Nguồn phát sinh chất thải do phát triển du lịch gồm: - Các nhà hàng, khách sạn - Các dịch vụ đô thị du lịch: các cơ sở chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế, văn hoá thể thao… - Từ các khu dân
Trang 113
Quản lý Chất thải du lịch ở việt nam
Nguyễn Quốc Công Murray Haight, Jenen Tang
13.1 Các nguồn phát sinh và những đặc điểm cơ bản
của chất thải du lịch
Hiện nay phát triển du lịch và du lịch biển đã trở thành một hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2020 của Việt nam
Nguồn phát sinh chất thải do phát triển du lịch gồm:
- Các nhà hàng, khách sạn
- Các dịch vụ đô thị du lịch: các cơ sở chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế, văn hoá thể thao…
- Từ các khu dân cư trong khu vực phát triển du lịch
- Các khu trung tâm thương mại, chợ
- Từ khách du lịch
- Từ hoạt động vận chuyển khách du lịch: sân bay, bến cảng, bến ô tô, ga tàu hoả
- Các công sở, trường học, công trình công cộng trong khu du lịch
- Các hoạt động xây dựng hạ tầng phục vụ du lịch
- Từ các trạm xử lý nước cấp, nước thải và các hệ thống thoát nước trong nhà khách sạn và đường phố
Trong đó nguồn thải từ các nhà hàng, cơ sở lưu trú khách du lịch, khách
du lịch và các dịch vụ du lịch là đáng chú ý nhất
Trang 213.2 Đặc điểm thành phần tính chất của chất thải rắn
du lịch
Hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch, cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế
du lịch khác đều có chất thải Qua tổng hợp nghiên cứu cho thấy chất thải của kinh doanh khách sạn và du lịch rất đa dạng và rất nhiều, gồm chất thải: rắn, lỏng, khí, nhưng phần lớn là chất thải rắn
Chất thải rắn từ kinh doanh khách sạn gồm: giấy văn phòng, sách báo, vật tư nguyên liệu, các thiết bị, máy móc, thực phẩm, thức ăn thừa, bao bì, lon đồ hộp, chai lọ, thùng, lá cây… Nguồn chất thải rắn chính trong các khách sạn phát xuất từ các bộ phận: bếp (rác từ quá trình chế biến món ăn, thức ăn thừa, bao bì, lon, hộp, chai, lọ…), văn phòng (giấy tờ, bút bi hết mực…), từ khách (sách báo, lon, hộp…), cành, lá cây ở sân vườn… Nhìn chung, chất thải rắn từ
du lịch có các thành phần đặc trưng cơ bản gần giống với chất thải sinh hoạt của
khu dân cư
Các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau ở Việt Nam và kết quả nghiên cứu ở Hạ Long của Dự án thử nghiệm Hạ Long (thuộc WASTE-ECON) cho thấy hiện nay lượng chất thải rắn sinh hoạt từ khách du lịch bình quân khoảng 0,67-0,8 kg/người/ngày ; chất thải lỏng khoảng 100-150 lít/ngày/người
Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường quan trọng từ hoạt động du lịch, đặc biệt
là ở những nơi chưa đủ năng lực quản lý và xử lý chất thải
Bảng 13.1 Thành phần điển hình của chất thải rắn từ kinh doanh khách
sạn và các dịch vụ ở khu du lịch Bãi Cháy, Tp Hạ Long, Quảng Ninh
Thực phẩm và các chất không tái sinh chiếm 50% - 70%
Trang 3Khối lượng và thành phần chất thải rắn của khách sạn hoặc các cơ sở lưu trú du lịch phụ thuộc vào qui mô phòng nghỉ, số lượng và chất lượng dịch vụ của cơ sở lưu trú Thực tế, trong tổng lượng chất thải rắn sản sinh từ kinh doanh khách sạn, khoảng 50% - 70% là chất thải hữu cơ, thuận tiện cho việc xử lý (ủ hoặc tái sử dụng)
Việc vứt rác thải bừa bãi, thu gom và tập kết chất thải rắn không phù hợp tại các cơ sở lưu trú du lịch có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng về cảnh quan, vệ sinh môi trường, sức khoẻ cộng đồng và xung đột xã hội
13.3 ô nhiễm do chất thải rắn từ hoạt động du lịch và
các tác động
13.2.1 ô nhiễm do chất thải du lịch vμ tác động tới môi trường
Bên cạnh các đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội, hoạt
động du lịch đã gây ra một số tác động xấu đến môi trường Các tác động chủ yếu của các hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trườngđược xem xét trên hai khía cạnh:
- Sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các mục tiêu phát triển du lịch và môi trường
- Tác động của hoạt động du lịch góp phần làm môi trường tự nhiên xuống cấp
Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lượng du khách tới các điểm tham quan, du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên… Từ đó các áp lực của phát triển du lịch
đến môi trường cũng gia tăng Những hoạt động phát triển du lịch và hoạt động của du khách có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp đến tài nguyên và môi trường
Phát triển du lịch và các hoạt động có liên quan hiện đang góp phần làm môi trường xuống cấp về mọi mặt Đó là do việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các hoạt động du lịch không mang tính bền vững Trên phạm vi quốc gia, các vấn đề về môi trường trong hoạt động du lịch chủ yếu như sau:
- Chất thải sinh hoạt ở các khu vực phát triển du lịch gia tăng nhanh làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước và làm xấu cảnh quan: Năm
1995, tổng lượng chất thải rắn từ hoạt động du lịch của Việt Nam khoảng
Trang 411.388 tấn thì đến năm 2000 đã là 19.146 tấn và đến năm 2002 là 32.273 tấn Tổng lượng chất thải lỏng tương ứng là 1.775.394 m3; 2.971.852 m3 và 4.817.000 m3 Du lịch phát triển dẫn đến sự phát triển các hoạt động dịch vụ
ăn uống, mua bán các sản phẩm , đồ lưu niệm nhân tạo và tự nhiên, dịch vụ vận chuyển và lưu trú Chẳng hạn như ở khu du lịch vịnh Hạ Long, các đội tàu thuyền gắn máy, các nhà hàng, khách sạn ven biển – thậm chí nhà nổi trên các vịnh biển, các nhà thuyền “hàng bách hoá” nổi phát triển và hoạt
động nhộn nhịp Kết quả là các vịnh biển, các điểm tham quan, du lịch phải hứng chịu càng nhiều hơn các loại chất thải (nước thải, dầu thải, rác thải sinh hoạt) và bị khuấy đục bởi sự di chuyển của các loại tàu thuyền Chất lượng môi trường tự nhiên, môi trường nước, sự đa dạng sinh học ở các nơi này bị suy thoái và bị đe doạ
- Gia tăng mức độ suy thoái nguồn nước ngầm ở khu vực ven biển: Việc tăng
nhanh nhu cầu nước sinh hoạt cho hoạt động du lịch sẽ đồng thời gia tăng lượng nước thải và do đó góp phần làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn nước ngầm, nước mặt hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven
biển do khả năng xâm nhập mặn cao Ví dụ của Việt Nam : Tổng nhu cầu
nước cho khách du lịch năm 2000 là 5.714.815 m3 thì năm 2002 tăng tới 8.100.000m3 Tính bình quân tiêu chuẩn cấp nước cho khách du lịch nội địa
là 100-150 lít/ngày, khách quốc tế là 200-250 lít/ngày trong khi đó phần lớn dân địa phương mới đạt tiêu chuẩn cấp 80-120 lít/ngày
- Nước mặt: Một số hoạt động phục vụ du lịch có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng nước mặt có thể xem xét như sau:
o Việc nạo vét, san lấp đất, giải phóng mặt bằng trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch làm tăng đáng kể độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước do các quá trình cơ học, làm thay đổi chất lượng nước, phá huỷ môi trường sống tự nhiên của sinh vật trong thuỷ vực
o Việc thải rác bừa bãi từ quá trình xây dựng (rác thải xây dựng), rác thải sinh hoạt từ cư dân địa phương, công nhân nhập cư và du khách, các cơ
sở dịch vụ làm ô nhiễm nguồn nước bởi các chất cặn bã hữu cơ, các chất vô cơ độc hại và các loại sinh vật gây bệnh
o Xăng dầu rơi vãi từ các phương tiện cơ giới phục vụ du lịch cũng gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước
- Phát triển du lịch tác động đến biển: Việt Nam có tiềm năng phát triển du
lịch nói chung và du lịch biển nói riêng Hoạt động du lịch biển phát triển
Trang 5nhanh chóng và sôi động vài năm gần đây đã thu hút rất đông du khách tới những trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam như Cát Bà - Hạ Long, Huế
- Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu Vùng ven biển Việt Nam tập trung đến 80% các điểm du lịch trong cả nước Nhiều loại rác thải như túi nilon, vỏ đồ hộp, các vỏ trái cây, thực phẩm thừa… đã bị vứt xuống biển, xung quanh khu vực du khách lui tới một cách vô tình hay cố ý Theo thời gian, các rác thải trôi nổi trên biển bị trôi dạt vào các bãi biển, một vài nơi do không được
vệ sinh thường xuyên nên đã gây cho du khách cảm giác “bãi biển như là bãi rác” hoặc khu du lịch rất không an toàn về vệ sinh môi trường
- Quá trình phát triển các dịch vụ du lịch có nhiều ảnh hưởng đến tài nguyên
đất: điều này thấy rất rõ ở thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), Nha Trang,
Vũng Tàu… Phát triển du lịch hiện nay ở Việt Nam mới chủ yếu tập trung
vào việc xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ nhu cầu cuả du khách Tác động của nó có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn và ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm, tài nguyên đát và ô nhiễm không khí (chủ yếu do bụi ) và tiếng ồn
o Cơ sở hạ tầng cho du lịch tất yếu sẽ lấn chiếm các diện tích đất khác,
ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất và cảnh quan thiên nhiên của địa phương
o Quá trình đào đắp lấn biển, xây dựng làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên của địa phương, cấu trúc địa chất khu vực
o Các chất thải rắn không được xử lý không triệt để hoặc không xử lý luôn là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với môi trường đất và mỹ quan chung
o Các hoạt động quá mức của khách du lịch có tác động xấu đến môi trường đất của khu du lịch (do chuẩn bị lều trại, đốt lửa trại, đẽo đá, vứt rác thải…)
- Tăng lượng khí thải, đặc biệt là ở các khu đô thị du lịch góp phần gây ô nhiễm không khí: Vào mùa du lịch, các ngày lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần
mức tiêu hao năng lượng và khí thải ô tô, xe máy tăng đột biến và làm tăng
đáng kể lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí Lượng xe du lịch tập trung chuyên chở khách đến các trung tâm đô thị – khu du lịch gây
ra tình trạng ách tắc giao thông
Trang 6- Tác động tiêu cực đến tài nguyên sinh vật Đa dạng sinh học bị đe dọa bởi
nhiều loài sinh vật hoang dã quý hiếm bị săn bắt phục vụ nhu cầu ẩm thực,
đồ lưu niệm của khách du lịch Ngoài ra, khi lượng du khách tập trung đông
và lượng chất thải vứt vào môi trường cũng tác động có hại đến chu trình sống của động vật hoang dã trong các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu du lịch sinh thái…
- Những tác động tiêu cực khác: Bên cạnh những tác động tiêu cực đến tài
nguyên thiên nhiên và môi trường thì phát triển du lịch cũng tạo ra một số thay đổi làm giảm giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của địa phương vốn rất nhạy cảm do tiếp thu thiếu chọn lọc những nhân tố mới ngoại lai như ở Sapa, Mai Châu Ngoài ra còn phải kể đến sự lây truyền dịch bệnh đến
cộng đồng mà điển hình như dịch SARS năm 2003
Nếu như các khu vực du lịch được qui hoạch hợp lý và quản lý xây dựng, phát triển các dịch vụ du lịch chặt chẽ, hiệu quả thì các tác động bất lợi nêu trên hoàn toàn có thể kiểm soát được
13.2.2 Tác động của môi trường đến sự phát triển du lịch
Môi trường là yếu tố ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách và sự tồn tại của các hoạt động du lịch Tình trạng môi trường có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của du lịch Việt Nam chủ yếu là:
- Sự quá tải và yếu kém của hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị và du lịch (hệ thống giao thông, cấp thoát nước, xử lý chất thải…); tình trạng ô nhiễm không khí (chủ yếu là bụi), tiếng ồn, chất thải xả bừa bãi chưa được quản lý tốt
- Ô nhiễm vùng nước biển ven bờ do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp ở phần lớn các trọng điểm du lịch như Hải Phòng- Quảng Ninh, Vũng Tàu – Cần Giờ… chưa được hạn chế và kiểm soát tốt
- Sự suy giảm đa dạng sinh học, đặc biệt là các hệ sinh thái ven biển do phát triển nuôi trồng thuỷ sản thiếu quy hoạch và kiểm soát
- Tình trạng ô nhiễm dầu vùng nước biển ven bờ do hoạt động của các phương tiện vận tải thuỷ, sự cố tràn dầu có nơi còn cao hơn mức cho phép
đối với hoạt động du lịch
Trang 7- Cảnh quan môi trường thiên nhiên bị biến đổi do phá rừng, phá núi lấy vật liệu xây dựng, tài nguyên và không gian để xây dựng công trình đô thị, hạ tầng và phát triển khu du lịch
Trong khi lượng du khách tăng nhanh thì tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng
du lịch, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật cho bảo vệ môi trường như hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải rắn và lỏng… lại rất kém Bên cạnh đó, các luật lệ, chính sách quản lý môi trường du lịch còn nhiều bất cập, các chế tài và thực thi chế tài chưa hiệu quả, nhận thức chung của cộng đồng, của du khách về tài nguyên và môi trường rất hạn chế, công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về môi trường và bảo vệ môi trường chưa đi vào chiều sâu, mới nặng tính hình thức nên chưa hạn chế được các tác động tiêu cực của phát triển
du lịch đến tài nguyên và môi trường
Như vậy chúng ta thấy rằng các tác động môi trường do chất thải du lịch làm suy giảm thậm chí huỷ hoại các giá trị tài nguyên thiên nhiên và môi trường Tình trạng đó lại có tác động ngược lại đến sự phát triển không chỉ đối với du lịch mà còn đối với các ngành khác Đây là thách thức lớn đối với phát triển bền vững
13.3 Vai trò của các bên liên quan tham gia quản lý
chất thải du lịch
Môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao, vì vậy xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là việc làm phù hợp và cần thiết Hướng tới xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường chính là tăng cường hoạt
động của cộng đồng trong lĩnh vực này Các hoạt động này có thể là chương trình thu gom và vận chuyển một phần CTR; tổ chức các nhóm tình nguyện, hay hướng các tổ chức xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường; rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường ngay từ khi còn nhỏ, hay là hoạt động giáo dục môi trường trong trường học Ngoài các hoạt động phong trào được tổ chức hàng năm như: Ngày Môi trường thế giới 5/6; Tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường; chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn (22/9);v.v Nhiều phong trào quần chúng đã được phát động rộng rãi và đạt nhiều kết quả tốt như: “Thành phố xanh sạch đẹp”; “Phường xóm tự quản về vệ sinh môi trường”; một số mô hình sinh thái, bảo tồn thiên nhiên cũng được nhân dân tự nguyện tổ chức và tham gia
Trang 8Tuy nhiên, để xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn cần có các cơ chế, chính sách cụ thể trong các khâu huy động lực lượng, tài chính, đối với cộng
đồng, chính sách khuyến khích tham gia đầu tư vào lĩnh vực môi trường đối với tư nhân, hợp tác xã, huy động các tổ chức chính trị xã hội và các hội chuyên ngành tham gia
13.3.1 Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nhμ nước quản lý
môi trường
Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường chủ yếu như sau:
- Xây dựng các văn bản pháp lý, quy định dưới luật
- Thực hiện và giám sát thực hiện các qui định, luật về BVMT:
Trong trường hợp các cá nhân, tổ chức có hành vi phá hoại môi trường, vi phạm luật và các qui định về BVMT thì cần phải bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp hành chính và xử phạt vi phạm theo các quy định của pháp luật Các cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý nhà nước liên quan đến quản lý môi trường trong lĩnh vực du lịch là:
- Cấp trung ương: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Du lịch
- Cấp tỉnh, thành phố và địa phương: Các Uỷ ban Nhân dân các cấp, các
Sở Du lịch, Sở Tài nguyên & Môi trường ở các nơi có các khu phát triển du lịch, các ban quản lý các khu du lịch, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia,
- Các cơ sở kinh doanh du lịch của nhà nước
- Các công ty dịch vụ môi trường đô thị, xử lý chất thải
13.3.2 Quyền vμ nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị, tổ chức xã
hội vμ cá nhân trong công tác bảo vệ môi trường
Các bên liên quan không trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường ở các khu du lịch bao gồm:
- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, công sở, trường học
- Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, tổ chức xã hội địa phương trong khu vực phát triển du lịch như: Hội các doanh nghiệp ngành du lịch, Hội các nữ chủ doanh nghiệp du lịch, Đoàn TNCSHCM, Hội phụ nữ, Hội
Trang 9cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, có vai trò khá quan trọng trong quản lý môi trường du lịch
- Các cá nhân tham gia kinh doanh, cung cấp dịch vụ du lịch
- Khách du lịch và các công ty du lịch ở nơi khác đưa đón khách đến
điểm du lịch
Tất cả họ có các quyền và trách nhiệm như sau:
+ Có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, hỗ trợ các cơ quan Nhà nước trong việc phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường…
+ Khiếu nại và tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
+ Kiến nghị việc xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường ở địa phương + Có quyền được bồi thường thiệt hại đồng thời, có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi gây tác hại đến môi trường làm thiệt hại cho người khác
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên bảo
vệ môi trường thi hành nhiệm vụ Có nhiệm vụ chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kết luận những vấn đề về môi trường
13.3.3 Các công cụ xây dựng vμ phát triển cộng đồng quản lý
chất thải du lịch
a) Sự tham gia của thanh niên:
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, một số hoạt động của thanh niên như chương trình sinh viên tình nguyện hàng năm do Đoàn TNCSHCM tổ chức, đã góp được một phần đáng kể với những hoạt động như:
+ Tổ chức các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của cộng đồng như phát tờ rơi, chương trình truyền thanh, tổ chức phổ biến Luật môi trường, vận động tới từng hộ gia đình tham gia bảo vệ môi trường
+ Hỗ trợ cho UBND phường, xã trong việc phổ biến và triển khai các quy
định pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về BVMT: xác định các nguồn ô nhiễm, các sự cố môi trường, các tranh
Trang 10chấp, làm nòng cốt và cùng với người dân tìm kiếm giải pháp xử lý thích hợp cho địa phương
+ Tham mưu và giúp các UBND phường, xã xây dựng các quy định về BVMT có sự tham gia của cộng đồng Triển khai một số dự án, các sáng kiến địa phương
+ Phối hợp với các tổ chức đoàn thể khác như là Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, để thực hiện các phong trào làm sạch môi trường, thu dọn chất thải rắn vào cuối tuần, ngày lễ, tết có tác dụng nâng cao ý thức của mỗi người tham gia
b) Sự tham gia của phụ nữ
Phụ nữ ngoài việc chăm sóc dạy dỗ con cái, còn là người nội trợ chính trong gia đình Do vậy, đối với những vấn đề môi trường, sự hợp tác của họ luôn
có tác động không dừng lại ở chỗ ý thức của một cá nhân, mà còn có tác động
đến các cư xử với môi trường của thế hệ tương lai sau này Sự hướng dẫn dạy dỗ con cái này có thể thông qua những hành động cụ thể như chăm sóc cây và trồng cây xanh quanh nhà, bảo vệ cây xanh đường phố, vứt rác đúng nơi quy
định, Đảm nhận nội trợ trong gia đình cũng có thể hiểu là người phụ nữ liên quan trực tiêp đến vấn đề vứt rác và nước thải sinh hoạt Sự hợp tác trong lĩnh vực này có thể đem đến những thành quả tức khắc, tạo ra chuyển biến lớn trong việc quản lý cũng như xử lý CTR sinh hoạt Do vậy, để những dự án phát triển cộng đồng nhằm bảo vệ môi trường đạt được kết quả tốt, sự tham gia của phụ nữ
d) Đào tạo, tập huấn, hội thảo:
Như trên đã trình bày, nâng cao nhận thức cộng đồng được thực hiện thông qua các hình thức thông tin, ttruyền thông, các kênh truyền thông đại
Trang 11chúng Trong các hình thức hoạt động đó, có thể nhận thấy nổi lên vai trò người chủ trì cuộc họp, người dẫn chương trình hội nghị, hay người đề ra kế hoạch thực hiện Phát triển cộng đồng được thực hiện theo nguyên lý từ dưới lên, tức là bắt đầu bằng những khúc mắc của cơ sở Điều này yêu cầu những người chủ trì cần nắm thông thạo tình hình xã hội địa phương Do vậy việc tổ chức hội nghị, hội thảo để truyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng và xác
định vai trò trách nhiệm của cộng đồng, tiến hành giao lưu giữa các cộng đồng
và chính quyền, thành lập mạng lưới cộng đồng là cần thiết
e) Quỹ môi trường:
Các hoạt động bảo vệ môi trường yêu cầu cần phải có một nguồn tài chính hỗ trợ, đặc biệt trong thời kỳ đầu hoạt động, nguồn lực tài chính này có thể từ tài trợ bên ngoài, hay từ trong chính bản thân cộng đồng đóng góp Trong
điều kiện các hoạt động phát triển cộng đồng chuẩn bị bắt đầu, thì nguồn tài chính này đến từ tài trợ bên ngoài, nhưng sau một thời gian hoạt động, bản thân cộng đồng phải tự tạo ra nguồn tài chính Quỹ môi trường chính là giải pháp cho hai yêu cầu trên
13.4 Chính sách quản lý chất thải du lịch
Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện dần các chính sách và chế tài
thực hiện
- Chính sách ưu tiên miễn giảm hoặc không thu thuế trong thời gian nhất định
đối với các hoạt động đầu tư cho việc bảo vệ môi trường du lịch nhằm thu hút vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường du lịch
- Chính sách ưu tiên các dự án đầu tư du lịch có các giải pháp cụ thể về quản
lý và giảm thiểu ô nhiễm, thu hồi, tái sử dụng và tái chế chất thải
- Chính sách ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới, trong phát triển du lịch gắn kết với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
- Khuyến khích phát triển các loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá… phát triển du lịch
- Tạo cơ chế kinh tế - tài chính thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển du lịch và bảo vệ môi trường
Trang 12- Thiết lập các chế tài thực hiện các chính sách và luật lệ một cách nghiêm túc và hiệu quả
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở các khu du
lịch
Các chủ đầu tư khi muốn xây dựng cơ sở lưu trú du lịch cần phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Cơ quan quản lý du lịch địa phương phải là một thành viên tham gia giám sát các dự án này
Đối với các cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động cần giám sát các cơ sở lưu trú theo một số nội dung sau :
- Thông tin phản hồi của khách hàng về môi trường của cơ sở
- Mức độ hoà hợp của cơ sở lưu trú với môi trường văn hóa, xã hội Việc kiểm tra chất lượng nước, độ ô nhiễm không khí, xử lý nước thải, rác thải, tiếng ồn được thực hiện theo qui định của pháp luật hiện hành
Hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã ban hành Quyết
định số 02/2003 về Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch nhằm bảo
vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của đất nước Quy chế này
điều chỉnh các hoạt động liên quan trực tiếp đến môi trường du lịch trên phạm
vi lãnh thổ nước Việt Nam và áp dụng đối với tổ chức, cá nhân hoạt động tại các khu, điểm du lịch Một số nội dung cơ bản như sau:
- Đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển khách: không vận chuyển các
chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ Các tổ chức, cá nhân kinh doanh vận chuyển khách du lịch khi sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch phải đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường theo quy định của Bộ Giao thông - Vận tải; hướng dẫn, nhắc nhở khách du lịch không xả rác bừa bãi trên đường đi; thu gom, đổ đúng nơi quy định rác thải phát sinh trên phương