường đạt ở mức thấp, dưới trữ lượng để đạt sản lượngtối đa bền vững (XMSY) Căn cứ vào mối quan hệ này ta có thể đưa ra các chính sách quản

lí tài nguyên phù hợp với từng điều kiện cụ thể của nguồn tài nguyên

Ví dụ: Hãy xác định sản lượng tối đa bền vững (MSY) và tỉ lệ khai thác(E) trong việc kinh doanh và phát triển rừng nguyên liệu giấy tại địa bàn nghiên cứu?Biết rằng, loại cây này có tốc độ tăng trưởng cho khai thác chu kì là 10 năm, với đườngkính trung bình đạt 0,24m, chiều dài cây được qui đổi là 4m, khoảng cách giữa các câytrung bình là 2m

Ta dễ dàng xác định được trữ lượng tối đa (XMAX)của cây nguyên liệu giấy qui đổitrên 1 ha bằng các phép tính đơn giản là:

+ Số lượng cây được qui đổi có trên 1ha là:

Trang 11

10.000 : (2x2) = 2500 (cây)+ Lượng sinh khối qui đổi của 1 cây đạt chuẩn là:

(0,24:2)2 x 3,14x 4  0,18 (m3)+ Trữ lượng tối đa 1 ha rừng là:

Hình 3.4 Sản lượng tối đa bền vững (MSY) và tỉ lệ khai thác (E) của rừng nguyên liệu giấy ở địa bàn nghiên cứu.

Để đảm bảo hàng năm khai thác cây làm nguyên liệu giấy mà không làm suygiảm khả năng tái sinh rừng, thì sản lượng trung bình không được vượt quá khả năng táisinh của rừng, tức là:

+ Sản lượng tối đa bền vững (MSY) sẽ là:

450 : 10 = 45 (m3/ha)+ Tỉ lệ khai thác (E) trong điều kiện sản lượng tối đa bền vững E = 10%

(hoặc 1/10) Có thể được minh hoạ qua Hình 3.4.

Câu10: nguyên lý khai thác với tài nguyên khoáng sản

Hoạt động khai thác khoáng sản có ảnh hưởng từ 2 phía:

- Làm giảm mức độ khai thác của một mỏ cụ thể

- Làm tăng các hoạt động thăm dò và phát triển, từ đó dẫn đến tăng mức khai tháctrong tương lai

Nguồn tài nguyên chỉ được phép khai thác theo nguyên lí: Tốc độ tăng giá của tàinguyên được khai thác phải bằng tỉ lệ chiết khấu, hay là bằng tốc độ tăng giá trị vốn Người sở hữu tài nguyên sẽ được hưởng lợi vì giá tài nguyên tăng theo thời gian

Như vậy: Mức giá tối ưu = Chi phí khai thác + Chi phí người sử dụng.

Trong đó, chi phí người sử dụng = chi phí cơ hội của việc khai thác hiện tại được

đưa vào lợi nhuận trong tương lai (tức là lấy từ lợi nhuận với mức giá phổ biến trongtương lai)

Tổng lượng khoáng sản khai thác được sẽ phải đảm bảo tối đa hoá giá trị hiện tạiròng lợi nhuận đã chiết khấu:

- Nếu giá cả của khoáng sản sẽ tăng, hoặc nếu chi phí khai thác được xem là giảm  Chủ có thể trì hoãn hoặc giảm sản lượng khai thác hiện tại.

- Nếu lãi suất hiện tại đối với đầu tư tài chính tăng Tăng mức độ khai thác

khoáng sản tại các mỏ Lợi nhuận hiện tại lớn hơn so với lợi nhuận trong tương lai

Trang 12

Đồng thời, các công ti khai thác cũng sẽ nỗ lực thăm dò và phát triển các mỏ mới nhằmtăng cường khai thác

Câu11: Dân cư, dân số, và sự kết hợp gia tăng dân số, phát triển kinh tế đồi với khai thác, sử dụng TNTN và môI trường.

- Tác động của gia tăng dân số đến việc khai thác, sử dụng TNTN và môi trường

Sự tác động của dân cư đến môi trường đã được Paul Ehrlich và John Holdren đưa

ra năm 1971 dưới dạng biểu thức sau:

I = P A.T

Trong đó:

I: Tác động môi trường của các yếu tố liên quan đến dân số

P: Qui mô dân số

A: Mức độ sử dụng TNTN bình quân đầu người

T: Tác động môi trường của việc sử dụng công nghệ

Tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số thế giới thể hiện:

+ Sự khai thác quá mức các nguồn TNTN tạo sức ép nặng nề

+ Khối lượng lớn chất thải, vượt quá khả năng tự hấp thụ, trung hoà của môitrường

+ Tình trạng phân hoá sâu sắc mức sống của dân cư giữa hai hệ thống các nước.Theo ước tính, 20% số dân là người giàu chiếm khoảng 83% tổng thu nhập của thế giới;ngược lại, 20% số dân nghèo nhất chỉ có 1,5% tổng thu nhập Từ đó dẫn đến quá trìnhgây ô nhiễm môi trường theo sự phân cực giữa hai hệ thống này là:

* Ô nhiễm do nghèo đói ở các nước đang phát triển.

* Ô nhiễm do giàu có ở các nước công nghiệp phát triển.

Chính sự chênh lệch ngày càng lớn mức sống đã dẫn đến tình trạng di dân phổbiến xảy ra dưới nhiều hình thức Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh khôngđáp ứng kịp thời cho sự gia tăng dân số đô thị  ngày càng làm trầm trọng hơn sự ônhiễm môi trường ở các thành phố lớn, đặc biệt là các thành phố lớn ở các nước đangphát triển

Từ giữa thế kỉ XX đến nay, dân số thế giới tăng nhanh 2 tỉ người năm 1930, đếnnay (năm 2007) đã lên tới 6,6 tỉ người Do vậy, để duy trì và phát triển cuộc sống, conngười đã khai thác ồ ạt các nguồn TNTN, làm tàn phá và gây ô nhiễm môi trường, phá vỡcân bằng sinh thái, đe doạ trực tiếp đến sự sống còn của chính con người

- Nghèo đói và nguy cơ tàn phá môi trường

Do phải đối mặt với sự tồn tại cuộc sống trước mắt, những người nghèo vừa lànguyên nhân gây ra các vấn đề tài nguyên - môi trường, vừa là nạn nhân của chính sự tànphá tài nguyên - môi trường Đó chính là hệ thống có liên quan mật thiết, trói buộc lẫnnhau giữa sự gia tăng nhanh về dân số, sự nghèo đói, sự thấp kém về dân trí và sự tàn phá

về TNTN và môi trường (hình 3.7.)

Những bộ phận dân cư nghèo nhất thường lại sống ở những vùng nhạy cảm nhất,

dễ bị tổn thương nhất về tài nguyên và môi trường Các vấn đề về tài nguyên và môitrường thường bị xem nhẹ và bị chi phối bởi những nỗ lực trong việc thoả mãn các nhucầu thiết yếu của người nghèo về các nhu yếu phẩm, nhà ở, y tế, giáo dục

Tàn phá TNTN Đói nghèo và môi trường

Trang 13

Dân số tăng nhanh Dân trí thấp

Hình 3.7 Dân số tăng nhanh với nghèo đói và tàn phá môi trường

3.3.2.3 Sự kết hợp gia tăng dân số, phát triển kinh tế với khai thác TNTN và bảo vệ môi trường (3)

- Tỉ lệ gia tăng dân số hợp lí

Cứ tăng 1% dân số thì phải cần tăng 3 – 4% GDP mới đảm bảo mức sống ổn địnhbình thường của cộng đồng dân cư, đảm bảo chịu đựng hệ sinh thái

Hiện có hai xu hướng trái ngược nhau: Dân số tăng nhanh ở các nước đang pháttriển; dân số tăng rất chậm ở các nước công nghiệp phát triển: Châu Phi là 2,4%, Trung

Mĩ 2,4%, Nam Mĩ 1,5%, Châu á 1,3%, thì Châu Âu chỉ đạt - 0,2%, Bắc Mĩ 0,5% 1 Cảhai xu hướng này đều dẫn đến những hệ quả bất lợi trong định hướng phát triển kinh tế –

xã hội ở những quốc gia này

Tại các nước có tỉ lệ gia tăng tự nhiên dân số cao, điều kiện sống và phát triểnkinh tế – xã hội ở trình độ thấp kém về mọi mặt, nguy cơ tàn phá TNTN và môi trườngrất cao; còn tại các nước dân số tăng tỉ lệ thấp lại đang gặp nhiều khó khăn trong việc giảiquyết các vấn đề lao động xã hội (lực lượng lao động thiếu, khủng hoảng về cơ cấu dân

cư và gia đình )  Di cư bất hợp pháp kéo dài  làm trầm trọng hơn trong việc giải

quyết ổn định các vấn đề kinh tế – xã hội của các nước này Đảm bảo tỉ lệ gia tăng dân

số hợp lí là một nhu cầu cấp thiết đối với các nước đang phát triển (xem hình 3.8)

Hình 3.8 Dân số ổn định với kinh tế phát triển, bảo vệ TNTN & MT

ở các nước công nghiệp phát triển, dân số hàng năm khoảng 0,3 – 0,5% là phùhợp Mức tăng dân số ở những nước đạt dưới mức này đều được coi là mức tăng thấp

Nhưng ở các nước đang phát triển, vẫn cần tỉ lệ tăng dân số ở mức trên dưới1,0% Mức tăng dân số ở những nước vượt quá mức này đều được coi là mức tăng cao

ở Việt Nam, mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có 1 đến 2 con phải là một quyết tâm lớncủa toàn xã hội Gia tăng dân số hợp lí, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, cùng vớiviệc tăng cường bảo vệ môi trường, bảo tồn và tái tạo các nguồn TNTN - Đây là chiếnlược phát triển kinh tế – xã hội bền vững của đất nước

- Phân bố lại dân cư và sử dụng hợp lí lao động

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình hình chung của nhiều quốc gia trên thếgiới là dân cư phân bố không đều, không hợp lí Như vậy, rõ ràng các điều kiện TNTN vàmôi trường có ảnh hưởng trực tiếp và đặc biệt quan trọng trong sự phân bố dân cư trênthế giới

Cho đến nay, đã diễn ra quá trình dịch chuyển kinh tế, phát triển mạnh mẽ các khucông nghiệp, các vùng kinh tế mới để khai thác các nguồn lợi từ tự nhiên Từ đó đã kéo

theo quá trình di dân dưới nhiều hình thức khác nhau.

Quá trình di dân thường được thể hiện dưới hai hình thức chủ yếu: Di dân tự do

và di dân có tổ chức

Trang 14

+ Di dân tự do thường diễn ra ở qui mô nhỏ lẻ, thiếu kế hoạch thống nhất và nằm

ngoài sự kiểm soát quản lí của nhà nước Di dân loại này thường dễ gây ra những tácđộng tiêu cực đến TNTN và môi trường Do vậy, đối với di dân loại này Nhà nước cầnphải có biện pháp cụ thể, một mặt nhanh chóng ổn định cuộc sống của người dân định cư,mặt khác phải giáo dục và hướng dẫn họ cùng tham gia bảo tồn các nguồn TNTN và môitrường sống

Di dân từ nông thôn ra thành thị, nhất là ra các đô thị lớn áp lực về việc làm, vềtăng nhanh các tệ nạn xã hội, về môi trường đô thị xuống cấp Nhà nước cần phải có cácchính sách, tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần đẩy mạnh quá trình đô thị hoá, tạo

ra sự phát triển đồng đều về các mặt để thu hút lao động và dân cư

+ Di dân có tổ chức là việc Nhà nước bằng các hình thức khác nhau có các chính

sách để đưa dân từ vùng đông dân đến các vùng ít dân, hoặc đưa dân đi khỏi vùng dophải giải toả xây dựng các công trình quan trọng quốc gia hoặc do phải đảm bảo an toàndân sinh

- Lồng ghép vấn đề dân số và môi trường với các chính sách phát triển kinh tế –

xã hội khác

Vấn đề TNTN và môi trường gắn với vấn đề dân số và chính sách phát triển kinh

tế – xã hội ở mỗi quốc gia Giữa chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết và tác độngtương lẫn nhau

Dân số tăng nhanh, nghèo đói và dân trí thấp thường đi liền với nhau; và hậu quảkéo theo là sự cạn kiệt các nguồn TNTN và tàn phá môi trường Như vậy, phải lồng ghépvấn đề dân số vào chiến lược và kế hoạch phát triển; đồng thời phải liên kết với giảiquyết các vấn đề TNTN và môi trường

Việt Nam được xếp là nước đang phát triển có tốc độ gia tăng tự nhiên dân số cao.Nhà nước ta đã tiến hành cuộc vân động sinh đẻ có kế hoạch, bằng việc giảm mức sinh,giảm qui mô gia đình Tốc độ gia tăng dân số liên tục giảm từ 3,2% (năm 1976) xuống1,44% (2003), và hiện nay đang dừng lại ở mức 1,3%

Tăng cường xoá đói, giảm nghèo ổn định đời sống, phát triển ngành nghề, chuyểndịch cơ cấu kinh tế ở các vùng miền, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc ít người, nơi thường có nhạy cảm với vấn đề tài nguyên và môi trường Nhờ vậy,

tỉ lệ hộ đói nghèo đã giảm nhanh Trong "Báo cáo cập nhật nghèo 2006 - nghèo và giảmnghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004" ngày 17/3/2007 do Viện Khoa học Xã hội ViệtNam phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết: Trong 10 năm (1993-2004) thànhtựu lớn nhất của Việt Nam đạt được là tốc độ giảm nghèo nhanh: tỉ lệ hộ nghèo từ 58,1%(năm 1993), giảm xuống còn 19,5% (năm 2004); tức là đã giảm được38,6% số hộ nghèo

Là một nước được xếp là nghèo nhất thế giới trước đây, đến năm 2005 Việt Nam đã chỉcòn xếp thứ 47 trong số 103 nước đang phát triển được xếp hạng về chỉ số nghèo tổnghợp (HPI)

Việc nâng cao trình độ dân trí được chú ý đặc biệt Tăng cường hệ thống giáo dụcphổ thông, dạy nghề và các bậc đào tạo theo hướng đa dạng hoá các hình thức, phát huytối đa các nguồn lực xã hội

Bằng việc giảm gia tăng tự nhiên dân số, tăng cường xoá đói, giảm nghèo, nângcao trình độ dân trí, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam đã được Liên HợpQuốc đánh giá là tăng nhanh và đạt ở mức khá cao: Từ 0,583 (năm 1985), 0,649 (1995),

đã tăng đến 0,704 (2005) Vì vậy, từ một nước xếp cuối, đến năm 2005 nước ta đã đượcđưa lên xếp thứ 108 trong số 177 nước được đưa vào xem xét Trong mục tiêu phát triển

Trang 15

thiên niên kỉ (MDGs), Việt Nam đã làm được những việc mà nhiều nước giàu vẫn chưalàm được, như tỉ lệ học sinh nhập học cao (đạt 97,5% trong năm 2004), tỉ lệ trẻ em suydinh dưỡng giảm (còn 24% trong năm 2005), bình đẳng giới

Tuy nhiên, vấn đề TNTN và môi trường ở nước ta hiện vẫn còn nhiều bất cập, cần

phải tiếp tục được giải quyết Đặc biệt, tình trạng khai thác rừng và khoáng sản bừa bãi chưa được kiểm soát chặt chẽ, tình trạng gây ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp

và các khu dân cư tập trung vẫn còn diễn ra khá nghiêm trọng ở nhiều nơi

Câu12: Tác động gây ngoại ứng tiêu cực đến môI trường

Phần lớn các hoạt động sản xuất và dịch vụ thường gây ngoại ứng tiêu cực đến môitrường

O Q0 Q1 Q

Hình 4.1 Tác động gây ngoại ứng tiêu cực đến môi trường

Trên hình 4.1 đường chi phí cá nhân biên (MPC) luôn nằm dưới đường chi phí xã hộibiên (MSC) Độ lớn chênh lệch giữa hai loại chi phí này là chi phí ngoại ứng biên(MEC) Điều đó có nghĩa là:

 = Độ lớn hình OBEQ0Tổng doanh thu TR0 = 

Qo dQ MR

0 = Độ lớn hình OIEQ0

Trang 16

Tổng lợi ích đạt được của xã hội TB0 = 

Qo dQ MR

0 - MSC dQ

Qo

.0

 = TR0 - TC0= Hiệu

số độ lớn diện tích hình OIEQ0 - OBEQ0 = Độ lớn diện tích hình IEB (1)

- Tại điểm F Đây là điểm cân bằng với hiệu quả của doanh nghiệp, do vậy Q1 làsản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của doanh nghiệp:

Tổng chi phí TC1 = 

1 0

Q

dQ MSC = Độ lớn hình OBHQ1

Tổng doanh thu TR1 = 

1 0

Q dQ

MR = Độ lớn hình OIFQ1

Tổng lợi ích đạt được của xã hội TB1 = 

1 0

Q dQ

MR - 

1 0

Q

dQ MSC = TR1 – TC1

= Hiệu số độ lớn hình OIFQ1 – OBHQ1 = Hiệu số độ lớn hình IEB – EFH (2)

* So sánh tại điểm F với tại điểm E ta có:

TB1 – TB0 = (2) – (1) = Hiệu số độ lớn các hình: IEB – EFH – IEB = - EFH; hay

TB1<TB0

Như vậy, khi sản lượng từ Q0  Q1, tổn thất lợi ích xã hội = độ lớn hình EFH sản lượng càng tăng hoặc chi phí cá nhân biên (MPC) càng thấp thì tổn thất lợi ích xã hộicàng lớn Tổn thất này chính là phần lợi nhuận tăng thêm của doanh nghiệp mà xã hộiphải gánh chịu  Chính phủ đánh thuế ô nhiễm: chi phí cá nhân biên (MPC)  chi phí

xã hội biên (MSC), hay là:

Nếu sản lượng đạt tới Q1 thì tổng mức thuế doanh nghiệp phải nộp (T1) bằng tổngchi phí ngoại ứng có hại (TEC1) do doanh nghiệp gây ra :

1

0

Q

dQ MPC hay T1= TEC1= độ lớn hình ABHF Sản lượng càng

cao càng phải đóng thuế nhiều hơn và thường với mức thuế suất luỹ tiến theo mức tăngsản lượng của doanh nghiệp Hai giải pháp phải thực hiện:

- Doanh nghiệp phải hạn chế qui mô sản xuất tới sản lượng Q0: Tối đa hoá lợi ích

xã hội, nhưng doanh nghiệp vẫn có lãi sau khi đã nộp thuế ô nhiễm - Doanhnghiệp phải đổi mới công nghệ, giảm thải gây độc hại ô nhiễm môi trường Từ đó doanhnghiệp cần phải có sự cân nhắc hài hoà khi trang bị công nghệ mới

Câu13: Tác động ngoại ứng tích cực đến môi trường

P, MC, MB

B

MSC, MPC

Trang 17

Hình 4.2 Tác động tạo ngoại ứng tích cực đối với môi trường

Qua hình 4.2: MSC = MPC, MPB luôn nằm dưới MSB Mức chênh lệch giữa hai

loại lợi ích chính là MEB, tức là: MEB = MSB – MPB

0 - MSC dQ

Qo

.0

Q

dQ MSB - 

1

0

Q

dQ MSC = Độ lớn hình IBHF

* So sánh sản lượng đạt Q1 với Q0, xã hội sẽ bị tổn thất lợi ích được tính bằng độlớn hình HEF (phần gạch chéo)

Như vậy, trên thực tế các doanh nghiệp thường chỉ hoạt động ở qui mô Q1<Q0 đểbảo toàn lợi nhuận đạt được Muốn khắc phục tổn thất lợi ích xã hội, cần phải tăng sảnlượng đạt tới mức Q0

Để khuyến khích doanh nghiệp nâng qui mô hoạt động tới mức Q0, chính phủ phảidùng chính sách trợ cấp tài chính, sao cho mức trợ cấp phải bằng MEB

Câu14: Lí thuyết Ronal Coase về mô hình thỏa thuận ô nhiễm

Mô hình: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp này gây ra ngoại ứng trực tiếp chophía bên kia

Giả sử: Một doanh nghiệp hoạt động gây ô nhiễm môi trường Những người dân ở

đó bị thiệt hại  cần phải có sự thoả thuận giữa hai nhóm đại diện

Doanh nghiệp gây ra ô nhiễm là bên A, còn người bị gánh chịu thiệt hại bởi ônhiễm môi trường là bên B

Trên cơ sở hình 4.3.a (lấy từ hình 4.1) ta xác định được mô hình thoả thuận ônhiễm là hình 4.3.b

Trên hình 4.3 Mô hình thoả thuận ô nhiễm được xác định là:

Q1: Sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của doanh nghiệp

Q0: Sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của xã hội

Q2: Sản lượng cân bằng giữa lợi nhuận và chi phí ngoại ứng có hại củadoanh nghiệp

Trang 18

MNPB: Lợi ích ròng biên của doanh nghiệp (có thể được coi là lợi nhuậncủa doanh nghiệp)

Bây giờ ta xem xét hai tình huống sau đây:

Tình huống thứ nhất: Quyền sở hữu môi trường thuộc người bị ô nhiễm

(bên B)

Bên B không muốn ô nhiễm, họ muốn mức hoạt động sản xuất trở về điểm 0.Điều này trái với mục đích của hoạt động sản xuất Nếu nhà sản xuất (bên A) hoạt độngvới sản lượng tại điểm Q3; tại mức hoạt động này doanh nghiệp đã gây ra một ngoại ứng(EC) với mức chi phí bằng diện tích hình OLVQ3 Nhưng doanh nghiệp phải sản xuất ởmức cao nhất để nhằm thu được lợi nhuận nhiều hơn Như vậy, tất yếu phải dẫn đến việcmặc cả thông qua thị trường giữa bên A và bên B

Nếu A đền bù cho B một khoản chi phí tối thiểu phải bằng ngoại ứng có hại gây

ra (độ lớn diện tích hình OLVQ3), thì bên A vẫn thu được khoản lợi nhuận (độ lớn diệntích hình LKNV) Lợi nhuận doanh nghiệp thu được tại sản lượng Q3 đạt là:

3

0

Q

dQ MEC = Độ lớn hình OKNQ3 - Độ lớn hình OLVQ3

= Độ lớn hình LKNV

Sự thoả thuận này sẽ đảm bảo lợi ích cho cả phía người gây ô nhiễm và ngườichịu ô nhiễm Quá trình mặc cả này kéo dài và chỉ có thể dừng lại ở mức sản lượng Q0 –mức sản lượng tối ưu cho sự thoả thuận (mặc cả), nơi có điểm gặp nhau (G) giữa đườngMEC với đường MNPB Bên A chỉ có thể chấp nhận đền bù cho bên B một khoản đúngbằng thiệt hại mà họ gây ra đối với môi trường ở mức tối ưu có thể chấp nhận được; khi

đó mức lợi nhuận còn lại đạt được là lớn nhất và có giá trị bằng độ lớn của hình LKG

MR, MC

MSC I

Trang 19

A và bên B.

Nếu bên B bỏ ra một khoản tối thiểu bằng lợi nhuận nhà sản xuất chịu mất đi dogiảm mức sản xuất từ Q1 xuống Q4 thì bên A có thể sẵn sàng chấp thuận Điều đó có lợi,bởi lẽ bên B bỏ ra một khoản bằng độ lớn hình Q4UQ1, nhưng họ lại tránh được một tổnthất lớn hơn rất nhiều (UTMQ1) do ô nhiễm môi trường gây ra Điều này có nghĩa là bên

B bớt đi một tổn thất là:

1

4

Q

Q

dQ MEC - 

= Độ lớn hình UTMQ1Quá trình mặc cả này kéo dài, đến mức MNPB = MEC tại sản lượng Q0 thì dừnglại

Như vậy theo Ronald Coase, không cần có sự can thiệp của chính phủ, thông quathị trường, giữa người gây ô nhiễm và người chịu ô nhiễm vẫn có thể đạt được thoả thuậnvới sự mặc cả diễn ra ở một trong hai tình huống cụ thể nêu trên trong quá trình hoạtđộng sản xuất

Câu15: Thuế Pigou đối với người gây ô nhiễm

4.3.1 Thuế Pigou và mục tiêu tối đa hoá phúc lợi xã hội

Theo Pigou(1877 – 1959)2, thuế ô nhiễm là một công cụ nhằm đưa chi phí cá nhân(PC) lên ngang bằng với chi phí xã hội (SC) Nguyên tắc tính thuế này là ai gây ra ônhiễm, người đó phải chịu thuế

Theo cách tiếp cận như đã được nêu ở trên (hình 4.1), người gây ô nhiễm cần

phải giảm sản lượng về mức tối ưu xã hội (từ Q1 xuống Q0) Pigou đã đưa nguyên tắc là,mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm có giá trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn

vị sản phẩm gây ra tại mức sản lượng Q0; tức là t0 = MEC(Qo) (xem hình 4.5)

MC, MR, P

2 Arthur C Pigou (1877 – 1959) là một giáo sư kinh tế chính trị tại Trường Đại học Cambridge từ

1908 – 1944 Ý tưởng về thuế ô nhiễm của ông được đề cập lần đầu năm 1920 trong tác phẩm

"Kinh tế học phúc lợi’’.

Trang 20

Hình 4.5 Cơ sở xác định thuế Pigou

- Nếu doanh nghiệp đạt được sản lượng tại Q0, sau khi trừ đi thuế Pigou thì lợinhuận của doanh nghiệp ( 0 ) sẽ là:

 0 =

Qo

0MNPB.dQ – Q0.t0 = Độ lớn diện tích hình OGHQ0 - Độ lớn hình chữnhật OKHQ0 = Độ lớn hình KGH Doanh nghiệp vẫn tìm thấy lợi nhuận sau khi nộpthuế ô nhiễm

- Nếu doanh nghiệp đạt sản lượng tại Q>Q0 , lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bịgiảm Nhờ cách đánh thuế này doanh nghiệp không tăng thêm sản lượng

áp dụng thuế Pigou đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi ích xã hội, buộc nhà sản xuấtphải điều chỉnh mức hoạt động của doanh nghiệp về sản lượng tối ưu xã hội Vì vậy,người ta thường gọi thuế Pigou là “thuế ô nhiễm tối ưu”

Điều kiện để tối đa hoá lợi ích xã hội là MB = MSC, hay MR = MSC Ngoài việcdoanh nghiệp đóng góp khoản thuế T(Q0) = Độ lớn hình OKHQ0 (hay hình ILEJ), xã hộicòn được bù đắp từ lợi nhuận của doanh nghiệp ít nhất bằng độ lớn hình LNE Hay nóicách khác, sau khi nộp thuế, thặng dư người tiêu dùng sẽ là độ lớn hình LNE

4.3.2 Thuế Pigou và mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của nhà sản xuất

Khi chưa thuế, doanh nghiệp sản xuất ở sản lượng Q1, tại đây lợi nhuận sẽ lớnnhất OGQ1 Khi áp dụng thuế t0, tại mức sản lượng Q0, tổng số thuế doanh nghiệp phảinộp là ILEJ (hoặc hình OKHQ0), lợi nhuận sau thuế là MIJ

Giả sử sản lượng vượt quá Q0, MNPB < t0 (đường MNPB nằm dưới so với đoạn

Q0H) Ngược lại, doanh nghiệp cũng không cố gắng giảm sản lượng xuống mức nhỏ hơn

Q0, vì cơ hội đạt lợi nhuận cực đại đối với doanh nghiệp là tại Q = Q0 Như vậy, bằngcách xác định thuế t0 = MEC (Q0) doanh nghiệp sẽ đạt tối đa hoá lợi ích kinh tế để sảnxuất tại mức sản lượng tối ưu xã hội (Q0)

Trên thực tế, việc xác định đúng mức thuế t0 là rất khó khăn, vì khó có thể có đủthông tin về MNPB và MEC Đó là những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu cùngvới sự hỗ trợ của các biện pháp khác nhau khác

Câu16: Sản xuất sạch hơn Lợi ích và trở ngại chủ yếu của SXSH

SXSH (cleaner product) là việc áp dụng một cách có hệ thống các biện pháp phòng ngừa trong các qui trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm mục tiêu tăng hiệu

Trang 21

quả hoạt động Từ đó giúp cải thiện tình trạng môi trường, tiết kiệm chi phí, giảm rủi ro cho con người và môi trường - UNEP đưa ra năm 1989.

Đối với các qui trình sản xuất: SXSH gồm bảo quản nguyên liệu, năng lượng,

loại bỏ các nguyên liệu độc hại, giảm bớt qui mô và mức độ độc hại của các chất thải gây

ô nhiễm ngay từ trước khi chúng được thải ra môi trường

Đối với hoạt động sản xuất: SXSH giảm thiểu tác động có hại trong chu trình

sản xuất, từ khai thác nguyên liệu, đến giao sản phẩm

Đối với dịch vụ: Phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ thiết kế, quản lí hoạt động,

đến chọn đầu vào các dịch vụ

Tuy nhiên, một số loại không được coi là SXSH, như: tái chế ngoài phạm vi xí

nghiệp, di chuyển các chất độc hại sang một môi trường trung gian khác, xử lí chất thải,làm loãng thành phần chất thải để giảm bớt độ độc hại và nguy hiểm v.v

Chất thải được coi là “sản phẩm” có giá trị kinh tế âm.

* Như vậy, SXSH có nghĩa là trong quá trình hoạt động sản xuất tránh hoặc giảm bớt lượng chất thải được sản sinh ra; sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng và nguyên nhiên vật liệu; sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường; giảm bớt lượng chất thải xả vào môi trường, giảm chi phí và tăng lợi ích đối với hoạt động của doanh nghiệp

4.4.1.2 Lợi ích của SXSH (5)

Nâng cao chất lượng mọi mặt môi trường sống.

Môi trường liên tục được cải thiện.

Làm giảm các loại chi phí Các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để tối ưu hoá quá

trình sản xuất kinh doanh Việc tránh làm phát sinh chất thải không những tiết kiệm đượcchi phí, mà hơn thế nữa còn giúp tái chế hoặc sử dụng lại các chất thải, phế liệu, vì vậy sẽgiúp làm tăng lợi ích kinh tế cho người sản xuất

Góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất của hoạt động của các doanh nghiệp Làm tăng lợi thế của các công ti Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và

người tiêu dùng ngày càng ý thức hơn về vấn đề môi trường, thì các sản phẩm đáp ứngcác tiêu chuẩn môi trường sẽ có lợi thế và do vậy mới có khả năng cạnh tranh được trênthị trường

4.4.1.3 Các trở ngại chủ yếu trong áp dụng SXSH (2)

- Các trở ngại trong nội bộ doanh nghiệp:

+ Nhận thức về bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh còn thấp;

+ Thiếu thông tin và kiến thức chuyên môn;

+ Chỉ coi trọng ưu tiên cho cạnh tranh trong kinh doanh; tức là sức ép về đầu tưtrong ngắn hạn thường lớn hơn nhiều so với đầu tư trong dài hạn (trong đó có ván đề môitrường);

+ Những khó khăn về việc đáp ứng các điều kiện nhân, tài, vật, lực;

+Thiếu các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp;

+ Sự trì trệ của các nhà quản lí; …

- Trở ngại từ các nguyên nhân bên ngoài doanh nghiệp:

+ Sự yếu kém của hệ thống pháp lí liên quan đến SXSH;

+ Khó khăn trong việc tiếp cận các công nghệ SXSH;

+ Khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tài chính và nhân lực từ bên ngoài

Câu17: Quota ô nhiễm Lợi ích của quota ô nhiễm.

Trang 22

Năm 1968, nhà kinh tế học người Canađa là Dales đưa ra một cơ chế trong đó một sốlượng nhất định “quyền gây ô nhiễm” có thể mua đi bán lại giữa những người gây ônhiễm “Quyền gây ô nhiễm” của các doanh nghiệp sẽ được ghi nhận bằng các “giấyphép phát thải” hay còn được gọi là “côta ô nhiễm” do cơ quan quản lí môi trường banhành.

Dùng côta ô nhiễm là biện pháp can thiệp của nhà nước nhằm điều chỉnh mức ônhiễm

Doanh nghiệp chỉ được phép thải trong phạm vi số lượng giấy phép mình có.Doanh nghiệp nào muốn thải nhiều hơn sẽ phải mua thêm giấy phép từ những doanhnghiệp không có nhu cầu sử dụng Ngược lại, doanh nghiệp nào có khả năng giảm thải tốt

có thể thừa ra một số giấy phép và được quyền bán số giấy phép thừa đó

Hình 4.6 Thị trường côta ô nhiễm

Hình 4.6 là cơ sở phân tích về thị trường côta Trong đó:

MAC là đường chi phí biên làm giảm ô nhiễm, đường này cũng được coi

là đường cầu với côta ô nhiễm; tức là với mức thải cho phép với giá côta nào đó thì buộcngười sản xuất phải mua số côta tương ứng

MDC là đường chi phí thiệt hại biên, thực chất đây cũng được coi làđường chi phí ngoại ứng biên (MEC)

Trên hình 4.6 chỉ ra mức ô nhiễm và số côta ô nhiễm cần được cấp:

OW2 là số côta tối đa, tương ứng với mức được thải tối đa

OW* là số côta tối ưu, tương ứng với mức phát thải tối ưu, và với giá côtatối ưu OP* Điều này có nghĩa là, theo mục đích tối ưu Pareto, nhà nước cần phát hànhOW* côta

OW1 là mức thải các doanh nghiệp thường gây ra, mức này thường caohơn mức phát thải tối ưu

Với qui định số lượng côta, giá côta được thải, nhà sản xuất sẽ lựa chọn một tronghai giải pháp:

- Mua côta ô nhiễm để được thải với mức thải qui định

- Tăng chi phí làm giảm ô nhiễm theo yêu cầu kiểm soát ô nhiễm

4.5.2 Các lợi ích của côta ô nhiễm

Động lực của thị trường này là cả người mua và người bán đều có lợi; đồng thờitổng chi phí giảm thải của toàn xã hội sẽ giảm xuống

Trang 23

Người gây ô nhiễm nào có biện pháp giảm ô nhiễm rẻ hơn việc mua côta ô nhiễmthì họ sẽ bán lại các côta đó cho người gây ô nhiễm khác; còn ngược lại Bằng cách này,người gây ô nhiễm sẽ tối thiểu hoá chi phí ô nhiễm và mức phát thải ô nhiễm.Trongtrường hợp có thêm nhiều cơ sở gây ô nhiễm mới được đưa vào hoạt động, khi đó đường

cầu đối với côta ô nhiễm (MAC) sẽ dịch chuyển sang phải (xem hình 4.7).

Trong trường hợp này, nhà nước muốn duy trì mức ô nhiễm thì vẫn giữ mức cấpgiấy côta là W*, nhưng giá lại tăng từ P* lên P**

MC, P

MDC F

P**

P* E

MAC

O W* Wm Wn W

Hình 4.7 Thay đổi cung cầu đối với côta ô nhiễm

Như vậy, nhà doanh nghiệp sẽ phải lựa chọn một trong hai phương án: mua côta ônhiễm, nếu như việc đầu tư để giảm nhẹ ô nhiễm cao hơn; hoặc sẽ đầu tư trang thiết bị đểgiảm nhẹ ô nhiễm, nếu như đầu tư để giảm nhẹ ô nhiễm thấp hơn mua côta Điều nàychứng tỏ lợi ích của côta trong việc tối thiểu hoá chi phí ô nhiễm

Câu18:Đánh giá tác động môi trường Mục đích và nguyên tắc ĐGTĐMT.

Trải qua một vài chục năm trở lại đây, đánh giá tác động môi trường đã được

quan tâm và trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Khái niệm về đánhgiá tác động môi trường cũng đã được các nhà khoa học và các tổ chức quốc tếđưa ra với các góc độ khác nhau

Theo Maclaren: “Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment – EIA) là phương pháp có hệ thống phát hiện các hậu quả môi trường tiềm năng và các tác động của chúng đến con người, đến cuộc sống, lối sống của họ” (Các công cụ đánh giá tác động môi trường, NXB KH – KT, 2001).

Theo Morgan: “Đánh giá tác động môi trường là một quá trình phát hiện,

dự báo, đánh giá và làm nhẹ các tác động đến môi trường và đưa thông tin đó đến người ra quyết định” (Các công cụ đánh giá tác động môi trường, NXB KH –

KT, 2001)

Theo Tổ chức Môi trường Liên hợp quốc (UNEP): “Đánh giá tác động môi trường là quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả đối với môi trường của một dự án phát triển quan trọng Đánh giá tác động môi trường xem xét việc thực hiện dự án sẽ gây ra những vấn đề gì đối với đời sống của con người tại khu vực thực hiện dự án, tới hiệu quả của chính dự án và của các hoạt động phát triển khác tại vùng đó Sau dự báo đánh giá tác động môi trường phải xác

Trang 24

định các biện pháp làm giảm đến mức tối thiểu các tác động tiêu cực làm cho dự

án thích hợp hơn với môi trường của nó” (UNEP, ROAP, 1988)

ở Việt Nam, việc đánh giá tác động môi trường bắt đầu được chú trọng tới

từ những năm 90 của thế kỷ XX Tới nay, đánh giá tác động môi trường luôn làmột công cụ quan trọng được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môitrường Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam được Quốc hội khoá XI

thông qua vào năm 2005: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”.

Như vậy, xét cho cùng đánh giá tác động môi trường chính là công việcthẩm định đảm bảo chắc chắn về mặt môi trường của một dự án đầu tư cụ thể

5.1.3 Mục đích của đánh giá tác động môi trường

5.1.3.1 Dự báo những tác động có thể có đối với môi trường của dự án đầu tư

Đây là một công cụ giúp cho sự phòng ngừa và ngăn chặn hữu hiệu cáctác động tiêu cực tới môi trường của những dự án phát triển Một báo cáo đánhgiá tác động môi trường cần phải được xem xét tất cả những ảnh hưởng đối vớicuộc sống của con người, tới các thành phần của môi trường, đặc biệt là tới các

hệ sinh thái tự nhiên Báo cáo đánh giá tác động môi trường cần phải xem xéttrong tất cả các yếu tố thành phần của môi trường trong quá trình thiết kế, triểnkhai và cả quá trình vận hành dự án được thực hiện

5.1.3.2 Tìm kiếm các giải pháp khoa học và hợp lí để ngăn chặn hoặc làm hạn chế những tác động gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay sự cố môi trường trong thời gian dự án đi vào hoạt động

Việc đánh giá tác động môi trường có tác dụng định hướng đúng đắn cáchoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy vai trò của các cộng đồng dân cư, lồngghép những ảnh hưởng xã hội liên quan tới những thay đổi cảnh quan hoặc môitrường tham gia vào việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên có khảnăng tái sinh Đặc biệt phải coi trọng việc đánh giá tác động môi trường đối vớicác dự án phát triển sản xuất công nghiệp, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng

và các dự án kiểm soát chất thải nguy hại

5.1.3.3 Báo cáo những phương án lựa chọn để đảm bảo tính tối ưu khi dự

án được triển khai

Sau khi đã xem xét phân tích kĩ lưỡng những tác động môi trường củacác dự án khi chúng đi vào hoạt động, cơ quan có thẩm quyền đưa ra nhữngquyết định cụ thể cuối cùng đối với dự án Những kết quả đánh giá tác động môitrường là cơ sở quan trọng để lượng hoá về mặt giá trị những tổn thất và lợi ích

về môi trường bên cạnh những chi phí và lợi ích về kinh tế khi dự án được triểnkhai đi vào hoạt động Đồng thời, đánh giá tác động môi trường còn đưa ranhững phương án khác nhau đối với các dự án, để từ đó chủ đầu tư có thể lựachọn và cấp có thẩm quyền xét duyệt được phương án tối ưu

5.1.4 Các nguyên tắc đánh giá tác động môi trường

5.1.4.1 Tập trung vào các vấn đề chính có liên quan trực tiếp tới môi trường

Một dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuấtcông nghiệp, khi được triển khai thực hiện thường có sự tác động tới môi trường

Trang 25

trên rất nhiều khía cạnh khác nhau Do vậy, để có thể tập trung vào việc lựachọn các giải pháp tích cực và hợp lí, nhằm hạn chế tối đa hoặc loại bỏ đượccác nguyên nhân gây ra những tác động xấu tới môi trường, khi đánh giá tácđộng môi trường cần tập trung vào việc phân tích, dự báo các tác động chủ yếugây ra ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường.

5.1.4.2 Lôi cuốn sự tham gia của các thành viên thích hợp

Cũng như ở các nước đang phát triển, đánh giá tác động môi trường làmột hoạt động rất mới mẻ ở Việt Nam Hơn nữa, hoạt động này khá phức tạp,bao gồm nhiều công việc khác nhau, liên quan tới nhiều lĩnh vực hoạt động

và lợi ích của nhiều đối tượng khác nhau Chính vì vậy, đánh giá tác động môitrường cần phải có sự tham gia của nhiều nhóm công tác, của nhiều chuyên gia

và những người có liên quan Có thể phân ra làm ba nhóm chủ yếu sau :

- Chủ dự án hoặc các chuyên gia thuộc tổ chức dịch vụ tư vấn có tráchnhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường để trình cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phê duyệt

- Nhóm các nhà khoa học, các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độchuyên môn về bảo vệ môi trường nơi thực hiện dự án Đại diện những tổ chức,cộng đồng dân cư, cá nhân có quyền lợi hoặc có quyền lợi bị ảnh hưởng khi dự

án đầu tư được triển khai thực hiện

- Đại diện của tổ chức, cá nhân do cơ quan có thẩm quyền thành lập hộiđồng thẩm định quyết định Đại diện của cơ quan phê duyệt dự án Đại diện của

cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường của cơ quan phê duyệt dự án Nhómnhững nhà chức trách có chức năng kiểm tra, kiểm soát quá trình triển khai vàthực hiện dự án

5.1.4.3 Cung cấp thông tin đối với những người ra quyết định về dự án

Việc thu thập thu thập và cung cấp thông tin môi trường cho người raquyết định có tầm quan trong đặc biệt Thông tin môi trường bao gồm một dảirộng các dữ liệu, các số liệu thống kê trên cả hai phương diện định lượng vàđịnh tính Việc cung cấp thông tin cho phép người ra quyết định phân tích đượcnguyên nhân và hậu quả, trên cơ sở đó đưa ra được chiến lược hành động,quản lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môitrường

Các thông tin cung cấp phải được giải thích rõ ràng, phải đảm bảo có tínhđịnh hướng các vấn đề và đáp ứng các nhu cầu của những người ra quyết định,cho nên trong quá trình lựa chọn các dữ liệu phải đề cập tới các vấn đề thenchốt Việc cung cấp thông tin về dự án phải được thực hiện trước và phải được

bổ sung qua các giai đoạn theo trình tự sau :

- Các nhà đầu tư phải được xem xét các vấn đề liên quan đến môi trường

mà dự án của họ có thể ảnh hưởng tới

- Các nghiên cứu về môi trường phải có tác dụng trợ giúp cho quá trìnhlựa chọn, tìm kiếm vị trí xây dựng công trình của dự án

- Đánh giá tác động môi trường phải xác định đầy đủ các tiêu chuẩn môitrường để làm cơ sở cho việc thiết kế và thực thi dự án

Người ra quyết định phê chuẩn, cấp giấy chứng nhận cho một dự án đầu

tư cụ thể, có thể là Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân hoặc một cơ quanthuộc hệ thống hành pháp Những người có thẩm quyền thường không phải là

Trang 26

các nhà chuyên môn Do vậy, để đảm bảo cho các quyết định đáp ứng được cácyêu cầu của luật pháp và phù hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường đối với dự

án, các thông tin trong báo cáo đánh giá tác động môi trường phải đảm bảo tínhtổng hợp, chuẩn xác Đồng thời, các tài liệu trong báo cáo đánh giá tác động môitrường đòi hỏi phải dễ hiểu, dễ sử dụng và phải được biểu hiện cụ thể bằng cácbảng biểu, sơ đồ, hình vẽ…

5.1.4.4 Đề xuất các giải pháp cần thiết để hạn chế hoặc loại bỏ các tác nhân gây hại tới môi trường

Để có thể hạn chế tối đa hoặc loại bỏ được các tác nhân gây hại cho môitrường từ các dự án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động của môi trường phải đưa

ra được các biện pháp cụ thể như :

- Thiết lập công nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường;

- Đề xuất các giải pháp làm giảm bớt và xử lí chất thải;

- Xác định quyền lợi kinh tế của các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng khitriển khai thực hiện dự án

Ngoài ra, báo cáo đánh giá tác động môi trường cần đưa ra một số đềxuất như:

- Giới thiệu những địa điểm thích hợp có thể được lựa chọn để thực hiện

Câu19: Phân tích chi phí – lợi ích mở rộng trong ĐGTĐMT.

5.2.1 Các yêu cầu cơ bản trong phân tích chi phí – lợi ích mở rộng

5.2.1.1 Phải có đầy đủ các tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường tại nơi triển khai dự án

Mọi hoạt động phát triển đều được thể hiện trong hệ thống tự nhiên Vìvậy, khi qui hoạch phát triển dự án đầu tư bất kì, cần phải nắm được tường tậnđặc điểm của hệ thống tự nhiên mà dự án đó được xây dựng trên lãnh thổ.Muốn vậy, khi tiến hành đánh giá tác động môi trường của một dự án đầu tư cầnphải có hệ thống các tài liệu tin cậy về điều tra cơ bản các thành phần môitrường và các nguồn TNTN hiện có, cùng với diễn thái của chúng trên lãnh thổ

Chỉ trên cơ sở có các tài liệu nêu trên mới có thể tính toán được nhữngbiến đổi có thể xảy ra về mặt môi trường khi dự án đi vào xây dựng và hoạtđộng Từ đó mới có khả năng xác định các chi phí do tổn thất và lợi ích tăngthêm về TNTN và môi trường do dự án tạo ra

5.2.1.2 Phải gắn chặt với việc thẩm định luận chứng về kinh tế – kĩ thuật đối với dự án đầu tư

Bất kì một dự án nào cần được chủ đầu tư triển khai, thông thường phảiđảm bảo các yêu cầu về lợi ích kinh tế; nói cách khác, chủ đầu tư chỉ có thể thựcthi dự án của mình khi tìm thấy được lợi ích kinh tế của mình trong đó Yêu cầucủa phương pháp phân tích CP-LI MR trong đánh giá tác động môi trường là

Trang 27

phải đảm bảo có đầy đủ các thông tin liên quan đến các luận chứng kinh tế – kĩthuật Dựa vào đó mới có cơ sở chắc chắn cho việc xác định các tác động có thể

có của các yếu tố kĩ thuật đối với môi trường và xác định các chỉ tiêu về kinh tếkhi dự án được đưa vào hoạt động

5.2.1.3 Dự án đầu tư phải có định hướng phát triển cụ thể về trình độ công nghệ, qui mô và thời hạn hoạt động của cơ sở

Ngoài các lợi ích và chi phí về kinh tế được dự toán, bất kì một dự án đầu

tư nào khi tiến hành phân tích CP-LI MR cần phải dự tính đến các chi phí và lợiích về mặt môi trường Để làm được việc này cần phải căn cứ vào nhiều nhân tốảnh hưởng Trong các nhân tố này, trình độ công nghệ được áp dụng, qui môcủa dự án, thời hạn cho phép hoạt động của cơ sở có vai trò quan trọng nhất

Mỗi một công nghệ được sử dụng cho một dự án đi vào hoạt động đềuứng với một trình độ nhất định Theo đó sẽ ảnh hưởng vào môi trường vớinhững đặc điểm khác nhau, và do vậy sẽ tạo nên những chi phí và lợi ích khácnhau đối với môi trường

ảnh hưởng đến chất lượng môi trường còn phụ thuộc qui mô của dự án,trong đó đặc biệt là qui mô về công suất thiết kế của từng công trình của dự án,qui mô không gian dành cho việc hoạt động của dự án

Mặt khác, đánh giá hiệu quả của dự án còn phải tính đến thời hạn hoạtđộng của nó Chỉ trên cơ sở cơ quan có thẩm quyền xác định được thời hạn chophép hoạt động đối với dự án mới có thể tính toán được các lợi ích và chi phíphát sinh trong quá trình hoạt động của nó Và do vậy, quá trình xác định CP-LI

MR đối với dự án đầu tư mới có tính khả thi

5.2.2 Trình tự các bước tiến hành phân tích chi phí – lợi ích mở

Các nguồn tài nguyên cần được xem xét bao gồm cả các nguồn TNTN và

nguồn dân cư và lao động Chẳng hạn, đánh giá tác động môi trường trong

quyết định triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng một nhà máy thuỷ điệncần phải liệt kê hàng loạt các nguồn TNTN, nguồn lao động và dân cư sẽ đượckhai thác và sử dụng là:

- Nguồn dự trữ thuỷ năng có thể khai thác được tại nơi nhà máy thuỷ điện

sẽ được xây dựng nằm trong lưu vực sông

- Các nguồn đất đá sẽ được sử dụng để xây dựng đập nước

- Lực lượng lao động và dân cư (số lượng, cơ cấu về bậc trình độ, lứatuổi, giới tính…) được sử dụng cho việc xây dựng và duy trì hoạt động của nhàmáy thuỷ điện

- Các nguồn TNTN khác được khai thác và sử dụng để xây dựng và pháttriển các dự án phụ trợ…

5.2.2.2 Xác định các tác động tới môi trường của dự án khi đi vào hoạt động

Trang 28

Đó là những tác động gây ra những biến đổi tiêu cực, gây hại cho môitrường, và những tác động tích cực tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môitrường Xác định được các giải pháp thích hợp với các chính sách phát triển kinh

tế – xã hội trong từng thời kì Đối với những hoạt động có tác động lớn tới môitrường, gây ra những biến đổi lớn đối với các thành phần của môi trường khuvực đòi hỏi phải có những giải pháp riêng biệt để hạn chế tới mức thấp nhấtnhững tổn hại đối với môi trường

Chẳng hạn, như việc đánh giá tác động môi trường trong quyết định triển

khai thực hiện dự án xây dựng một nhà máy thuỷ điện như đã nêu ở trên Trướctiên cần xác định những biến đổi các yếu tố thành phần môi trường và các hoạtđộng kinh tế – xã hội dưới tác động của việc xây dựng hệ thống đập giữ nước vànhà máy thuỷ điện:

- Những biến đổi của khu vực xây dựng đập giữ nước:

+ Rừng, đất rừng và đất canh tác bị mất thuộc khu vực lòng hồ

+ Giới động vật sống trên cạn bị mất nơi cư trú

+ Sự thay đổi về khí hậu trong vùng

+ Tình trạng cung cấp nước cho hoạt động của nhà máy thuỷ điện: Giữnước trong mùa mưa và tăng lượng nước cấp trong mùa khô

+ Sự thay đổi nơi cư trú của dân cư do phải di dời khỏi lòng hồ Đời sốngvật chất và tinh thần của dân cư bị xáo trộn

+ Môi trường sống của giới sinh vật sống trong nước tăng lên đáng kể + Tạo điều kiện để phát triển nuôi trồng thuỷ sản

+ Tạo điều kiện để phát triển giao thông vận tải thuỷ trong vùng

- Những biến đổi ở khu vực hạ lưu của dòng sông

+ Sự chênh lệnh về lưu lượng dòng chảy giữa các mùa giảm xuốngnhiều, dòng chảy ôn hoà hơn

+ Giảm tình trạng lũ lụt và hạn hán

+ Đảm bảo nước (sinh hoạt và sản xuất) cho khu vực hạ lưu tốt hơn.+ Tăng diện tích canh tác

+ Thay đổi chế độ canh tác

+ Thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

+ Tác động tới hệ sinh thải dưới nước; thay đổi năng suất thuỷ sinh vùng

hạ lưu; thay đổi chế độ nước ngầm vùng hạ lưu; giảm thâm nhập nước mặn ởvùng cửa sông…

Cùng với các chi phí và lợi ích trong dự toán về kinh tế của dự án, tất cảcác tác động liên quan đến tổn thất, chi phí và lợi ích về mặt môi trường đượcnêu trên đều sẽ phải được qui ra giá trị bằng tiền Đây chính là cơ sở cho việcthực hiện phân tích CP - LI MR được đảm bảo khoa học và chính xác

5.2.2.3 Đánh giá chi phí và lợi ích mở rộng

Mục đích chính của bước này là phân tích, xác định mức độ tác động tớimôi trường của một dự án cụ thể, định lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiêncần được khai thác và sử dụng, mức độ suy giảm chất lượng môi trường và khốilượng sản phẩm được tạo ra Trên cơ sở đó để xác định đầy đủ mọi chi phí phải

bỏ ra và lợi ích đạt được khi dự án được triển khai thực hiện Đây là bước rấtphức tạp và là quan trọng nhất trong phân tích chi phí – lợi ích mở rộng Tuyrằng, việc lượng hoá mức độ suy giảm hoặc cải thiện môi trường và TNTN bị lệ

Ngày đăng: 23/12/2013, 05:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.4. Sản lượng tối đa bền vững (MSY) và tỉ lệ khai thác (E) của rừng nguyên liệu giấy ở địa bàn nghiên cứu. - Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Hình 3.4. Sản lượng tối đa bền vững (MSY) và tỉ lệ khai thác (E) của rừng nguyên liệu giấy ở địa bàn nghiên cứu (Trang 11)
Hình 3.8. Dân số ổn định với kinh tế phát triển, bảo vệ TNTN &amp; MT - Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Hình 3.8. Dân số ổn định với kinh tế phát triển, bảo vệ TNTN &amp; MT (Trang 13)
Hình 4.2. Tác động tạo ngoại ứng tích cực đối với môi trường - Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Hình 4.2. Tác động tạo ngoại ứng tích cực đối với môi trường (Trang 17)
Hình 4.3. Mô hình thoả thuận về ô nhiễm - Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Hình 4.3. Mô hình thoả thuận về ô nhiễm (Trang 19)
Hình 4.6. Thị trường côta ô nhiễm - Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Hình 4.6. Thị trường côta ô nhiễm (Trang 22)
Hình 4.7. Thay đổi cung cầu đối với côta ô nhiễm - Tài liệu Đề cương kinh tế môi trường pptx
Hình 4.7. Thay đổi cung cầu đối với côta ô nhiễm (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w