Tuy nhiên, như nhà thơ Mai Văn Phấn đã từng nhận định khi nói về những gương mặt cách tân tiên phong: “Qua mỗi giai đoạn một số nhà thơ đã tự phát và đơn độc khởi xướng cách tân, nhưng k
Trang 1
NGUYỄN THỊ THU THỦY
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ PHÙNG CUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ THU THỦY
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ PHÙNG CUNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Huy Dũng, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Sư phạm Ngữ văn - Trường Đại học Vinh đã quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 11
Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VĂN HỌC CỦA PHÙNG CUNG VÀ SỰ RA ĐỜI ĐẶC BIỆT CỦA TẬP XEM ĐÊM 12
1.1 Cuộc đời, con người Phùng Cung 12
1.1.1 Một cuộc đời oan khổ 12
1.1.2 Một nhân cách đáng trọng 14
1.2 Hành trình văn học của Phùng Cung 17
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1956 đến 1961 17
1.2.2 Giai đoạn từ 1961 đến 1997 19
1.3 Sự ra đời đặc biệt của tập thơ Xem đêm 21
1.3.1 Hoàn cảnh sáng tác 21
1.3.2 Cuộc ra mắt giữa những ân tình 23
1.3.3 Sự tỏa sáng theo thời gian 25
1.4 Khái quát về tính cách tân của tập thơ Xem đêm 27
1.4.1 Tiếng gọi của tinh thần nhân bản và dân chủ 27
1.4.2 Lời nhắc về quyền được riêng tư 30
1.4.3 Lối đi xa lánh quảng trường 33
Chương 2 ĐẶC SẮC CỦA TÍNH THẾ SỰ, TRIẾT LÝ VÀ CẢM HỨNG NHÂN VĂN TRONG THƠ PHÙNG CUNG 36
2.1 Giới thuyết các khái niệm 36
2.1.1 Tính thế sự 36
Trang 52.2 Đặc sắc của tính thế sự và tính triết lý trong thơ Phùng Cung 40
2.2.1 Đặc sắc của tính thế sự 40
2.2.2 Đặc sắc của tính triết lý 56
2.2.3 Mối quan hệ giữa tính thế sự và tính triết lý 66
2.3 Nét độc đáo của cảm hứng nhân văn trong thơ Phùng Cung 68
2.3.1 Một nhận thức mới mẻ về nhân văn 68
2.3.2 Biểu hiện của cảm hứng nhân văn 69
2.3.3 Sự hướng về những giá trị vĩnh hằng 77
Chương 3 ĐẶC SẮC THI PHÁP THƠ PHÙNG CUNG 83
3.1 Nét độc đáo về cấu tứ 83
3.1.1 Giảm thiểu yếu tố tả, kể 83
3.1.2 Xoáy vào khoảng khắc đốn ngộ 85
3.1.3 Hướng tới cấu trúc của châm ngôn 88
3.2 Kiểu xử lý riêng đối với ngôn ngữ 92
3.2.1 Tạo sự thống nhất hài hòa giữa ngôn ngữ dân dã và ngôn ngữ cổ điển 92
3.2.2 Tạo độ căng giữa kiểu biểu đạt tường minh và kiểu dùng ẩn ngữ 97
3.2.3 Khai thác trọng lượng riêng của từng con chữ 100
3 3 Việc cá nhân hóa giọng điệu 105
3.3.1 Giọng trào lộng 105
3.3.2 Giọng an nhiên thanh thản 108
3.3.3 Giọng tâm tình, chia sẻ 111
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6cả đương đại chưa thể thoát khỏi từ trường của Thơ mới Tuy nhiên, lịch sử văn học nói chung và lịch sử thi ca nói riêng là một dòng chảy mang tính biện chứng với sự tiếp nối của nhiều thế hệ nhà thơ không ngừng cách tân để thúc đẩy nền văn học nước nhà phát triển Trong hành trình cách tân thi ca nhằm vượt thoát từ trường Thơ mới để tìm đến những giá trị mới, phải kể đến các gương mặt tiêu biểu của phong trào Nhân văn Giai phẩm (1956- 1958) như Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hữu Loan, Phùng Cung Họ là thế hệ nhà thơ kế tiếp các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới muốn thực hiện một cuộc cách tân toàn diện trong lĩnh vực thi ca Tuy nhiên, như nhà thơ Mai Văn Phấn đã từng nhận định khi nói về những gương mặt cách tân tiên phong: “Qua mỗi giai đoạn một số nhà thơ đã tự phát và đơn độc khởi xướng cách tân, nhưng không trụ được trong dòng thác thói quen thẩm mĩ của đám đông lúc đó, bởi rất nhiều nguyên nhân như hoàn cảnh lịch sử, mặt bằng văn hóa bạn đọc và tài năng không đủ để độc sáng” [58, 382], do nhiều lí do mà Nhân văn Giai phẩm đã trở thành cuộc cách mạng văn học (nói chung) và thi ca nói riêng không thành Mặc dù đó là cuộc cách mạng không thành nhưng những nhà thơ thuộc phong trào Nhân văn Giai phẩm và sáng tác của họ đã cắm một cột mốc thơ đáng ghi nhận trong lịch sử
Trang 7phát triển thi ca của dân tộc bởi tinh thần tự do, dân chủ trong tư tưởng và cách tân trong nghệ thuật Trong số những gương mặt tiêu biểu cho dòng thơ cách tân của Nhân văn Giai phẩm, Phùng Cung là nhà thơ ít được biết đến Vì nhiều lí do khác nhau nên số lượng các sáng tác của ông để lại không nhiều,
nhưng chỉ tập thơ Xem đêm với số lượng hơn ba trăm bài cùng giải thưởng
Thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội 2012 dành cho Phùng Cung cũng
đã đủ khẳng định vị trí của nhà thơ trong nền thơ ca hiện đại của dân tộc 1.2 Nhà hoạt động văn hóa Nguyễn Hữu Đang, cũng là người đã tự nguyện dành hết số tiền đã chắt chiu dành dụm cả một đời cho việc in và xuất
bản tập thơ Xem đêm của Phùng Cung, có nêu nhận định: “Xem đêm là tập thơ
đáng trân trọng “trong đó có những bài đáng coi là kiệt tác” [22, 213] Tác
giả Mi An trong bài Phùng Cung - Trọn đời một cõi “Xem đêm” đã khẳng định: “Xem đêm là một tập thơ mang tầm thế kỉ, mỗi bài thơ là một bức họa
tuyệt phẩm mà tác giả đã dùng ngôn từ để vẽ lên nó bằng tất cả tấm lòng yêu thương trân trọng dành cho nông thôn đồng bằng Bắc Bộ” Còn nhà thơ
Hoàng Cầm, khi nhận xét về tập thơ Xem đêm đã khẳng định: “Chỉ một tập
thơ này thôi đã dủ sức nâng Phùng Cung lên hàng thi sĩ chân chính của Việt Nam, của một thế kỉ thơ Việt” [8, 216]
Có thể khẳng định rằng, tập thơ Xem đêm của Phùng Cung đã nhận
được rất nhiều cảm tình của các bạn đồng nghiệp, của giới phê bình chuyên nghiệp với khá nhiều bài viết có chất lượng và đa dạng phong phú ở nội dung thể hiện Tuy nhiên số bài viết mang tính học thuật về thơ Phùng Cung còn khá ít, phần lớn là các bài ở dạng điểm sách và giới thiệu chân dung Mặt khác, ngay nhiều bài báo, phê bình được đánh giá cao cũng thường nêu những nhận định mang tính chất chung chung, cảm tính về tập thơ hoặc chỉ mới đi vào khám phá một số ít phương diện trong nội dung và nghệ thuật của nó
Trang 81.3 Người viết cho rằng, để ghi nhận xứng đáng những đóng góp của thơ Phùng Cung, chúng ta cần có những công trình nghiên cứu dài hơi hơn về thơ ông Chỉ có thế, ta mới có thể làm sáng tỏ được những nét độc đáo và sự cách tân trong thơ Phùng Cung, trên cơ sở đó, khẳng định một cách có căn cứ những đóng góp của thơ ông cho nền văn học nước nhà
Với tập thơ Xem đêm, Phùng Cung đã tạo nên một phong cách thơ
riêng biệt trong dòng thơ cách tân giai đoạn sau 1945 và đến nay giá trị của nó vẫn còn nguyên vẹn Thơ Phùng Cung chứa đựng nhiều vấn đề rất cần đi sâu
tìm hiểu Vì thế, chọn đề tài Đặc sắc nghệ thuật thơ Phùng Cung, chúng tôi
mong muốn tìm hiểu các phương diện đã làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật thơ ông Đồng thời, tác giả luận văn cũng muốn đóng góp một phần khiêm tốn vào việc định vị một giá trị thơ ca hiện đại của nước nhà
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phùng Cung là gương mặt ít được biết đến trong phong trào Nhân văn
Giai phẩm và cả trong làng thơ Việt Nam hiện đại Có chăng, người ta chỉ biết
đến Phùng Cung nổi tiếng trong Nhân văn Giai phẩm với truyện ngắn Con
ngựa già của Chúa Trịnh Có lẽ chính vì thế mà “những đứa con tinh thần”
của ông vừa xuất hiện trên thi đàn đã khiến cho nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà phê bình trong và ngoài nước phải ngỡ ngàng và dành cho người thơ này một sự chào đón nồng nhiệt
Có thể nói, số lượng bài viết về tập thơ Xem đêm của Phùng Cung khá
lớn Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, tính cho đến thời điểm này có khoảng bốn mươi bài viết về thơ ông ở nhiều thể loại: giới thiệu sách, giới thiệu chân dung nhà thơ, thảo luận, nghiên cứu, khảo cứu, phê bình Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói ở trên thì trong số khoảng bốn mươi bài viết về thơ ông, hầu như chưa có các bài phê bình học thuật, mà chủ yếu là các bài mang tính chất điểm sách, giới thiệu chân dung nhà thơ hoặc những bài thảo luận xung quanh giải thơ mà Phùng Cung đã đạt được
Trang 9Sau đây, chúng tôi xin điểm lại một số hướng nghiên cứu về tập thơ
Xem đêm của Phùng Cung thời gian qua
2.1 Nghiên cứu, đánh giá theo xu hướng khẳng định thành công của
thơ Phùng Cung trong nền thơ ca hiện đại, đặc biệt trong dòng thơ cách tân sau 1954
Đi theo hướng nghiên cứu này có các tác giả như Lê Minh Hà, Ngô Minh, Mi An, Nguyễn Hữu Đang, Thụy Khuê, Khuất Bình Nguyên Hầu hết đều thống nhất với nhau ở quan điểm: thơ Phùng Cung là một đóng góp lớn cho quá trình hiện đại hóa của nền văn học nước nhà Phùng Cung đồng thời cũng là nhà thơ có phong cách độc đáo và vị trí xứng đáng trong nền thơ hiện đại Việt Nam Dưới đây là một số nhận định tiêu biểu
Trong bài viết Phùng Cung - Trọn đời một cõi “Xem đêm”, tác giả Mi
An đã khẳng định rằng: “Phùng Cung từng bị tù đày, sống một đời trầm luân
trong khổ ải, vắt kiệt sức mình vì nỗi sinh nhai nên ông chỉ có một Xem đêm,
nhưng có hề gì, chỉ cần một tập thơ đó, tên tuổi của ông đã có vị trí ở thi đàn Việt Nam, không phải ở một góc nhạt nhòa nào đó mà phải ở chỗ sáng rõ mặt tiền.”
Nhà văn Lê Minh Hà trong bài viết bàn về tập thơ Xem đêm đã viết:
“Người yêu thơ cuối thế kỉ này đang được chứng kiến một hiện tượng đã xảy
ra từ đầu thế kỷ: thơ đang quẫy cựa, đòi tung phá, đang được mới hóa Góp
phần vào tiến trình đó của thơ ca là những Lê Đạt với Bóng chữ; Đặng Đình Hưng với Bến lạ và Ô mai; là những Hoàng Hưng; Dương Tường; Khế Iêm
rất nhiều tên tuổi nữa Dường như Phùng Cung không đi chung một con đường với các nhà thơ vừa nói, nhưng vẫn là một mục đích ấy” [27]
Nhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang cho rằng: “Bước tới ngưỡng cửa của thế kỷ 21, văn nghệ Việt Nam một lần nữa chuyển mình, đang thu hoạch một mùa thơ có vẻ trăm hoa đua nở với hàng ngàn tác phẩm đủ các cỡ và một đội
Trang 10ngũ người làm thơ đông đúc phải đãi cát tìm vàng Trong cái bề bộn vàng thau lẫn lộn, rất cỏ thể là khủng hoảng trưởng thành, thật đáng phấn khởi khi
được đọc tập Xem đêm, một tập thơ đích thực của một con người đích đáng
Thơ và người đều mang đậm bản sắc riêng mà không cách biệt với lí tưởng chung của dân tộc” [ 22, 211 - 212]
Nhà thơ Khuất Bình Nguyên lại có ý kiến: “Trong Nhân văn Giai phẩm, có nhiều người làm thơ Nhưng được đông đảo người đọc đồng cảm hơn cả, ít có tuyên ngôn rầm rộ hơn cả mà để lại dấu ấn cho đời, cho thi ca thế
kỷ 20 chỉ có vài người Mặc dù tầm vóc của họ có khác nhau Hoàng Cầm Văn Cao Phùng Cung ”[53]
2.2 Nghiên cứu, đánh giá theo xu hướng đi sâu vào khai thác thế giới nghệ thuật thơ Phùng Cung
Hướng nghiên cứu này thu hút sự quan tâm của một số lượng lớn các
nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà thơ như Đỗ Quyên, Trần Hoài Anh, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Phạm Toàn, Nam Dao, Thụy Kha, Thụy Khuê, Ngô Minh,
Lê Minh Hà, Nguyễn Hữu Đang, Hà An, Khuất Bình Nguyên, Hải Xuân, Thu Tứ Nhưng để chỉ ra một quan điểm thống nhất ở họ thì rất khó Bởi lẽ, mỗi nhà nghiên cứu lại tìm đến thi giới Phùng Cung với những phương diện, tâm thế, địa hạt khác nhau cùng những cách cảm, cách nghĩ cũng khác nhau
Một số tác giả quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ thơ Phùng Cung Họ thống nhất ở quan điểm cho rằng, Phùng Cung đã tạo ra được một thứ ngôn ngữ hàm súc, độc đáo, vừa mang đậm chất dân gian vừa rất mới lạ
Nguyễn Hữu Đang trong bài viết Con người Phùng Cung và những bài
thơ hay trong tập Xem đêm đã có ý kiến đánh giá: “Bằng một thứ ngôn ngữ cô
đọng như tinh chất, tế nhị như hương thơm, ông mời bạn đọc làm quen với một Nàng Thơ đẹp kín đáo duyên lặn vào trong và khó tính, để tìm hiểu đến trở thành tri kỷ Mặt khác, ngoài hai tính cô đọng và tế nhị phù hợp với thơ
nói chung, ngôn ngữ Xem đêm còn đậm đà tính dân gian” [22, 193]
Trang 11Cũng trên tinh thần đó, nhà thơ Đỗ Quyên trong bài viết Thơ, văn, con
người và thời cuộc Phùng Cung đã nhận xét: “Lời thơ Phùng Cung nhẹ
nhàng, thanh thoát, trang nhã, ý nhị sâu thẳm và giàu hình tượng, với những ngôn từ chắt lọc, sắc cạnh, đặt đúng nơi đúng chỗ, đem lại cho người yêu thơ nỗi xúc động bàng hoàng và nhiều khoái cảm đê mê ( ) Thơ Phùng Cung là thứ thơ kiệm chữ, phảng phất gợi nhớ Tanca, Haiku của Nhật Thơ ấy buộc
mỗi chữ phải ở thế thăng hoa Xem đêm đạt tới độ ấy: tứ không lộ và chữ thì
như nhập hồn.” [66]
Ngô Minh trong bài viết Phùng Cung, một đời thơ chữ quê đau đớn cũng đã có ý kiến: “Có lẽ lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với một loại thơ chữ
quê ấn tượng như thế Nó vừa dân gian vừa bác học, vừa tâm can vừa chữ
nghĩa (…) Rất nhiều, rất nhiều, toàn chữ quen mà lạ quá (…) Thơ Phùng Cung ý tại ngôn ngoại, là loại thơ làm người đọc nổi da gà.” [52]
Bên cạnh đó, lại có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến những hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ Phùng Cung Họ đã chỉ ra rằng: hình ảnh ánh nắng, đêm, cánh cò, cái vạc, bèo là những hình ảnh có sức ám ảnh lớn và xuất hiện lặp đi lặp lại trong thơ Phùng Cung
Tác giả Lê Minh Hà nhận định: “Khó có thể phủ nhận rằng trong văn xuôi đương đại, Tô Hoài là người đi dài nhất, xa nhất trong việc khai thác khả năng biểu cảm của tiếng Việt, cũng như làm phong phú nó Dù có là họa sỹ cũng không dễ gì diễn tả cho hết các sắc độ của màu vàng qua sự mô tả của Tô Hoài Phùng Cung chính là một người như thế của thơ ca Việt Nam đương đại Nắng của Phùng Cung là nắng Âu Cơ, nắng - ngả - tương, nắng - non, nắng - phơi rơm, nắng - đồng - trinh, nắng - hàn - vi, nắng - hoa - ngâu, nắng - thừa, nắng - cũ… Và gió nữa: gió cỡn, gió quần… Nắng gió đấy là nắng gió của thị giác mà trước hết là nắng gió của tiềm thức Và những hình ảnh như thế xô dạt
trong suốt Xem đêm như là sang tạo riêng của họ Phùng thi sĩ.” [27]
Trang 12Nhà giáo, nhà nghiên cứu Phạm Toàn viết: “Không giống nhiều nhà thơ
ưa sống về đêm, Phùng Cung cũng thức đêm, nhưng lại là “xem” những cảnh ngộ đêm ngay giữa thanh thiên bạch nhật, đôi khi là những ban - ngày - giữa đêm, rất lắm khi xem đêm giữa các màu nắng khác nhau và những sắc độ màu khác nhau, nắng Âu Cơ, nắng bổ cau, nắng ngả tương, mặt trời cốm Đông Đô, hoàng hôn đỏ gạch, hoàng hôn dạt tím, hoa gạo cắm cờ (…) Ngờ rằng đêm ở đây với Phùng Cung là cả một thân phận (…), và thân phận nhà thơ là xem đêm, xem thân phận mình, suốt một đời, xem thân phận đời, suốt một đêm dài bằng một đêm mất ngủ.” [81]
Một số tác giả lại quan tâm đến không gian nghệ thuật trong thơ Phùng Cung Họ thống nhất với nhau ở quan điểm cho rằng, Phùng Cung đã làm sống dậy trong thơ vẻ đẹp của đồng quê Việt Nam từ bao đời nay
Tác giả Trần Hoài Anh trong bài viết Thơ Phùng Cung và những ám
ảnh văn hóa Việt đã nhận xét: “Và từ thế giới đầy biểu cảm của thời gian ta
chợt nhận ra thế giới đầy ưu lo của không gian trong thơ Phùng Cung Đó là không gian văn hóa Việt vốn có từ ngàn đời của làng quê Việt được tác giả cảm nhận một cách tinh tế Đó là một không gian không chỉ có rộng, cao, sâu
mà còn là một không gian đầy màu sắc, mùi vị có khả năng đánh thức cả ngũ quan của con người.” [3]
Cũng trên tinh thần đó, Nguyễn Hữu Đang có ý kiến: “Tập thơ Xem
đêm đem lại cho chúng ta những vẻ đẹp bất ngờ trong môi trường nông thôn
cũ (chưa cơ khí hóa, điện khí hóa, tập thể hóa), nơi có hai nét đặc trưng cổ truyền là quang cảnh thanh bình và tinh thần thuần phác mà văn học thường phản ánh như sự đền bù cho tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, hai nét đặc trưng
mà những đồng bào đi sinh sống ở nước ngoài thường nhớ tới như diện mạo quê hương.” [22]
Nhà thơ Hoàng Cầm trong bài viết Nhớ Phùng Cung thoáng nghĩ về
thơ lại cho rằng: “Có lẽ từ xưa đến nay, ở nước ta chưa có một tập thơ nào về
Trang 13một vùng quê nghèo khổ lại súc tích, cô đọng mang tính truyền thống và hiện
đại sâu sắc như tập Xem đêm của một thi sĩ - tác giả một cuốn sách duy nhất
là Phùng Cung” [8, 214]
Còn nhà văn Phùng Quán trong bài viết Hằng Nga thức dậy đã thừa
nhận: “Đọc thơ anh, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp đẽ đến xao xuyến tận đáy lòng - những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn mà không thấy” [63, 186]
Một số tác giả lại quan tâm nghiên cứu cảm hứng tư tưởng thơ Phùng Cung Họ đều gặp nhau ở quan điểm, thơ Phùng Cung mang đậm tinh thần yêu nước, dân chủ và giá trị nhân đạo
Nguyễn Hữu Đang khi nghiên cứu về tập thơ Xem đêm đã nhận xét:
“Một nguồn cảm hứng nữa (về tư tưởng) đã đưa đến việc sang tác hàng loạt những bài thơ chiếm gần nửa nội dung tác phẩm là tình thương cao cả của con người Phùng Cung Ông không phải chỉ thương cho số phận bất hạnh của con người, mà thương cả số phận bất hạnh loài vật và cỏ cây là những sinh vật chung sống với người như hàng xóm, như bạn bè” [22, 195]
Tác giả Khuất Bình Nguyên lại quan tâm đến triết lí sống trong thơ
Phùng Cung: “Bước qua cửa Xem đêm, tôi không thấy bóng tối Chỉ thấy ánh nắng và ánh trăng cùng tấm lòng trắc ẩn của người thi sỹ Xem đêm mà thấy ban ngày (…) Xem đêm của Phùng Cung tôi thấy ông không đánh mất cái
bóng của mình Đó là tâm hồn thi sĩ Bởi vì đêm của Phùng Cung có rất nhiều ánh nắng và ánh trăng Thi sĩ Phùng Cung cả cuộc đời mình đã chứng minh cho tấm lòng thanh bạch của ông với Tổ Quốc, quê hương mình Vượt qua định mệnh của số phận để làm tròn thiên chức của một thi sĩ Ông để lại cho đời một nhân cách sống thông qua những vần thơ” [53]
Tiến sĩ Trần Hoài Anh cũng trên tinh thần giống tác giả Khuất Bình Nguyên đã nhận xét: “Tình yêu văn hóa Việt, yêu cảnh sắc làng quê Việt của
Trang 14thi nhân như thế là tuyệt đỉnh Tình yêu ấy đã hóa thân thành máu thịt, nhân cách, ánh sáng của tâm hồn ông và đã tan chảy trong thơ ông tạo nên sự bất diệt trong thơ ông như chính sự bất diệt của nền văn hóa Việt mà ông đã yêu thiết tha dù cuộc đời có trải qua những năm tháng nhọc nhằn, bất hạnh Để rồi cũng như thân phận con cò trong ca dao Việt, Phùng Cung tự nhận mình chỉ
là “phận cánh cò” luôn khao khát một lẽ sống cao đẹp, không nhuốm mùi hôi tanh của chốn bùn nhơ.” [3]
Trên đây, chúng tôi đã điểm lại những bài viết, những nhận định khá sâu sắc và có giá trị về một số phương diện trong thơ Phùng Cung Nhìn chung, hầu hết các tác giả nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc khám phá đặc sắc nghệ thuật thơ Phùng Cung Nhưng quả thật chưa có bài viết, công trình nào đi vào khai thác một cách toàn diện và sâu sắc những đặc sắc thơ ông Vì thế, từ sự gợi mở từ nhiều bài viết của các tác giả nghiên cứu đi trước, chúng tôi chọn đề tài này nhằm nghiên cứu một cách hệ thống thơ Phùng Cung Trên cơ sở lĩnh hội có chọn lọc các quan điểm, ý tưởng từ các bài viết trước, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những kiến giải riêng với hi vọng góp một cách nhìn đầy đủ hơn, tiếp tục đi sâu hơn trong việc nghiên cứu về đặc sắc thơ Phùng Cung và khẳng định những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc sắc nghệ thuật thơ Phùng Cung thể hiện qua tập thơ Xem đêm
(2011), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thơ Phùng Cung trong sự thống nhất chỉnh thể giữa nội dung và hình thức nhưng luận văn chỉ tập trung đi sâu vào những phương diện nổi bật làm thành giá trị riêng Những yếu tố mờ nhạt, ít xuất hiện hoặc
Trang 15không chỉ có ở Phùng Cung, chúng tôi sẽ điểm qua hoặc kết hợp bình chú để làm rõ những yếu tố chính
Nghiên cứu thơ Phùng Cung, chúng tôi không tách rời, biệt lập mà đặt đối tượng trong mối liên hệ với thơ của các tác giả cùng thời như Trần Dần,
Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm vì mỗi hiện tượng thơ dù mang tính đặc thù thế nào cũng luôn biểu hiện một quá trình vận động chung nhằm vượt qua mọi rào cản và hướng tới sự đa dạng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau
4.1 Hành trình sáng tạo văn học của Phùng Cung và sự ra đời đặc biệt
của tập thơ Xem đêm
4.2 Tính thế sự, triết lí và cảm hứng nhân văn, nhân đạo trong thơ Phùng Cung
4.3 Đặc sắc thi pháp thơ Phùng Cung
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu sau:
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên tập trung tìm hiểu Đặc sắc nghệ thuật thơ Phùng Cung, góp phần làm sáng tỏ những giá trị độc đáo của thơ Phùng
Cung Luận văn có thể dùng làm tư liệu thiết thực cho những ai muốn nghiên cứu về Phùng Cung và thơ của ông
Trang 167 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tạo văn học của Phùng Cung và sự ra đời
đặc biệt của tập thơ Xem đêm
Chương 2: Đặc sắc của tính thế sự, triết lí và cảm hứng nhân văn
trong thơ Phùng Cung
Chương 3: Đặc sắc thi pháp thơ Phùng Cung
Trang 17Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VĂN HỌC CỦA PHÙNG CUNG
VÀ SỰ RA ĐỜI ĐẶC BIỆT CỦA TẬP XEM ĐÊM
1.1 Cuộc đời, con người Phùng Cung
1.1.1 Một cuộc đời oan khổ
Phùng Cung sinh ngày 18/7/1928 tại làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên, mất ngày 9/5/1997 tại Hà Nội Ông là con trưởng một gia đình giàu có, đông con Thuở thiếu thời, Phùng Cung được gửi
đi trọ học ở thị xã Sơn Tây và ông đã lấy được bằng Trung học (Brevet) Tháng 4/45, Nhật đảo chính Pháp, Phùng Cung trở lại quê nhà Tháng 9/45, Phùng Cung (17 tuổi) được bầu làm chủ tịch liên xã Hồng Liên Châu Tên xã
do ông đặt và tên ấy vẫn còn giữ đến ngày nay Phùng Cung làm chủ tịch xã được 2 năm
Năm 1949, Phùng Cung lên chiến khu Việt Bắc và tham gia công tác văn nghệ ở đó Tại quê nhà, gia đình ông bị liên lụy vì có con đi làm cách
mạng Theo lời kể của Phùng Hà Phủ - con trai Phùng Cung: "Khi lên chiến
khu, bố tôi làm công tác thông tin ở liên khu 10 Việt Bắc, cơ quan thông tin của ông Nguyễn Tấn Gi Trọng (bác sĩ Trọng sau này làm công tác chuyên môn tại trường Ðại học Y Dược Hà Nội và là người giúp mẹ tôi theo học lớp dược tá khi hòa bình lập lại) Sau một thời gian làm tại liên khu 10, bố tôi mới chuyển sang an toàn khu và làm công tác văn nghệ, cùng sống và làm việc với các ông Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, cho đến khi hòa bình lập lại (1954) thì cùng với cơ quan Hội văn
nghệ về tiếp quản thủ đô Hà Nội." [60]
Trong thời kỳ Cải cách ruộng đất, gia đình ông bị quy vào thành phần địa chủ cường hào Cha ông bị đem ra đấu tố, rồi bị đưa lên giam giữ ở trại
Trang 18Cò Nỉ - Thái Nguyên Sự việc này được Phùng Hà Phủ kể lại rất chi tiết: "Khi
bố tôi hay tin, bố rất nóng lòng chuyện nhà và muốn quay về xem sự thể ra sao Những bạn bè thân trong cơ quan biết chuyện như ông Tô Hoài (lúc này đang phụ trách công tác Ðảng - Ðoàn của Cơ quan văn nghệ) đều khuyên nên thật bình tĩnh, chờ Ðảng sẽ sửa sai Trong một lần kết hợp đi công tác, bố tôi
có tìm lên thăm và những mong gặp mặt để tiếp tế cho cụ Nhưng tới nơi thì được một người bạn tù già cùng lán với cụ, chưa kịp nói câu nào vội vã dẫn
bố lên khu đồi trọc phía sau trại giam và chỉ cho bố lùm đất mà ngọn sắn làm dấu mới héo lá Quá bất ngờ trước cái chết của cụ, bố tôi quay ngay về Hà
Nội, bố rất buồn, suy nghĩ nhiều và tránh mọi sự tiếp xúc với bên ngoài" [60]
Năm 1954, Phùng Cung về sống tại Hà Nội và làm việc tại Hội Văn nghệ Năm 1956, ông tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm với truyện
ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh đăng trên Nhân văn số 4 Đây là tác phẩm
từng làm nên tên tuổi của ông và cũng là tác phẩm khiến ông rơi vào vòng lao lý
Năm 1961 Phùng Cung bị bắt Ông bị tịch thu tất cả bản thảo và bị giam vào Hỏa Lò Hà Nội, rồi bị chuyển đi các trại Bất Bạt (Sơn Tây), Yên Bình (Yên Bái) và Phong Quang (Lào Cai), bị tù 12 năm, với 11 năm biệt giam, không có án Trong thời gian cải tạo lao động, ngoài việc bị quản thúc nghiêm ngặt ông còn phải chịu đựng sự hành hạ, dày vò của căn bệnh dạ dày
và lao phổi Những căn bệnh này còn để lại di chứng mãi về sau
Năm 1973 ông được trả tự do Sau những mừng vui sum họp của bao nhiêu năm cách biệt là những nỗi lo toan vất vả mới của chuyện cơm áo đời
thường đè nặng lên gia đình Ông “xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ
thêm nghề bánh rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn” [61, 185] Song hình như mùi dầu nhờn, gỉ sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực, Phùng Cung vẫn âm thầm sáng tác Năm 1990 tức là gần 30 năm sau, ông
Trang 19mới có quyết định phục hồi của Ban tổ chức Trung ương Ðảng Ngày 9/5/1997 tại năm 1997 Phùng Cung qua đời tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội
Có thể nói trong số các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, Phùng Cung là người ít được biết đến Bởi ông chỉ là cây viết trẻ với
truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh đăng trên báo Nhân văn năm 1956,
sáng tác duy nhất của ông được in trong thời kì này Cho đến nay, khi các tác giả từng tham gia Nhân văn Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng cầm, Phùng Quán, Đặng Đình Hưng đều được nhìn nhận lại và trả lại những vị trí xứng đáng trên văn đàn thì ông vẫn là gương mặt ít được nhắc đến Ai đó đã từng nói “Thơ - với ai đấy - trước khi là nghiệp thì đã là nghề” Với Phùng Cung, thơ có lẽ chỉ là nghiệp Đúng là thế! Vì nếu không, người thơ ấy đã phải răn mình treo bút sau bao nông nỗi mà duyên do là chữ nghĩa Mười hai năm tù vì án văn chương - ấy là cái giá Phùng Cung đã trả cho những đam mê chữ nghĩa của mình, đó cũng là cái phần đau khổ người thơ đã gánh cùng bạn
bè nghệ sĩ trong phong trào Nhân văn Giai phẩm
1.1.2 Một nhân cách đáng trọng
Nhân cách là tư cách và phẩm chất con người Nó bao gồm cách ăn ở, cư
xử, hành vi đạo đức của con người, cái làm nên giá trị con người Phùng Cung không chỉ tồn tại với tư cách là con người tự nhiên - xã hội mà còn tồn tại với
tư cách là một nhà thơ, vì vậy nhân cách của người thơ không chỉ thể hiện trong lối hành xử đối với đồng loại, qua cách đánh giá của người đời mà còn thể hiện ở thế giới quan, nhân sinh quan và tư tưởng được gửi gắm trong thơ Qua lời kể của người thân, của những đồng nghiệp với ông, ta có thể cảm nhận được Phùng Cung là một con người theo đúng nghĩa Con Người Đây là lời của Phùng Hà Phủ - máu mủ của nhà thơ quá cố: “Suốt cuộc đời,
bố tôi phải trải qua nhiều nỗi truân chuyên lao khổ, nhưng bằng nghị lực, bố tôi vẫn sống để đi tìm cái đẹp Cho đến khi từ giã cõi đời, mặc dù số phận đã
Trang 20không mang đến cho bố tôi nhiều may mắn nhưng bố tôi luôn tự hào rằng đã không làm điều gì phải hổ thẹn với lương tâm của mình ” [5]
Từ khi ra trại, tấm lòng Phùng Cung thật bao dung độ lượng Ông thanh thản với lòng mình, với đời, với cả người có lúc đã làm ông lâm nạn Theo nhà văn Lữ, một người bạn cũ của nhà thơ: “Anh Phùng Cung, trong buổi nói chuyện với tôi, mấy tháng trước khi mất, là một con người cương nghị và đầy lòng nhân hậu (…) Phải ngồi với anh, nghe anh kể chuyện tù đày, thì mới hiểu được phần nào hai chữ bỏ qua anh vừa dùng ” [66]
Đặc biệt đọc thơ Phùng Cung bạn đọc có dịp tiếp xúc với một con người, một nhân cách đáng trọng bởi cái tôi trong thơ “là hình ảnh phóng chiếu từ con người thực của tác giả theo nguyên tắc điển hình hóa ( ) nó là con người tâm linh của tác giả được hình tượng hóa, là phần khát vọng thẩm
mĩ sâu kín nhất trong tác giả được nhân hình hóa” [67] Mặc dù trải qua bao trầm luân, khổ ải của cuộc đời nhưng Phùng Cung chưa bao giờ mang hận thù vào thơ Ông buồn và xót xa nhưng vẫn nhân hậu và trong trẻo “Hai trăm bài của đời thơ Phùng Cung nén lại biết bao tâm trạng con người Hai trăm bài đa phần rất ngắn Như con ngựa già đi từng bước một, từng bước một qua đồng cỏ thi ca bao la, không một lời than thở Chỉ có hai, ba lần dùng đến từ oan trong một cảm hứng thi ca thanh khiết Đó là đêm dây oan khi gió quan lục cầm chân hồn nhỏ để “đêm dây oan” quên nẻo đi về Đành lòng với số phận như buông một tiếng thở dài nho nhỏ mà thôi ” [53] Đó là “khát vọng khúc giải oan”, là lời nhắn gửi nỗi hàm oan với thiên nhiên thanh tịnh làm
giảm đi sự nặng trĩu của đớn đau trần thế: Hương thu dịu nửa không gian/
Giọt thu đẵm mảnh hàm oan cửa chùa/ Chiều thu treo nắng cuối mùa/ Gió trăng khỏa nhịp tơ vò ao thu (Cảm thu)
Cuộc đời không ưu ái với Phùng Cung nhưng không vì thế mà ông quay lưng với cuộc đời Tâm hồn ông vẫn chứa chan tình đời, tình người, vẫn
Trang 21có thể quên đi cảnh ngộ riêng tư để cảm thông cho người khác: Đê triều gãy
khúc/ Đồng ngập trắng/ Con đềnh cõng - vắng bơi suông/ Thương em đứng giữa mùa - nước mắt (Mùa nước mắt) Tâm hồn ông vẫn neo về bến đỗ quê
hương - bến đỗ bình yên nhất, nơi có những người dân quê chân chất, có thiên nhiên thanh sạch vỗ về làm lắng dịu nỗi đau của thi nhân trước bao giông bão
cuộc đời: Sông vặn dòng/ Thèm xanh/ Nghến bãi/ Chiều vừa đuối nắng/ Nước
cướp trắng bãi non/ Cá cựa nương vừng/ Lung lay ngỡ gió/ Men ngòi Rau cầu Đá/ Cò vạc chen bay/ Khoành trôn ốc/ Mát lạnh - bờ!/ Chùm - con gái tắm sông (Nước đói)
Điều đáng trân trọng nhất ở nhân cách Phùng Cung là tình yêu thiết
tha Tổ quốc và nhân dân mình của người thi sĩ: Đất nước ơi/ Tôi mến người/
Như khi nhìn em bé ngủ/ Tôi thương người/ Như thương mẹ ốm/ Vì đâu/ Người khoác manh áo đỏ/ Thừa sai- cũn cỡn/ Tủi nhục tháng ngày/ Long đong chiều sớm/ Ôi! Có bao giờ/ Người đau đớn như thế này không (Đất nước) Đó là thái độ hàm ơn của một người con đối với người mẹ Tổ quốc,
sự trở về với những giá trị văn hóa, cội nguồn dân tộc: Tổ quốc tôi/ Nhức
nhối yếm son/ Đôi vú căng tròn sữa trẻ/ Sông suối ngọt/ Năm tháng đẹp dòng/ Ru trong nắng - Âu - Cơ (Tổ quốc) Đó là cái thế “đứng dậy làm
người”, không chịu khuất phục trước mọi gian khó, trước những gì đối lập
với cái thiện: Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân -
Cương (Trà), chỉ biết cúi mình trước cái đẹp: Sáng nay may mắn ra đường/
Đi một quãng/ Gặp toàn người đẹp/ Tôi sung sướng/ Trào nước mắt/ Muốn đưa lưng/ Làm thảm trải lối đi (May mắn) Là tâm hồn trong trẻo, chỉ thấy
ánh nắng và ánh trăng cùng tấm lòng trắc ẩn: Nắng ngả tương Nắng gió
Nắng phơi rơm Nắng đồng trinh Nắng hàn vi Nắng thừa Nắng hoa ngâu Nắng cánh cam Nắng rươi Nắng ghé Nắng dứ Nắng bổ cau Nắng tía Nắng hoang Nắng ngọc Nắng cũ…
Trang 22Nếu như Lê Đạt trong suốt cuộc đời và hành trình sáng tạo của mình
luôn trung thành với Bóng chữ thì với Phùng Cung, ông không đánh mất cái
bóng của mình Đó là tâm hồn thi sỹ, là nhân cách của một con người: có cái tâm trong sáng, có lòng yêu nước, yêu quê, thương dân da diết, lòng nhân ái
và tinh thần nhân bản sâu đậm Thi sĩ Phùng Cung cả cuộc đời mình đã minh chứng cho tấm lòng thanh bạch của ông với Tổ quốc, quê hương mình Vượt qua định mệnh của số phận để làm tròn thiên chức của một thi sĩ Ông để lại cho đời một nhân cách sống lớn lao thông qua những vần thơ
1.2 Hành trình văn học của Phùng Cung
Hành trình văn học của Phùng Cung có thể chia thành hai giai đoạn chính như sau:
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1956 đến 1961
Đây là giai đoạn Phùng Cung xuất hiện trên văn đàn với tư cách là một nhà văn Như trên đã nói, trong số các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, Phùng Cung là người ít được biết đến Bởi ông chỉ là cây viết
trẻ với truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh trình làng văn trên báo
Nhân văn số 4 tháng 10, năm 1956, sáng tác duy nhất của ông được in trong
thời kì này Tuy nhiên qua thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau ở trong
và ngoài nước, có thể khẳng định ngoài Con ngựa già của chúa Trịnh được in trên báo Nhân văn, Phùng Cung còn sáng tác một số truyện ngắn khác như
Mộ Phách, Dạ kí, Biệt tích, Mạt kiếp, Giải thoát, Ván cờ khai xuân, Quản thổi, Chiếc mũ lông nhưng chưa được xuất bản trong nước Theo lời kể của
nhà thơ Hoàng Cầm, người anh em “cùng một lứa bên trời lận đận” với
Phùng Cung trong phong trào Nhân văn Giai phẩm: “Sau khi đóng cửa Nhân
Văn đến năm 1960, anh viết được độ 20 truyện ngắn, tôi đọc khoảng 10
truyện, tất nhiên không sắc nước bằng Con ngựa già của chúa Trịnh, nhưng đều có những nét rất đặc biệt ” [45] và lời của Phùng Quán trong bài Hằng
Trang 23Nga thức dậy cho biết về số truyện ngắn Phùng Cung viết trong thời kì này:
“Sau hòa bình lập lại, truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh, với bức
minh họa tuyệt đẹp của họa sĩ Bùi Xuân Phái, đã làm xôn xao làng văn ngày
đó Chính bắt đầu từ cái truyện ngắn này anh đã mang thân vào cái nghiệp văn, ở anh cũng đáng coi là nghiệp chướng Anh còn một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện thì phải, cũng một dòng ngựa, voi, chưa kịp ra mắt bạn đọc thì đã bị cái khách quan khắc nghiệt bảo lưu cùng với tài năng của tác giả
Truyện nào anh cũng đưa tôi đọc” [63, 185] Có thể khẳng định từ năm 1956
đến năm 1961, khi Phùng Cung bị bắt ông vẫn sáng tác đều đặn và các bạn đều đọc
Những truyện ngắn của Phùng Cung viết trong giai đoạn này về chất lượng nghệ thuật có nhiều tác phẩm được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao
Nhà thơ Phùng Quán trong bài viết Hằng Nga thức dậy đã nhận xét rất công
bằng về truyện của ông: “Truyện nào cũng làm tôi say mê vì vẻ đẹp của ngôn từ Cái kho ngôn từ dân dã của anh dường như vô tận So với tất cả văn xuôi của tôi đã in ra, tôi có cảm giác mình là người nước ngoài viết tiếng Việt” [63, 185] Còn nhà thơ Đỗ Quyên lại có ý kiến: “Thơ Phùng Cung là người Phùng Cung Văn trong truyện ngắn và ký của ông còn hơn thế nữa
Nó quyện chặt đến mức không thể phân biệt đâu là con người cá nhân, đâu
là con người trong thời cuộc bi tráng mà văn nghệ sĩ Việt Nam từng trải Và khác với thơ có những bài tuyệt hay, có không ít bài chưa hay, còn hầu hết truyện ngắn Phùng Cung khá hài hòa, đạt mẫu mực giữa nghệ thuật ngôn từ
và nội dung tư tưởng” [66] Tuy nhiên, do những phúng dụ nghệ thuật vượt
ra khỏi khuôn khổ quy phạm của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở
các địa hạt văn hóa, hiện thực đời sống (Mộ Phách, Biệt tích, Con ngựa già
của chúa Trịnh, Dạ kí ) mà Phùng Cung đã phải trả cái giá quá đắt cho
những sáng tác của mình
Trang 24Sau Con ngựa già của chúa Trịnh, tất cả các tác phẩm của ông viết vào
giai đoạn này chưa kịp đăng thì đã bị hoàn cảnh khách quan “bảo lưu” Mãi những năm của thập kỉ 90 chúng mới có dịp ra mắt cùng bạn đọc ở một số tạp
chí nước ngoài như: “Bài Dạ Ký được đăng lần đầu trên tạp chí Khởi Hành của Viên Linh (bộ mới, số 1 và 2, tháng 11 và 12/ 1996); tiếp đó là Ván cờ
khai xuân (Khởi Hành số 4, tháng 2/ 1997) và Phòng tuyên truyền địa ngục
(số 7 và 8, tháng 6 và tháng 7/ 1997)” [45] Năm năm sau khi Phùng Cung
qua đời, Lâm Thu Vân cho in tại hải ngoại cuốn Phùng Cung truyện và thơ
(chưa hề xuất bản) (Văn Nghệ, 2003) trong đó có mười một truyện ngắn của
ông viết từ khi Nhân văn bị đóng cửa (1956) cho đến khi bị bắt (mười tác phẩm mới và Con ngựa già của chúa Trịnh) Phải chăng điều này là một minh
chứng cho sự tồn tại bất diệt của những giá trị tinh thần trước sức băng hoại của thời gian
1.2.2 Giai đoạn từ 1961 đến 1997
Năm 1961 những tưởng với Phùng Cung là sự chấm dứt sự nghiệp văn học Nhưng Phùng Cung khi đã mang nghiệp vào thân, khi đã đứng trong hàng ngũ văn nhân thì “sức sống, niềm tin yêu mãnh liệt bao nhiêu thì cũng
âm ỷ thanh bạch bấy nhiêu với thi ca, thôi thúc ông cầm lấy sự nghiên bút không sao dứt được” [53] Lúc vào trại cải tạo Phùng Cung đã “lặng lẽ rẽ sang đồng cỏ thi ca cho đến khi ông lâm sự trên giường bệnh” [53] Những vần thơ được ông viết trong tù đã khẳng định tài năng đích thực của một người nghệ sĩ trong hành trình đi tìm cái đẹp Nguyễn Chí Thiện, người từng sống với Phùng Cung trong tù và trực tiếp được nghe Phùng Cung đọc thơ đã nhận xét: “Tôi chưa bao giờ đọc thơ nào như thế Nó mới tinh Mới về ý, về tình, về ngôn ngữ và nhất là về hình tượng, âm điệu Thơ anh thực là đẹp Anh đọc tới đâu, tôi thấm tới đó Thơ đẹp cũng như mọi vẻ đẹp trên thế gian này, đâu cần phải nghiên cứu nát óc mới thấy Nó đi thẳng vào tim, vào óc
Trang 25ngay Tôi biết anh tốn nhiều tâm huyết lắm mới tạo được những câu thơ như
thế Anh tìm tòi về chữ nghĩa, nhưng không mắc ngữ bệnh như Âu Dương Tu
hàng ngàn năm trước đã than phiền Anh tìm tòi nhiều về hình tượng, về âm điệu nhưng không trở thành cầu kỳ, quái gở, thậm chí tới mức ngớ ngẩn như
một số người” [26] Ngoài thơ, trong thời gian từ tháng 5/1961 đến ngày ra tù
ông còn viết một số truyện ngắn trong đầu nhưng không nhớ nổi
Năm 1973 đến 1997 Phùng Cung vẫn âm thầm sáng tác Ngoài những bài thơ sáng tác trong thời gian bị cải tạo và tập truyện sáng tác trước khi bị bắt được viết lại theo trí nhớ, Phùng Cung còn sáng tác một số bài thơ khác
và “bắt tay vào viết hồi ký” [60] Để đề phòng các sáng bị mất ông phải chép thành nhiều bản gửi cho bạn bè (Phùng Quán, nữ sĩ Hà Khánh Linh) giữ hộ xem đó là cách lưu giữ tốt nhất
Sau 32 năm kể từ ngày cái án Nhân văn đóng dấu lên cuộc đời Phùng
Cung, năm 1988 những tác phẩm của ông mới xuất hiện trở lại trên báo Sông
Hương Đó là các bài thơ Nghiêng lụy, Bèo, Người làng, Chiếc lá rụng, Cô lái
đò, Nghe, Bờ ao thu, Xem đêm, Đêm cuối thu Năm 1995, nhà xuất bản Văn
hóa Thông tin in tập Xem đêm của Phùng Cung (tập thơ này chúng tôi sẽ giới
thiệu cụ thể ở phần sau) Năm năm sau khi Phùng Cung qua đời, Lâm Thu
Vân cho in tại hải ngoại, cuốn Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản gồm tập thơ Trăng ngục (35 bài làm trong tù, từ 1961 đến 1973) và 11 truyện ngắn (10 truyện mới và Con ngựa già của chúa Trịnh) Năm sau, sách tái bản dưới tựa Phùng Cung Trăng ngục có thêm 74 bài thơ trích trong Xem đêm Năm 2012 với tập thơ Xem đêm Phùng Cung được Hội Nhà văn Hà Nội trao
giải Thành tựu trọn đời
Như vậy, trải qua bao dâu bể của cuộc đời những đứa con tinh thần của
Phùng Cung vẫn chào đời và tìm được nhiều sự đồng cảm ở người đọc Giải
Thành tựu trọn đời và sự xuất hiện của tập thơ Xem đêm ở trong nước và cuốn
Trang 26Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản in ở nước ngoài chẳng phải là sự
tri ngộ và tưởng niệm của người đời đối với Phùng Cung đó sao? Với người
viết, tìm hiểu về tập thơ Xem đêm cũng là cách bắc một nhịp cầu để tri âm với
thơ thì những bài thơ được tuyển chọn trong tập thơ Xem đêm được sáng tác
trong khoảng thời gian ông bị cải tạo từ tháng 5 năm 1961 cho đến lúc ông lâm sự trên giường bệnh (năm 1997) Nhưng chủ yếu là được sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 1973 Tập thơ là “những hạt ngọc kết tinh từ máu lệ” của một con người suốt đời sống trong trầm luân khổ ải: phải lao lực để kiếm sống, bị giày vò bởi ốm đau bệnh tật và mang nỗi đau thân phận con người mất tự do Đặc biệt hơn nó là kết quả của một quá trình lao động khổ luyện trong hoàn cảnh “sáng tác chui, bản thảo gửi” và luôn bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi thời đại
Sẽ thiếu căn cứ cho việc làm nổi bật những nét độc đáo của tập thơ
Xem đêm và những đóng góp riêng của Phùng Cung đối với nền văn học nước
nhà nếu như ta không đề cập đến bối cảnh lịch sử - xã hội và thơ ca Việt Nam lúc tập thơ ra đời Nhìn vào các mốc thời gian ở trên có thể thấy đây là khoảng thời gian khá dài cho sự ra đời của một tập thơ, cũng là giai đoạn gắn với nhiều biến động của lịch sử xã hội kéo theo sự thay đổi bộ mặt của nền văn học nước nhà nói chung và thơ ca nói riêng
Giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1975 (giai đoạn gắn với sự ra đời của tập thơ) là chặng đường gắn liền với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mĩ thống nhất đất nước Về cơ bản, thơ ca
Trang 27Việt Nam hai giai đoạn này mang những đặc điểm cơ bản của văn học từ
1945 đến 1975 Đó là nền văn học cách mạng - một nền văn học gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung đất nước, hướng về đại chúng và chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Những đặc điểm này thể hiện khá rõ trong thơ ca Các nhà thơ giai đoạn này chủ yếu hướng vào các vấn đề
có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân tộc; những vấn đề mang tính chất riêng tư bị gạt bỏ, hoặc nếu có, phải gắn với cái chung của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng bao trùm thời đại đã trở thành cảm hứng chủ đạo của thơ ca Cái tôi trữ tình trong thơ là cái tôi công dân, cái tôi chiến sĩ, cái tôi đại chúng Thơ ca không chấp nhận những yếu tố khác lạ hoặc xa lạ với dòng chủ lưu Để chuyển tải những nội dung tư tưởng mang ý nghĩa lớn lao của thời đại nhằm phục vụ cách mạng, các nhà thơ phải tìm đến những phương thức thể hiện phù hợp: giọng chủ âm của thơ là giọng ngợi ca, hào hùng Ngôn ngữ thơ tiếp cận, bám sát ngôn ngữ đời sống Các phương tiện tu từ trong kho tàng mĩ từ pháp của thơ ca truyền thống và Thơ mới được vận dụng Về thể thơ, ngoài các thể thơ truyền thống như bảy chữ, năm chữ thì thơ tự do đã thành một thể thơ chủ đạo, vững chãi và phóng khoáng trong việc diễn đạt tâm hồn thời đại; thơ văn xuôi cũng đã có những thành tựu thuyết phục
Giai đoạn thứ hai gắn với sự ra đời của Xem đêm là giai đoạn từ năm
1975 đến 1997 Đây là giai đoạn sáng tác gắn với hoàn cảnh đất nước hòa bình Đây cũng là thời kì hậu chiến mà hậu quả chiến tranh và những khó khăn kinh tế đè nặng lên cả cộng đồng và mỗi cá nhân Bối cảnh xã hội mới tạo ra các trạng thái tinh thần, trạng thái tâm lí mới, đặc biệt là các tương tác mới trong quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Những điều này phản ánh và tác động vào thơ ca Về cơ bản thơ sau 1975 diễn ra một quá trình phân hóa,
đa dạng hóa gắn liền với sự hình thành con người cá nhân và sự giải phóng
Trang 28các năng lượng sáng tạo nghệ thuật Nhiều dạng thức cái tôi trữ tình xuất hiện như là sự thay đổi ý thức nghệ thuật đối với đời sống và những tương tác mới trong quan hệ cá nhân - cộng đồng: cái tôi đối thoại với sử thi, cái tôi hiện thực, cái tôi thế sự, cái tôi sáng tạo ngôn từ, cái tôi tìm về những giá trị truyền thống “Thơ sau 1975 và đặc biệt là từ 1986 đến 1995 không quy tụ theo một hướng, một phạm vi đề tài nào Gắn liền với sự thay đổi cơ bản cảm hứng sáng tạo và cảm quan trữ tình của cái tôi, hình thức thơ cũng có sự biến đổi quan trọng Xu hướng chung của sự vận động hình thức là tính chất tự do hóa, cá thể hóa và đa dạng hóa, thể hiện ở mọi cấp độ của hình thức thể loại” [4, 187] Trong bối cảnh lịch sử - xã hội và văn học như vậy, sự ra đời của
những bài thơ trong Xem đêm hẳn không thể không chịu sự ảnh hưởng, tác
động của hoàn cảnh Tuy nhiên vẻ đẹp tâm hồn, tài năng, bản lĩnh sáng tạo của nhà thơ mới là cái cơ bản tạo nên sự giá trị của tập thơ Việc tìm hiểu
hoàn cảnh ra đời của Xem đêm chỉ là một căn cứ để tiếp cận với thế giới nghệ
thuật của Phùng Cung và phần nào giúp ta nhận ra sự đóng góp của tác giả đối với nền văn học nước nhà
1.3.2 Cuộc ra mắt giữa những ân tình
Tác giả Khuất Bình Nguyên đã có câu nói rất hay và rất đúng với trường hợp của Phùng Cung: “Cuộc đời này dâu bể bao nhiêu thì cũng tri âm
ngần ấy” [53] Xem đêm đến được với bạn đọc là nhờ những tấm lòng tri âm
tri kỉ và những người biết yêu quý cái đẹp
Để thơ có thể Phùng Cung xuất hiện trở lại trên thi đàn, trước tiên phải
ghi công nhóm Sông Hương ở Huế gồm nhà thơ Ngô Minh, nữ sĩ Hà Khánh
Linh và Nguyễn Khắc Phê Ngô Minh đã nhiệt tình và tận tâm cất giữ hộ tập thơ mà Phùng Cung trực tiếp trao cho nhà thơ Phùng Quán Đồng thời ông cũng là người đã tuyển chọn và hai lần giới thiệu thơ Phùng Cung cho tạp chí
Sông Hương Kết quả cả hai lần thơ Phùng Cung đều được đăng
Trang 29Cảm động hơn là tấm chân tình của những người bạn tri kỉ cùng gặp hoạn nạn với Phùng Cung như Phùng Quán và nhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang Để tạo điều kiện cho tác phẩm ra mắt bạn đọc, Phùng Quán đã tình nguyện đi khắp đất nước, đọc thơ và quyên tiền cho Phùng Cung Đây là những lời thật cảm động của Phùng Quán trong cuộc bàn luận để tìm cách
in ấn tập thơ qua lời kể Xuân Đài: “Tao đã có cách, sẽ bỏ ra sáu tháng xuyên Việt, đọc thơ và quyên tiền cho Phùng Cung! ( ) tao sẽ giải thích ngọn nguồn, người nghe sẽ thấu hiểu và xúc động trước thân phận thơ Phùng Cung” [ 21] Điều này được khẳng định ở những trang viết trong bài
Hằng Nga thức dậy của ông trước khi Xem đêm được xuất bản: “Tôi sẽ đi
khắp Trung, Nam, Bắc đọc rong thơ của anh và quyên góp tiền.Tôi ước tính muốn đủ tiền để in hai trăm bài thơ ngắn, tôi sẽ phải đi đọc thơ và quyên tiền đến một năm, trong khi đó bao nhiêu chuyện có thể xảy ra làm cho công việc thêm phức tạp ” [63, 187-188] Bên cạnh Phùng Quán là lòng nghĩa hiệp của Nguyễn Hữu Đang Ông sẵn sàng dốc hết đến những đồng tiền “phòng xa phải dựng túp lều khi không còn ai cho ở nhờ, phòng
xa lúc ốm nặng kéo dài, phòng xa lúc chết ” [63, 189] để hoàn thành thành ước vọng của Phùng Cung - được in một tập thơ để tặng bạn hữu và góp mặt với đời
Ngoài ra cũng phải kể đến sự quý trọng và can thiệp trong khâu kiểm duyệt bài của nhà thơ Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đồng thời là người viết tựa cho cuốn sách này Cuối cùng là khâu phát hành sách Đáng quý biết bao là tấm lòng của nhà văn Xuân Đài, người đã “cầm sách đi bán dạo” coi việc giúp Phùng Cung “là nghĩa vụ của mình” Đó là sự giúp đỡ tận tình của PGS TS Trần Hữu Tá và biết bao nhiêu tấm chân tình
nữa mà ta chưa biết đến Sự ra đời của Xem đêm thực sự là cuộc ra mắt giữa
những ân tình
Trang 301.3.3 Sự tỏa sáng theo thời gian
Ngay từ khi mới xuất hiện trở lại trên thi đàn, thơ Phùng Cung đã gây
được sự chú ý của độc giả Sông Hương (những bài thơ được đăng trên tạp chí này về sau được in trong Xem đêm)
Năm 1995 Xem đêm ra mắt độc giả lần đầu tiên Giống như “Hằng Nga
ngủ trong rừng” được hoàng tử đánh thức, tập thơ được đông đảo độc giả trong và ngoài nước quan tâm đồng thời đánh giá rất cao Bình luận về nội
dung của Xem đêm, một tờ báo ở Đức nhận xét: "Một đặc điểm của Xem đêm
là không có bài nào động chạm trực tiếp đến các biến cố lịch sử trong đời sống dân tộc mấy chục năm qua thay vào đó là những mảnh cắt từ một nông thôn Việt Nam nghèo khổ ( ) Phùng Cung, ở mặt này của hiện thực, đã đạt tới độ sâu sắc chưa từng thấy trong thơ ca Việt Nam mấy chục năm đổ lại đây" [22, 206]
“Một tháng sau bài báo nói trên, đài phát thanh Úc cũng lên tiếng khen
ngợi tập Xem đêm, so sánh thơ Phùng Cung với thơ Octavio Paz (Mê-hi-cô)
và Seamus Heaney (Ai-len) là hai người được tặng giải văn học Nobel, để rút
ra nét gần gũi, tương đồng giữa ba cây bút” [22, 206]
Còn trong nước, Nguyễn Hữu Đang đã có một đánh giá hết sức sâu sắc
về giá trị của tập thơ: “Trong cái bề bộn vàng thau lẫn lộn, rất có thể là khủng
hoảng trưởng thành, thật đáng phấn khởi khi được đọc tập Xem đêm, một tập
thơ đích thực của một con người đích đáng Thơ và người đều mang đậm bản sắc riêng mà không cách biệt với lý tưởng chung của dân tộc là sống yên lành, phúc đức - phúc đức hiểu theo Nho học gồm nghĩa và nhân, nói theo Tây học
là công bằng và bác ái” [22, 211-212]
Từ giá trị của tập thơ, nhà thơ Hoàng Cầm đã định vị vị trí của Phùng Cung trên thi đàn Việt Nam: “Chỉ một tập thơ này thôi đã đủ sức nâng Phùng Cung lên hàng các thi sĩ chân chính của Việt Nam, của một thế kỉ thơ Việt” [8]
Trang 31Còn báo Tuổi trẻ (Chủ nhật) ra khoảng từ 6 đến 12 tháng 10 năm 1996
viết: “Thời gian suýt phủ rêu lên tên ông nhưng lưỡi dao thơ ông kịp cạo rơi màu lãng quên ấy” [22, 206]
Năm 2011 Xem đêm được Nxb Hội Nhà văn và Nhã Nam tái bản có bổ
sung thêm phần di cảo của ông Thêm một lần nữa, những người làm nghề đã ghi nhận những đóng góp của tài thơ Phùng Cung Tác giả Mi An đã hết sức
ca ngợi về nội dung của tập thơ: “Mỗi bài thơ đầy chất thơ, chất họa và giục giã sự “cùng gợi mở” của người đọc như một công án thiền, nhưng nó không lánh đời, không kiêu kỳ mà ấm áp vô cùng bởi tình yêu thương cuộc sống, con người, cảnh vật Những câu thơ của Phùng Cung khiến người đọc cảm nhận nổi gai người và đau thắt ở trong tim” [2]
Tiến sĩ Trần Hoài Anh, người đã từng nghiên cứu Xem đêm từ góc nhìn
văn hóa đã rất đề cao giá trị của nó trong sự gắn bó với nhân cách con người nhà thơ: “Tình yêu văn hóa Việt, yêu cảnh sắc làng quê Việt của thi nhân như thế là tuyệt đỉnh Tình yêu ấy đã hóa thân thành máu thịt, nhân cách, ánh sáng của tâm hồn ông và đã tan chảy trong thơ ông, tạo nên sự bất diệt của thơ ông như chính sự bất diệt của nền văn hóa Việt mà ông đã yêu thiết tha dù cuộc đời có trải qua những năm tháng nhọc nhằn, bất hạnh [3]
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của nhiều tác giả về tập thơ từ nhiều góc nhìn khác nhau như Nguyễn Thụy Kha, Mi An, Hà An, Khuất Bình Nguyên,
Đỗ Quyên Mặc dù vậy tất cả các bài viết đều gặp nhau ở điểm chung là thái
độ ngợi ca
Đặc biệt, đúng như điều mong ước của nhà thơ Hoàng Cầm trong bài
viết Nhớ Phùng Cung thoáng nghĩ về thơ năm 1996: “Tôi mong Hội Nhà văn
tổ chức ít nhất cũng một lần hội thảo về tập thơ này” [8, 215], ngày 28/06/
2012 tại Hội trường Trung tâm Văn hóa Pháp L‟Espace đã diễn ra buổi tọa đàm thơ Phùng Cung với sự dẫn dắt của nhà phê bình văn học Phạm Xuân
Trang 32Nguyên cùng các diễn giả: nhà nghiên cứu Phạm Toàn, nhà văn Thái Kế Toại, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha Đây là lần đầu tiên, người yêu thơ Phùng Cung được ngồi cùng nhau để nói về số phận, cuộc đời đầy gian truân của ông cũng như thân phận tự do, tự tại của người nghệ sĩ đã vượt qua tất cả những hạn hẹp của con người mà giữ niềm son sắt với thơ và để biết vì sao nhà thơ Hoàng Cầm lại nhận xét thơ ông “như những luồng điện không giật chết người nhưng cứ thắt vào tim những luồng rung động thấm rất sâu”
Cao hơn hết, giải thưởng Thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội
2012 dành cho Phùng Cung vào ngày 10/10/2012 là một minh chứng cho sự
ghi nhận của đồng nghiệp và những người yêu thơ đối với Xem đêm
Những lời ca ngợi của độc giả từ khi tập thơ mới ra đời cho đến tận hôm nay và giải thưởng Thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Việt Nam dành
cho chủ nhân của Xem đêm đã khẳng định giá trị đích thực của nó đồng thời
khẳng định Phùng Cung đang giành lại chỗ đứng dưới mặt trời và đang tỏa
sáng cùng thời gian Chúng tôi tin rằng sự tỏa sáng của tập thơ Xem đêm chưa
dừng lại ở những điều vừa trình bày ở trên bởi nó còn phong giữ trong mình những giá trị cần được nghiên cứu
1.4 Khái quát về tính cách tân của tập thơ Xem đêm
1.4.1 Tiếng gọi của tinh thần nhân bản và dân chủ
Xem đêm tập hợp những bài thơ ra đời trong khoảng thời gian khá dài
nhưng chủ yếu chúng được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1961 đến 1973 Đây là quãng thời gian gần như cả dân tộc đang tập trung tất cả vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng đất nước Trong bối cảnh chung đó văn học được xem là thứ vũ khí đắc lực phụng sự cho cách mạng Chính vì vậy trong các sáng tác của mình các tác giả chủ yếu thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, đáp ứng mục tiêu lớn của văn học là hướng
về phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Đề tài chiến tranh cách
Trang 33mạng là đề tài chính của thơ ca Cảm hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng là cảm hứng chủ đạo của thơ ca nói riêng và văn học nói chung của giai đoạn này Đặc biệt sau 30/4/1975, đất nước ta thống nhất, lịch sử sang trang
và mãi đến hơn nửa thập kỷ 80 văn học vẫn trượt theo quán tính đó Ra đời trong bối cảnh ấy nhưng thơ Phùng Cung đi theo một hướng riêng, bởi thơ ông nảy sinh từ sự thôi thúc tuân theo tiếng gọi của một quan niệm cởi mở, không đóng kín về tinh thần nhân bản và dân chủ
Thơ ông ra đời trước tiên xuất phát từ tiếng gọi của tình thương đối với con người, vạn vật Đó là tình thương đối với những người thân yêu của mình như người mẹ quanh năm khó nhọc, tảo tần miếng cơm, manh áo, nuôi con đến bước trưởng thành:
Mồ hôi mẹ Tháng ngày đăm đăm Nhỏ giọt
Con níu - giọt mồ hôi Đứng dậy làm người
Chiều mưa ấy Dốc ao trơn
Em sẩy chân Bất ngờ - ân hận
Trang 34Gió nã từng cơn Bùa trấn trạch Nấp trong giấy bản Bến đò - quán chợ - ngã ba Vật vã mùi cháo thí đêm hè
(Cháo thí)
Ông thương cả số phận bất hạnh loài vật và cỏ cây là những sinh vật chung sống với người như hàng xóm, như bạn bè Đó là thảm cảnh của con cua hèn mọn:
Phận - lấm Tối ngày đào khoáy Lưng nắng - vẽ Hoa văn tiền sử Chài chãi đồng chiêm Mấy kiếp rồi
Bên cạnh sự thôi thúc của tình thương, thơ Phùng Cung ra đời còn xuất phát từ tiếng gọi của tinh thần dân chủ Biểu hiện cụ thể nhất là liếng gọi của
tinh thần tự do trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Xem đêm đã phá
cái khoanh vùng hết sức hình thức của đề tài văn học cách mạng hướng tới những vấn đề thế sự, nhân sinh: hiện thực đời sống, thân phận con người, tình
Trang 35cảm riêng tư Những vấn đề đó cũng được nhìn nhận, phản ánh, phân tích, lý giải với cái nhìn thẳng thắn của nhà thơ, thậm chí dám vượt qua những chuẩn mực quy phạm, những quan điểm chính thống của văn học lúc bấy giờ để lộ
ra chân dung một con người hoàn toàn tự do
Như vậy, đặt trong hoàn cảnh tập thơ ra đời, ta có thể thấy chính tiếng gọi của tinh thần nhân bản và dân chủ đã mở đường góp phần làm đa dạng hóa nền thơ và kéo thơ trở lại với chức năng chính của nó là làm phong phú thêm cảm nhận đời sống con người và bù đắp những gì gọi là khoảng trống trong văn học đương thời
1.4.2 Lời nhắc về quyền được riêng tư
Một trong những nội dung làm nên nét đặc sắc của thơ Phùng Cung là tiếng nói trữ tình cá nhân, là quyền được triêng tư của con người Trong thơ ông có tiếng thở dài nuối tiếc những tháng ngày đã thuộc về “ngày xưa”, có nỗi cô đơn của một con người mất tự do, “Thâu ngày đêm/ Bị sự im lặng quấy
rầy” (Cùng Trời) Và xuyên suốt tập thơ người đọc cũng có thể lắng nghe
được được rất rõ tiếng khóc của một con người mang nỗi đau thân phận:
Não lòng thay!
Cũng kiếp hoa Những là trôi dạt Những là lênh đênh
(Hoa bèo)
Cũng trong tập thơ ta bắt gặp một Phùng Cung biết xót thương, biết đồng cảm với người bạn đời đã cùng mình chia sẻ cuộc đời điêu đứng:
Em vất vả Tối ngày tất tả Lưng áo em Ngoang vôi trắng xóa
Trang 36Cái trắng này vắt tận trong xương
(Mồ hôi xương)
Ngoài một Phùng Cung giàu lòng yêu thương, biết đồng cảm chia sẻ với bạn đời là một Phùng Cung cũng rất lãng mạn trong tình yêu: biết thương tiếc những mối tình không trọn vẹn, cố nén lòng giữ giọt lệ khi gặp lại hai người yêu cũ, một đã thành sư bác mà vẫn chưa quên những ngày dan díu:
Nhìn trước nhìn sau
Em khẽ khóc
Ngại đường tu dang dở
Em vội lau nước mắt
Trót nhớ mãi Một chiều nghiêng lụy
Trang 37thơ ra đời Về cơ bản nền văn học nước ta lúc bấy giờ tự nó đang thỏa mãn với tình trạng cả nước có chung khuôn mặt, cả nước mặc đồng phục về tư tưởng Nền thơ chủ yếu vẫn là thơ trữ tình chính trị vì vậy người ta không coi trọng riêng tư Các nhà thơ cách mạng đã tự nguyện “xóa cô đơn ta hòa hợp với người” (Chế Lan Viên) Điều này cũng được Tố Hữu khẳng định trong thơ: “Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng” Vì cái chung mà thơ ca sẵn sàng hy sinh cái riêng, thậm chí có khi hy sinh tới mức cực đoan: “Khi riêng tư ta thấy mình xấu hổ” (Chế Lan Viên) Cái riêng tư nếu được nói tới thì cũng chỉ để làm nổi bật sự hài hòa của nó với cái chung mà thôi Chẳng hạn như tình yêu nam nữ cho dù có được nói đến trong thơ cũng phải được thể hiện một cách hòa hợp với những tình cảm lớn của thời đại như yêu quê hương, yêu cách
mạng, yêu lí tưởng (Núi Đôi - Vũ Cao; Quê hương - Giang Nam; Cuộc chia
ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ ) Trong bối cảnh đó, theo phần đông các nhà thơ
thiếu bản lĩnh, cái riêng phải tìm cách thích ứng, hòa vào cái chung, cái ta thì mới được nói tới, mới được hiện diện Điều này dẫn tới văn học đương thời
có sự thiếu hụt, đặc biệt là sự thiếu hụt của thơ, bởi trữ tình cá nhân là một nét bản chất của trữ tình Mặt khác, phủ nhận những tình cảm tiêng tư trong thơ là phủ nhận một nội dung có tính nhân bản bởi nó là thứ thuộc về con người Ra đời trong bối cảnh như vậy, những vần thơ trữ tình cá nhân của Phùng Cung
đã khẳng định cá tính, bản lĩnh sáng tạo sáng tạo của chính mình và mang một nội dung hoàn toàn mới nhưng vẫn phù hợp với lý tưởng, đạo đức chung của dân tộc Nó cho thấy cái tôi cá nhân đã có một chỗ đứng bên cạnh cái ta chung của cộng đồng, dân tộc và nó là lời nhắc con người về quyền được riêng tư, nhắc con người đừng mãi hát ca mà quên đi cái quyền tối thiểu nhất của con người Nội dung này mang ý nghĩa mở đường cho sự phát triển của văn học về sau vì thực chất nội dung văn học sau 1975 vẫn là sự tiếp nối mạch nguồn này
Trang 381.4.3 Lối đi xa lánh quảng trường
Trong giai đoạn 1945 - 1975, nhằm thực hiện mục tiêu lớn của văn học
là phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản, các nhà thơ thuộc dòng thơ chủ lưu - dòng thơ cách mạng - đã tự nguyện tìm đến với kiểu thơ quảng trường Đó là kiểu thơ hướng đến quảng đại quần chúng, dành cho quần chúng với mục đích vận động, tuyên truyền, tạo sự cộng hưởng cảm xúc tối
đa giữa tác giả và công chúng Như một quy luật tất yếu mang tính hệ quả của điều vừa nói, kiểu thơ này hướng đến các đề tài, chủ đề rộng lớn mang tính chất chung mà mọi người đều quan tâm lúc bấy giờ đó là đất nước, nhân dân trong chiến tranh và sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, những sự kiện lịch sử liên quan đến vận mệnh cả dân tộc Đồng thời, để tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn, tác động rộng lớn đối với quần chúng các nhà thơ đã phải tìm đến một hình thức thơ phù hợp đó là loại thơ giàu nhịp điệu, có giọng điệu khỏe khoắn, có những lời hô hào, kêu gọi lẫn thủ thỉ tâm tình Riêng Phùng Cung, trong bối cảnh chung ấy, kể cả khi đất nước được hòa bình và bản thân đã được tự do ông vẫn đi theo một lối khác - lối đi xa lánh quảng trường
Do tư tưởng chịu sự tác động mạnh mẽ của tinh thần dân chủ, đặc biệt
là do hoàn cảnh sống riêng, Phùng Cung buộc phải đứng bên lề thế sự và do
thế phải luôn hướng nội Một đặc điểm của Xem đêm là không có bài nào
động chạm trực tiếp tới các biến cố lịch sử trong đời sống dân tộc suốt mấy chục năm qua, cũng không có bài nào mang phạm vi xã hội rộng lớn hay hướng tới đối tượng quần chúng đông đảo mà chỉ tái hiện cái hồn vía của hiện thực được soi ngắm qua một đôi mắt thức Ấy là những mảng cắt đậm chất hiện thực của một nông thôn cũ ở Việt Nam:
Phận - lấm Tối ngày đào khoáy Lưng nắng - vẽ
Trang 39Hoa văn tiền sử Chài chãi đồng chiêm Mấy kiếp rồi
Cái án văn chương giáng xuống đời Phùng Cung, gắn với nó là sự sứt
mẻ về tình cảm bạn bè, tình anh em Những điều đó để lại vết thương lòng mãi nhức nhối trong ông Có lẽ vì vậy mà Phùng Cung đã tìm về với thiên nhiên, tìm về với quê hương như tìm đến người bạn thân thiết nhất và tìm đến điểm tựa tinh thần vững chắc nhất của cuộc đời ông Thiên nhiên có thể làm cho tâm hồn ông trở nên thanh thản, còn quê hương là bến đỗ cuối cùng của
ông sau bao năm “trót - dông dài - trăng nước/ Mặt - va dông chớp”, gãy bước
trở về:
Gót nhọc men về thung cũ Quỳ dưới chân quê
Trăm sự cúi đầu Xin quê rộng lượng Chút thổ phần bò xéo cuối thôn
(Ăn năn)
Cuối cùng thiên nhiên và quê hương trở thành mảng đề tài lớn nhất trong thơ ông thay cho những đề tài vốn quen thuộc trong kiểu thơ ca vốn phổ biến đương thời - thơ quảng trường
Mặt khác, mặc dù cuộc đời Phùng Cung gặp nhiều oan trái nhưng trọn
tập Xem đêm không có bài nào nói tới những oan khiên trong cuộc đời nhà thơ
mà có nhiều bài nói tới những những sự dữ của đời người, những mất mát,
thiếu hụt của con người trong cuộc đời như: Ao hoang, Đậu mùa, Quyên giáo
Gãi đất là một bài thơ tiêu biểu nói lên cái mất mát, thiếu hụt trong thơ ông :
Trang 40Giặc quấy Làng queo quắt Tụi trẻ đi - đi hết
Dờ dệt sức già gãi - đất Ngô phong cờ
Chó chạy hở đuôi Cái đói - tròn Lăn - kín bốn mùa
(Gãi đất)
Việc đứng bên lề những sự kiện chính trị lớn lao của dân tộc và hoàn cảnh sống gặp không ít khó khăn khiến Phùng Cung luôn trăn trở và có điều kiện suy ngẫm nhiều về cuộc đời, về lẽ sống, đặc biệt là suy ngẫm về thân phận con người Chính vì vậy mà thơ ông không có cái sôi nổi, ồn ào của những lời kêu gọi, hô hào mà có sự thâm trầm của những của những cảm xúc riêng tư, của những chiêm nghiệm giàu tính triết lí:
Sống quá khó khăn Chết chẳng dễ dàng Tôi phải sống
Hẳn tôi còn được chết Chết là chơi nốt
Một trò chơi Mãn khóa hốn sinh
(Trò chơi)
Với lối đi xa lánh quảng trường, Phùng Cung đã đem đến cho thơ một
vẻ đẹp riêng: tính thế sự và triết lí