Để tránh việc một số người trả lời có thể giấu cách xử lý chất thải thực sự của họ do nhận thức xã hội này, người dân được yêu cầu mô tả cách thức hàng xóm của mình xử lý chất thải như t
Trang 116
Quản lý chất thải dựa trên cộng đồng
tại Siem Reap, Cambodia
Kate Parizeau, Lay Chanthy, Virginia Maclaren
16.1.Giới thiệu
Quản lý chất thải là một thách thức đối với nhiều cộng đồng, cho dù là nông thôn hay thành thị, công nghiệp hoá hay đang phát triển ở Đông Nam á, quản lý chất thải gặp nhiều khó khăn do thiếu các nguồn lực và năng lực của địa phương Tại nhiều nơi, chính quyền địa phương không quan tâm hoặc không đủ khả năng cung cấp dịch vụ xử lýchất thải Trong trường hợp này cần phải áp dụng những giải pháp mang tính sáng tạo Một trong những giải pháp đó là Quản lý chất thải dựa trên cộng đồng (QLCTDTCĐ), có nghĩa là các thành viên trong cộng đồng địa phương tổ chức và vận hành các hệ thống quản lý chất thải Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng thực hiện dự án QLCTDTCĐ tại
1 khu vực ở Siem Riep, Cambodia Nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá thái
độ và hành vi của cộng đồng, dòng chất thải, thành phần chất thải và ý kiến của những bên có liên quan chủ yếu (key informants) để đánh giá tính khả thi và thiết kế (có thể) của dự án QLCTDTCĐ tại khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành tại khu vực dọc theo 2 bên sông Siem Riep về phía nam thành phố Khu vực này bao gồm 2 xã với khoảng 1.000 hộ dân Cư dân địa phương có hoàn cảnh kinh tế xã hội và hình thức sở hữu đất đai khác nhau Khu vực này được chọn làm địa điểm có thể thực hiện dự án QLCTDTCĐ vì ở đây chưa có dịch vụ thu gom chất thải Một trở ngại lớn đối với việc thực hiện dịch vụ thu gom chất thải có thu phí trong khu vực này là việc người dân có thể dễ dàng đổ chất thải ra sông, đốt chất thải, chôn lấp chất thải hoặc đổ chất thải ra nơi công cộng mà không phải trả một đồng lệ phí nào
Trang 2Tổng quan về Quản lý chất thải dựa trên cộng đồng
QLCTDTCĐ là hình thức quản lý chất thải chủ yếu dựa vào sự tham gia
và hợp tác của các thành viên trong cộng đồng để: xác định các vấn đề liên quan
đến chất thải, quản lý thực hiện các dự án QLCTDTCĐ, thu gom và vận chuyển chất thải……
QLCTDTCĐ có thể là giải pháp thích hợp trong trường hợp chính quyền
địa phương không thể hoặc không giải quyết nhu cầu quản lý chất thải của cộng
đồng Chính quyền địa phương có thể không có khả năng thu gom chất thải vì lý
do tài chính Ngoài ra, việc thiếu cơ sở hạ tầng tại những khu vực đông dân nghèo hoặc khu ngoại ô (như các khu phố nhỏ hoặc tồi tàn) có thể gây khó khăn cho những người thu gom rác thải tiếp cận được cộng đồng Hơn nữa, chính quyền địa phương có thể từ chối cung cấp dịch vụ nếu cộng đồng đó lại là khu
định cư bất hợp pháp
QLCTDTCĐ có thể tạo cơ hội cho việc trao thêm quyền và khả năng tự cải thiện trong việc phát triển cộng đồng, những điều rất cần thiết đối với vấn đề sức khoẻ và mỹ quan, những vấn đề có liên quan tới lượng rác thải quá mức trong các khu dân cư
Nói chung, trong QLCTDTCĐ, chất thải sinh hoạt được thu gom từ các
hộ gia đình và tập trung tại một địa điểm để sau đó chuyển đi Hệ thống thu gom có thể sử dụng những người được thuê để làm nhiệm vụ thu gom hoặc có thể là người dân tự mang rác thải nhà mình tới địa điểm tập trung QLCTDTCĐ
có thể bao gồm thu gom rác thải, phân loại phế liệu có thể tái chế và/hoặc chất thải hữu cơ ở cộng đồng, tổng vệ sinh đường phố vv
Nguyên tắc cơ bản của QLCTDTCĐ là tạo ra giá trị từ chất thải, có thể là
từ việc bán lại nguyên liệu đã được thu gom hoặc là từ phí thu gom (dựa vào nhận thức của cộng đồng về giá trị của việc rác thải của họ được loại bỏ) Trong khi cơ cấu của các dự án QLCTDTCĐ thay đổi tuỳ theo tình hình, một số yếu tố cơ bản dường như không bao giờ thay đổi Ví dụ, những dự án QLCTDTCĐ thường kết hợp sự tham gia của các tổ chức dựa trên cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ, các đối tác chính quyền và các doanh nghiệp địa phương Trong phạm vi hộ gia đình thì phụ nữ và trẻ em có xu hướng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và thực hiện quản lý chất thải
Trang 316.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng nhiều phương pháp, trong đó gồm nghiên cứu tài liệu, khảo sát hộ gia đình, nghiên cứu phát thải và phỏng vấn các đối tượng chủ yếu có liên quan
Khảo sát hộ gia đình
Với sự giúp đõ của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Hoàng gia Phnom Penh, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 300 trong số 1000 hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu vào đầu năm 2004 Việc khảo sát được tiến hành tại 4 địa
điểm với số hộ gia đình tương đương nhau tại mỗi địa điểm Các địa điểm này bao gồm các hộ dân sống sát bờ Tây sông Siem Riep, các hộ dân sống ở phía bên kia con đường nằm trên bờ Tây, các hộ dân sống sát bờ Đông, và các hộ dân sống ở phía bên kia con đường nằm trên bờ Đông Cứ cách hai hộ thì khảo sát một hộ Nếu như hộ được chọn đi vắng thì sẽ chọn hộ liền kề để thay thế Cuộc khảo sát được tiến hành trong 4 ngày vào ban ngày Người phỏng vấn là các sinh viên khoa học môi trường năm thứ 3 của Đại học hoàng gia Phnom Penh và đã được đào tạo trong 1 ngày về cách thức tiến hành khảo sát Cuộc khảo sát tập trung vào đối tượng là vợ hoặc mẹ trong hộ gia đình, vì phụ nữ Cambodia thường phải chịu trách nhiệm quản lý chất thải Bảng hỏi bao gồm các câu hỏi về hoàn cảnh kinh tế xã hội của gia đình, thái độ đối với chất thải và môi trường, hành vi quản lý chất thải và sự sẵn sàng trả phí dịch vụ thu gom chất thải
Nghiên cứu thành phần chất thải
Nghiên cứu được hoàn thành vào giữa năm 2004 Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên phân tầng để chọn ra 50 hộ gia đình trong số 300 hộ thuộc khu vực khảo sát Nhóm hộ gia đình này được phân loại dựa trên các câu trả lời của cuộc khảo sát về biến chi tiêu trong hộ gia đình (biến này được sử dụng đại diện cho thu nhập vì các dữ liệu về thu nhập đã thu thập được là không đáng tin cậy), và về địa điểm cư trú (khu vực sông hay trên
đường phố, bờ Đông hay bờ Tây) Sau khi phân loại xong 300 hộ theo cách này, nhóm nghiên cứu tiến hành chọn lựa một tập hợp nhỏ (sử dụng bảng số ngẫu nhiên và mã hoá dữ liệu khảo sát) biểu thị các tỷ lệ như nhau của mỗi nhóm trong mẫu đầy đủ Trong thời gian 1 tuần, cứ mỗi ngày người dân được yêu cầu thu gom chất thải sinh hoạt vào túi nylon Quá trình theo dõi kéo dài như vậy là nhằm giảm thiểu các hành vi tích trữ (rác) có thể làm sai lệch dữ liệu Chất thải
Trang 4được thu gom vào mỗi buổi sáng và được đưa đến 1 khu vực thuộc 1 trường học
địa phương để phân loại Sau đó, chất thải được cân và số liệu được ghi lại Các dữ liệu được sàng lọc để tìm ra sai số để loại trừ trong khi phân tích dữ liệu
Phỏng vấn những đối tượng liên quan chủ yếu
Nhóm nghiên cứu tiến hành 6 phỏng vấn bán cấu trúc với các bên liên quan chính (key informants) ở địa phương vào mùa hè năm 2004 Những người
được phỏng vấn gồm các lãnh đạo xã, 1 công ty vận chuyển chất thải tư nhân, 1 nhà giáo dục, 1 nhà sư, 1 tổ chức phi chính phủ và 1 đại diện của Sở Môi Trường Các cuộc phỏng vấn này nhằm tìm hiểu thái độ của địa phương đối với chất thải và môi trường cũng như để xem như liệu các bên liên quan có sẵn sàng tham gia dự án QLCTDTCĐ
16.3.Phân tích khu vực nghiên cứu
Đặc điểm kinh tế x∙ hội
Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ gia đình theo điều tra là 225 đôla
và chi tiêu là 164 đôla Nhưng thực tế thì ở đây thu nhập gia đình trung bình hàng tháng cao tới 434 đôla, có thể là do một số hộ gia đình đã đưa ra thu nhập kinh doanh của gia đình trước khi trừ các chi phí
Quy mô trung bình hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu là 6,7 người Số trẻ
em dưới 6 tuổi trong một hộ là 0.8 và số trẻ em từ 6 đến 17 tuổi là 1.9 Phần lớn chủ hộ là nam giới (76%), tỷ lệ phụ nữ làm chủ hộ phụ nữ chiếm 24% Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 45.7
Kết quả điều tra cho thấy18% số chủ hộ không được đi học, 59% học đến cấp 1 hoặc cấp 2, và 23% có trình độ từ cấp 3 trở lên Người có học vấn cao nhất trong gia đình thường không nhất thiết là chủ hộ
Nghề nghiệp phổ biến nhất (ít nhất 1 thành viên của các gia đình trong khu vực nghiên cứu tham gia) bao gồm: bán hàng (45%), cung cấp dịch vụ (33%), công nhân viên chức nhà nước (28%), trồng trọt (28%), chăn nuôi (24%)
và lao động phổ thông (20%)
Đặc điểm cụ thể của khu vực
Người dân sống ở bên Tây sông có xu hướng giàu hơn những người sống bên phía Đông và những người sống trên bờ sông của cả 2 phía đều không có quyền sử dụng đất Do đó cư dân trong khu vực nghiên cứu rất đa dạng
Trang 5Phân tích kết quả của cuộc khảo sát hộ gia đình cho thấy có mối quan hệ thống kê (statistic) đáng kể giữa các thái độ và hành vi môi trường của ngườì dân dựa theo vị trí cư trú của họ với sông Siem Riep Ví dụ, mặc dù phần lớn các gia đình nói rằng họ không đổ chất thải ra sông nhưng trong số những cư dân sinh sống dọc theo sông Siem Riep, tỷ lệ người đổ “tất cả” chất thải ra sông lại cao, p=0.047
Đáng chú ý là những người sống trên bờ Đông và bờ Tây lại là những người mong muốn có dịch vụ thu gom chất thải nhất (p=0.000, xem Hình 4)
Đây chính là nhóm người có khả năng đổ chất thải ra sông nhất Có lẽ nhận thức về tác hại môi trường do việc đổ chất thải ra sông của mình đã dẫn đến việc những người sống trên bờ Đông và bờ Tây mong muốn có hình thức xử lý chất thải khác
Người dân sinh sống trên bờ Tây và trên con đường ở bờ Tây có ý kiến mâu thuẫn với nhau nhất về vấn đề môi trường, đặc biệt là trong đánh giá việc không có dịch vụ thu gom chất thải: nhiều người coi đây là vấn đề lớn trong khi nhiều người lại coi đây chẳng là vấn đề gì cả Phần lớn những người sống trên
bờ Đông và trên con đường ở bờ Đông cho rằng việc không có dịch vụ thu gom chất thải là vấn đề nhỏ Tuy nhiên, những người sinh sống trên bờ Đông lại mong muốn có dịch vụ thu gom chất thải hơn Mâu thuẫn này cho thấy sự phức tạp về nhận thức môi trường trong khu vực nghiên cứu
Một mối quan hệ nữa có thể nhận thấy là số người sống trên bờ Đông và trên con đường ở bờ Đông nhận thức về ô nhiễm không khí do việc đốt chất thải như là một vấn đề ít hơn số người sống trên bờ Tây và trên con đường ở bờ Tây Đáng lưu ý là việc đốt chất thải sinh hoạt lại phổ biến hơn ở trên bờ Đông
và trên con đường ở bờ Đông Điều này cho thấy việc làm thường xuyên và theo thói quen có thể khiến người ta không nhận thức được những ảnh hưởng tiêu cực của nó Tuy nhiên suy luận này lại trực tiếp mâu thuẫn với suy luận về mối quan trước đó giữa việc người dân đổ chất thải ra sông và sự mong muốn có dịch vụ thu gom chất thải của họ
Các vấn đề về giới
Vấn đề về giới là một minh chứng nữa cho thấy sự đa dạng trong khu vực nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy đôi khi có sự khác biệt trong nhận thức và hành vi liên quan đến chất thải giữa phụ nữ và nam giới Dưới đây là 1
ví dụ:
Trang 6Người dân được hỏi xem ai trong gia đình là người chịu trách nhiệm quản
lý chất thải Mỗi người được phép đưa ra nhiều câu trả lời và do đó tổng tỷ lệ lớn hơn 100% (xem bảng 16.1)
Bảng 16.1. Trách nhiệm quản lý chất thải sinh hoạt
Người chịu trách nhiệm
quản lý chất thải
Người nam giới khác trong gia đình 2% (n = 291)
Rõ ràng là người phụ nữ chịu nhiều trách nhiệm hơn nam giới trong việc quản lý chất thải tại khu vực nghiên cứu Con gái cũng đóng vai trò chủ yếu trong quản lý chất thải sinh hoạt
Điều kiện môi trường
Lãnh đạo xã Siem Reap cho biết trước đây người dân thường sử dụng nước sông để ăn uống và sinh hoạt (2004) Nhưng giờ đây họ biết rằng mình phải dựa vào nước giếng do tình hình ô nhiễm nước sông Ông Trưởng phòng kiểm soát ô nhiễm thành phố Siem Riep cho biết các vấn đề môi trường trong cộng đồng này không chỉ là về chất lượng nước mà còn về ô nhiễm không khí
và chất lượng đất Theo ông này, chất lượng nước sông kém cũng ảnh hưởng tới sức khoẻ của những người sử dụng nước sông, nhất là những người không có sự chọn lựa nào khác (2004)
Khi được hỏi về mức độ nghiêm trọng của 8 vấn đề do rác thải không
được thu gom gây ra trong cộng đồng của mình, hầu hết các hộ gia đình đều coi
ô nhiễm nước hoặc nước sông là “vấn đề lớn” (72%)
Trang 7Dòng chất thải và thành phần chất thải
Những người trả lời mô tả cách họ xử lý tất cả hoặc phần lớn chất thải
trong gia đình họ trong bảng 16.2
Mang ra xe tải chở rác (đi thu gom hè đường) 1%
Nhiều người dân nhận thức được rằng các hình thức xử lý chất thải gây
ảnh hưởng đến môi trường là không chấp nhận được về mặt xã hội Để tránh
việc một số người trả lời có thể giấu cách xử lý chất thải thực sự của họ do nhận
thức xã hội này, người dân được yêu cầu mô tả cách thức hàng xóm của mình
xử lý chất thải như thế nào để qua đó có thể tạo nên một bức tranh đầy đủ hơn
về hành vi xử lý chất thải của cộng đồng Kết quả cho thấy số người người tin
rằng hàng xóm của họ rất có thể đổ chất ra sông (41%) nhiều hơn nhiều so với
số người thừa nhận chính mình đã làm như vậy (19%) Kết quả này cho thấy có
khả năng là những người trả lời miễn cưỡng thừa nhận là mình đã đổ chất thải ra
sông vì họ biết làm như vậy là sai
Kết quả khảo sát hộ gia đình cũng cho thấy 35% cư dân hiện sử dụng chất
thải hữu cơ của họ để làm phân compost và 89% phân loại nguyên liệu từ dòng
chất thải để bán hoặc cho
Thành phần chất thải
Khối lượng chất thải trung bình thu gom được trong 1 ngày trong khu vực
nghiên cứu là 97,0 kg Thể tích lượng chất thải trung bình trong 1 ngày là 0,6m3
và tổng tỷ trọng trung bình là 156kg Cần lưu ý là đây mới chỉ là chất thải hộ
gia đình chứ chưa tính đến lượng chất thải từ 3 khu chợ trong khu vực nghiên
cứu
Trang 8Thành phần chủ yếu của chất thải trong khu vực nghiên cứu là chất thải hữu cơ (66% tính theo trọng lượng) Điều này cho thấy khả năng có thể thực hiện 1 dự án làm phân compost trong khu vực này Ngoài ra còn có một lượng lớn chất dẻo (13.2% tính theo trọng lượng và con số này cao hơn nếu tính theo thể tích) cho dù trọng lượng chất dẻo thực có thể thấp hơn vì tổng lượng chất dẻo có thể bao gồm cả chất bẩn và nước từ chất hữu cơ bám vào mà không thể loại bỏ được
Trong chất thải hộ gia đình có lẫn cả chất thải từ các hoạt động thương mại và chất thải sinh hoạt Ví dụ: chất thải y tế thường thấy trong chất thải thu gom từ hộ gia đình có cửa hàng kinh doanh dược phẩm tại nơi cư trú, và một lượng lớn vỏ bào thường được thu gom từ hộ gia đình có người làm thợ mộc Lượng phát thải trung bình tính trên đầu người trong khu vực này là 0.34 kg/ngày Không có khác biệt nhiều về thống kê trong trọng lượng trung bình theo vị trí cư trú của các hộ gia đình Gần 50% số hộ gia đình tham gia nghiên cứu này có lượng phát thải vào khoảng 0,10 đến 0,30 kg/người
16.4 Những thách thức đối với việc thực hiện
QLCTDTCĐ có hiệu quả: Khó khăn và giải pháp
Phần này sẽ đề cập đến những khó khăn trong các dự án QLCTDTCĐ, bao gồm cả những thách thức đối với những dự án khác đã được đề cập trong các tài liệu và biểu hiện của những vấn đề này trong khu vực nghiên cứu Các thách thức đối với việc thực hiện QLCTDTCĐ có hiệu quả được đề cập trong
các mục Thái độ và hành vi của người dân, Các vấn đề về chính quyền, Các vấn đề hậu cần và Tài chính Mỗi thách thức đều có đề xuất giải pháp xử lý
Những ý tưởng này được lấy từ các tư liệu và từ các dự án khác và một số là ý tưởng mới
Thái độ và hành vi của người dân
Trình độ nhận thức môi trường
Các nghiên cứu trước đó cho thấy một số cộng đồng không quan tâm nhiều đến quản lý chất thải rắn do thiếu nhận thức và/hoặc thiếu những biện pháp khuyến khích (Anschtz 1996) Các dự án quản lý chất thải khó có thể thành công nếu các thành viên cộng đồng không có động lực tham gia Ali và Snel cảnh báo “đừng nên cho là sẽ có sự tham gia tự giác ngay từ đầu; các cộng
Trang 9đồng, người thu gom, và chính quyền địa phương cần phải có động lực mạnh
mẽ” (1999:4) Để tạo được động lực mạnh mẽ như vậy trong các đối tượng tham
gia có thể là 1 thách thức thực sự
Kết quả khảo sát hộ gia đình cho thấy nhận thức môi trường tại khu vực
nghiên cứu là rất đa dạng và không đồng nhất Như đã trình bày ở trên, những
người sống ở những địa điểm khác nhau trong cộng đồng có những ý kiến khá
khác nhau về mức độ nghiêm trọng, nguyên nhân và giải pháp cho các vấn đề
môi trường trong khu vực nghiên cứu Mặc dù có sự khác nhau về địa điểm cư
trú, nhưng dường mỗi người lại có những lý do riêng để quan tâm đén vấn đề
môi trường ở địa phương
96% người dân nói rằng sông Siem Riep đang bị ô nhiễm nghiêm trọng
và 3% cho rằng sông bị ô nhiễm Khi những người này được hỏi vể nguyên
nhân của sự ô nhiễm đó, họ đưa ra nhiều ý kiến khác nhau như trong bảng 16.3
Bảng 16 3. Nhận thức về nguồn gây ô nhiễm nước sông
Nguồn gây ô nhiễm nước sông Tỷ lệ người trả lời
Bảng 16.3 cho thấy số người trả lời xác định chất thải rắn và nước thải là
các nguồn gây ô nhiễm chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với
bảng 16.4, trong đó số người trả lời tin rằng việc thu gom chất thải và nước thải
có thể cải thiện chất lượng nước sông lại chiếm tỷ lệ thấp, cho dù mỗi người có
thể đưa ra nhiều phương án trả lời
Có 75% số người được hỏi tin rằng cộng đồng của họ đang gặp rắc rối với
chất thải rắn Khi được hỏi ý kiến về một số ý tưởng nhằm cải thiện việc quản lý
chất thải, mọi người đều ủng hộ các biện pháp can thiệp được đề xuất Những
câu trả lời này có vẻ mâu thuẫn với những câu trả lời ở trên về vấn đề cải thiện
chất lượng nước sông (xem bảng 16.5)
Trang 10Bảng 16.4. Nhận thức về những giải pháp có khả năng
giúp cải thiện chất lượng nước sông Giải pháp cải thiện chất lượng nước sông Tỷ lệ người trả lời
Cải thiện luật pháp và thực thi luật pháp 29%
Khác 8%
Bảng 16.5 Nhận thức về các giải pháp cải thiện quản lý chất thải
Giải pháp cải thiện quản lý chất thải tại cộng đồng Tỷ lệ người trả lời hoàn toàn tán
thành/tán thành
Giáo dục người dân 94%
Cải thiện việc thực thi pháp luật 91%
Thu gom chất thải thành phố 86%
Thu gom chất thải cộng đồng 83%
Có 84% số hộ gia đình nói rằng họ muốn có dịch vụ thu gom chất thải tại
cộng đồng Trong số những hộ cho rằng họ không cần dịch vụ thu gom chất
thải, 58% nói rằng họ có thể đốt chất thải, 31% nói rằng lượng phát thải của họ
không nhiều và 27% nói rằng họ có nơi chôn lấp chất thải
Những câu trả lời khác nhau, dường như là mâu thuẫn nhau, đối với
những câu hỏi về thái độ và nhận thức môi trường để cho thấy sự hiểu biết về
vấn đề môi trường ở khu vực nghiên cứu là rất đa dạng Có thể có nhiều cách lý
giải về nhận thức đa dạng này
Theo lãnh đạo xã Sala Kamrauek, người dân ở trung tâm thành phố Siem
Reap có nhận thức môi trường tốt hơn, do đó nói chuyện về các vấn đề môi
trường với họ dễ hơn Ông nói rằng, những người sống xa thành thị (như những
người trong khu vực nghiên cứu) có trình độ học vấn thấp hơn, do đó nhận thức
môi trường kém hơn và ít có thiên hướng quan tâm đến nơi mình đổ chất thải
Trang 11Hiệu trưởng của 1 trường học tại địa phương nói rằng nhiều ngườì dân trong khu vực nghiên cứu không hiểu biết nhiều về môi trường Ông cho rằng do đây
là những người người nghèo nên mối quan tâm hàng đầu của họ là vấn đề mưu sinh chứ không phải là vấn đề môi trường
Theo lãnh đạo xã Siem Riep, người dân biết là sông bị ô nhiễm nhưng tin rằng họ chẳng thể thay đối được tình hình và do vậy tiếp tục đổ rác ra sông
Ông cũng nói rằng một số người hiểu rõ hậu quả môi trường của việc họ đổ rác
ra sông nhưng không còn cách xử lý chất thải nào khác Có lẽ sự mâu thuẫn trong các câu trả lời của người dân về nhận thức môi trường là do sự khác biệt trong nhận thức của những người dân đang có những hành vi gây hại cho môi trường do không có sự chọn lựa nào khác và hiểu được hậu quả mà hành vi của mình gây ra
Sự sẵn sàng trả phí dịch vụ của người dân
Một trong những trở ngại thường gặp trong các dự án QLCTDTCĐ là người dân không sẵn sàng trả phí sử dụng dịch vụ Theo nghiên cứu của dự án Prodipan ở Khulna, Bangladesh, những vấn đề dưới đây đã tác động đến sự sẵn sàng trả tiền lệ phí của người dân:
• Nhận thức của người dân về lợi ích của dịch vụ;
• Tập quán trả phí dịch vụ trong địa phương local customs regarding paying for services);
và tính thích hợp của dự án cũng ảnh hưởng tới sự sẵng sàng trả phí của người dân
Có 83% người trả lời trong khu vực nghiên cứu nói rằng họ muốn có dịch
vụ thu gom chất thải rắn 3/4 số người trả lời đồng ý trả mức phí bằng với mức
mà người dân trả cho phí thu gom chất thải trong thành phố với dịch vụ thu gom
được thực hiện hàng ngày Tuy nhiên cần phải chú ý là nhóm người trả lời này (n=213) chỉ đại diện cho 52% tổng cỡ mẫu do 31% không trả lời câu hỏi này
Tỷ lệ không trả lời cao như vậy một phần là do câu hỏi này chỉ dành cho những
Trang 12người nói rằng họ muốn chất thải được thu gom (236 người trả lời) Với những người nói họ không sẵn sàng trả mức phí như vậy, họ sẽ được hỏi là liệu họ có sẵn lòng trả mức phí thấp hơn nhưng việc cung cấp dịch vụ lại không thường xuyên hơn Một số người cho thấy là họ sẽ trả mức phí thấp hơn nếu những người khác cũng làm như vậy Tuy nhiên thậm chí với mức phí thấp nhất thì 11% trong tổng số những người tham gia khảo sát vẫn nói rằng họ không muốn trả
Sử dụng phương pháp phân tích chi bình phương cho thấy sự sẵn sàng trả phí của người dân có liên quan khá mật thiết với các biến số (variables) Người dân có thể sẵn sàng trả phí thu gom chất thải hơn nếu:
• Họ tin rằng chất thải không được thu gom là 1 vấn đề lớn đối với khu vực (p=0,001);
• Họ tin rằng nước thải không được thu gom hoặc thu gom kém là 1 vấn
đề, cho thấy nhận thức chung về chất lượng nước sông là 1 vấn đề môi trường (p = 0.06);
• Họ sống trên con đường ở bờ Tây, trên bờ Tây hoặc trên bờ Đông (p = 0.000)
Sự sẵn sàng tham gia/tổ chức
Việc thiếu nhận thức hoặc thiếu vốn xã hội có thể làm hạn chế sự sẵn sàng của cộng đồng trong việc tham gia hoặc tổ chức dự án QLCTDTCĐ Các nhân tố khác như thiếu tài chính, hoặc các vấn đề chính trị nội bộ của cộng
đồng cũng có thể ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tham gia của các thành viên cộng
đồng Trong những trường hợp này, địa phương có thể không đủ năng lực để
đưa ra những hành động thích hợp
Trong khu vực nghiên cứu, sự mong muốn có dịch vụ thu gom chất thải (và do vậy có thể giả định là người dân sẵn sàng tham gia vào dự án QLCTDTCĐ) có liên quan đáng kể đến việc:
• coi việc thiếu dịch vụ thu gom chất thải là 1 vấn đề (lớn hoặc nhỏ) (p=0,000);
• coi “mùi” là 1 vấn đề (lớn hoặc nhỏ) (p=0,000);
• tin rằng dịch vụ thu gom chất thải sẽ cải thiện chất lượng nước sông (p = 0.006);
• nhận thức về vấn đề chất thải trong cộng đồng (p = 0.000);
• sẵn sàng trả 4,000 riel một tháng cho dịch vụ thu gom (p = 0.000);
• sẵn sàng phân loại thức ăn thừa trong các chất thải khác (p = 0.000)
Trang 13Các kết quả này đưa ra khả năng là việc nâng cao nhận thức về các vấn đề
chất thải và mối liên quan của chúng với các vấn đề môi trường khác có thể
nâng cao sự sẵn sàng tham gia của cộng đồng Các kết quả này cũng cho thấy
sự sẵn sàng tham gia có liên quan tới sự sẵn sàng trả phí và phân loại chất thải
Tất cả những bên liên quan chính (key informants) đều nói rằng họ rất
sẵn lòng tham gia dự án QLCTDTCĐ (có khả năng ngoại trừ ông Phó giám đốc
công ty dịch vụ chất thải tư nhân MICC) Ông này nói rằng sự tham gia của ông
còn tuỳ thuộc vào mức phí vận chuyển chất thải từ khu vực nghiên cứu đến bãi
chôn lấp mà công ty ông dự tính sẽ nhận được Do phí chôn lấp chất thải rất
cao, sự tham gia của MICC có vai trò thiết yếu đối với sự thành công của dự án
Có thể cần yêu cầu Thị trưởng thành phố gây sức ép buộc MICC tham gia với
mức phí hợp lý Mức phí này sẽ được đề cập chi tiết trong mục Tài chính
Sự sẵn sàng phân loại chất thải
Những người tham gia dự án QLCTDTCĐ đôi khi được yêu cầu phải phân
loại những chất thải có thể tái chế được hoặc những nguyên liệu có thể sử dụng
làm phân compost để bán nhằm tạo nguồn thu cho dự án Những dự án
QLCTDTCĐ có nội dung phân loại chất thải đòi hỏi người dân phải cần phải
sẵn lòng hơn và phải có khả năng phân loại nguyên liệu để tái chế hoặc làm
phân compost
35% số người trả lời cho biết họ làm phân compost từ thức ăn thừa/rau
quả Trong số này, 90% nói họ làm phân compost để cải thiện chất lượng đất,
4% nói là để giảm lượng chất thải, 9% nói là do tập quán gia đình và 1% nói là
để bán
88.7% người được hỏi trong cuộc khảo sát hộ gia đình nói rằng họ hiện
đang phân loại chất thải để bán hoặc cho Những người trả lời đưa ra những lý
do phân loại chất thải của họ trong bảng 16.6
Bảng 16.6 Lý do phân loại chất thải có thể tái chế
Lý do phân loại chất thải
có thể tái chế
Trang 14Những kết quả này cho thấy người dân trong khu vực nghiên cứu khó có thể phân loại các chất thải có thể tái chế để tạo nguồn thu cho dự án vì những thứ này hiện đang được phân loại để tạo thu nhập cho hộ gia đình và vì những lý
do khác Ngoài ra, việc cố cạnh tranh với với các doanh nghiệp tư nhân trong công nghiệp tái chế có thể để doạ khả năng tổ chức và tài chính của QLCTDTCĐ (Anschtz 1996)
Như vậy là có khả năng khuyến khích làm phân compost trong khu vực nghiên cứu, cho dù là để tạo thu nhập cho dự án, giảm lượng phát thải nói chung hay là để bán tạo thu nhập cho cá nhân
Các giải pháp có khả năng áp dụng
• Giáo dục
Trình độ nhận thức môi trường trong cộng đồng có ảnh hưởng tới động lực tham gia các dự án môi trường của người dân và sự thành công lâu dài của các dự án đó Giáo dục môi trường tạo cơ hội nâng cao nhận thức môi trường,
động lực cộng đồng và mức độ thích hợp của dự án mà người dân nhận thức
được(Zurbrỹgg và Ahmed 1999, Salequzzamana et al 2003)
Chỉ với sự tồn tại của chương trình giáo dục mà thôi thì không thể quyết
định sự thành công hay thất bại của 1 dự án dựa trên cộng đồng mà chính là tính phù hợp về nội dung, phương pháp và phạm vi của chương trình đó Giáo dục phải cụ thể về giới, cụ thể về nội dung và có lợi ích tập trung để có thể phát huy hiệu quả trong QLCTDTCĐ Nói chung, cần phải có nguồn tài chính dồi dào để thực hiện nội dung quan trọng này của một chương trình cộng đồng
Kết quả công trình nghiên cứu một dự án QLCTDTCĐ do tổ chức phi chính phủ Propidan tiến hành tại Khulna, Bangladesh cho thấy nhận thức môi trường được nâng cao đã góp phần rất lớn trong việc huy động sự tham gia đầy
đủ của cộng đồng vào kế hoạch thu gom chất thải mới Trước khi các hoạt động giáo dục được tiến hành, chỉ có 38% người dân trong cộng đồng đổ chất thải vào các thùng rác đã được cung cấp Dự án này đã tổ chức các cuộc họp với các thành viên trong cộng đồng (với các nhân từng người hoặc theo nhóm), tổ chức các buổi thuyết trình về môi trường do các giáo viên và sinh viên trường Đại học Khulna trình bày, treo pa-nô, áp phích trong khu vực dự án, tổ chức các cuộc mít tinh lớn tại trường học để tuyên truyền cho người dân về sự cần thiết phải có những hoạt động quản lý môi trường tốt hơn Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng những người có trình độ học vấn cao hơn có khuynh hướng dễ chấp