Cũng trong năm 2002, tác giả Ngô Thị Kim Cúc với bài Nhà thơ ý Nhi: Sự run rẩy của số phận, đăng trên báo Thanh niên 23/2, đã nhận xét: “Thơ chị rất ít chữ, càng ít những từ bóng bẩy,
Trang 3Nhµ Th¬ ý nhi
Trang 4Để hoàn thành đề tài luận văn “Đặc sắc nghệ thuật thơ Ý Nhi”, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên - TS Lê Thị Hồ Quang
đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, tổ Lý luận văn học, Khoa sau Đại học trường Đại học Vinh, tác giả Ý Nhi, cùng bạn bè đồng nghiệp và những người thân đã tạo điều kiện thuận lợi động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và quá trình hoàn thành luận văn
Tuy đã cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi tư liệu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 THƠ Ý NHI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI CỦA THƠ VIỆT NAM SAU 1975 8
1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ và sự đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1975 8
1.1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ 8
1.1.2 Sự đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1975 9
1.2 Các chặng đường thơ Ý Nhi 17
1.2.1 Khái lược tiểu sử tác giả 17
1.2.2 Hành trình thơ Ý Nhi 18
1.2.3 Sự đổi mới của thơ Ý Nhi qua các chặng sáng tác 25
1.3 Quan niệm về nghệ thuật của Ý Nhi 26
1.3.1 Quan niệm về nhà thơ 26
1.3.2 Quan niệm về thơ 28
Chương 2 ĐẶC SẮC THƠ Ý NHI TRÊN PHƯƠNG DIỆN CẢM HỨNG VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 30
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Ý Nhi 30
2.1.1 Cảm hứng phân tích 31
2.1.2 Cảm hứng triết lý 37
2.1.3 Cảm hứng chiêm nghiệm 45
Trang 62.2.1.1 Cái tôi đầy tinh thần trách nhiệm 52
2.2.1.2 Cái tôi ý thức sâu sắc về giá trị cá nhân 56
2.2.1.3 Cái tôi hướng tới những giá trị tinh thần cao cả 58
2.2.2 Hình tượng Đất nước, Quê hương 61
2.2.3 Hình tượng người nghệ sỹ 66
Chương 3 ĐẶC SẮC THƠ Ý NHI TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ, KẾT CẤU, THỂ LOẠI 71
3.1 Ngôn ngữ 71
3.1.1 Sử dụng lớp từ ngữ, hình ảnh đơn giản, ngắn gọn 71
3.1.2 Sử dụng lớp từ ngữ, hình ảnh tinh tế, biểu cảm 74
3.1.3 Sử dụng lớp từ ngữ, hình ảnh mang tính tượng trưng 76
3.1.4 Vận dụng linh hoạt các biện pháp tu từ 80
3.1.4.1 So sánh 80
3.1.4.2 Ẩn dụ 83
3.1.4.3 Tương phản - đối lập 84
3.2 Kết cấu 86
3.2.1 Kết cấu tâm trạng 86
3.2.2 Kết cấu triết lý 90
3.3 Thể loại 95
3.3.1 Thơ tự do 95
3.3.2 Các thể thơ khác 99
3.3.2.1 Thể thơ năm chữ 99
3.3.2.2 Thể thơ lục bát 101
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cuộc kháng chiến cứu nước đã đi qua nhưng dư âm của nó còn vang vọng mãi trong thơ và tiếp tục phát huy những thành tựu đó vào giai đoạn lịch sử mới Nhiều nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Bằng Việt, Thanh Thảo, Ý Nhi… vẫn tiếp tục khẳng định mình trong giai đoạn sau 1975 Trong số đó, Ý Nhi nổi lên như một gương mặt
xuất sắc Năm 1985, tập thơ Người đàn bà ngồi đan của chị nhận giải A của
Hội Nhà văn Việt Nam Sau đó, cùng với sự xuất hiện liên tục của các tập thơ
Ngày thường (1987), Mưa tuyết (1991), Gương mặt (1991), Vườn (1998), Ý
Nhi đã trở thành một hiện tượng đáng chú ý trong nền thơ Việt Nam đương đại Công chúng biết đến chị bởi một giọng thơ lạ, giàu tính triết lý, suy tư, cách lập tứ chặt chẽ, với những hình ảnh, biểu tượng đầy sức gợi Là nhà thơ luôn có ý thức cách tân, sáng tạo, Ý Nhi rất nhất quán trong quan niệm sáng tác: “Về xúc cảm - phẩm chất cao nhất là sự thành thực Về hình thức cần đạt tới sự giản dị” [59] Quan niệm đó chi phối rất rõ trong các tác phẩm thơ của chị, đem lại những giá trị thẩm mĩ độc đáo và giúp chị khẳng định được vị thế riêng của mình trong dòng văn học đổi mới
1.2 Đã có nhiều bài nghiên cứu, bài viết về sáng tác của Ý Nhi trên các báo, tạp chí, và một số khoá luận đại học, luận văn thạc sĩ… Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn thiếu một công trình nghiên cứu mang tính bao quát về những đặc sắc nghệ thuật của thơ Ý Nhi Đó là những lí do cơ bản thúc đẩy chúng tôi tìm đến với vấn đề “Đặc sắc nghệ thuật thơ Ý Nhi” Đến với đề tài này, chúng tôi mong muốn có thể mô tả và lí giải một cách kĩ lưỡng hơn về diện mạo thơ độc đáo của nữ tác giả này Đồng thời, qua trường hợp thơ Ý Nhi, chúng tôi hy vọng có được một điểm nhìn tham chiếu để đánh giá khách
Trang 8quan và chính xác hơn về sự vận động, đổi mới của thơ Việt Nam sau 1975, nhằm phục vụ tốt hơn cho việc nghiên cứu và giảng dạy của bản thân trong nhà trường phổ thông hiện nay
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Sáng tác của Ý Nhi đã xuất hiện từ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Nhưng mãi đến năm 1985, khi tập Người đàn bà ngồi đan nhận giải A của
Hội Nhà văn Việt Nam, tên tuổi của Ý Nhi mới chính thức được khẳng định trên văn đàn, với giọng thơ mới lạ, “đương vào độ chín” [63] Kể từ đây, đã
xuất hiện nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về thơ Ý Nhi
Nhà phê bình Chu Văn Sơn là người sớm quan tâm đến hiện tượng thơ
Ý Nhi và cũng là người có nhiều bài viết về hiện tượng thơ này Năm 1987,
trong bài Thơ của tâm hồn xao xác giữa ngày yên (báo Văn nghệ số 36 ngày
5/9), tác giả này nhận xét: "Đọc Ý Nhi, càng trở lại đây người đọc càng mừng vì thấy chị càng tự tin hơn trên con đường riêng của mình Bằng một nội tâm mạnh mẽ, chị đã đồng hoá được thế giới bên ngoài để làm thành một cái tôi lúc nào cũng dồi dào phong phú, một cái tôi lúc nào cũng xáo động như “cây trước thềm xao xác giữa ngày yên” để làm một trữ lượng thi liệu
lớn cho sáng tác lâu dài của chị” [59] Nhà phê bình chỉ rõ thao tác nghệ thuật chi phối thơ Ý Nhi là “phân tích nội tâm với mọi đối cực” [59] Và
“đằng sau ngôn ngữ miêu tả hình tượng là một thứ ngôn ngữ phân tích lí
luận” [59] Năm 1992, với bài Sự giải toả bằng thơ, Chu Văn Sơn cũng chỉ
ra trong thơ Ý Nhi, một “giọng tâm tình khá riết róng…ít lời nhưng ẩn chứa
một ngọn lửa hoả tâm” [61] Tiếp đó, trong bài Đến với từng bông tuyết, đăng trên tạp chí Tác phẩm mới, ông nhận định: “Từ bỏ sự giãi bày nặng
chất duy cảm buổi đầu, chị đã bước nhanh tới những lời thơ tiết chế nặng chất suy tư…và bút pháp phân tích sắc sảo chiếm dần ưu thế…khiến cho thơ chị có độ nén hơn, nhiều dư vang hơn” [60]
Trang 9Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái trong bài Thơ tình Thành phố Hồ Chí
Minh, đã nhận xét về nghệ thuật thơ Ý Nhi: “Nếu có một thi pháp trong thơ Ý
Nhi thì có thể gọi là gián cách” [67] Nhà thơ Hoàng Hưng cũng đồng tình với nhận định này, ông khẳng định: “Bút pháp thơ Ý Nhi là trữ tình gián cách và
cảm xúc được kìm nén hoặc để nguội” [25] Cũng tác giả Nguyễn Thị Minh Thái trong Trò chuyện về thơ với Người đàn bà ngồi đan, đã nói: “Ý Nhi tìm
được giọng điệu riêng trên một tâm thế thanh thản và một tư thế gần gũi như
“thiền”, nhà thơ đã ngộ ra được hai điều cốt nhất của thi sỹ: bút pháp riêng và
tình điệu riêng [68] Bút pháp của Ý Nhi trong Người đàn bà ngồi đan được
nhiều người nhận xét như một nét chấm phá hiện đại
Có thể nói, những bài viết về thơ Ý Nhi tập trung nhiều nhất khoảng từ năm 1999 trở lại đây Phần lớn các bài viết đều đề cập tới mạch nguồn thơ của chị với những xúc cảm, suy tư là những đối cực trong tâm trạng Đặc biệt, các
tác giả chú ý đến nhiều các bài thơ như : Mùa thu, Về Thái Nguyên, Biển,
Người đàn bà ngồi đan, Cát, Tiểu dẫn…Họ đều có những nhận xét khá thống
nhất về nhiều phương diện nghệ thuật trong thơ Ý Nhi như cảm hứng, hình tượng, kết cấu, nhịp điệu, những đối cực chói gắt và màu sắc triết lí đậm nét trong thơ
Trong bài Vườn lạ chợt thấy quen, Nguyễn Nhã Tiên đã đưa ra nhận xét:
“Con đường thơ Ý Nhi muốn đạt được một loại nghệ thuật mà nhiều nhà thơ phương Tây gọi là loại nghệ thuật của sự tiềm ẩn, chọn lựa thủ pháp để ngôn
từ tạo ra hình ảnh và sự đa nghĩa” Và Nguyễn Nhã Tiên còn nhấn mạnh chính sự “kiệm lời trong thơ chị là một đặc trưng nổi bật một cá tính, tạo ra sự hẵng hụt để gợi sức liên tưởng, thấm sâu tất cả những vị đắng cay hoặc ngọt ngào” [74]
Trong bài Nỗi khắc khoải từ niềm ký ức, đăng trên báo Văn nghệ ngày
19/8/2000, Lưu Khánh Thơ đã nhận định: “Tác giả sử dụng một thứ ngôn ngữ
Trang 10văn xuôi chắt lọc đầy suy tưởng và hết sức kiệm lời… nhịp điệu trong thơ là
nhịp điệu tâm trạng chứ không phải là nhịp điệu của câu chữ” [72].Thành
công nhất trong sáng tác của Ý Nhi, theo tác giả Lưu Khánh Thơ, đó là gia tăng chất nghĩ cho thơ
Với bài Thơ ý Nhi (2001), Hoàng Hưng đã đưa ra cái nhìn tổng quát
về cấu tứ, thể loại chủ yếu trong thơ chị: “Cấu tứ khúc chiết, để bật ra bất ngờ
ở cuối kết một chiêm nghiệm nhưng dễ được đồng cảm…Thể thơ tự do không vần, lắm lúc văn xuôi một cách triệt để” [25]
Hà Ánh Minh trong tạp chí Nha Trang, số 72 (2001), với bài Mạch đập
thơ Ý Nhi dòng ưu tư chảy xiết, lại nhấn mạnh mạch ngầm, nội lực bên trong và
chất triết luận trong thơ chị: “Thơ Ý Nhi cũng như một dòng chảy nham thạch cuộn tròn đỏ dưới ánh nắng chiều Ý Nhi không những viết bằng ngôn ngữ của cảm xúc mà chủ yếu viết bằng ngôn ngữ của trí tuệ Những bài thơ dài, những khổ thơ dài cứ hực lên sức nóng, mạch ngầm suy cảm của chị ” [31]
Năm 2002, Nguyễn Hoàng Sơn trong bài Ý Nhi qua Tuyển thơ, đăng
trên báo Tiền phong (28/7), đã khẳng định lối làm thơ chủ yếu trong sáng tác của chị: “Chị đã sớm và dứt bỏ lối “làm thơ” ngòn ngọt dễ dãi của một thời, tìm tới một bút pháp chắc thực, hiện đại…Thơ chị rất ngắn gọn, không vần, lập tứ rất vững” [64]
Cũng trong năm 2002, tác giả Ngô Thị Kim Cúc với bài Nhà thơ ý
Nhi: Sự run rẩy của số phận, đăng trên báo Thanh niên (23/2), đã nhận xét:
“Thơ chị rất ít chữ, càng ít những từ bóng bẩy, những câu thơ như được nén lại, nhiều khi gây cảm giác tức thở.Vì thế lúc đọc lên, chúng như được thả ra, ngân vang những hồi âm của một tâm trạng thẳm sâu, tâm trạng một người từng trải và biết kìm nén” [9] Ngô Thị Kim Cúc nhấn mạnh: “Thơ Ý Nhi vừa
nữ tính đồng thời lại có chất trí tuệ Thơ chị luôn mang nỗi khắc khoải khôn nguôi trước những gì trông thấy và cảm thấy” [9] Ý này cũng được tác giả
Trang 11Trần Nhã Thuỵ khẳng định: “Thơ Ý Nhi như nằm ở dạng chất liệu của những trầm tích” [73]
Năm 2003, tác giả Khánh Phương với bài Ý Nhi một sự nghiệp không
bao giờ hết dây dưa, đã phác hoạ về phạm vi hiện thực được phản ánh trong
thơ chị: “Chị thường soi mình vào nhiều kiểu người khác nhau trong xã hội để phần nào tự vẽ nên chân dung bản thân…nhà thơ luôn mong muốn là người khám phá sắc sảo đối với tất cả những góc cạnh của cuộc sống” [52]
Tác giả Lê Hồ Quang trong bài Hành trình lặng lẽ trong thơ Ý Nhi
(Tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam, số 3 năm 2010) nhận xét khả năng phân tích tỉnh táo trong thơ Ý Nhi “đã tạo nên chất “duy lí” độc đáo giữa một nền thơ Việt Nam hiện đại vốn nặng chất “duy tình”, “duy cảm” Chất triết lí
ấy cũng tạo nên nét riêng của thơ chị: “Không lạm dụng các mĩ từ kêu vang,
nó toát ra từ một cái nhìn nội tâm trầm tĩnh, sâu sắc nhưng đầy khắc khoải của một con người đang trên hành trình tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời…Đặc biệt
là những hình ảnh so sánh, liên tưởng…những hình ảnh thơ ấy đã “mềm hoá” những cấu tứ đậm tính triết lí trong thơ Ý Nhi” [56]
Còn có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về thơ Ý Nhi trong các báo, Tạp chí, Luận văn thạc sĩ của các tác giả Nguyễn Bảo Chân, Thuý Nga, Thanh Thảo,
Đỗ Thị Hoa, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt… Các tác giả này đều đánh giá cao thơ
Ý Nhi trên các phương diện như cách tạo dựng hình ảnh, biểu tượng, phong cách giản dị mà đậm chất trí tuệ, một giọng thơ trầm lắng suy tư
Tóm lại, qua tìm hiểu, khảo sát, chúng tôi nhận thấy, Ý Nhi là một hiện tượng thơ được dư luận quan tâm và đánh giá cao Nhìn chung, ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình đi trước khá thống nhất trong việc khẳng định những thành công trên bước đường sáng tác của Ý Nhi, đánh giá Ý Nhi là cây bút giàu tính sáng tạo, có phong cách riêng mới lạ, cảm hứng sáng tạo phong phú, đặc sắc Với chúng tôi, những ý kiến đó có ý nghĩa tham chiếu quan
Trang 12trọng và trên cơ sở những gợi ý đó, luận văn hy vọng có thể phân tích và lí
giải sâu hơn, hệ thống hơn về đề tài Đặc sắc nghệ thuật thơ Ý Nhi
3 Đối tượng, phạm vi tư liệu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đặc sắc nghệ thuật thơ Ý Nhi
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Luận văn tập trung khảo sát những tập thơ sau đây của tác giả Ý Nhi :
- Trái tim nỗi nhớ (1974)
- Đến với dòng sông (1978)
- Cây trong phố chờ trăng (1981)
- Người đàn bà ngồi đan (1985)
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
- Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ chi phối và các chặng đường thơ của Ý Nhi
- Tìm hiểu đặc sắc thơ Ý Nhi trên phương diện cảm hứng và hệ thống hình tượng
- Tìm hiểu đặc sắc thơ Ý Nhi trên phương diện ngôn ngữ, kết cấu, thể loại
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân loại, thống kê
Trang 13- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn đưa lại một cái nhìn tương đối hệ thống và bao quát về những
đặc sắc nghệ thuật trong thơ Ý Nhi, một tác giả nổi bật trong nền thơ Việt
Nam đương đại
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Thơ Ý Nhi trong bối cảnh đổi mới của thơ Việt Nam
sau 1975 Chương 2 Đặc sắc thơ Ý Nhi trên phương diện cảm hứng và hệ thống
hình tượng Chương 3 Đặc sắc thơ Ý Nhi trên phương diện ngôn ngữ, kết cấu,
thể loại
Trang 14Chương 1THƠ Ý NHI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI
CỦA THƠ VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ và sự đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1975
1.1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ
Trong suốt 30 năm chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã vượt qua bao gian khổ để đi đến đại thắng mùa xuân 1975, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do, thống nhất đất nước Tuy nhiên, đời sống hậu chiến cũng đặt ra rất nhiều cam go và thách thức đối với những con người vừa bước ra khỏi chiến tranh Chuyển sang thời bình, cuộc sống dần trở lại với qui luật bình thường của nó Chính hoàn cảnh ấy đã tác động mạnh mẽ đến lối sống, cách nghĩ của con người, buộc họ phải nhận thức lại nhiều vấn đề về cuộc sống cũng như các mối quan hệ nhân sinh, xã hội Sau 1975, ta có thể thấy rõ những biến chuyển và đổi thay phức tạp, đa chiều trong trạng thái tinh thần xã
hội Trong Tản mạn thời tôi sống, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết: Thời tôi
sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật không dễ dàng chi
Sau 1986, cùng với Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước chuyển sang thời
kỳ Đổi mới Nội dung quan trọng nhất của sự nghiệp Đổi mới là định hướng
vì con người: "Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm
mục đích của mọi hoạt động" [13] Điều này đã kéo theo những chuyển biến
tích cực và to lớn trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng… Riêng về lĩnh vực văn nghệ, Nghị quyết 05 của Bộ Chính Trị đã nêu rõ: “Đổi mới và nâng cao sự lãnh đạo và quản lý văn hoá văn nghệ lên một bước phát triển cao hơn” [13] Nghị quyết đã khẳng định vai trò tự do sáng tạo của mỗi văn nghệ sỹ chính là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hoá, văn nghệ và để phát triển tài năng Có thể khẳng định Đại
Trang 15hội VI là sự đáp ứng hết sức kịp thời và mạnh mẽ yêu cầu của dân tộc và thời đại vào thời điểm lịch sử đó
Từ đây, nền kinh tế xã hội chuyển từ mô hình bao cấp sang mô hình kinh
tế thị trường Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo quá trình đô thị hóa Tinh thần dân chủ được phát huy trên nhiều lĩnh vực đời sống, đã tiếp thêm nghị lực và sức mạnh cho toàn thể dân tộc trong thời kì đổi mới Bối cảnh
ấy thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm chú ý đến từng số phận con người Bên cạnh đó, việc nhà nước chủ trương mở cửa hội nhập với thế giới tạo nên những hoạt động và giao lưu văn hóa, văn học rộng rãi, cởi mở
Sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, tinh thần dân chủ và ý thức “nhìn thẳng vào sự thật”, “nói rõ sự thật” là những động lực cơ bản của văn học Đổi mới Trong quan niệm về chức năng văn học, mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc cũng như sự tiếp nhận văn học v.v có những thay đổi tích cực Việc tìm kiếm, thể nghiệm cách tiếp cận thực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật đã được phát huy mạnh mẽ Đồng thời, cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn cũng được chú ý, đề cao
Tóm lại, chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một thời kỳ mới đối với lịch sử dân tộc, đồng thời cũng mở ra một chặng đường mới của nền văn học Việt Nam Sự chuyển biến lớn của đất nước sau 1975, đặc biệt sau Đại hội Đảng lần thứ VI, đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có văn học nghệ thuật Tất cả đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển tích cực của nền văn học Việt Nam hiện đại Sẽ không thể hiểu được những đặc điểm của nền văn học Đổi mới nếu ta không đặt nó vào điều kiện văn hóa - xã hội nói trên
1.1.2 Sự đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1975
1.1.2.1 Tương ứng với sự thay đổi của bối cảnh lịch sử - xã hội, tình
hình phát triển của thơ Việt Nam sau 1975 cũng có nhiều thay đổi so với
Trang 16trước đó Trong giai đoạn 1945 -1975, tương ứng và chi phối bởi một hoàn cảnh lịch sử có tính đặc thù, những giá trị văn hoá xã hội cơ bản đã được thiết lập trên cơ sở cộng đồng, tập thể, dân tộc; cảm hứng chủ đạo của nền văn học Cách mạng là chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập tự do và lý tưởng xã hội chủ nghĩa Văn học thời kỳ này hướng đến những sự kiện và biến cố khách quan, trọng đại có liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của dân tộc, của cộng đồng, những xung đột gay gắt về ý thức hệ, nội dung cảm hứng thiên về cái cao cả, cái hào hùng với thái độ ngợi ca:
Thơ ta ơi hãy cất tiếng hát
Ca ngợi trăm lần Tổ quốc của ta
(Tố Hữu)
Người nghệ sỹ đồng hành với Cách mạng qua bao gian lao, thăng trầm lịch sử và đã tạo nên một diện mạo văn học đặc thù, mang đậm dấu ấn của một giai đoạn lịch sử dữ dội mà hào hùng Hướng đến và đề cao giá trị cộng đồng, dân tộc với những phẩm chất truyền thống, nhiệm vụ cơ bản của sáng tác văn học giai đoạn này là tuyên truyền, cổ vũ cho Cách mạng, cho các nhiệm vụ chính trị Do đó, hình tượng trung tâm của nền văn học này cũng chính là những hình tượng sử thi như Tổ quốc, Nhân dân, Lãnh tụ, Người lính Hình tượng Tổ quốc, Nhân dân hiện lên đẹp đẽ, rực rỡ, muôn người như một Vai trò cá nhân mờ nhạt, ít được nói đến trong văn học, cái riêng hoà vào cái chung của cộng đồng, như ta có thể thấy trong những câu thơ nổi tiếng một thời của Tố Hữu:
… Trái tim anh đó Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ Anh giành riêng cho Đảng phần nhiều Phần cho thơ và phần để em yêu
(Bài ca xuân 61)
Trang 17Sau 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, hoàn cảnh đó đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới toàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của dân tộc, trong
đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật Đặc biệt từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, “với tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật” đã tạo cơ sở tư tưởng cho hướng dân chủ hoá trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ Dân chủ hoá đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học” [48;14] Điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải tích cực đổi mới quan niệm về hiện thực, về bản chất hoạt động sáng tạo cũng như vai trò trách nhiệm của mình trong điều kiện lịch sử xã hội mới Đây chính là động lực quan trọng tạo nên nguồn cảm hứng sáng tạo mới trong thơ Việt Nam sau 1975
Trước 1975, do hoàn cảnh lịch sử- xã hội gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc dẫn đến việc đề cao quá mức thuộc tính phản ánh hiện thực Vấn đề hình thức nghệ thuật bị hiểu một cách phiến diện, hẹp hòi, cũng như
sự tìm tòi sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ bị coi nhẹ Do quan niệm phản ánh
ấu trĩ và thô sơ này mà bản chất hiện thực chưa được khai thác thể hiện một cách sâu sắc và phong phú như vốn có Đời sống nội tâm, tinh thần của con người cá nhân không được chú ý đúng mức, thậm chí những biểu hiện của tình cảm riêng tư có khi còn bị đồng nhất với chủ nghĩa cá nhân cực đoan Nói cách khác, ở thời kỳ này, thơ đã không phản ánh được một cách toàn vẹn và khách quan hiện thực tâm hồn con người Bên cạnh đó, do bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử đặc thù, trong văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, những mặt tiêu cực, hạn chế trong xã hội chưa được đề cập, nhiều nội dung hiện thực trở thành "huý kỵ" cần né tránh Đó là những ngang trái, bất công trong xã hội, những bi kịch, mất mát, đau thương trong chiến tranh, những tình cảm riêng tư, những khao khát bản năng trong đời sống cá nhân Tóm lại, trong một thời gian dài trước 1975, con người được chú ý
Trang 18nhiều hơn trong mối quan hệ với lịch sử, dân tộc, thời đại, ngược lại, song phần riêng tư, cá nhân, cá tính, số phận riêng ít được chú ý đề cập Nói cách khác, văn học thời kì này quan tâm đến vấn đề "con người trong lịch sử" hơn
là vấn đề "lịch sử trong con người"
Sau 1975, tinh thần “phản tỉnh” đã trỗi dậy mạnh mẽ trong thơ ca nói riêng, trong văn học nói chung, nhằm hướng tới một quan niệm đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn về hiện thực Nhận thức này là tất yếu, bởi nó gắn với những thay đổi mạnh mẽ của bối cảnh hậu chiến, và khi bên cạnh đời sống lịch sử, cộng đồng, đời sống cá nhân đã được đặt ra như một vấn đề xã hội cần thiết Cũng do vậy, bản chất của thơ cũng như mối quan hệ giữa thơ ca và hiện thực đã được nhận thức lại Giờ đây thơ có quyền nói tới cả những vấn
đề mà trước đây người ta ít quan tâm, thậm chí cả những vấn đề trước đây bị xem như là những "huý kị" Hiện thực được phản ánh trong văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng phải là một hiện thực toàn vẹn, được nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều phong phú và phức tạp như chính bản thân đời sống Đó cũng không chỉ là hiện thực bên ngoài mà còn là hiện thực bên trong, hiện thực của đời sống tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người Trách nhiệm của người nghệ sỹ phải nói lên được cái toàn vẹn, cái đa chiều
đó Như vậy, sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều
đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi về quan niệm con người “Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng
triết học hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản” [49,16]
Giờ đây con người được xem là điểm xuất phát, là đích cuối cùng của văn học, là điểm quy chiếu, vừa là thước đo của mọi vấn đề trong xã hội, cho nên, tư tưởng thời đại đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong cách cảm, cách nghĩ với quan niệm dấn thân vào cuộc đời và tôn trọng
sự thật Nhà văn hào Nga I Turghenhev từng nói: "Nghệ sĩ mà bị tước mất
Trang 19khả năng nhìn thấy cái trắng và cái đen - cả ở bên phải và bên trái - thì có nghĩa anh ta đã đứng bên lằn ranh của cái chết" Một nền thơ nhân đạo, mang tính hiện thực không thể né tránh sự thật, mặc dù để làm được điều đó, đòi hỏi rất nhiều trách nhiệm, bản lĩnh cũng như lương tri của người cầm bút Từ góc nhìn của mĩ học, nhà lí luận Lê Ngọc Trà khẳng định: "Trong cuộc chạy đua ồ
ạt của nhân loại về tương lai, nhà văn không được quyền chỉ vỗ tay hoan hô
mà còn phải cảnh tỉnh, không có quyền chỉ chào đón những người anh hùng đang có đầy triển vọng mà còn phải nhìn thấy trước và báo động về nguy cơ cái xấu đang về đích trước hay cùng lúc với cái đẹp Đó là nghĩa vụ xã hội của văn học [76]
Cùng quan điểm trên, Thanh Thảo đã tuyên bố:
Cái đẹp là sự thật Hơn cả tắm trong lửa, trong nước, là tắm trong những ý nghĩ
Xuất phát từ một ý thức xã hội - thẩm mĩ mới, đầy tính trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ trước hiện thực, thơ ca giờ đây không chỉ là
những “chữ đẹp”, những chữ “ngọt ngào”, đã được dùng "quen tay đến nhẵn
mòn sờn rách" mà phải là "những chữ lấm lem đứng dậy từ đời thực" (thơ
Lưu Quang Vũ) Thơ sau 1975, do vậy, mang đậm màu sắc duy lý, với cảm hứng chủ đạo giàu tính nhân bản, đó là thức tỉnh lương tri, lòng nhân ái và
khát vọng của con người
Trang 201.1.2.2 Trước 1975, ý thức cộng đồng dường như trùm lấp ý thức cá nhân Cả nền thơ thống nhất trong ý thức cái tôi trữ tình chính trị Dù nhà thơ muốn hay không, tác phẩm của họ cũng phải đại diện cho quan điểm thẩm mỹ của một thời kỳ lịch sử nhất định, một bộ phận xã hội nhất định, xuất phát từ
ý thức chính trị nhất định
Sau 1975, ý thức về cái tôi đã có sự thay đổi, điều chỉnh và bổ sung tích cực, đó là cái tôi ý thức về mình như một cá nhân trước một hiện thực đời sống đa chiều Nó đã mở ra cho văn học nhiều đề tài, chủ đề mới mà trước đây chưa được khai thác, lí giải một cách sâu sắc, toàn vẹn Giờ đây, con người được nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ đa dạng với xã hội, với lịch
sử, với gia đình, với thiên nhiên và với bản thân mình Đó là con người được nhìn nhận trên cả bình diện ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, bản năng, tâm linh, từ góc độ số phận, thân phận Điều đó, dẫn đến sự đổi khác trong quan niệm cái tôi và đó là một sự mở rộng, bổ sung cần thiết cho thơ Việt Nam hiện đại Như vậy, xuất phát từ những tiền đề lịch sử- xã hội mới, thơ Việt Nam sau 1975 đã trở về với cái tôi cá nhân trên một nền tảng tư tưởng nhân văn thẩm mĩ mới Có thể nói, cái tôi trong thơ sau 1975 là một cái tôi
duy lý, giàu suy nghĩ với chiều sâu tâm tư nội cảm
Đi sâu khai thác thế giới nội cảm, các nhà thơ đã tự điều chỉnh thái độ thẩm mĩ của mình Có nghĩa là họ đã chủ trương lý giải cuộc sống bằng lăng kính chủ quan, lăng kính cá nhân, thông qua những trải nghiệm và nhận thức riêng, trên cơ sở đó mà phân tích, cắt nghĩa về cuộc đời:
Đời ngoài tuổi năm mươi Mong gì hương sắc lạ
Nở chùm hoa trên đá Mùa xuân không chịu lùi
(Hoa trên đá - Chế Lan Viên)
Trang 21Có thể khẳng định, sau 1975 thơ Việt Nam từ “âm hưởng anh hùng ca, thơ chính luận, thời sự chuyển sang những suy ngẫm, trải nghiệm về cuộc đời,
về nghệ thuật” [4] Nhà thơ Thanh Thảo, một đại diện tiêu biểu của nền thơ
chống Mỹ trong Khối vuông rubic, nhận thức rất rõ sự chuyển động ấy của
chính mình Nếu trước kia ông viết về hiện thực đời sống chiến tranh bằng giọng điệu sử thi và bút pháp lãng mạn đầy hào sảng và bay bổng thì sau
1975, thơ ông đầy chất lý sự, và tỉnh táo đến rạch ròi: “ Có nhà thơ tin rằng
đời bây giờ tỉnh quá Tôi ngược lại, tôi thích: tỉnh táo, tỉnh khô, tỉnh bơ, tỉnh như sáo, vì tôi biết cái tỉnh đó chỉ là phía nhìn thấy được của đam mê”
Những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật đó đem lại những sản phẩm nghệ
thuật mang tinh thần đổi mới
Từ đây, xuất hiện xu hướng cảm hứng thơ quay về các đề tài thế sự và đời tư với những suy tư cá nhân, những trăn trở đời thường Trong thơ giờ đây trỗi dậy những mô típ chủ đề vĩnh cửu như cái tôi, tình yêu, tình cảm gia đình, tình yêu thiên nhiên, vấn đề thân phận của con người Đây cũng là giai đoạn trỗi lên nhiều gương mặt thơ nữ với những cá tính sáng tạo mạnh mẽ, độc đáo như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Đoàn Thị Lam Luyến, Lê Thị Mây, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Dư Thị Hoàn, Giáng Vân, Phạm Thị Ngọc Liên, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly Ngay tên tác phẩm của họ cũng
thể hiện rõ bản sắc, cá tính riêng như: Tự hát (Xuân Quỳnh), Người đàn bà
ngồi đan (Ý Nhi), Lỡ một thì con gái (Đoàn Thị Lam Luyến), Em muốn giăng tay giữa trời mà hét (Phạm Thị Ngọc Liên), Khát, Linh (Vi Thùy Linh)
Trong các sáng tác này, các tác giả đi sâu khai thác những góc cạnh sâu kín tinh tế, phức tạp trong đời sống nội cảm của cá nhân Có thể nói, đó là một trong những đặc điểm mới của tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam sau 1975, góp phần tạo nên những giá trị thẩm mĩ mới của văn học giai đoạn này
Trang 22Tóm lại, chưa bao giờ khát vọng tìm diện mạo riêng, giọng điệu riêng lại da diết như hiện nay Các nhà thơ, mỗi người đều cố gắng đối mới và khẳng định phong cách cá nhân của mình Những đổi mới trong quan niệm về vai trò của chủ thể sáng tạo đem lại những thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận về đời sống cũng như hình thức nghệ thuật diễn tả trong thơ Việt Nam sau 1975 Đây cũng sẽ là động lực làm xuất hiện và mài sắc cá tính sáng tạo của nghệ sĩ
1.1.2.3 Thơ ca trước 1975 chủ yếu sử dụng thi pháp truyền thống Đó
là những quy phạm nghệ thuật, những nguyên tắc thẩm mỹ đã được hình thành từ trước đó và trở nên bền vững qua nhiều thời kỳ văn học Giọng điệu trong thơ chủ yếu nghiêng theo xu hướng mượt mà, êm ái, du dương và đến nay, điều đó vẫn chi phối trong dòng chủ lưu của thơ ca đương đại Sau 1795, trong văn học Việt Nam nói chung, thơ trữ tình nói riêng, trỗi lên nhu cầu tìm kiếm một lối viết mới tương ứng với những thay đổi trong nhận thức, quan niệm về thơ Do đó, ý thức cách tân, đổi mới về hình thức nghệ thuật ở nhiều tác giả hết sức mạnh mẽ, quyết liệt Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc, trong một sáng tác của ông, đã khẳng định:
Có gì không ổn
Có gì như bệnh tật Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sĩ Anh không muốn nhìn những gì mình đã vẽ Chính nước mắt hay máu tứa ra từ cái nhìn bền bỉ
Đã cho anh chiếc lăng kính này đây
Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại Nung chảy mình ra mà tìm lõi
Xé toang mình ra mà kết cấu
(Hội họa lập thể)
Trang 23Tuy nhiên, sự cách tân hình thức ấy không phải là sự chối bỏ tuyệt đối kinh nghiệm thơ truyền thống Vừa tiếp nối thơ truyền thống, đồng thời, bằng vốn sống và nhận thức thẩm mĩ phong phú tích lũy trong quá trình sáng tạo cá nhân, các nhà thơ đã không ngừng tìm tòi và nỗ lực cách tân thi pháp thơ Đây
là thời kỳ thơ đổi mới trên nhiều phương diện hình thức: thể loại, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, biểu tượng Tiêu biểu như trong sáng tác của Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Inrasara, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư… Trước đây, câu thơ êm ái, du dương Bây giờ, chủ yếu là thơ tự do không vần, lắm lúc câu thơ theo lối vắt dòng tự nhiên, kêu gọi sự tiết chế và gia tăng chất trí tụê, tư tưởng trong thơ, sử dụng thủ pháp, cách viết mới Sự sáng tạo làm mới cho thơ, đòi hỏi người nghệ sỹ phải nắm vững truyền thống và đồng thời phải biết phá vỡ quy phạm truyền thống Trên cơ sở đó, bản sắc cá nhân của nghệ
sỹ được khẳng định
Chính những đổi mới trong tư duy nghệ thuật đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ và tích cực của thơ Việt Nam sau 1975 Đấy là một dòng thơ mang tiếng nói cá nhân, đi sâu vào nội cảm, đời tư của con người Sự thay đổi của lịch sử xã hội dẫn đến sự thay đổi lớn trong văn học Mỗi người nghệ sỹ đều cố gắng tìm tòi cho mình một lối đi riêng và góp phần phát triển thơ ca
dân tộc, vươn lên với thế giới trong thời kỳ mở cửa giao lưu và hội nhập 1.2 Các chặng đường thơ Ý Nhi
1.2.1 Khái lược tiểu sử tác giả
Ý Nhi tên đầy đủ là Hoàng Thị Ý Nhi, sinh năm 1944, quê ở thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, lớn lên theo gia đình đi tản cư ở Hải Phòng và sống gần 30 năm ở Hà Nội, tốt nghiệp khoa văn trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội
Trang 24Sau khi tốt nghiệp Đại học, chị làm việc tại Viện văn học, biên tập thơ cho nhà xuất bản Tác phẩm mới Hà Nội, sau đó chuyển vào làm việc tại nhà xuất bản Hội Nhà văn thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến lúc nghỉ hưu Hiện nay chị sống ở Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1969, chị nhận giải khuyến khích cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ và con đường sáng tác thơ của Ý Nhi bắt đầu từ đây Từng làm nghiên cứu và biên tập thơ, Ý Nhi có thời gian học hỏi và tiếp xúc với nhiều cây bút giàu tâm huyết và cách tân Đây chính là bản lề khơi nguồn cho thơ Ý Nhi phát lộ và khởi sáng
Ý Nhi là một cây bút có phong cách riêng Với tập thơ Người đàn bà
ngồi đan (NXB Hội Nhà văn, 1985) Ý Nhi được nhận giải A của Hội Nhà văn
Việt Nam, và từ đó, chị đã thực sự khẳng định được tiếng nói riêng của mình
trong dòng thơ ca đương đại Chị đã xuất bản nhiều tập thơ, bao gồm: Trái
tim nỗi nhớ (in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ, 1974), Cây trong phố chờ trăng
(in chung với Xuân Quỳnh, 1981) ; những tác phẩm in riêng như: Đến với
dòng sông (1978), Người đàn bà ngồi đan (1985), Ngày thường (1987), Mưa tuyết (1991) Gương mặt (1991), Vườn (1998), Thơ tuyển (2000), Thơ với tuổi thơ (2002) Những năm gần đây Ý Nhi có những sinh hoạt đáng chú ý như: tổ
chức các CLB Thơ, tham gia bình chọn và giới thiệu các nhà thơ trẻ trên báo
chí Ngoài ra Ý Nhi còn viết tiểu luận chân dung văn học Những gương mặt
những câu thơ (2008) và viết truyện ngắn
1.2.2 Hành trình thơ Ý Nhi
Sau giải phóng (1975), ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ trong đời sống tinh thần xã hội cũng như trong thơ ca và điều đó đã tạo nên một sự khởi sắc thực sự cho nền thơ Việt Nam giai đoạn này Chính những dòng thơ dung dị nhưng chở nặng những suy tư về cuộc sống, con người đã tạo nên dấu ấn riêng của thơ Ý Nhi Đây là một giọng thơ có cá tính riêng, độc đáo Nếu
Trang 25trong những tập thơ đầu tay, Ý Nhi thường thể hiện cảm xúc một cách hồn nhiên, cảm tính, thì càng về sau, đặc biệt ở thời kỳ sau 1980, thơ chị càng nghiêng về tính triết luận, suy tư đậm nét với những hình ảnh - biểu tượng trùng phức, đa nghĩa
Con đường sáng tác của Ý Nhi trải qua nhiều chặng đường phát triển Nếu những tập đầu tay vẫn còn chịu ảnh hưởng khuynh hướng cảm hứng chung của thời đại - cảm hứng sử thi thì càng về sau thơ chị càng gia tăng chất thế sự, đời tư với những sắc thái thẩm mĩ độc đáo Sau đây chúng tôi sẽ
mô tả khái lược về hành trình thơ Ý Nhi qua những sáng tác tiêu biểu của chị
- Nỗi nhớ con đường (1974)
Đây là tập thơ Ý Nhi in chung với Xuân Quỳnh, người bạn thơ thân thiết của chị Hình tượng trung tâm của tập thơ này là hình tượng con đường qua “nỗi nhớ” của chủ thể trữ tình Nhà thơ đã tái hiện một thời chiến tranh
gian khổ nhưng hào hùng khi cả dân tộc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
Những con đường đất nước - chiến tranh cách mạng cứu nước đã tôi luyện nên phẩm chất của con người Việt Nam Nhớ về con đường là nhớ về mọi miền quê khô cằn sỏi đá, gió lào cát trắng và những cơn mưa bất chợt; là nhớ
về Đèo Ngang núi non trời biển hùng vĩ; là nhớ về những ngày đánh giặc trên đất Cảng, với những hiện thực mất mát khốc liệt Con người nén nỗi đau, nắm chặt tay nhau, động viên nhau từ ánh mắt đến trái tim, tất cả vì sự sống
còn của đất nước: Chỉ những mắt nhìn nhau/ rất lâu rất lâu/ để thành phố có
một gương mặt chung rất đanh, bền bỉ/ nhìn vào kẻ thù (Ngày đánh giặc)
Trên những con đường khói lửa chiến tranh, hình tượng con đường gắn với hình tượng Em (cô gái thanh niên xung phong, cô công nhân giao thông mở
đường đi cứu nước, cô dân quân vai súng tay cày…) Nỗi nhớ con đường là
niềm tự hào, ca ngợi những cô gái Việt Nam bình dị, dịu hiền mà hào hùng cao cả, vừa lạ lẫm vừa thân quen vì những khuôn mặt cháy nắng, những bàn tay đập đá mở đường phồng rộp…Tất cả đã trở thành “nỗi nhớ không nguôi” :
Trang 26Dẫu có gặp bao con đường khác dẫu nhiều cô gái trong cuộc đời này tôi gặp
em và con đường là nỗi nhớ không nguôi
(Nỗi nhớ con đường)
Cuộc sống chiến tranh, tình yêu và nỗi nhớ được Ý Nhi cảm nhận và đưa vào trong thơ những chi tiết chân thật, xúc động:
Những nơi nào em đã đặt bàn chân Nơi ấy mở ra con đường lạ
Con đường ấy vẫn xanh rì ngọn cỏ
Mở lối về mùa xuân
(Con đường của em)
Ý Nhi nhớ về con đường, về đất nước, về con người trong chiến tranh với tất cả niềm yêu thương, xúc động, khâm phục và tự hào Có lẽ vì thế mà
hình ảnh con đường trở thành nỗi nhớ thường trực trong thơ chị Vẻ đẹp của
con người Việt Nam với sự cộng hưởng của phẩm chất anh hùng, lý tưởng cao đẹp và tình yêu trong sáng, lãng mạn đã tạo nên chất thơ riêng của tập thơ này
- Đến với Dòng sông (1978)
Tập thơ này là sự bộc bạch những tâm trạng cảm xúc của nhà thơ trước hiện thực mới Chị nói về cuộc sống đất nước thời hậu chiến không phải bằng
sự tụng ca giản đơn, dễ dãi, mà bằng thái độ của người từ trong cuộc chiến đi
ra Vì thế, nỗi đau chiến tranh vẫn là một ám ảnh trong thơ chị Vết tích để lại
là nhà đổ nát, người mẹ mất con, người vợ mất chồng, chiếc cầu bị bom đánh đổ… Chị nói về cuộc sống hoà bình, dẫu phải đối mặt với bao điều gian khó, bên hố bom còn vương vãi những vỏ đạn, vỏ bom bi, đã là màu xanh của cỏ
non mơn mởn, và sự sống đang trỗi dậy mãnh liệt: Đất dữ dội những tháng
ngày đánh giặc/ Lại yên lành trong sắc đỏ cây xanh (Qua đường chín)
Trang 27Nếu ở Nỗi nhớ con đường vẫn còn giàu màu sắc cảm tính, mơ mộng với hình ảnh con đường thì Đến với dòng sông, nhà thơ nói nhiều về những
dòng sông mà chị đã gắn bó, đã đi qua với nhiều dáng vẻ, ở đó tâm trạng nỗi niềm của chị đã hoà nhịp cùng sự trưởng thành đi lên của đất nước Ở hai tập thơ này mang một hồn thơ dung dị trong sáng Những tình cảm trong sáng tươi trẻ ấy thể hiện trong lối thơ tự do, có sự kết hợp nhuần nhị yếu tố trữ tình
và tự sự với những liên tưởng, so sánh khá độc đáo Tuy nhiên, với hai tập này, thơ Ý Nhi vẫn còn lẫn vào "dàn đồng ca" của nền thơ Cách mạng
- Người đàn bà ngồi đan (1985)
Đất nước sau chiến tranh đặt ra bao điều khắc nghiệt, công cuộc đổi mới đất nước là tất yếu và dẫn đến đổi mới trong văn học, đòi hỏi các nhà thơ, nhà văn phải tích cực tự đổi mới trong tư duy sáng tạo nếu không muốn bị tụt hậu với thời cuộc Tập thơ này đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ của thơ Ý Nhi trong quan niệm sáng tạo Xuyên suốt tập thơ là toàn bộ hình tượng nhân vật “những người bạn đồng hành” và Ý Nhi thường soi mình vào trong đó để
vẽ nên chân dung tâm hồn của chính chị Từ thực tại, Ý Nhi luôn nhìn nhận
về quá khứ bằng bút pháp hồi tưởng, đối sánh với thực tại để tìm ra mạch nối
quá khứ - hiện tại trong sự đa chiều của cuộc sống Trong tập này, Người đàn
bà ngồi đan là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo về cái tôi nhà thơ và nhìn
rộng ra, là về tâm hồn người phụ nữ hiện đại Đây cũng là một hình tượng trung tâm xuyên suốt tập thơ với bao trạng thái đối nghịch và phức tạp:
Thiếu nữ đã là người đàn bà ở tuổi bốn mươi cam chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản đem cho và nhận về, kiếm tìm và đánh mất giản đơn và rối ren, lớn lao và cạn hẹp
(Về Thái Nguyên)
Trang 28Trong thơ Ý Nhi giai đoạn này, cảnh vật thiên nhiên cũng nhuốm màu tâm trạng, như hoá thân thành máu thịt cuộc đời, trở thành nỗi ám ảnh khôn
nguôi Nhìn mùa thu, hàng cây, con đường hay đứng trước Cát, Biển, Những
cây sồi bên Hồ Thuyền Quang, Rau me đất…Ý Nhi luôn thấy một nỗi lòng
“không xác thực” Giữa biển đời đầy sóng gió, người phụ nữ muốn được che chở, muốn được bình yên, an ủi như sự tĩnh lặng của sông Trà, như chùm rau
me đất “giữa độ đường không cây” Tâm trạng con người đã hoá thân thành
hình ảnh thơ qua một "ngôn ngữ" phân tích sâu sắc và tinh nhạy
Trong tập thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp đối lập nhằm bộc bạch nội tâm, câu thơ tự do, không vần, cách lập tứ vững vàng gây ấn tượng mạnh Tập thơ này là sự toả sáng của bản sắc thơ Ý Nhi trong dòng văn học đương đại
- Ngày thường (1987)
Ở tập thơ này, tác giả tập trung khắc họa những chân dung con người
từ góc độ "đời thường" Tuy nhiên, như thường thấy trong thơ chị, đấy đồng thời cũng là chân dung của những con người luôn khát khao vươn tới cái Chân, cái Thiện, tới những giá trị tinh thần cao quý Chu Văn Sơn nhận xét:
“Nhìn vào bất cứ chân dung nào cũng đều thấy rõ các nhân vật ở đây chỉ có một phong thái: giản dị đến khác thường từ xúc cảm đến hành vi, chỉ có một
tư thế: đối diện với chính mình, chỉ có một trạng thái tinh thần: nỗi dày vò ám ảnh bởi đau đớn cùng cực, bởi khát khao cháy bỏng, bởi sợ hãi không nguôi, hay bởi một niềm lo âu nào đó vẫn theo đuổi như chiếc bóng không thể nắm giữ cũng không thể lìa bỏ” [58]
Với giọng triết luận - tâm tình trực diện và giản dị, Ý Nhi đã chạm khắc
chân dung của một người đàn bà “đời thường”: loay hoay trang sách cũ…
quần của con cần xuống gấu / gạo hết, lo xếp hàng / đấu tranh cho sự cân bằng của giá cả Trước cuộc đời, người đàn bà phải đối diện với biết bao lo
Trang 29toan vất vả Họ phải vượt lên mọi thử thách, mọi cám dỗ của đời thường để luôn giữ được những giá trị tinh thần tốt đẹp Hình tượng thơ với bao trạng thái đa chiều vẫn toát lên vẻ đẹp thầm lặng mà cao cả Ấy chính là biểu tượng
chung của người phụ nữ chân thật, bản lĩnh, không chút tô vẽ Trong Ngày
thường, Ý Nhi cũng bày tỏ thái độ kính trọng, ngưỡng mộ của chị với những
người nghệ sỹ nổi tiếng xưa và nay Họ vừa hiện lên những nét đẹp đời thường vốn có vừa dung dị, gần gũi mà đáng khâm phục về tài năng, nhân cách như Hàn Mặc Tử, Nguyễn Du, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu… Ở đây, qua việc vẽ nên chân dung tinh thần của những người nghệ sĩ mà chị ngưỡng mộ, nhà thơ cũng đồng thời vẽ nên bức chân dung tinh thần độc đáo của tâm hồn chị
Với câu thơ tự do, cùng sự kết hợp đa dạng những câu dài ngắn khác nhau, cách ngắt nhịp, gieo vần tự nhiên, linh hoạt, cho phép Ý Nhi thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của mình về đời sống một cách tự nhiên mà không bó buộc Bằng sự suy ngẫm, chiêm nghiệm từ cuộc sống hiện thực, Ý Nhi đã viết nên những câu thơ mang đậm tính triết lí nhân sinh:
Giọt nước mắt ràn rụa qua gương mặt hạnh phúc
nụ cười cay đắng trước trò đùa nghiệt ngã của số phận cái giá của tự do
mặt trái của quyền lực
(Nhà thơ và cái hồ nhỏ)
Từ tập Ngày thường cho đến Mưa tuyết, Gương mặt (1991), Ý Nhi đã
“đi tới nhưng bông tuyết nhẹ nhàng, tinh trong buốt giá đến với những ứng xử tâm tình, với chất thơ của sự trầm tĩnh và thoang thoảng một khí vị thiền” (Chu Văn Sơn)
Mưa tuyết (1991) cho ta thấy tình yêu sâu nặng của Ý Nhi dành cho các
thiên tài nước Nga: Maria Xvetaeve, Akhmatova, Borit Pastesnak…Nhà thơ
Trang 30bày tỏ sự ngưỡng mộ với những tài năng và nhân cách cao khiết và luôn
nguyện cầu mọi điều tốt đẹp, bình yên thanh thản cho họ: chưa một lần gặp
gỡ/ hàng đêm / bà nguyện cầu cho sự bình yên cho người ấy Ta bắt gặp ở
đây những hình ảnh thơ đầy tâm trạng (Maria Xvetaeve, Quà tặng, Chiều
xuân, Thư, AlmaAta, Trong mùa thu…) Trong Gương mặt, những chân dung
nghệ sỹ được nhà thơ khắc họa đều là những nhân cách sáng tạo đẹp đẽ Bằng tài năng của mình, họ đã vượt qua tất cả mọi hệ lụy phàm tục của đời sống để đạt đến cõi “đắc đạo” - sự tự do tinh thần tuyệt đối:
nội tâm nhằm khẳng định cái “thiên lương” cao quý của con người
- Vườn (1998)
Dường như Ý Nhi đã chắt lọc, dồn nén rất nhiều cung bậc, cảm xúc,
tâm trạng của mình vào trong tập Vườn Nói như Lưu Khánh Thơ, “Đây là tập
thơ bộc lộ nhiều khoảnh khắc tâm trạng - tâm trạng được dồn nén bởi suy tư
và cảm xúc Ngôn ngữ là ngôn ngữ văn xuôi chắt lọc, giàu suy tưởng và hết
sức kiệm lời, nhịp điệu trong thơ là nhịp điệu của tâm trạng” [72] Đây là tập thơ bộc lộ sự dịu dàng, đằm thắm mà đầy nữ tính với tình cảm yêu quê
hương, niềm hoài niệm và đặc biệt là tình yêu Trong tập thơ này tác giả viết nhiều về chủ đề như tình yêu, thiên nhiên, quê hương
Trang 31Những hoài niệm về quá khứ, về thiên nhiên dịu dàng, đằm thắm “với ngôn ngữ thơ văn xuôi chắt lọc, giàu suy tưởng hầu như đã tước bỏ hết những rườm rà, hoa lá để trang điểm cho các bài thơ với từ ngữ cô đọng nhưng đã
làm thành một phong cách thơ riêng” [72]
1.2.3 Sự đổi mới của thơ Ý Nhi qua các chặng sáng tác
Với 8 tập thơ, Ý Nhi đã trải qua một quá trình lao động sáng tạo miệt mài và bền bỉ Hành trình sáng tạo ấy cho thấy một hồn thơ nhạy cảm, giàu tinh thần trách nhiệm xã hội và có ý thức cao trong sáng tạo nghệ thuật
Nhìn chung, có thể chia sáng tác của Ý Nhi thành hai giai đoạn chính: trước và sau 1985 Trước 1985, chủ yếu chi phối thơ chị vẫn là âm hưởng sử thi Sống trong cuộc chiến và cuộc chiến vừa mới đi qua, Ý Nhi đã thể hiện tất cả trong thơ những gì mà chị trông thấy Đặc biệt không khí của chiến tranh đối với các cô thanh niên xung phong là dư âm còn lại, là kỷ niệm về thời đã qua Về hình thức chủ yếu vẫn là thơ năm chữ và thơ tự do Biện pháp
tu từ thường được sử dụng là so sánh và điệp ngữ Tính trực cảm vẫn chi phối đậm nét trong sáng tác của chị giai đoạn này
Tuy nhiên, trên hành trình sáng tạo cá nhân, Ý Nhi luôn có ý thức ráo
riết tìm tòi và đổi mới Với tập thơ Người đàn bà ngồi đan (1985), Ý Nhi đã
khẳng định được một lối viết mới, khác với thời kỳ trước Càng về sau, sự cách tân trong thơ Ý Nhi càng mạnh mẽ, chị dứt khoát vứt bỏ lối “làm thơ ngòn ngọt dễ dãi của một thời, tìm tới một bút pháp mới chắc thực, hiện đại” [63] Nhìn chung, thơ Ý Nhi có cách lập tứ và cấu trúc hiện đại Bằng lối nói giản dị, kiệm lời nhưng giàu suy tưởng, thơ Ý Nhi càng ngày càng đậm chất triết lí, chất tượng trưng, điều đó khiến tác phẩm của chị luôn “ở dạng chất liệu đơn sơ của sự trầm tích”, “ẩn ngữ” [70], không dễ hiểu song rất giàu sức nghĩ, sức gợi
Có thể nói, con đường sáng tác thơ đã phản chiếu trung thực cuộc đời của chính Ý Nhi - cuộc đời “Người đàn bà làm thơ” Sự tự ý thức và nỗ lực
Trang 32đổi mới trong sáng tác đã tạo nên cá tính độc đáo của thơ chị Hành trình sáng tạo của Ý Nhi đồng thời cũng chính là hành trình tìm kiếm cái diện mạo chân thật của bản ngã, đó là hành trình dài dặc không dễ dàng và luôn phải tiếp tục
Bởi đó là hành trình đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, của khát vọng và lý tưởng
1.3 Quan niệm về nghệ thuật của Ý Nhi
1.3.1 Quan niệm về nhà thơ
Là một nhà thơ có ý thức cao về nghệ thuật, về sứ mệnh của người nghệ sỹ, luôn khao khát được thể hiện ngòi bút của mình trong suốt chặng đường thơ, Ý Nhi không ngừng suy ngẫm, trăn trở về công việc sáng tạo nghệ thuật, về đối tượng của nghệ thuật và về cái đẹp trong thơ Theo chị, người cầm bút phải có lương tâm, trách nhiệm với những gì mình viết ra Không lẩn tránh, không thoái thác, thậm chí tự nguyện chấp nhận số phận nghiệt ngã,
chịu lấm bùn từ đầu đến chân”(Thanh Thảo) Trong sáng tác, Ý Nhi luôn giữ
một nguyên tắc “chỉ viết khi nào nội tâm có nhu cầu” [52] Thơ, với chị hoàn toàn không phải là một thứ trang sức, nó thực sự là tiếng nói của những dồn nén, bức bách mãnh liệt nội tâm trước những vấn đề của đời sống nhân sinh
Nó đòi hỏi người cầm bút không chỉ có tài năng mà còn phải có lương tri và bản lĩnh Nói cách khác, công việc sáng tạo luôn đòi hỏi một ý thức trách
nhiệm xã hội rất cao ở người nghệ sĩ Vì vậy mà khi đứng trước “một miền cát
nóng” thực chất cũng là đứng trước hiện thực cuộc đời, chị đã cất lên lời thơ
thật gan ruột, chân thành:
Dù chỉ một lần bước đi trên cát chỉ một lần thấu hiểu khúc ca kia suốt đời tôi chẳng thể bao giờ đặt bút viết những điều dối trá
(Bài ca)
Trang 33Cũng theo Ý Nhi, người “làm thơ cũng như người thầy thuốc đều có điểm chung rất quan trọng đó là sự nhạy cảm” Quả vậy, nếu nhà thơ không
có sự nhạy cảm thì khi đứng trước một khung cảnh, một cuộc đời đầy xúc động không thể viết lên những câu thơ hay làm lay động lòng người được Nhà thơ Thanh Thảo đã nói: “Sức sống của thơ ca là cảm giác nhưng thơ không thể hoàn toàn là cảm giác mà từ những cảm giác giản dị tự nhiên thơ cần khơi gợi, đánh thức những phần sâu kín của bản thể đó chính là cái kỳ lạ của thơ” [36] Từ cái nhìn ấy, mà mỗi miền đất nhà thơ đã từng sống và đi
qua đều trở thành dấu ấn trong thơ chị Chẳng hạn như về Thái Nguyên,
Quảng Bình, Trung Du, Đà Lạt, Hà Nội… ở đó mỗi địa danh là những kỷ
niệm vui, buồn gắn với những trạng thái tâm trạng phức hợp khác nhau Tất
cả những trạng thái ấy được thể hiện rõ trong thơ chị Đến với thơ, chị sẵn
sàng chấp nhận những khó khăn gian khổ, chấp nhận nghèo khó, chấp nhận đơn độc Bỏ lại sau lưng những ham muốn những đam mê vật chất tầm thường, hành trang của chị chỉ có “bài ca” - khát vọng sáng tạo nghệ thuật:
Tôi làm ra bài ca
tự mình tôi hát
tự mình khổ đau
tự mình hạnh phúc tôi một mình lạc bước giữa trùng khơi
(Gửi một người bạn đọc)
Từ góc nhìn "đời thường", chị ví công việc của người làm thơ cũng giống như người phụ nữ ngày thường phải biết "tính toán", "cân, đo, đong, đếm" và phải biết pha chế thực phẩm để cái đích cuối cùng hướng tới chính là
“vẻ đẹp thực chất của bữa ăn”, là đem lại niềm hạnh phúc cho mọi người
Cho nên, có lần tâm sự với các nhà thơ trẻ, chị đã nói: “Tôi nghĩ nhà thơ trẻ cần có quan niệm triết học hẳn hoi về làm thơ,… làm thơ rất cần đến kỹ thuật
Trang 34cao về sử dụng ngôn từ, nhưng cần hơn lại là một bản lĩnh, là nội lực ” (Đối
thoại với văn chương)
1.3.2 Quan niệm về thơ
Ý Nhi cũng bày tỏ một quan niệm khá sâu sắc và toàn diện về thơ Trước hết, thơ là “một ký thác, một bộc bạch, trước hết với chính mình và hơn thế nữa như một lựa chọn, một thái độ của người trong cuộc ” [9] Với chị, thơ gắn liền với khát vọng hoàn thiện tâm hồn và cuộc sống Cho nên, làm thơ là phải thành thực Thành thực, đó chính là vẻ đẹp cốt yếu của thơ
Trong một lần nói chuyện với phóng viên báo Thể thao và văn hoá, chị đã nói
rõ quan niệm đó: “Từ trước đến nay, tôi chỉ viết thơ khi nào nội tâm có nhu cầu chứ không bắt mình phải làm thơ vì bất cứ một lý do nào, kể cả cái tiếng nhà thơ” [52] Chị còn nhấn mạnh: “Về xúc cảm - phẩm chất cao nhất là sự thành thực Về hình thức cần đạt tới sự giản dị” [59]
Với Ý Nhi, thơ là “tinh chất gạn lọc từ bùn bẩn, từ đau thương, cùng
quẫn”, nó gắn liền với cuộc sống và luôn hướng tới việc phục vụ đời sống
nhân sinh Đặc biệt khi cuộc sống thực tại luôn là sự đan xen giữa sự thật và giả trá, cái tốt và cái xấu luôn song hành tồn tại, mỗi câu thơ phải được nung nấu trong sâu thẳm tâm hồn thì thơ ấy mới có khả năng thanh lọc và thức tỉnh, hay nói như Ý Nhi, mới có thể đem lại “niềm vui, niềm hạnh phúc” đích thực
Có một lần đọc thơ trên đất Mĩ, Ý Nhi đã nhấn mạnh vai trò to lớn của thơ:
“Tôi có cảm tưởng chính trong đời sống hiện đại căng thẳng, người ta lại cần đến thơ như một sự nương tựa tinh thần” [44], bởi “con người không thể là cỗ máy, không thể sống như một cỗ máy vô hồn, vô cảm” [22]
Nhưng làm thơ làm nghệ thuật cũng chính là hành động tìm kiếm và sáng tạo cái đẹp Đó là công việc vinh quang và nhọc nhằn, bởi sáng tạo cũng
đồng nghiã với việc phải biết : tự mình lìa bỏ/ những giá trị đã một đời xây
đắp Phải biết “ tự bước ra khỏi lối mòn” nó đòi hỏi không chỉ tài năng mà
Trang 35còn là “ một lương tâm trong sạch”, một bản lĩnh “mạnh mẽ” Do đó nghệ thuật đích thực bao giờ cũng hội tụ trong đó một vẻ đẹp phi thường, cao khiết: Câu thơ/ lan toả như sóng/ quậy cựa như sóng/ trắng xóa/ và xanh biếc
(Tặng một người làm thơ trẻ) [56] Nhìn chung, Ý Nhi đã sớm ý thức về thơ,
về nghệ thuật như một hành động sáng tạo Đặc biệt Ý Nhi có quan niệm rất tích cực trong vấn đề cách tân hình thức Theo chị, “hình thức là sự hiện diện nghệ thuật của từng nghệ sỹ Không có cái hình thức đó thì cũng chẳng bao
giờ có nghệ thuật” [22] Song, mặt khác, chị cũng cho rằng: Những câu thơ
hay nhất của mình / lại vô cùng giản dị” Thơ đạt tới sự trong sáng, giản dị sẽ
bay xa và có sức sống lâu bền hơn trong lòng độc giả Giản dị có nghĩa là
không màu mè, không giả dối, nhưng nó có khả năng diễn tả một cách chính xác và ngắn gọn nhất bản chất của đối tượng Ngôn ngữ là chất liệu đặc thù của thơ ca Theo Ý Nhi, ngôn ngữ thơ phải là ngôn ngữ giản dị, chân thật
Ngôn ngữ ấy phải biết “chắt lọc” để tự mình “bước ra khỏi lối mòn” Như vậy
là giản dị chứ không phải đơn giản, tự nhiên chứ không phải dễ dãi Ngôn ngữ
đó phải là kết quả của một sự tìm tòi có ý thức Những hình ảnh trong thơ Ý Nhi cũng là những hình ảnh bình thường, giản dị nhưng có sức gợi lớn Nhà thơ tước bỏ những từ ngữ, hình ảnh màu mè đến gần cái giản dị như là cái bản chất đích thực của đời sống và sự sáng tạo nghệ thuật
Có thể nói, trong tư cách một nghệ sĩ, một nhà thơ, Ý Nhi đã góp một tiếng nói mạnh mẽ, độc đáo và tích cực trong sự đi lên của nền văn học trong thời kỳ Đổi mới Thơ chị gắn bó với đời sống hiện thực sau chiến tranh, là sự kết tinh sâu sắc những suy nghĩ, những trải nghiệm của nhà thơ với hiện thực cuộc sống Thơ chị thể hiện rõ ý thức trách nhiệm của một người nghệ sĩ chân chính luôn xác định chỗ đứng của mình trong đời sống hôm nay
Trang 36Chương 2ĐẶC SẮC THƠ Ý NHI TRÊN PHƯƠNG DIỆN
CẢM HỨNG VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Ý Nhi
Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, là cảm xúc say đắm được thể hiện sâu sắc, nhuần nhuyễn trong tác phẩm nghệ thuật Nó là tư tưởng, là linh hồn của tác phẩm, gây tác động và truyền cảm, hấp dẫn đến người đọc Có thể nói, cảm hứng chủ đạo chỉ nội dung chủ yếu của tác phẩm, chỉ thái độ nhiệt tình, đam mê xuyên suốt sáng tác của người nghệ sỹ Cho nên, có thể xem “cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm” [34; 18]
Nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Cách mạng Trong không khí lịch sử hào hùng, dù còn nhiều đau thương, gian khổ nhưng tâm hồn con người Việt Nam luôn hướng về lý tưởng, về tương lai tươi sáng của đất nước
Đó là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để giúp họ vượt qua mọi khó khăn thử thách Điều đó đã được thể hiện đậm nét trong thơ ca:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
(Theo chân Bác - Tố Hữu)
Sau 1975, cùng với sự thay đổi của điều kiện lịch sử - xã hội, cảm hứng thơ đã nhanh chóng chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng trữ tình thế
sự - đời tư Cùng với nhiều cây bút trưởng thành trong thời chống Mỹ như: Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ , Ý Nhi là một trong những nhà thơ nhanh chóng bắt nhịp
Trang 37với hiện thực cuộc sống mới, với một nhãn quan nghệ thuật nhạy bén, giàu suy tư nhưng không kém phần sâu sắc và tinh tế Những sáng tác của chị thường nghiêng về duy lý, với cái nhìn phân tích, tỉnh táo về đời sống hiện thực và nội tâm con người
2.1.1 Cảm hứng phân tích
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi hiểu khái niệm "cảm hứng phân tích" như là một loại cảm hứng mô tả gắn liền nhu cầu cắt nghĩa, lí giải một cách tỉnh táo về đời sống và nội tâm con người Bị chi phối bởi cảm hứng phân tích này, nhà thơ thường cố gắng "bóc tách", "phân chia" các sự vật hiện tượng, nhất là các trạng thái tinh thần, xúc cảm, đời sống phức tạp và mơ hồ, xem xét chúng từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau để tìm ra các đặc điểm, quy luật mang tính bản chất Điều này xuất phát từ nhu cầu nhận thức đời sống một cách chính xác và khách quan, vượt lên những ấn tượng "mù mờ", chung chung bề mặt (dĩ nhiên, đây là sự "chính xác" và "khách quan" của nghệ thuật) Đây cũng là kết quả của một kiểu tư duy "duy lí" của con người hiện đại, nhằm tìm ra những ý nghĩa, giá trị nhân sinh phổ quát đằng sau bề mặt của sự vật, sự việc cụ thể, cảm tính
Sau 1975, đặc biệt là từ 1985 trở đi, sáng tác của Ý Nhi đã chuyển sang hướng mới với cách mô tả cuộc sống mang đậm cảm hứng phân tích, lý giải Cảm hứng phân tích này luôn gắn liền với một nhãn quan nhận thức cá nhân sâu sắc và tỉnh táo Hiện thực đời sống trong thơ chị, do vậy, bao giờ cũng đa chiều, phức tạp, không hề giản đơn Nếu như Xuân Quỳnh người bạn thân thiết của nhà thơ, chị thường “thổ lộ những cảm xúc mãnh liệt nội tâm hơn là mục đích truy cầu một sự phân tích lý giải” [56], thì trong thơ Ý Nhi thường trỗi lên cảm hứng phân tích, lý giải về cuộc đời, về con người Do vậy, thơ chị
thường xuất hiện nhiều những từ ngữ như nhận thức, thấu hiểu, nhận biết,
biết, hiểu, nghĩ Nhu cầu phân tích, lí giải cũng làm xuất hiện phổ biến trong
Trang 38thơ chị nhiều hình thức câu hỏi, câu kể, tả, câu cắt nghĩa, định nghĩa ; cách
mô tả sự vật trong thế đối lập, trong những mâu thuẫn, nghịch lí Tương ứng với cảm hứng phân tích ấy thường là một giọng điệu chậm, trầm, rành rọt, tỉnh táo và đầy ưu tư Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng màu sắc duy lí độc đáo của thơ Ý Nhi Chị “nhìn cuộc đời trong sự đối lập, mâu thuẫn có tính phổ quát Trong thơ chị bức tranh cuộc đời hiện lên hết sức phức tạp, đầy những nghịch lý và không dễ nắm bắt bằng vẻ bề ngoài Motip hình ảnh con người với những trạng thái cảm xúc, suy tư đối lập chói gắt trở
đi trở lại trong thơ chị: Thiếu nữ đã là người đàn bà ở tuổi bốn mươi/ Cam
chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản/ Đem cho và nhận về, kiếm tìm và đánh mất/ Giản đơn và rối ren, lớn lao và cạn hẹp (Về Thái Nguyên); Tôi thường đợi mùa thu với nỗi lòng không xác thực/ Vừa hân hoan vừa ưu phiền/ Vừa mong ngóng vừa ngại ngùng (Mùa thu) [56]
Trước hết, cảm hứng phân tích này được bộc lộ rõ trong cách mô tả nội tâm cái tôi chủ thể Nhà thơ nhận thấy trong tâm hồn mình, niềm vui,
hạnh phúc xen lẫn nỗi cay đắng, nó luôn “dày vò như một chứng bệnh” Dù ít
nói với vẻ bề ngoài trầm tĩnh, khiêm nhường lạ lùng nhưng trong tâm hồn chị
luôn chan chứa một ngọn lửa “hoả tâm” Và chị bộc bạch rất thành thực:
“nhiều khi tôi khóc vì chính cái khiến những người quanh tôi vui sướng/ và lại muốn thét lên khi mọi người yên lặng (Tiểu dẫn) Trong thơ, Ý Nhi thường
ít khi bày tỏ những cảm xúc ồn ào trực diện, chị thường nghiêng về những suy tư, nghĩ ngẫm, những phân tích về cuộc đời nhiều hơn Ngay cả khi bày
tỏ cảm xúc, cảm xúc ấy cũng gắn liền với một nỗ lực nhận thức, tra vấn không ngừng về cuộc sống Trong một cảm hứng tự mô tả và cũng là tự phân tích về chính cuộc đời mình, chị viết:
Nhiều khi ta làm hỏng đời mình như đứa trẻ vụng về
Trang 39nhiều khi ta bị đánh gục đúng vào lúc không hề tự vệ nhiều khi ta đơn độc
nhiều khi số phận buộc ta phải nhìn thấy bộ mặt thật của
ai đó buộc ta do dự khi đặt chân lên con đường dường như ta ít ngạc nhiên hơn
khó đau đớn hơn nhưng cũng chẳng khôn ngoan hơn mấy nỗi
(Gửi bạn)
Với tâm thế của“người đàn bà tìm về kết cục” và “đang đứng kề bên
cái vạch nhỏ xíu”, cái còn lại trong tâm trạng của nhà thơ vẫn là nỗi lo âu
“không thể nắm giữ/ không thể lìa bỏ” Nhà thơ luôn nhận thức sâu sắc về
cuộc đời trong tính hai mặt, trong những mâu thuẫn, nghịch lí chói gắt của nó:
vừa hân hoan, vừa ưu phiền/ vừa mong ngóng/ vừa ngại ngùng… Chị đặc biệt
nhạy cảm trước những “cái vạch nhỏ xíu” - những lằn ranh giới mong manh giữa sống/ chết, mất/ còn, hạnh phúc/ bất hạnh, vinh quang/ điểm nhục
trong đời sống của con người Cũng cần nói thêm rằng, sự phân tích này không chỉ là kết qủa của một tư duy duy lí sắc sảo, tỉnh táo, mà còn là kết quả của những rung động nội tâm trầm tĩnh và sâu sắc, nó tạo nên một sự bén nhạy như là trực giác, với những "linh cảm" lo âu mơ hồ mà chính xác:
Tôi không sao tránh được lo âu trước mỗi độ thu trước chiếc lá chợt ánh vàng
trước ngọn gió may
và đường chân trời xám bạc nỗi lo âu vốn có trong mỗi niềm hạnh phúc
mỗi khi lòng ta đối diện với những gì trong sạch
Trang 40những gì như mùa thu
Suốt thời tuổi trẻ tôi chỉ gặp nơi ông ánh nhìn gay gắt chỉ đọc nơi ông câu thơ dữ dội những lời lẽ gớm ghê, khinh bạc
Chợt đằng sau ánh nhìn gay gắt nọ tôi nhận thấy nỗi u buồn
đằng sau những lời lẽ ồn ào, cay nghiệt tôi nhận biết nỗi cô đơn
Gay gắt và u buồn
ồn ào và đơn độc ông đã từng khao khát yêu thương khao khát được chở che
khao khát được dịu dàng
(Cái chết của nhà thơ)