1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh chế độ bầu cử ở Việt Nam và Hoa Kỳ

28 300 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 694,47 KB
File đính kèm Pháp luật.rar (684 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là tiểu luận so sánh chế độ bầu cử ở Việt Nam và Hoa Kỳ, tìm hiểu sâu về khái niệm chế độ bầu cử, các quy trình bầu cử ở Hoa Kỳ, bầu cử ở Việt Nam từ đó rút kinh nghiệm hoàn thiện chế độ bầu cử ở Việt Nam trong thực trạng hiện nay

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

TP.HCM, ngày … tháng….năm…… GIẢNG VIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của tiểu luận

3 Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH BẦU CỬ

1.1 Khái niệm, bản chất của chế độ bầu cử

1.1.1 Khái niệm về chế độ bầu cử

1.1.2 Bản chất, giá trị dân chủ của chế độ bầu cử

1.2 Vị trí, vai trò của chế độ bầu cử

1.5.1 Khái niệm và bản chất của đơn vị bầu cử

1.5.2 Những ưu điểm và hạn chế của đơn vị bầu cử nhiều đại diện và đơn vị bầu cử

một đại diện

CHƯƠNG II: CHẾ ĐỊNH BẦU CỬ CỦA HOA KỲ

2.1 Tóm lược vè Hoa Kỳ và bầu cử ở Hoa Kỳ

2.1.1 Khái niệm và vai trò bầu cử và nguyên tắc bầu cử của Hoa Kỳ

2.1.2 Quyền bầu cử, ứng cử

Trang 3

2.2 Quá trình bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ

2.2.1 Bầu cử sơ bộ

2.2.2 Đại hội Đảng

2.2.3 Tổng tuyển cử

CHƯƠNG III: CHẾ ĐỊNH BẦU CỬ CỦA VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY

3.1 Khái quát về sự phát triển của chế độ bầu cử từ 1945 đến nay

3.4 Các tổ chúc phụ trách bầu cử, hướng dẫn bầu cử, phương pháp xác định kết quả

bầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

3.5.1 Các tổ chức phụ trách bầu cử

3.5.2 Phương pháp xác định kết của bầu cử

3.5.3 Bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

CHƯƠNG IV: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ BÀU CỬ NƯỚC

TA TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN TẠI

4.1 Nhu cầu hoàn thiện chế độ bầu cử

4.2 Quan điểm hoàn thiện chế độ bầu cử

4.3 Giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Điểm 3 Điều 21 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc thông quanăm 1948 đã trịnh trọng tuyên bố: “Ý chí của nhân dân là cơ sở quyền lực của nhà nước, ý chínày phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử thường kỳ và chân thực, được tổ chức theo nguyêntắc bình đẳng, phổ thông đâu phiếu và bỏ phiếu hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tươngđương” Điều 25 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng quy định

rõ ràng: “Mọi công dân, không có sự phân biệt nào…và không có sự hạn chế bất hợp lý nào,đều có quyền và cơ hội để: a) Tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trựctiếp hoặc thông qua những người đại diện được họ tự do lựa chọn; b) Bầu cử và ứng cử trongcác cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằmđảm bảo cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình…” Như vậy, ý chí của người dân được xem lànền tảng của quyền lực nhà nước Thông qua bầu cử, nhân dân thể hiện được ý chí của bản thân

để lựa chọn ra các chức danh đại diện cho mình thực hiện quyền lực trong bộ máy nhà nước.Bầu cử tự do và công bằng được xem là tiền đề của nền dân chủ, là phương pháp hợp pháp nhấttrong số các phương pháp hợp pháp để thành lập chính quyền Trong khoảng 3 thập kỷ gầnđây, cách thức tổ chức, quản lý, quy trình, thủ tục và phương pháp tổ chức bầu cử ở nhiều quốcgia trên thế giới đã cso nhiều sự thay đổi rất lớn, một phần là để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

về quyền làm chủ của người dân, phần khác để áp dụng những thành tựu vượt bậc của khoa họccông nghê, đặc biệt là công nghệ thông tin và hoạt động tổ chức bầu cử

Sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào cộng động quóc tế cũng như sự phát triển nhanhchóng về mọi mặt của Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu cấp thiets về hoàn thiện pháp luậttrên nhiều lĩnh vực, trong đó có pháp luật về bầu cử Xuất phát từ chính lý do đó, nhóm chúng

em đã chọn đề tài: ‘Chế định bầu cử của Việt Nam và Hoa Kỳ” để nghiên cứu và làm bài tiểuluận với mục đích khái quát về một số quy tắc bầu cử của Hoa Kỳ, phân tích các ưu – khuyếtđiểm của quuy trình để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quý giá nhằm hoàn thiện hơn nữa chế

độ bầu cử ở Việt Nam Việc chọn đề tài ‘So sánh chế định bầu cử của Việt Nam và Hoa Kỳ” sẽ

là cơ hội tốt nhất để nghiên cứu sâu hơn về chế định bầu cử ở Việt Nam trên cơ sở đối chiếu, sosánh với pháp luật Hoa Kỳ về các quy định tương ứng và các quy định khác biệt

Trang 5

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Với mục tiêu có cái nhìn tổng quan và cụ thể hơn về chế định bầu cử của Việt Nam trên

cơ sở nghiên cứu so sánh với pháp luật Hoa Kỳ, nhận diện những mặt tiến bộ và phù hợp củapháp luật Việt Nam để tiếp tục duy trì và phát huy Chính vì mục tiêu trên, nhóm chúng em đãtập trung nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến bầu cử, các nội dung, quy trình và các nguyêntắc tham gia bầu cử Trên cơ sở đánh giá những điểm khác nhau và tương đồng giữa pháp luậthai nước về chế định này, nhận xét và đưa ra quan điểm để hoàn thiện về chế độ bầu cử ở ViệtNam, nhóm chúng em đã quyết tâm đi sây nghiên cứu bằng hết khả năng của mình Tuy nhiên,

vì lần đầu chúng em tiếp cận nghiên cứu theo một hướng mới, trình độ còn hạn chế, nên tiểuluận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập và hạn chế Chính vì vậy, chúng em rất mongnhận được mọi ý kiến phê bình và đóng góp của giảng viên

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận và thống kê được sử dụng phói hợp, kết hợp để làm sáng tỏ nhiệm vụtừng mục, từng chương và toàn bộ tiểu luận

Phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác – Leenin, tiểu luận sử dụng cácphương pháp nghiên cứu: phan tích, tổng hợp; phương pháp phân tích theo hệ thống; phươngpháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp so sánh,…để giải quyết các vấn đề đặt ra trongtiểu luận

Phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Mụcdích của sử dụng hai phương pháp này là tiếp thu những nội dung tiến bộ, hợp lý của chế độbầu cử ở nước ta trong các giai đoạn trước đây và với Hoa Kỳ

Trang 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH BẦU CỬ

1.1 Khái niệm, bản chất của chế độ bầu cử

1.1.1 Khái niệm về chế độ bầu cử

Bầu cử đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, từ trong chế độ cộng sản nguyênthủy đến các cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến Bầu cử là một loại hoạt động xã hộimang nhiều tính lựa chọn của con người, nó phát triển cùng với quá trình phát triển của conngười và bầu cử ngày càng mang tính chính trị - pháp lý sâu sắc Trong xã hội hiện đại, đối vớicác quốc gia dân chủ, bầu cử là một hoạt động và là chế định khó có thể thiếu trong cơ chế thựchiện quyền lực nhân dân

Chế độ bầu cử là một khái niệm có nội dung

phong phú, trên các diễn đàn trong nước cũng như

quốc tế, nó được xem xét dưới phạm vi và mức độ

khác nhau Như vậy, chế độ bầu cử là tổng thể các

quy định của pháp luật của một nước bao gồm các

nguyên tắc bầu cử, các quy định của pháp luật về

quyền bẩu cử, quyền ứng cử, vận động tranh cử, đơn

vị bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, việc quản trị

bầu cử, cách thức, trình tự tiến hành bầu cử, các biện

pháp đảm bảo trật tự bầu cử, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình bầu cử, quy định trật

tự bầu ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, nhằm “chuyển hóa” ý chí của nhân dânđược thể hiện trong những phiếu bầu thành cơ quan đại diện Chế độ bầu cử không nhữngquyết định ứng cử viên, đảng phái chính trị, lực lượng xã hội nào được bầu chọn, mà nó cònquyết định cách thức chuyển hóa quyền lực từ nhân dân sang cho người đại diện

Chế độ bầu cử là một phần của pháp luật, là công cụ để chuyển hóa từ quyền lực chínhtrị thành quyền lực nhà nước, nó chuyển hóa và phản ánh tương quan quyền lực của các đảngphái chính trị thành quyền lực nhà nước Do vậy, chế độ bầu cử của bất cứ quốc gia nào đềuchịu sự chi phối của thể chế chính trị Ngoài ra, chế độ bầu cử còn ảnh hưởng bởi các điều kiệnkinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa và truyền thống của mỗi nước

Trang 7

Chế độ bầu cử Việt Nam là tổng thể các quy định của pháp luật bầu cử Việt Nam, baogồm các nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thương để giới thiệu, tuyển chọn cácứng cử viên, vận động bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, trình tự, thủ tục trong quá trìnhbầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thànhtrong quá trình bầu cử, nhằm “chuyển hóa” ý chí của nhân dân thành Quốc hội, Hội đồng nhândân các cấp.

1.1.2 Bản chất, giá trị dân chủ của chế độ bầu cử

Chế độ bầu cử là một bộ phận của chế độ chính trị, do đó, chế độ bầu cử của bất cứ quốcgia nào đều có tính giai cấp và tính xã hội

Dưới góc độ tính giai cấp, chế độ bầu cử bao giờ cũng là công cụ của giai cấp thống trị,

nó phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị bằng cách bảo đảm cho giai cấp này nắm được bộ máynhà nước Bản chất của chế độ bầu cử được thể hiện ở hai vấn đề cơ bản:

Thứ nhất, Sự lựa chọn đó như thế nào: Ai có quyền bầu cử? Nhân dân, nhưng nhân dân lànhững ai? Ai có thể được bầu? ứng cử viên hay đảng phái chính trị, lực lượng xã hội? Bầu nhưthế nào? Trình tự, thủ tục và cơ chế đảm bảo thực hiện ra sao? Làm sao để đảm bảo đúng ý chícủa nhân dân khi bầu cử?

Thứ hai, việc trao quyền lực của nhân dân cho người đại diện ra sao: cách thiết kế đơn vị bầucử? Theo tiêu chí lãnh thổ hay theo đảng phái chính trị? Phương thức xác định kết quả bầu cửnhư thế nào: Đa số hay tỉ lệ? Ủy thác cho các cá nhân hay đảng phái

Dưới góc độ xã hội, đối với các quốc gia dân chủ, chế độ bầu cử có vai trò như một

“phần mềm” để chuyển tải sự lựa chọn của cử tri thành cơ quan dân cử

Chế độ bầu cử là một chế định trung tâm của dân chủ Đối với bất cứ quốc gia nào, chế

độ bầu cử là công cụ để chuyển tải ý chí của nhân dân thành cơ quan đại diện Một chế độ bầu

cử dân chủ phải tạo điều kiện, cơ hội cho nhân dân chọn đúng cái cần chọn; mặt khác, chế độbầu cử phải chuyển tải quyền lực của nhân dân cho đúng đối tượng cần trao Việc thiết kế, thựcthi chế độ bầu cử tiến bộ, phù hợp mang tính chất nền tảng đối với bất cứ quốc gia dân chủ nào

1.2 Vai trò của chế độ bầu cử

Trang 8

Bầu cử là hợp pháp hóa chính quyền, những cuộc bầu cử theo những chuẩn mực hiệnđại tự do, tiến bộ và công bằng tạo tính hợp pháp và chính đáng nhất cho cơ quan đại diện vàcho bộ máy nhà nước Trong xã hội dân chủ, ý chí của nhân dân là nền tảng của quyền lực nhànước; bằng bầu cử, nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện và ủy thác quyền lực cho

họ Cơ quan đại diện nhận quyền lực từ nhân dân và thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực(chủ quyền nhân dân) trong bộ máy nhà nước Chính vì lẽ đó, chính quyền được thành lậpthông qua các cuộc bầu cử tiến bộ, công bằng là quyền lực hợp pháp, được cộng đồng quốc tếcông nhận

Chế độ bầu cử là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cơ chế chính trị, cơ chế hoạt độngcủa cơ quan đại diện: chế độ bầu cử là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến cơ chếchính trị (tức là tác động đến vai trò, sự tương tác, ảnh hưởng qua lại giữa các thực thể chính trịtrong thể chế chính trị và bộ máy nhà nước), nhất là mức độ tranh luận (cạnh tranh) của Nghịtrường

Chế độ bầu cử dân chủ là phương thức cạnh tranh để nhân dân lựa chọn đường lối hợplòng dân: bầu cử tự do và công bằng chính là phương tiện người dân sống trong một nền dânchủ quyết định cơ cấu chính trị và định hướng chính sách tương lai của chính quyền quốc gia

Chế độ bầu cử dân chủ, có định kỳ là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát quyềnlực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước

Chế độ bầu cử dân chủ là chìa khóa xây dựng đồng thuận xã hội, là phương thức quantrọng để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội bằng phương pháp hòa bình

Chế độ bầu cử là phong vũ biểu của nhân dân về chính quyền và thể chế chính trị

1.3 Các nguyên tắc bầu cử

1.3.1 Nguyên tắc bầu cử phổ thông

Nội dung của nguyên tắc này trả lời cho câu hỏi: Ai có quyền bầu cử? Đây là tiêuchuẩn đầu tiên để đánh giá chế độ bầu cử có dân chủ hay không, bởi lẽ quyền bầu cử là mộttrong những quyền chính trị cơ bản nhất của công dân; mặt khác, dân chủ có nghĩa phải tạođiều kiện thuận lợi nhất cho công dân tham gia vào công việc nhà nước, công việc xã hội

Trang 9

Nguyên tắc bầu cử phổ thông được thể hiện: công dân đến tuổi trưởng thành không phân biệt

về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc xã hội, tài sản, nơisinh đều có quyền bầu cử

1.3.2 Nguyên tắc bầu cử bình đẳng

Bình đẳng là nguyên tắc về giá trị, nó phản ánh nội dung dân chủ của bầu cử Trước hếtcần phải khẳng định rằng, bình đẳng là chuẩn giá trị, dùng nó làm thước đo để đánh giá chế độbầu cử (cũng như các định chế khác của dân chủ) Khẳng định điều này là vì: Thứ nhất, bìnhđẳng là nguyên lý trung tâm của mọi nền dân chủ Trong mọi quốc gia dân chủ, nó là tư tưởngmang tính nền tảng chỉ đạo trong tổ chức và hoạt động của cả bộ máy nhà nước, từ lập pháp,hành pháp, cho đến tư pháp, và đương nhiên, nó xuyên suốt mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Thứ hai, suy cho cùng, bình đẳng là mục tiêu mà mọi nền dân chủ hướng đến Thứ ba, lịch sửđấu tranh của con người cũng chính là tiến trình đấu tranh vì bình đẳng

1.3.3 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp

Nguyên tắc này đề cập cách thức thể hiện ý chí của nhân dân Bầu cử trực tiếp có nghĩa

là cử tri trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện mà không cần thông qua tầng, nấc trung gian nào Bầu

cử trực tiếp là để phân biệt với bầu cử gián tiếp Nguyên tắc này hiện nay được thực hiện phổbiến trên thế giới Nguyên tắc này bảo đảm nhân dân trực tiếp lựa chọn người đại diện, vàngười đại diện (trúng cử trong kỳ bầu cử) trực tiếp nhận quyền lực từ nhân dân

1.3.4 Nguyên tắc bỏ phiếu kín

Nguyên tắc này đề cập về cách thức bỏ phiếu Bỏ phiếu kín là biện pháp nhằm đảm bảocho cử tri được tự do thể hiện ý chí của mình khi lựa chọn người đại diện mà không bị ảnhhưởng của bất kỳ mọi sự tác động nào

Bầu cử là hoạt động có tính chất dân chủ Tất cả mọi công đoạn của bầu cử phải diễn racông khai, nhưng bỏ phiếu phải diễn ra trong phòng kín, không có sự tham gia của bất cứ nhânvật nào, kể cả nhân viên phụ trách công việc bầu cử tại phòng bỏ phiếu Tóm lại, các nguyêntắc bầu cử là những tư tưởng chủ đạo, mang tính xuyên suốt cả hoạt động xây dựng pháp luật

Trang 10

và hoạt động áp dụng pháp luật Suy cho cùng, việc tuân thủ các nguyên tắc bầu cử nhằmhướng đến bảo đảm ý chí của nhân dân trong bầu cử.

1.4 Quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử và vận động bầu cử 1.4.1 Quyền bầu cử

Việc đảm bảo quyền bầu cử là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc bầu cử phổ thông và nóphải được thể hiện: Thứ nhất, pháp luật bầu cử cần mở rộng đến mọi đối tượng: tất cả các côngdân đến tuổi trưởng thành, không phân biệt đều có quyền bầu cử Chỉ hạn chế quyền bỏ phiếukhi có lý do chính đáng Việc hạn chế quyền bầu cử phải được qui định chặt chẽ, rõ ràng trongpháp luật, tốt nhất là qui định trong các đạo luật về bầu cử Thứ hai, nhà nước phải có các biệnpháp cần thiết, có hiệu quả để thực hiện quyền bầu cử Điều đó có nghĩa là, quyền bầu cửkhông phải là các khẩu hiệu mang tính chung chung, mà phải được nhà nước định chế thànhcác qui định cụ thể trong các văn bản pháp luật Không những thế, nhà nước phải có tráchnhiệm đảm bảo quyền bầu cử của công dân được thực hiện trong thực tiễn Ủy ban nhân quyềnLiên hợp quốc khẳng định quyền bỏ phiếu chỉ có thể bị hạn chế hợp lý và mọi nhà nước phải

có các biện pháp cần thiết, có hiệu quả để mọi công dân thực hiện quyền của họ” Đây là mộtnội dung quan trọng, bởi nếu không, quyền bầu cử của công dân, rất có thể không được thựchiện, hoặc không có khả năng thực hiện trong các kỳ bầu cử

1.4.2 Quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử

Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào và không có sự hạn chế bất hợp lý nào,đều có quyền và cơ hội để ứng cử trong các cuộc bầu cử Đó là qui định tại Điều 25 Công ướcquốc tế về các quyền dân sự và chính trị Trong Nghị quyết của mình, Ủy ban nhân quyền Liênhợp quốc nhấn mạnh “Quyền tham gia chính trị, bao gồm quyền bình đẳng về cơ hội cho mọicông dân để trở thành ứng cử viên”

Trang 11

Thứ nhất, vận động bầu cử là “nơi” để các ứng cử viên thể hiện năng lực chính trị của họ, lànơi để các ứng cử viên, các lực lượng xã hội thuyết phục với rằng, họ là người xứng đáng để cửtri bầu họ

Thứ hai, trong bầu cử, muốn thu phục niềm tin của cử tri, ngoài việc chứng tỏ năng lực củamình, các ứng cử viên còn là người phản biện để loại bỏ các đối thủ của họ Điều này khôngnhững làm cho cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh mà còn giúp cử tri có cách nhìn rõ hơn chínhtrị

Thứ ba, vận động bầu cử là nơi cung cấp thông tin quan trọng đối vối cử tri Một cuộc bầu cửdân chủ phải là một cuộc bầu cử mà cử tri cần có những thông tin cần thiết, nhất là thông tin vềcác ứng cử viên, các đảng phái, các lực lượng tham gia tranh cử

Thứ tư, vận động bầu cử là phương thức hữu hiệu để các ứng cử viên, các đảng phái kiểm tra,giám sát lẫn nhau Các ứng cử viên và các lực lượng hậu thuẫn tìm mọi cách để thắng cử, kể cảgian lận bầu cử Thực tế bầu cử trong thời gian gần đây ở nhiều nước đã chứng minh điều đó.Đảng phái nào, lực lượng nào nắm giữ quyền lực nhà nước, họ có ưu thế rất lớn trong bầu cử

1.5 Đơn vị bầu cử

1.5.1 Khái niệm và bản chất của đơn vị bầu cử

Đơn vị bầu cử có thể tổ chức theo tiêu chí địa lý hoặc theo các đảng phái chính trị, cómột số lượng cử tri nhất định, được bầu một số lượng đại biểu (hoặc theo tỉ lệ) nhất định Đạibiểu được bầu hoặc được phân chia theo đơn vị bầu cử Cũng như chế độ bầu cử, đơn vị bầu cửrất phong phú và đa dạng Căn cứ vào số lượng đại biểu được bầu, đơn vị bầu cử được chiathành hai loại: đơn vị bầu cử một đại diện và đơn vị bầu cử nhiều đại diện

Bản chất của đơn vị bầu cử: về lý thuyết, sẽ

là lý tưởng nếu Quốc hội là “tấm gương phản chiếu

dân tộc”, cơ quan dân cử ở địa phương, là “tấm

gương” phản chiếu các tầng lớp nhân dân ở địa

phương; cơ quan dân cử phải là “hình ảnh” thu nhỏ

của các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, giới

tính, mọi lứa tuổi, các tín ngưỡng, tôn giáo, các

Trang 12

nghề nghiệp, các xu hướng chính trị, tư tưởng, các địa phương (lãnh thổ), các nhóm lợi ích.Quốc hội hay cơ quan dân cử ở địa phương cần phải đại diện cho các tầng lớp nhân dân cầnphản chiếu tính đa dạng của kết cấu xã hội dân cư như giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc,thành phần xã hội, tư tưởng, chính kiến.

Bản chất khi phân chia thành các đơn vị bầu cử là “khoanh vùng” theo từng địa dư(thành hạt bầu cử) để đảm bảo trong từng “hạt” đều có người đại diện

1.5.2 Những quam điểm và hạn chế cơ bản của đơn vị bầu cử nhiều đại diện và đơn vị bầu cử một đại diện

Đơn vị bầu cử

nhiều đại diện

Một là, có tính đại diện cân đối hợp lý cao hơn

-Hai là, có sự điều chỉnh dân số,còn điều chỉnh về số lượng đạibiểu được bầu trong từng đơn vịbầu cử

Một là, mối liên hệ giữa đại biểu với cửtri không chặt chẽ, không rõ ràng

Hai là, tính cạnh tranh trong bầu cửkhông cao Đơn vị bầu cử nhiều đại diện

dễ tạo hiệu ứng tâm lý thờ ơ với bầu cửcủa cử tri; có nhiều phiếu bầu mang tínhngẫu nhiên, không mục đích trong kếtquả bầu cử

Ba là, hiệu năng của cơ chế dân chủ đạidiện thấp, hoạt động của các đại biểudân cử có tính cạnh tranh không cao,trách nhiệm của họ đối với cử tri không

rõ ràng; dễ tạo tâm lý ỷ lại giữa các đạibiểu trong cùng đơn vị bầu cử

Trang 13

Đơn vị bầu cử

một đại diện

Một là, rất đơn giản dễ hiểu, vìkhi đi bầu, cử tri chỉ cần đánhdấu vào một người mà mình tínnhiệm

Hai là, tạo ra một mối liên kếtmạnh mẽ giữa người đại diện và

cử tri

Ba là, áp dụng đơn vị bầu cửmột đại diện tạo khuynh hướnghình thành một “nghị viện” đốilập, một chính phủ ổn định vàhiệu quả

Một là, hệ thống bầu cử dựa trên đơn vịbầu cử một đại diện có thể tạo ra tìnhtrạng “đại diện ảo”của ứng cử viên hoặcphe đảng chiến thắng trong đơn vị bầucử

Hai là, vì dựa trên nguyên lý bình đẳng

về dân số cho nên đơn vị bầu cử một đạidiện thường phải thống kê dân số vàphân định lại đơn vị bầu cử

Trang 14

CHƯƠNG II: CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở HOA KỲ 2.1 Tóm lược về Hoa Kỳ và bầu cử ở Hoa Kỳ

2.1.1 Khái niệm và vai trò bầu cử và nguyên tắc bầu cử của Hoa Kỳ

Luật bầu cử Tổng thống Hoa kỳ được quy

định trong Điều 2 Hiến pháp Hợp chủng quốc với

4 điều khoản cụ thể Theo đó, cứ 4 năm thì bầu

Tổng thống 1 lần theo cơ chế đại cử tri Không

một người nào được quyền làm Tổng thống nếu

không phải là công dân sunh ra trên đất Hoa Kỳ,

phải từ 35 tuổi trở lên và có 14 năm cư trú trên

lãnh thổ Hợp chủng quốc trong nhiệm kỳ của

mình, Tổng thống điều hành bộ máy hành chính

gồm hơn 3,1 triệu người, với 60 cơ quan đôc lập,

14 bộ và Văn phòng Tổng thống Ngoài ra, Tổng

thống có quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm nhiều

quan chức chủ chốt trong nhánh hành pháp như các nhân viên Nhà Trắng, bộ trưởng các bộ, vànhững quan chức cao cấp trong các bộ và các cơ quan độc lập Có thể vì vậy mà cơ chế bầu cửTổng thoongs ở Hoa Kỳ rất cụ thể, diễm ra trong một thời gian dài và chịu nhiều tác động củacác tổ chức chính trị - xã hội

Các cuộc bầu cử tự do và công bằng là nền tảng của nền dân chủ, bầu cử là cách cơ bảnnhất để công chúng đưa ra tiếng nói của mình về chính quyền, quyết định ai sẽ là người lãnhđạo

Tại sao bầu cử ở Hoa Kỳ lại quan trọng? Bầu cử giúp đảm bảo được chuyển giao mộtcách ôn hòa, có trật tự từ công dân đến các đại diện dân cử và từ viên chức dân cử đến người kếnhiệm của họ Hiến pháp Hoa Kỳ quy định một số quyền lực nhất định đối với chính quyềnquốc gia (tức “liên bang”) và quy định một số quyền lực khác cho từng bang, và nhân dân Ởnhiều nước, chính quyền quốc gia đặt ra các chính sách về giáo dục và y tế, nhưng ở Hoa Kỳ,

Ngày đăng: 06/09/2021, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w