Kết quả của phân tích giới được lồng ghép vào quá trình lập kế hoạch để đảm bảo các lợi ích của quá trình phát triển cũng như các nguồn lực được phân bổ công bằng và có hiệu quả cho cả n
Trang 114
Giới vμ chất thải
Nguyễn Thị Anh Thu
14.1 Tầm quan trọng của giới trong quản lý tổng hợp
chất thải
14.1.1 Khái niệm về giới
Giới là phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào
Vai trò của giới được xác định bởi các nhân tố văn hoá, xã hội và kinh tế
mà cả nam và nữ đều nhận thức được trong xã hội Khái niệm giới cũng bao hàm cả cách ứng xử, thái độ và đặc điểm của nam và nữ Vai trò của giới và các
kỳ vọng của nó rất năng động và thay đổi theo thời gian
Giới không chỉ nói về phụ nữ Nó là mối quan hệ giữa nam và nữ và những bất bình đẳng hiện đang tồn tại về cơ hội cũng như lợi ích Bình đẳng giới là một quá trình mà nam giới và phụ nữ cùng thụ hưởng như nhau một hoàn cảnh và cùng có điều kiện bình đẳng như nhau trong việc thực thi quyền con người của mình cũng như tiềm năng đóng góp cho sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội quốc gia và thụ hưởng kết quả của các quá trình này Để đạt
được bình đẳng giới, cần thực hiện các biện pháp để nam và nữ đều có các cơ hội như nhau và cùng được hưởng các quỳên, ưu thế và trách nhiệm trong quá trình ra quyết định
Mối quan hệ xã hội và văn hoá giữa nam giới và phụ nữ có ảnh hướng lớn
đến kết quả của phát triển Vì vậy, trong các kế hoạch phát triển, trong các dự
án phát triển, giới đều được xem như một thành tố về mục tiêu, về công cụ, phương pháp tiến hành cũng như kết quả thực hiện Để làm rõ yếu tố giới, người
ta dùng phân tích giới trong các kế hoạch, dự án phát triển Đây là một công cụ
Trang 2nhằm phát hiện những bất hợp lý, không công bằng về giới, trên cơ sở đó đề ra các hoạt động có tính đến công bằng giới nhằm đạt được mục tiêu chung của hoạt động hay chương trình phát triển
Phân tích giới là một công cụ khuyến khích sự bình đẳng giới Công việc này gồm có việc thu thập và sử dụng các thông tin về sự bất bình đẳng giới biểu
lộ vai trò và trách nhiệm của nam và nữ Các dữ kiện được phân tích để đánh giá các chính sách hiện có và các chính sách trong tương lai cũng như các chương trình và dự án tác động khác nhau tới nam giới và phụ nữ ra sao Kết quả của phân tích giới được lồng ghép vào quá trình lập kế hoạch để đảm bảo các lợi ích của quá trình phát triển cũng như các nguồn lực được phân bổ công bằng và
có hiệu quả cho cả nam giới và phụ nữ, đồng thời dự báo, tránh được những tác
động tiêu cực mà quá trình phát triển có thể tác động đến phụ nữ theo khía cạnh giới Lồng ghép giới hay định hướng giới là một chiến lược để:
- Đảm bảo sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào quá trình phát triển và;
- Đưa các nhu cầu, kinh nghiệm, sự quan tâm của phụ nữ, nam giới vào các hoạt động của chính phủ ở tất cả các cấp kể cả các chính sách, chương trình
và dự án
Mục tiêu định hướng giới là để cả phụ nữ và nam giới đều được thụ hưởng bình đẳng như nhau và không có một định kiến bất bình đẳng nào được tồn tại
14.1.2 Tầm quan trọng của giới trong quản lý tổng hợp chất thải
Phụ nữ và nam giới đóng vai trò khác nhau trong xã hội vì vậy họ có những nhu cầu là lợi ích khác nhau Chính vì vai trò khác nhau này mà nam giới
và phụ nữ chịu sự tác động khác nhau của môi trường Đồng thời, nam giới và phụ nữ cũng có sự tác động và ứng xử khác nhau đối với môi trường nói chung
và chất thải nói riêng
Một điều rất rõ ràng là, cả nam và nữ đều có quan hệ với môi trường, nhưng phụ nữ là những người đầu tiên gánh chịu các hậu quả của các vấn đề môi trường, vì họ phụ thuộc trực tiếp vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống Phụ nữ có trách nhiệm phải duy trì sự ổn định của gia đình trong các vấn đề tạo thu nhập, thức ăn thức uống, mặc dù họ có thu nhập rất thấp và cơ hội để tìm kiếm và kiểm soát các nguồn lực đối với họ là rất hạn chế Ngoài ra, phụ nữ hiện đang có vị thế hoàn toàn khác biệt so với nam giới trong
Trang 3việc tham gia vào quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng Nguyên do phổ biến của tình trạng này là:
5 Sự gia trưởng và cách thức mà nam giới tự cho mình có quyền “thống trị”
và kiểm soát đời sống phụ nữ Quan niệm này đã tồn tại lâu dài trong lịch
sử Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có các chủ trương, chính sách bình đẳng giới được ban hành Tuy nhiên các chủ trương và chính sách tác động tích cực đến phụ nữ còn có hạn chế
Phụ nữ thường bị xếp thứ yếu về vị trí văn hoá, xã hội Điều này không chỉ làm phức tạp thêm các vấn đề về quyền bình đẳng được tiếp cận với các nguồn lực và các dịch vụ xã hội như trường học, y tế, kế hoạch hoá gia đình, công việc, tham gia các hoạt động xã hội mà còn phản ánh những khó khăn trong việc xác định một chiến lược tăng cường quyền lực cho phụ nữ trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quản lý chất thải (Ragnhild Lund, 1995)
Tiếp cận giới trong quản lý chất thải có ý nghĩa quan trọng bởi nhiều lý do:
Thứ nhất, các công việc trong kinh tế chất thải mang tính giới, nghĩa là
chúng do đa phần giới nam hoặc giới nữ đảm nhiệm
Thứ hai, tính chất giới trong công việc liên quan đến chất thải cũng có
nghĩa là nam và nữ chịu tác động khác nhau đến sức khoẻ, đến thu nhập và địa
vị xã hội trong công việc của họ
Thứ ba, phụ nữ có trách nhiệm công việc gia đình mà thường là người
chịu trách nhiệm đầu tiên về quản lý chất thải trong nhà
Thứ tư, trách nhiệm chăm sóc con cái của phụ nữ thường dẫn đến hạn chế
họ về sự năng động và thời gian để tham gia vào kinh tế chất thải
Sau cùng là, phụ nữ và nam giới dường như có quyền lực ra quyết định
cũng như các quan hệ xã hội khác nhau và điều này có thể ảnh hưởng đến năng lực của cả giới nam và giới nữ trong việc ra quyết định về quản lý chất thải trong gia đình hoặc cộng đồng
14.2 giới và quản lý tổng hợp chất thải
Xem xét giới trong quản lý tổng hợp chất thải nhằm trả lới các vấn đề sau:
- Mối quan hệ giới có tác động như thế nào đến quản lý tổng hợp chất thải?
Trang 4- Quan hệ giới có tác động như thế nào đến hiệu quả vận hành của quản
lý tổng hợp chất thải (QLTHCT)?
- Cơ hội của nam giới và phụ nữ trong QLTHCT có ngang nhau không? thu nhập của nam giới và phụ nữ trong kinh doanh chất thải có khác nhau không? vai trò của phụ nữ và nam giới trong việc ra quyết định về QLTHCT có ngang bằng nhau không?
Các vấn đề trên đây được xem xét trong từng hoạt động của quản lý tổng hợp chất thải
14.2.1 Giới vμ quản lý nguồn phát sinh chất thải
Quản lý nguồn phát sinh chất thải có ý nghĩa quan trọng trong QLTHCT Quản lý tốt nguồn phát sinh chất thải có nghĩa là giảm đến mức tối đa có thể sự phát sinh chất thải hoặc phân loại để tái sử dụng, tái chế hoặc xử lý chúng một cách hiệu quả hơn Nguồn phát sinh chất thải rất đa dạng, từ hoạt động sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông,…), từ hoạt động y tế, thương mại, từ sinh hoạt
Phân tích giới trong quản lý nguồn phát sinh chất thải đặt ra vấn đề liệu nam giới và phụ nữ có tác động khác nhau đến việc quản lý nguồn phát sinh chất thải không? cần có tác động đến giới như thế nào để việc quản lý này có hiệu quả? Ai là người sẵn lòng chi trả cho việc phát sinh rác do mình gây ra? Hoạt động sản xuất công nghiệp của nước ta phát sinh ra lượng chất thải khoảng 2.510.000 tấn chất thải không nguy hại và 128.400 tấn chất thải nguy hại trong một năm (VEM 4) Trong Công nghiệp, thì ngành có tỷ trọng chất thải cao nhất là ngành ngành chế tạo máy (16,5%), sau đó đến ngành chế biến thực phẩm (12,7%), ngành công nghiệp nhẹ và hoá chất có tỷ trọng chất thải phát sinh ngang nhau (5,5%) (Nguyễn Khắc Kinh, Nguyễn Hoà Bình, 2003) Ngành công nghiệp có tỷ trọng chất thải cao nhất và ngành có nguồn phát sinh chất thải nguy hại nhiều nhất là nơi có nhiều lao động nam hơn là lao động nữ Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành có tỷ trọng nữ cao và cũng là ngành có lượng chất thải rắn cao thứ hai, sau ngành chế tạo máy Trong những ngành này, vai trò của từng giới có khác nhau trong việc quản lý phát sinh chất thải Đối với ngành có tỷ trọng chất thải phát sinh lớn và có tỷ trọng lao động nam cao, sự hiểu biết và nhận thức, ý thức về quản lý nguồn phát sinh của đội ngũ lao động nam có ý nghiã quan trọng Việc tăng cường giáo dục về quản lý chất thải đối với họ cũng như tăng cường kỹ năng tay nghề, nghề nghiệp, đổi
Trang 5mới công nghệ vào khâu phát sinh nhiều chất thải theo hướng sản xuất sạch hơn
có tầm quan trọng đối với giảm thải Tương tự, đối với ngành có nhiều lao động nữ, thì đối tượng tác động chính sẽ là đội ngũ lao động nữ So với lao động nam, lao động nữ thường cẩn thận hơn, nhưng trình độ lao động, tay nghề thường là thấp hơn Do vậy, trọng tâm chú ý đối với lao động nữ trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là nâng cao tay nghề và kiến thức về quản lý chất thải, kiến thức về vệ sinh môi trường Bởi họ cũng là những người dễ nhạy cảm với bệnh tật do môi trường lao động gây ra Sức khoẻ của họ không chỉ tác động đến khả năng lao động của họ mà còn tác động rất lớn để tái sản xuất giống nòi
Trong ngành y tế, nơi mà tỷ lệ lao động nữ cao và họ cũng chính là những người tham gia chủ yếu vào việc phát sinh ra chất thải y tế Việc nâng cao nhận thức, hiểu biết cho họ về quản lý nguồn phát sinh chất thải y tế, kiến thức về phân loại chất thải y tế là hết sức cần thiết Ngoài ra, họ còn là những người trực tiếp tiếp xúc với các loại chất thải này, việc vệ sinh phòng bệnh và trang bị dụng
cụ bảo hộ lao động cho họ không chỉ nhằm bảo vệ sức khoẻ cho họ mà còn cho nhiều người khác mà họ thường xuyên tiếp xúc
Chất thải sinh hoạt chiếm tỷ trọng không nhỏ Những người trực tiếp tham gia vào nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt chính là phụ nữ, những người nội trợ, người chăm lo công việc gia đình Nâng cao ý thức tái sử dụng, sử dụng tiết kiệm bao bì hoặc loại dễ phân huy (giấy, lá cây,…), kiến thức và ý thức về phân loại chất thải trước khi đưa ra hệ thống thu gom của thành phố, và ý thức bảo vệ môi trường công cộng, không vứt ra ra nơi công cộng, đường phố, vỉa hè,…là biện pháp có ý nghĩa vô cùng quan trọng Mặt khác, phụ nữ trong gia
đình với tư cách người mẹ, nếu ý thức và nhận thức của họ tốt về quản lý nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt, còn có tác dụng giáo dục tốt đến các thành viên khác trong gia đình
Một nội dung của quản lý nguồn phát sinh chất thải đó là việc nộp phí thu gom chất thải Việc này, không chỉ chi trả công cho người thu gom và vận chuyển chất thải mà còn có ý nghĩa nâng cao trách nhiệm của người phát sinh ra chất thải Trong gia đình, người trực tiếp phát sinh ra chất thải đa phần là phụ nữ Theo nghiên cứu của nước ngoài, ở những nước nghèo, thu nhập còn thấp, phụ nữ trong gia đình chưa phải là người kiểm soát toàn bộ thu nhập, trong khi
đó họ phải lo chi trả cho mọi sinh hoạt trong gia đình, thì sự sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom của họ có hạn chế Còn nam giới, khi được hỏi về việc có sẵn lòng chi trả dịch vụ nay không, thường họ quan niệm rằng, chi này là việc “chi lặt vặt” và thuộc về trách nhiệm của phụ nữ
Trang 6Tóm lại, phụ nữ là những người chủ chốt trong hoạt động quản lý nguồn phát sinh chất sinh hoạt và chất thải y tế Còn đối với chất thải công nghiệp, có lĩnh vực nam giới có tác động lớn hơn và ngược lại, có lĩnh vực khác thì phụ nữ lại có tác động lớn hơn, tuỳ thuộc theo tính chất của hoạt động sản xuất thu hút nhiều lao động nam giới hay phụ nữ
14.2.2 Giới vμ các hoạt động thu gom vμ vận chuyển chất thải
Các hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải hiện nay do khu vực chính thức và phi chính thức tiến hành Khu vực chính thức có các công ty Vệ sinh Môi trường Đô thị của các tỉnh/thành đảm nhiệm Ngoài ra, ở một vài địa phương còn có hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động trong lĩnh vực này Khu vực phi chính thức có các hình thức tổ chức và cá nhân tham gia thu gom đa dạng: Hợp tác xã, tổ dân phố, các cá nhân những người nhặt rác hoặc cá nhân nhặt và thu mua rác Thành viên của các tổ chức hoặc cá nhân thu gom rác này bao gồm cả nam giới và phụ nữ Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ làm việc trong lĩnh vực này thường cao hơn nam giới Chẳng hạn, tỷ lệ nữ làm trực tiếp (thu gom chất thải, dọn vệ sinh, vận chuyển chất thải) tại Công ty Môi trường
Đô thị Hà Nội là 72,24% (Nghiêm Xuân Đạt, 1995) và trong các công ty Môi trường đô thi cả nước khoảng 60-80% (Đặng Kim Chi, 2003) Trong khu vực không chính thức, các cá nhân thu gom, tuy chưa có số liệu thống kê chính xác
về tỷ lên nam, nữ tham gia hoạt động này, nhưng trong thực tế chúng ta cũng thấy đại bộ phận số người thu mua, hoặc nhặt rác là nữ, trừ một số ít là nam thu mua phế liệu hoặc các chất thải là đồ dùng cơ khí, hoặc đồ điện Ví dụ ở Hà Nội, số người nhặt rác đường phố khoảng 6000 người, trong đó đa phần là nữ (Đặng Kim Chi, 2003)
Phân tích giới trong hoạt động thu gom chất thải là tìm ra vấn đề: liệu những người thu gom chất thải là nam giới có khác gì so với những người thu gom là phụ nữ? hành vi thái độ đối với công việc thu gom của họ có khác nhau không? khả năng, kỹ thuật thu gom của họ có khác nhau không? các phương tiện mà họ có được hoặc được sử dụng trong công tác thu gom có khác nhau không? sự tham gia của nam giới và phụ nữ vào quá trình ra quyết định thu gom
có khác nhau không? lợi ích do thu gom chất thải đem lại có ngang nhau cho nam giới và phụ nữ không? và tổ chức tiến hành thu gom chất thải do nam giới làm chủ có khác gì so với phụ nữ làm chủ?
Trang 7a) Khu vực chính thức
Đa số những người trực tiếp thu gom, dọn vệ sinh môi trường đường phố của Công ty Vệ sinh Môi trường đô thị (URENCO) là phụ nữ Trình độ học vấn của họ không cao và hầu như là lao động phổ thông, chưa được qua các khoá
đào tạo về kỹ thuật hoặc về vệ sinh cộng đồng hoặc y tế cộng đồng Các phương tiện làm việc của họ là chổi, xẻng xúc rác, xe đẩy Họ đều được trang bị quần
áo bảo hộ và khẩu trang, gang tay và ủng Công việc mà họ đảm nhận chủ yếu
là quét, xúc rác vào xe đẩy và tập kết tại các điểm vận chuyển rác Những việc này là các công việc thủ công Người công nhân phải tiếp xúc nhiều với vi khuẩn, bụi, mùi, chịu nắng, gió và nhiệt độ ngoài trời
Nam giới thường đảm nhiệm công việc vận chuyển chất thải bằng xe cơ giới Họ được học qua trường kỹ thuật, có bằng lái xe Năng suất lao động trong khâu này cao hơn khâu thu gom Khác với người thu gom phải trực tiếp tiếp xúc với bụi và mùi, thì người vận chuyển ít phải tiếp xúc trực tiếp với bụi và nắng gió ngoài trời, nhưng đòi hỏi phải tập trung cao độ hơn khi điều khiển xe cơ giới
Ngoài ra, còn có hoạt động hút bùn từ các cống trong thành phố Tham gia công việc này đa phần là nam giới và cũng có phụ nữ Lao động của họ một nửa là cơ giới, có trợ giúp của máy hút bùn Họ phải tiếp xúc trực tiếp ô nhiễm mùi, không khí và các vi khuẩn
Một nghiên cứu tiến hành ở Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội cho thấy,
đối với lao động quét đường phố, vi khuẩn yếm khí trong cơ thể của người công nhân khi lao động tăng gấp 3.13 lần so với lúc trước khi lao động và cầu khuẩn tan trong máu gấp 1.78 lần Tại khâu chuyển rác lên xe, thì lượng vi khuẩn yếm khí có trong cơ thể người khi đang lao động cao gấp 5.37 lần so với trước lúc lao động, còn cầu khuẩn tan trong máu là 2.2 lần Về mức kích thích hô hấp đối với nam giới và phụ nữ của Công ty cũng khác nhau: có 79,5% nam giới không
bị triệu chứng kích thích hô hấp, trong khi đó phụ nữ có 70,3% số còn lại chịu
ảnh hưởng kích thích hô hấp (Nghiêm Xuân Đạt, 1995)
Với tay nghề kỹ thuật cao hơn và công việc điều khiển xe cơ giới, những người làm công việc vận chuyển chất thải có thu nhập cao hơn so với những người thu gom Mặt khác, xã hội có thái độ coi thường hơn đối với công việc
mà phụ nữ đảm nhận (quét rác, xúc rác, quét rác nhà vệ sinh) hơn là đối với công việc do nam giới đảm nhận (lái xe rác, sửa chữa cơ khí) Cụ thể xem bảng 14.1 dưới đây
Trang 8Bảng 14.1 Thái độ của xã hội đối với một số công việc của công nhân
Công ty Vệ sinh Môi trường Đô thị Hà Nội
Thái độ của mọi người xung quanh đối với công việc
Thái độ của người thân đối với công việc
TT Công việc
Tỷ lệ giới cao*
Bình thường (%)
Coi trọng (%)
Tôn trọng (%)
Tán thành (%)
Không tán thành (%)
1 Quét rác Phụ nữ 30,64 48,71 10,15 58,32 38,23
2 Xúc rác Nữ 27,63 34,54 16,41 56,43 23,71
3 Thu phân
2 ngăn
4 Quét rác nhà
vệ sinh
Nữ 20,45 63,74 0,65 27,73 51,67
5 Chế biến rác Tương
đương
50,63 33,67 10,81 70,82 15,67
6 Lái xe rác Nam giới 58,74 6,23 20,68 69,74 5,78
7 Sửa chữa
cơ khí
Nguồn: Nghiêm Xuân Đạt ảnh hưởng của môi trường lao động tới sức khoẻ của công nhân Công ty Môi trường Đô thị Hμ Nội (URENCO)" Tập kỷ yếu Hội thảo "Giới, Môi trường vμ Phát triển ở Việt Nam", NXB Chính trị Quốc gia, HN., 1995 Tr 261
* ý kiến của tác giả bài viết này
Bảng trên cho ta thấy, những công việc hoặc nghề liên quan đến thu gom, vận chuyển chất thải do phụ nữ đảm nhiệm chịu thái độ coi thường của số đông trong xã hội so với các nghề, công việc mà nam giới đảm nhiệm Không chỉ vậy, nhiều người trong họ còn không được sự chia sẻ tán đồng của thành viên trong gia đình đối với công việc mà họ đang làm Trong khi đó, sức ép về việc làm và kiếm tiền để nuôi sống gia đình đều đặt lên vai người phụ nữ ngang bằng nam giới Phụ nữ thường chịu khó với các công việc dọn dẹp và tính cẩn thận hơn, do vậy các nhà tuyển dụng cũng chuộng tuyển lao động nữ vào công việc thu gom rác
Trong khi lực lượng nữ công nhân của các Công ty Vệ sinh Môi trường
Đô thị chiếm tỷ lệ cao, nhưng họ lại ít được tham gia vào quá trình ra quyết
Trang 9định về thu gom hay vận chuyển hay quản lý chu trình thu gom – vận chuyển
Đa phần, cán bộ quản lý ở các công ty này là nam giới, từ vị trí giám đốc, các phó giám đốc, các trưởng phòng Trong trường hợp như thế này, dễ xảy ra tình trạng những quyết định trong công tác ít được phản ánh sáng kiến của chị em, những người đang làm thực tế, hoặc các mối quan tâm của phụ nữ ít được đề cập trong các quyết định của cơ quan liên quan đến công tác thu gom, vận chuyển chất thải
b) Khu vực không chính thức
Hoạt động thu gom và vận chuyển rác trong khu vực phi chính thức do các tổ dân phố, tổ thu gom hoặc các cá nhân người thu gom, nhặt rác tiến hành Trong số họ, tỷ lệ nữ chiếm đa số, từ nhặt rác (nghề đồng nát hoặc ve chai), nhặt rác tại bãi chôn lấp đến xúc rác, vận chuyển đến các điểm tập kết để xe của Công ty Vệ sinh Môi trường Đô thị chuyển ra bãi chôn lấp Chỉ một số ít nam giới làm công việc thu mua đồng nát dạng đồ điện hư hỏng hoặc dụng cụ cơ khí không sử dụng nữa
Lao động của họ chủ yếu là thủ công, trình độ học vấn thấp, mức thu nhập của gia đình thấp Đa phần phụ nữ làm nghề đồng nát hoặc nhặt rác có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đông con và con còn nhỏ tuổi, do đó họ là lao
động chính nuôi cả gia đình (Thái Thị Ngọc Dư, 1995)
Mặt khác, những người chọn nghề đồng nát (ve chai) đa số là do ruộng canh tác hạn chế, ngoài ra họ không có nghề khác và không có vốn hoặc vốn ít không đủ kinh doanh trong lĩnh vực khác Thời gian lao động của họ thường trên 10 tiếng và đi bộ chặng đường dài khoảng 15 km có khi lên tới 20 km – 30km Tuy nhiên, họ không bắt buộc phải làm việc theo những giờ nhất định như khu vực chính thức Công cụ lao động của họ chủ yếu là quang gánh, một
số ít có phương tiện xe đạp Riêng nam giới làm nghề đồng nát đều có xe đạp, một số khác còn có xe máy (loại rẻ tiền)
Vì không có phương tiện cơ giới, địa bàn thu gom của những người phụ nữ làm nghề đồng nát cũng bị giới hạn, không đi xa được Do không có vốn, nhiều người làm nghề này chỉ đơn thuần đi nhặt chất thải được bỏ đi ngoài
đường phố, ở các khu dân cư hoặc bới tại các đống rác tập kết trước khi chuyển
ra bãi chôn lấp, hoặc bới/ nhặt rác tại bãi chôn lấp Thu nhập của họ bình quân chỉ khoảng 10.000 đồng một ngày Những người khác, có chút vốn, hoặc vay
được chút vốn, có thể thu mua chất thải do người chủ sử dụng chúng bán lại Những trường hợp này, họ mua được nhiều chất thải hơn, và đương nhiên là có
Trang 10thu nhập cao hơn, tuỳ theo vốn có được và phương tiện đi lại cũng như khu vực thu gom Theo một điều tra ở Thành phố Hồ Chí Minh, đối với người thu mua, thu nhập bình quân khoảng 15.000 đồng/ngày (Thái Thị Ngọc Dư, 1995)
Khác với khu vực chính thức, những người làm nghề đồng nát tự quyết
định phương án làm ăn của mình Nhưng do trình độ thấp, và khả năng tiếp cận vốn tín dụng hạn chế, họ chỉ có thể vay của các tư nhân khác trong địa phương
và thường chịu lãi xuất cao, nên kết quả kinh doanh của họ cũng không khả quan
Mặt khác, họ thiếu các phương tiện bảo hộ lao động và vệ sinh trong khi làm nghề thu gom, nhặt rác Họ cũng là những người ít được tiếp cận với các kiến thức bảo vệ môi trường Trong lúc họ thu mua hoặc nhặt rác, làm giảm lượng rác đem đi chôn lấp hoặc giảm lượng rác trên đường phố, khu tập thể, nhưng do ý thức bảo vệ môi trường chưa cao, vô tình hay hữu ý họ lại có hành động gây ô nhiễm môi trường, như vứt rác từ chỗ nọ sang chỗ kia không
đúng qua định, thải nước rửa chất thải ra môi trường công cộng, vv
Hoạt động thu gom do tổ dân phố hoặc hợp tác xã thực hiện là hoạt động mang tính chất kinh doanh dịch vụ và được thực hiện ở các địa phương, địa bàn
mà ở đó Công ty vệ sinh Môi trường Đô thị chưa thể đảm nhiệm được công việc thu gom Những người đưa ra ý tưởng kinh doanh này vừa thể hiện tính năng
động nhưng đồng thời cũng thể ý thức đối với quản lý chất thải ở địa phương
Được sự đồng ý của chính quyền địa phương và nhất trí của cộng đồng, họ thành lập đội thu gom để thực hiện thu gom và vận chuyển chất thải từ các hộ gia đình đến khu vực tập kết chung, nơi mà xe của Công ty Vệ sinh Môi trường
Đô thị có thể đến được để chuyển rác đến bãi chôn lấp Bù lại cho hoạt động thu gom của họ, họ thu phí thu gom của các hộ gia đình và đây là nguồn thu nhập của những người tham gia vào Đội thu gom Mức thu này do thoả thuận của Đội thu gom và các hộ gia đình và địa phương chấp nhận Đây là hoạt động phi lợi nhuận, do đó không chịu thuế Một số nơi nhờ có vốn hoặc có sự hỗ trợ của Công ty VSMTĐT họ cũng đa mua sắm được một số xe đẩy rác, giúp cho công việc thu gom được nhanh hơn và đi được xa hơn Nhờ hoạt động của các tổ thu gom như thế này, nhiều địa phương đã tăng phần thu gom chất thải và giảm phần chất thải trôi nổi trong môi trường
Đa phần những người thực hiện thu gom là phụ nữ, nhưng những người quản lý thì đa phần lại là nam giới Vì hạn chế về vốn cũng như cơ sở vật chất