là một nguyên tắc trong đó chỉ có một Trung Quốc và Trung Quốc đại lục, Hồng , Ma Cao và Đài Loan tất cả đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Việc chấp nhận hay từ chối nguyên tắc này là một nhân tố quan trọng trong quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nước kiểm soát Trung Quốc đại lục, Tây Tạng, Hồng và Ma Cao và Trung Hoa Dân Quốc. Nhiều quốc gia theo một chính sách của Trung Quốc, nhưng ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa độc quyền sử dụng thuật ngữ Nguyên tắc một Trung Quốc trong thông tin liên lạc chính thức.
Trang 1LUẬT QUỐC TẾ
VÌ SAO NÓI TRUNG QUỐC LÀ 1 QUỐC 2 CHẾ ĐỘ 3 HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUNG QUỐC VÀ LỊCH SỬ HÌNHTHÀNH
1 Khái quát về Trung Quốc
2 Lịch sử hình thành Trung Quốc
3 Chính trị
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
1 Quan điểm về chế độ pháp luật Trung Quốc thời cổ đại
2 Hệ thống pháp luật Trung Quốc
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà nước ra đời là sự đánh dấu một bước phát triển to lớn trong lịch sử loàingười Lần đầu tiên nguyên tắc bình đẳng trong xã hội nguyên thủy bị phá vỡ,nhà nước đã hình thành và đưa con người tiến tới một xã hội văn minh, tiến
bộ hơn Khi nhà nước ra đời kéo theo sự ra đời của pháp luật – công cụ đểgiai cấp thống trị quả lý xã hội Mỗi xã hội đều có hệ thống pháp luật đặctrưng riêng, gắn liền với lợi ích của giai cấp thống trị So với pháp luật trung
cổ phương Đông, luật pháp phong kiến Trung Quốc tương đối phát triển.Trải qua mệt thời kỳ phát triển lâu dài những quan hệ thị tộc bộ lạc, TrungQuốc đã bước vào giai đoạn xuất hiện Nhà nước
Nét nổi bật của lịch sử Nhà nước Trung Hoa sau nhà Hạ (thế kỷ XXI XVIII TCN), nhà Thương (còn gọi là nhà Ân), nhà Chu là những cuộc giaotranh tương tàn từ thế kỷ IX TCN giứa các nước chư hàu khỉ thế lực tậpquyền của nhà Chu bị suy yếu Thời Xuân Thu (năm 770 - 475 TCN) và thờiChiến Quốc (475 - 221 TCN), cuộc giao tranh giữa các nước chư hâu (chủyếu là 7 nước lớn như Tân, Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tê) lại đạt đến mức
-độ tàn khốc chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc Chỉ đến năm 221 TCNkhi Doanh Chính nước Tần đã lập lại trật tự vùng Trung nguyên và lập nhàTần thì các cuộc chiến mới tạm thời chấm dứt Mặc dù Trung Quốc trở thànhmột quốc gia tập quyền, nhưng mâu thuẫn xã hội không vì thế mà suy giảm.Chính trong sự vận động một cách gay gẵt: các quan hệ xã hội đó đã này sinhnhiêu tư tưởng chính trị - pháp luật mà bản thân chúng vẫn còn giá trị đếnngày nay
Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc từngbước thực hiện chủ nghĩa dân chủ mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đã hoànthành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, xoá bỏchế độ người bóc lột người, thành lập chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy cơ sở làchuyên chính dân chủ nhân dân với nền tảng liên minh công nông do giai cấp
Trang 4công nhân lãnh đạo, trên thực tế, chuyên chính giai cấp vô sản được củng cố
và phát triển Nhân dân Trung Quốc và quân giải phóng nhân dân Trung Quốc
đã đánh thắng chủ nghĩa đế quốc, đánh thắng sự xâm lược của chủ nghĩa báquyền, chiến tranh phá hoại và vũ trang đẫm máu, bảo vệ độc lập, an ninhquốc gia, tăng cường an ninh quốc phòng Về mặt kinh tế, đã giành đượcnhững thành tựu vô cùng quan trọng, hình thành tương đối hoàn chỉnh hệthống công nghiệp XHCN, sản xuất nông nghiệp nâng cao rõ rệt Các sựnghiệp giáo dục, khoa học, văn hoá… phát triển mạnh mẽ Việc giáo dục tưtưởng XHCN giành được thành tựu rõ rệt Đời sống của phần lớn bộ phận dân
cư được cải thiện đáng kể
Để hiểu thêm về nội dung và tư tưởng mà những nhà làm luật gửi gắmtrong pháp luật phong kiến trung quốc cũng như kỹ thuật lập pháp thời kì
phong kiến và giải đáp thắc mắc chính sách “1 quốc gia 2 chế độ 3 hệ thống pháp luật” của Trung Quốc chính là lý do tác giả chọn đề tài này.
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Pháp luật là chế độ và chuẩn mực không thể thiếu trong xã hội hiện đại, cơchế pháp trị là biểu tượng đánh dấu nền văn minh chính trị của nhân loại pháttriển đến một giai đoạn lịch sử nhất định Chính phủ Trung Quốc và ngườidân vấn luôn nỗ lực trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luậtpháp, nỗ lực xây dựng một xã hội pháp trị hiện đại hóa Trung Quốc là mộtquốc gia có mấy nghìn năm văn minh lịch sử, cũng giống như những thànhquả văn minh đạt được trong các lĩnh vực khá, quá trình xây dựng hệ thốngpháp luật Trung Quốc và con đường phát triển tư tưởng pháp trị cũng có lịch
sử lâu đời
3 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Nhà nước Trung Quốc và hệ thống pháp luật
Trang 5+ Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu của bài tiểuluận, tác gải hướng đến phạm vi nghiên cứu là các nội dung liên quan đến hệthống pháp luật của Trung Quốc.
4 Phương pháp nghiên cứu
Nội dung xuyên suốt của tiểu luận được thực hiện trên cơ sở ápdụng các phương pháp nghiên cứu luật học, áp dụng công cụ phân tích lịch
sử đi đến phân tích quy định pháp luật
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo thì bài tiểuluận được chia làm 3 chương:
+ Chương 1: Khái quát về TQ và lịch sử hình thành nước TQ
+ Chương 2: Hệ thống Tòa án Trung Quốc và thủ tục tố tụng
+ Chương 3: Chính sách “một quốc gia hai chế độ ba hệ thống pháp lý” củaTrung Quốc
Trang 6Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRUNG QUỐC
1 Khái quát về Trung Quốc
Trung Quốc với tên chính thức là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa(Tiếng Trung: 中华人民共和国, pinyin: Zhōnghuá rénmín gònghéguó ) Thủ
đô của Trung Quốc là Bắc Kinh Là một thành phố lớn nằm phía Bắc của đấtnước
Trung Quốc với tên chính thức là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, làmột quốc gia có chủ quyền nằm tại Đông Á Đây là quốc gia đông dân nhấttrên thế giới và có diện tích lục địa lớn thứ nhì trên thế giới và là quốc gia cótổng diện tích lớn thứ ba hoặc thứ tư trên thế giới
Trung Quốc là quốc gia lớn thứ nhì trên thế giới xét theo diện tích đất sauNga, và là quốc gia lớn thứ ba hoặc bốn về tổng diện tích, sau Nga, Canada,
và có thể là Hoa Kỳ Tổng diện tích của Trung Quốc thường được tuyên bố làkhoảng 9.600.000 km2 Trung Quốc có tổng chiều dài đường biên giới trên bộlớn nhất thế giới, với 22.117 km từ cửa sông Áp Lục đến vịnh Bắc Bộ TrungQuốc có biên giới với 14 quốc gia khác, giữ vị trí số một thế giới cùng vớiNga
Trung Quốc bao gồm phần lớn Đông Á, giáp với Việt Nam, Lào,Myanmar, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Pakistan[h], Afghanistan, Tajikistan,Kyrgyzstan, Kazakhstan, Nga, Mông Cổ, và Triều Tiên Ngoài ra, Hàn Quốc,Nhật Bản, Philippines cũng lân cận với Trung Quốc qua biển Lãnh thổ TrungQuốc nằm giữa các vĩ độ 18° và 54° Bắc, các kinh độ 73° và 135° Đông.Cảnh quan của Trung Quốc biến đổi đáng kể trên lãnh thổ rộng lớn của mình.Tại phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng Hải và biển Hoa Đông, có các đồngbằng phù sa rộng và dân cư đông đúc, trong khi các thảo nguyên rộng lớnchiếm ưu thế ở rìa của cao nguyên nguyên Nội Mông Đồi và các dãy núi thấpchi phối địa hình tại Hoa Nam, trong khi miền Trung-Đông có những châuthổ của hai sông lớn nhất Trung Quốc là Hoàng Hà và Trường Giang Cácsông lớn khác là Tây Giang, Hoài Hà, Mê Kông (Lan Thương), Brahmaputra
Trang 7(Yarlung Tsangpo) và Amur (Hắc Long Giang) Ở phía tây có các dãy núilớn, nổi bật nhất là Himalaya Ở phía bắc có các cảnh quan khô hạn, như samạc Gobi và sa mạc Taklamakan Đỉnh cao nhất thế giới là núi Everest(8.848m) nằm trên biên giới Trung Quốc-Nepal Điểm thấp nhất của TrungQuốc, và thấp thứ ba trên thế giới, là lòng hồ Ngải Đinh (-154m) tại bồn địaTurpan.
Mùa khô và gió mùa ẩm chi phối phần lớn khí hậu Trung Quốc, dẫn đếnkhác biệt nhiệt độ rõ rệt giữa mùa đông và mùa hạ Trong mùa đông, gió bắctràn xuống từ các khu vực có vĩ độ cao với đặc điểm là lạnh và khô; trongmùa hạ, gió nam từ các khu vực duyên hải có vĩ độ thấp có đặc điểm là ấm và
ẩm Khí hậu Trung Quốc có sự khác biệt giữa các khu vực do địa hình phứctạp cao độ Một vấn đề môi trường lớn tại Trung Quốc là việc các hoang mạctiếp tục mở rộng, đặc biệt là sa mạc Gobi
2 Lịch sử hình thành Trung Quốc qua các thời đại
Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh nhân loại sớm nhất Vănminh Trung Quốc cũng là một trong số ít các nền văn minh, cùng với Lưỡng
Hà cổ (người Sumer), Ấn Độ (Văn minh lưu vực sông Ấn Độ), Maya và AiCập Cổ đại (mặc dù có thể nó học từ người Sumer), tự tạo ra chữ viết riêng
2.1 Thời phong kiến (5000-2000 năm TCN)
Thời kỳ phong kiến được hiểu là chính sách chính trị xoay quanh việctruyền nối và chiếm hữu đất đai của vua chúa và các bậc quan liêu dưới thờiquân chủ chuyên chế Ở thời này, pháp luật nằm trong tay vua chua và chỉship hàng quyền lợi của những tầng lớp thống trị Khái niệm về phong kiếnkhởi đầu xuất phát từ thời Tây Chu (nhà Chu) của Trung Quốc Dấu vết củathời kỳ đồ đá cổ xưa nhất tại Trung Quốc được tìm thấy ở khu vực thung lũngdọc theo sông Hoàng Hà Các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng về việctrồng cây kê (một loại ngũ cốc gần giống lúa) có niên đại hơn 6000 nămTCN, một vài mẫu vật về người Homo Erectus (người đứng thẳng đầu tiên)
Trang 8và người vượn Bắc Kinh ở khu vực này Di tích khảo cổ được tìm thấy tại dichỉ Bán Pha (thành phố Tây An hiện nay) đã minh chứng rằng nơi này từngtồn tại sự sống, làng mạc Cũng ở thời kỳ này, các nhà khoa học đã tìm thấynhững ghi chép về hai nền văn hóa lớn đó là văn hóa Ngưỡng Thiều và vănhóa Long Sơn.
Văn hóa Ngưỡng Thiều: Một nền văn hóa tồn tại vào khoảng năm 5000
-3000 TCN Vào thời kỳ này, người ta bắt đầu dệt tơ tằm, làm đồ gốm, trồng
kê và có một số nơi trồng lúa Nguồn thực phẩm chủ yếu đến từ săn bắt
- Văn hóa Long Sơn: Nền văn hóa này tồn tại vào cuối thời kỳ đá mới, cóniên đại khoảng 3000 - 2000 năm TCN Đồ gốm ở giai đoạn này đã đạt đếntrình độ cao hơn, xuất hiện các bức tường đất và hào Hoạt động sản xuấtchính của người dân chính là trồng dâu nuôi tằm
Dưới thời Chu, vua Chu đem của cải, đất đai tự phong – Tặng Ngay cho
họ hàng thân thích để kiến lập các nước chư hầu, còn gọi là “phong kiến thân thích” Tuy vậy, ở thời này mới phản ảnh chính sách phong kiến về đất đai
chứ chưa gồm có quyền lực tối cao của giai cấp thống trị Tiếp theo sau đó,lịch sử các triều đại Trung Quốc bước sang tiến trình các nước: Tần, Hán,Đường, Minh, Thanh chính thức bước vào thời kỳ phong kiến theo đúngnghĩa
Chính trong quá trình này, văn hóa truyền thống Trung Quốc càng đượckhắc họa rõ nét, nổi bật là tư tưởng Nho giáo và Phật giáo Nhiều tác phẩmvăn học Trung Hoa đình đám cũng được hình thành trong quy trình tiến độnày : bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, thơ Đường của các tác giả Đỗ Phủ, Lý Bạch
; Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Hồng Lâu Mộng, …
2.2 Thời triều đại (Thế kỉ XXI TCN – 1949)
Trang 9- Nhà Hạ: Theo các tư liệu lịch sử, triều đại đầu tiên của Trung Quốc là
nhà Hạ, tồn tại vào khoảng thế kỉ 21 đến thế kỉ 17 trước Công Nguyên.Nhà Hạ được cho là triều đại đầu tiên của giai đoạn này (theo ghi chépcủa một số sử ký) nhưng đến nay các thông tin khảo cổ về lăng mộ,kinh thành,…của nhà Hạ vẫn chưa được tìm thấy Bên cạnh đó, thờigian, lý do tồn tại của triều đại này vẫn là một ẩn số Một số nguồn ghichép lại triều nhà Hạ tồn tại vào 2000 năm TCN, kéo dài khoảng 471năm
- Tiếp đó là đến nhà Thương, tồn tại vào khoảng thế kỉ 17 đến thế kỉ 11
TCN Nhà Thương (hay còn gọi là nhà Ân): Thời gian tồn tại của nhàThương đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng (khoảng năm 1766đến năm 1046 TCN) Nhà Thương nổi lên từ vùng châu thổ sông Vị,bằng vũ lực đã lật đổ được nhà Hạ, mở ra triều đại nhà Thương
- Nhà Thương bị nhà Chu chiếm, thời gian trị vì của nhà Chu tương đối
dài, phân làm hai giai đoan Tây Chu và Đông Chu, thời Đông Chu lạitiếp tục được phân thành hai giai đoạn nhỏ là thời Xuân Thu và ChiếnQuốc- đây là thời kì các nước chư hầu nhà Chu hỗn chiến Sau khi đánhbại được nhà Thương, nhà Chu tồn tại được 4 thế kỷ thì bắt đầu suyyếu Vào thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc (từ thế kỷ thứ VIII đến thế
kỷ thứ IV TCN), nhà Chu chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, quyền lựcthật sự thuộc về các nước chư hầu
- Đến năm 221 TCN, nhà Chu chính thức bị lật đổ bởi một trong số các
nước chư hầu là nước Tần Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã đứng ra
thống nhất các nước chư hầu, lập ra nhà Tần vào năm 221 TCN, ông đãcho thống nhất chữ viết, tiền tệ và đơn vị đo lường, xây dựng Vạn Lí
Trang 10trường thành, tuy nhiên triều đại này chỉ tồn tại ngắn ngủi 15 năm Giaiđoạn nhà Tần lên nắm quyền là một trong những bước ngoặc lớn nhấtcủa lịch sử Trung Quốc Dưới tài năng lãnh đạo của mình, Tần ThủyHoàng đã đánh bại được nhà Chu và các nước chư hầu, thống nhấtTrung Hoa, chấm dứt thời kỳ Chiến Quốc Mặc dù chỉ tồn tại 15 năm(năm 221 đến năm 207 TCN) nhưng nhà Tần đã để lại rất nhiều dấu ấnlịch sử, một trong số đó là Vạn Lý Trường Thành.
- Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 207 TCN thì đến thời nhà Hán kéo dài
đến năm 220 CN Nhà Hán: 5 năm sau cái chết của Tần Thủy Hoàng,
các nước Chiến Quốc lại bắt đầu nổi dậy Vào năm 202 TCN, LưuBang giành thắng lợi, thành lập nên nhà Hán - Triều đại huy hoàng nhấtlịch sử Trung Quốc Về sau, nhà Hán bị chia cắt thành Tây Hán vàĐông Hán Lưu Tú (Hán Quang Vũ Đế) là người thống nhất và giúpnhà Hán phục hồi, thịnh vượng trở lại
- Nhà Hán suy yếu, Trung Quốc bước vào thời kì Tam Quốc phân tranh
với ba nước Ngụy, Thục, Ngô Về mặt quân sự, Ngụy là mạnh nhấttrong số ba nước, một sức mạnh được nâng đỡ nhờ kinh tế và các cảngbiển Nước Thục có dân cư thưa thớt hơn, và là một vùng đa phần làrừng, với nhiều bộ tộc không phải là người Hán
- Nhà Tấn: Năm 263, Ngụy đánh và chiếm Thục, chỉ còn lại Ngô làm đối
thủ Sau đó vua Ngụy bị quyền thần họ Tư Mã thao túng và chính thứcđoạt ngôi năm 265 Tư Mã Viêm nối chức cha ông phế vua Ngụy lập ranhà Tấn, tức là Tấn Vũ Đế (265-290) Năm 280, Tấn Vũ đế chinh phụcnốt nước Ngô Trung Quốc lại được thống nhất, và Tấn Vũ đế mở rộngquyền lực của mình về phía bắc đến trung tâm Triều Tiên và phía namđến hết An Nam (Việt Nam) Một triều đại mới, gọi là Tây Tấn đã bắt
Trang 11đầu ở Trung Quốc Sau loạn bát vương, Tây Tấn suy yếu cực độ và bịcác tộc phương bắc xâm chiếm Năm 316, vua nước Hán Triệu là LưuThông tiêu diệt Tây Tấn Các quý tộc nhà Tấn chạy xuống phía nam táilập nhà Đông Tấn (ở đất nhà Ngô thời Tam Quốc cũ) Vùng đất phíabắc do các tộc người Hồ chiếm giữ, gọi là thời Ngũ Hồ loạn Hoa, gồm
16 nước Triều đại nhà Tấn được chia thành Tây Tấn (năm 266 đếnnăm 316) và Đông Tấn (năm 317 đến năm 420) Sau Đông Tấn là thời
kì Nam- Bắc triều Đây là thời kì một giai đoạn trong lịch sử TrungQuốc, bắt đầu từ năm 420 khi Lưu Dụ soán Đông Tấn mà lập nên LưuTống, kéo dài đến năm 589 khi Tùy diệt Trần
- Nhà Tùy: Năm Đại Nghiệp thứ 13 (617), vua Tùy là Tùy Dạng đế bị
thống lĩnh Cấm vệ quân là Vũ Văn Hóa Cập sát hại Vương triều Tùydựng được 38 năm bị diệt vong Năm 581, Tùy Văn Đế thành lập nênnhà Tùy Triều đại này tồn tại đến năm 618
- Nhà Đường: Năm 618, cuộc nội chiến kết thúc, Đường quốc công Lý
Uyên là người thắng trận Năm 618, Lý Uyên thống nhất Trung Quốc,lập nên nhà Đường, xưng là Đường Cao Tổ Hai người con trai của ông
vì tranh giành ngai vàng nên đều thiệt mạng Cuối cùng, ông nhườngngôi lại cho Lý Thế Dân (người con trai trong dòng dõi) Về sau, vì contrai của Lý Thế Dân là Cao Tông quá nhu nhược nên nhà Đường rơivào tay của Võ Tắc Thiên, hoàng hậu của Cao Tông và cũng là nữhoàng đế duy nhất của Trung Quốc Tuy nhiên, các con ông lại đánhnhau để giành quyền thừa kế ngai vàng Hai người con trai của ông là
Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát đã thiệt mạng trong cuộc tranh giànhquyền lực này Lý Uyên chỉ còn một sự lựa chon duy nhất là Lý ThếDân, con trai dòng đích duy nhất còn sống sót Năm 626, Lý Uyên
Trang 12nhường ngôi cho Lý Thế Dân, người mà về sau đã đưa đất nước TrungQuốc quay trở lại thời thịnh vượng và vàng son.
- Nhà Chu: Năm 907, một lãnh chúa là Chu Ôn lật đổ ngai vàng nhà
Đường và lập lên triều Lương, một trong năm triều đại ngắn ngủi kếtiếp nhau thống trị bắc Trung Quốc trong nửa thế kỷ: Hậu Đường(923-936), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (947-950), Hậu Chu (951-959) Ở phía nam, các lãnh chúa cát cứ vùng đất của mình và lần lượtthành lập mười tiểu quốc nhỏ và không ngừng tìm kiếm phương cách
để thôn tính lẫn nhau: Tiền Thục, Hậu Thục, Ngô, Ngô Việt, NamĐường, Mân, Sở, Nam Hán, Nam Bình Tới năm 951, một hoàng thânnhà Hậu Hán chiếm giữ vùng Thái Nguyên lập ra nước Bắc Hán Thời
kỳ này, người Trung Quốc gọi là Ngũ Đại Thập Quốc
- Nhà Tống: Năm 960, trong khi Trung Quốc ở vào tình trạng rối ren, vị
tướng phụ trách an ninh nơi cung cấm ở thủ đô mới Khai Phong làTriệu Khuông Dận nhân khi vua nhà Hậu Chu mới lên ngôi còn bé, bènlàm binh biến lên làm vua Ông lập ra Nhà Tống Triều đại này tồn tạiđến năm 1279
- Nhà Nguyên: Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào quân xâm lược Mông Cổ
năm 1279 Hốt Tất Liệt người Mông Cổ đã lập ra nhà Nguyên NhàNguyên tồn tại đến năm 1368 thì suy yếu và bị người Trung Quốc nổilên giành lại đất nước
- Nhà Minh: Năm 1368, Chu Nguyên Chương được lòng nhân dân, nổi
lên đánh bại người Mông Cổ và lập nên nhà Minh Triều đại này tồn tạiđến năm 1644
Trang 13- Thời nhà Thanh: Sau nhà Minh là đến nhà Thanh (của người Mãn
Châu), kéo dài đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị vào năm
1911 Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiếnTrung Quốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc DânĐảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) Ba thập kỷ sau đó làgiai đoạn không thống nhất - thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranhTrung-Nhật, và Nội chiến Trung Quốc Nội chiến Trung Quốc chấmdứt vào năm 1949 và Đảng Cộng sản Trung Quốc lập ra Nước Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa
2.3 Thời hiện đại (1912 đến nay)
- Trung Hoa Dân quốc (1912 – 1949)
Trung Hoa Dân Quốc là một chế độ chính trị của Trung Quốc từ năm 1912đến năm 1949 Nó được thành lập sau khi đế quốc Cao Minh bị lật đổ và đượclãnh đạo bởi những người đấu tranh cho độc lập của Trung Quốc với nướcngoài Người sáng lập và là Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc làSun Yat-sen, và sau đó được kế thừa bởi Chiang Kai-shek
Tại thời điểm thành lập, Trung Hoa Dân Quốc bao gồm toàn bộ TrungQuốc, nhưng về sau bị mất các vùng lãnh thổ quan trọng như Quảng Đông,Đài Loan và Mãn Châu Chính phủ Dân Quốc đã đối đầu với các phong tràocộng sản và nhiều quốc gia ngoại bang và bị chiến tranh và chiến tranh xâmlược tàn phá Cuối cùng, vào năm 1949, chính phủ Dân Quốc bị lật đổ vàcộng sản Trung Quốc thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Trung Hoa Dân Quốc là một chế độ chính trị được thành lập tại TrungQuốc từ 1912 đến 1949 Đây là một thời kỳ rất đặc biệt vì Trung Quốc đã trảiqua nhiều cuộc cách mạng và tranh chấp chính trị Dưới đây là 10 điều liênquan đến Trung Hoa Dân Quốc
Trang 14 Đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc Trung Hoa Dân Quốc đã là chế độchính trị đầu tiên trong lịch sử của Trung Quốc cũng như các nướcĐông Á.
Sự xâm lược của Nhật Bản Trong thời kỳ này, Nhật Bản đã xâm lược
và chiếm đóng một phần lãnh thổ Trung Quốc Đây là một trong những
sự kiện chính trong lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc
Khiến Trung Quốc bị hao hụt Tuy nhiên, Trung Quốc đã bị hao hụt lớnsau cuộc chiến tranh với Nhật Bản Những sự kiện này đã khiến TrungHoa Dân Quốc bị suy yếu và ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế và xã hộicủa đất nước
Chiến dịch Sáu Chính Khi Chiang Kai-shek đảm nhận chức vụ tổngthống, ông đã thực hiện một loạt sáu chiến dịch nhằm kiểm soát cáckhu vực nổi dậy và giữ vững quyền lực của đảng Quốc dân
Hợp tác với Đồng Minh Trung Hoa Dân Quốc đã hợp tác với Quân độiĐồng Minh và đồng minh để chiến đấu chống lại phe đối lập trong Thếchiến II
Tuyên bố của Tạng Thống Vào năm 1949, Tạng Thống tuyên bố thànhlập Trung Hoa Cộng Hòa tại Bắc Kinh, đánh dấu cuộc đảo chính này vàkhiến cho chế độ Trung Hoa Dân Quốc bị chấm dứt
Trang 15 Vai trò của Đảng Quốc dân Trong thời kỳ này, Đảng Quốc dân đóngvai trò quan trọng trong chính trị Trung Quốc Đây là một đảng chínhtrị được thành lập bởi Sun Yat-sen và được lãnh đạo bởi Chiang Kai-shek.
Thời kỳ lịch sử quan trọng Trung Hoa Dân Quốc có vai trò quan trọngtrong lịch sử Trung Quốc và được coi là một chế độ chính trị có ảnhhưởng đến nhiều khía cạnh của đất nước
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949 – nay)
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ chấp nhận sự đầu hàng của NhậtBản và cho phép chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chiếm giữ đảo Đài Loan.Chính phủ Trung Hoa đã cử tướng Trần Nghi (陳儀) làm Tổng đốc (hành chính trưởng quan) kiêm Tư lệnh (Cảnh bị Tổng Tư lệnh) Đài Loan, tới nhận
văn bản đầu hàng của Toàn quyền Nhật Bản cuối cùng, ông AndoRikichi ngày 24 tháng 10 về việc Nhật Bản đầu hàng vào ngày hôm sau Từthời điểm đó Đài Loan thuộc quyền kiểm soát hành chính quân sự của TrungHoa Dân Quốc
Trong giai đoạn hậu chiến, chính quyền Quốc Dân Đảng tại Đài Loan bịmột số người coi là không thích hợp và tham nhũng Bạo lực chống người lụcđịa nổ ra ngày 28 tháng 2 năm 1947 tiếp sau một vụ cướp cò súng Vụ bạoloạn ngày 28 tháng 2 nổi tiếng này cũng được gọi là Vụ bạo loạn 228, trởthành một sự kiện chủ chốt hình thành nên bản sắc nhà nước Đài Loan hiệnđại ngày nay Trong nhiều tuần sau vụ đó, nhiều người Đài Loan nổi dậy,tham gia vào những vụ phản kháng khắp đất nước và kiểm soát được nhiềuphần rộng lớn trên hòn đảo Tổng đốc Trần Nghi trong khi tìm cách đàm phántạo dựng sự tin cậy lẫn nhau với những nhà lãnh đạo phong trào phản kháng,kêu gọi đưa lính từ lục địa tới Quốc Dân Đảng, tuyên bố "sợ sự xâm nhậpcủa Cộng sản", đã thành lập lên một lực lượng quân sự lớn để đàn áp cuộc nổidậy ở Đài Loan, giết hại nhiều người và bỏ tù nhiều người khác Nhiều người
Trang 16Đài Loan từng thuộc các nhóm cầm quyền thời Nhật Bản trở thành nạn nhân
Vụ 228, cũng như các công dân lục địa phải chịu đựng nhiều vụ trả thù Tiếpsau đó là phong trào "khủng bố trắng" với hàng ngàn người bị bỏ tù và hànhquyết vì bất đồng chính kiến với Quốc Dân Đảng, đa phần nạn nhân thuộctầng lớp cao trong xã hội Đài Loan - các lãnh đạo chính trị, các gia đình giàu
có, trí thức v.v Ngày nay vẫn còn tồn tại một số phân biệt giữa những ngườitới Đài Loan trước và sau năm 1945
*Nhận xét:
Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ nhautrong bể máu và giai cấp giành được quyền lãnh đạo thường phải áp dụng cácbiện pháp đặc biệt để duy trì quyền lực của họ và kiềm chế triều đại bị lật đổ.Chẳng hạn như nhà Thanh (người Mãn Châu) sau khi chiếm được TrungQuốc thường áp dụng các chính sách hạn chế việc người Mãn Châu bị hòa lẫnvào biển người Hán vì dân họ ít Tuy thế, những biện pháp đó đã tỏ ra khônghiệu quả và người Mãn Châu cuối cùng vẫn bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa
Vào thế kỷ thứ 18, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ đáng kể về côngnghệ so với các dân tộc ở Trung Á mà họ gây chiến hàng thế kỷ, tuy nhiên lạitụt hậu hẳn so với châu Âu Điều này đã hình thành cục diện của thế kỷ 19trong đó Trung Quốc đứng ở thế phòng thủ trước chủ nghĩa đế quốc châu Âutrong khi đó lại thể hiện sự bành trướng đế quốc trước Trung Á
Tuy nhiên nguyên nhân chính của sự sụp đổ của đế quốc Trung Hoakhông phải do tác động của châu Âu và Mỹ, như các nhà sử học theo chủthuyết vị chủng phương Tây vẫn hằng tin tưởng, mà có thể là kết quả của mộtloạt các biến động nghiêm trọng bên trong, trong số đó phải kể đến cuộc nổidậy mang tên Thái Bình Thiên Quốc kéo dài từ 1851 đến 1862
Trang 17Mặc dù cuối cùng cũng bị lực lượng triều đình dập tắt, cuộc nội chiến này
là một trong số những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử loài người - ítnhất hai mươi triệu người bị chết (hơn tổng số người chết trong Thế chiến thứnhất) Trước khi xảy ra nội chiến này cũng có một số cuộc khởi nghĩa củanhững người theo đạo Hồi, đặc biệt là ở vùng Trung Á
Sau đó, một cuộc khởi nghĩa lớn cũng nổ ra mặc dù tương đối nhỏ so vớinội chiến Thái Bình Thiên Quốc đẫm máu Cuộc khởi nghĩa này được gọi làkhởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn với mục đích đuổi người phương Tây ra khỏiTrung Quốc Tuy đồng tình thậm chí có ủng hộ quân khởi nghĩa, Thái hậu Từ
Hi lại giúp các lực lượng nước ngoài dập tắt cuộc khởi nghĩa này
Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến TrungQuốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thànhlập Trung Hoa Dân Quốc Ba thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống nhất -thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh Trung-Nhật, và Nội chiến Trung Quốc.Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và Đảng Cộng sản TrungQuốc nắm được đại lục Trung Quốc
Đảng Cộng sản Trung Quốc lập ra một nhà nước cộng sản - nước Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa - tự xem là nhà nước kế tục của Trung Hoa DânQuốc Trong khi đó, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạchlãnh đạo thì rút ra đảo Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây vàLiên Hiệp Quốc công nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốcmãi tới thập niên 1970, sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyểnsang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Bồ Đào Nha, đã lần lượttrao trả hai nhượng địa là Hồng Kông và Ma Cao ở bờ biển phía nam về cho
Trang 18Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào 1997 và 1999 "Trung Quốc" trong văncảnh ngày nay thường chỉ lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hay
"Đại lục Trung Quốc", mà không tính Hồng Kông và Ma Cao
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (từ năm 1949 đếnnay) không công nhận ngoại giao lẫn nhau, vì hai bên đều tự cho là chínhquyền kế tục hợp pháp của Trung hoa Dân Quốc (thời Tôn Trung Sơn) baogồm cả Đại lục và Đài Loan, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa liên tục phản đốinhững người theo phong trào đòi độc lập cho Đài Loan Những tranh cãi chủyếu xoay quanh bản chất và giới hạn của khái niệm "Trung Quốc", khả năngtái thống nhất Trung Quốc và vị thế chính trị Đài Loan
3 Chính trị
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một quốc gia xã hội chủ nghĩacông khai tán thành chủ nghĩa cộng sản Chính phủ Trung Quốc được mô tả làcộng sản và xã hội chủ nghĩa, song cũng chuyên chế và xã đoàn, với nhữnghạn chế nghiêm ngặt trong nhiều lĩnh vực, đáng chú ý nhất là truy cập tự doInternet, tự do báo chí, tự do hội họp, quyền có con, tự do hình thành các tổchức xã hội và tự do tôn giáo Hệ thống chính trị, tư tưởng, và kinh tế hiện tại
của Trung Quốc được các lãnh đạo nước này gọi lần lượt là "chuyên chính dân chủ nhân dân", "chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" và "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa".
Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền thống trị quốc gia, quyền lực củađảng này được ghi trong hiến pháp của Trung Quốc Hệ thống tuyển cử củaTrung Quốc có phân cấp, theo đó các đại hội đại biểu nhân dân địa phương(cấp hương và cấp huyện) được tuyển cử trực tiếp, và toàn bộ các cấp đại hộiđại biểu nhân dân từ cấp cao hơn cho đến toàn quốc được tuyển cử gián tiếpbởi đại hội đại biểu nhân dân ở cấp ngay bên dưới Hệ thống chính trị đượcphân quyền, và các lãnh đạo cấp tỉnh và phó tỉnh có quyền tự trị đáng kể TạiTrung Quốc còn có các chính đảng khác, được gọi là "đảng phái dân chủ",
Trang 19những tổ chức này tham gia Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Nhân đại)
và Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (Chính hiệp)
Chủ tịch nước Trung Quốc là nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa, đóngvai trò là người đứng đầu về mặt lễ nghi và do Đại hội đại biểu nhân dân toànquốc bầu ra Thủ tướng Trung Quốc là nhân vật lãnh đạo chính phủ, chủ trìQuốc vụ viện gồm bốn phó thủ tướng cùng người đứng đầu các bộ và ủy bancấp bộ Chủ tịch nước đương nhiệm là Tập Cận Bình, ông cũng là Tổng Bíthư của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch Quân ủy Trung Quốc, do vậyông là lãnh đạo tối cao của Trung Quốc Thủ tướng đương nhiệm là Lý KhắcCường, ông cũng là một thành viên cấp cao của Ban Thường vụ Bộ Chính trịĐảng Cộng sản Trung Quốc, một cơ cấu quyết định hàng đầu của Trung Quốctrong thực tế
4 Kinh tế
Tính đến năm 2016, kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai thế giới xét theo GDPdanh nghĩa, tổng giá trị khoảng 11.391.619 tỉ USD theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế.Nếu xét về GDP theo sức mua tương đương, Trung Quốc đạt 13.395 tỷ USDvào năm 2013, cũng xếp thứ hai sau Hoa Kỳ Năm 2016, GDP PPP/người củaTrung Quốc là 16,660 USD, trong khi GDP danh nghĩa/người là 8,141 USD.Theo cả hai phương pháp, Trung Quốc đều đứng sau khoảng 90 quốc gia(trong số 183 quốc gia trong danh sách của IMF) trong xếp hạng GDP/ngườitoàn cầu
Từ khi thành lập vào năm 1949 cho đến cuối năm 1978, nước Cộng hòaNhân dân Trung Hoa có một kinh tế kế hoạch tập trung theo kiểu Liên Xô.Sau khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976 và Cách mạng văn hóa kếtthúc, Đặng Tiểu Bình và tập thể lãnh đạo mới của Trung Quốc bắt đầu cảicách kinh tế và chuyển đổi theo hướng kinh tế hỗn hợp định hướng thị trườnghơn dưới sự lãnh đạo độc đảng Tập thể hóa nông nghiệp bị tiệt trừ và đấtruộng được tư hữu hóa, trong khi đó ngoại thương trở thành một trọng tâm
Trang 20mới quan trọng, dẫn đến việc thiết lập các đặc khu kinh tế Những doanhnghiệp quốc doạnh không hiệu quả bị tái cơ cấu và những doanh nghiệp thua
lỗ phải đóng cửa hoàn toàn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp lớn Trung Quốchiện nay có đặc điểm chủ yếu là một nền kinh tế thị trường dựa trên quyền sởhữu tài sản tư nhân, và là một trong các ví dụ hàng đầu về chủ nghĩa tư bảnnhà nước Nhà nước vẫn chi phối trong những lĩnh vực "trụ cột" chiến lượcnhư sản xuất năng lượng và công nghiệp nặng, song doanh nghiệp tư nhân mởrộng mạnh mẽ, với khoảng 30 triệu doanh nghiệp tư nhân vào năm 2008
Kể từ khi bắt đầu tự do hóa kinh tế vào năm 1978, Trung Quốc nằm trong
số các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, dựa ở mức độ lớn vàotăng trưởng do đầu tư và xuất khẩu Trong gần 30 năm từ năm 1978, GDP củaTrung Quốc đã tăng 15 lần, sản xuất công nghiệp tăng hơn 20 lần; kim ngạchthương mại tăng hơn 100 lần Vào năm 1992, Trung Quốc vẫn còn xếp thứ
133 thế giới về GDP bình quân đầu người, với hơn một nửa dân số sống dướimức 2 USD/ngày, nhưng dự kiến tới năm 2022, Trung Quốc sẽ tăng 69 bậc(lên hạng 64 thế giới) trong xếp hạng về GDP bình quân đầu người, và chỉcòn chưa đầy 2% dân số Trung Quốc sống dưới chuẩn nghèo của thế giới Tớinay, Trung Quốc đã hoàn thành công nghiệp hóa và tạo ra một cơ sở vữngchắc để giải quyết việc biến Trung Quốc từ một “công xưởng của thế giới”thành một “nhà máy của tri thức”
Theo IMF, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốctrong giai đoạn 2001-2010 là 10,5% Trong giai đoạn 2007-2011, tăng trưởngkinh tế của Trung Quốc tương đương với tổng tăng trưởng của các quốc giaG7 Năng suất cao, chi phí lao động thấp và cơ sở hạ tầng tương đối thấpkhiến Trung Quốc dẫn đầu thế giới về chế tạo Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốccần rất nhiều năng lượng và không hiệu quả; Trung Quốc trở thành nước tiêuthụ năng lượng lớn nhất thế giới vào năm 2010, dựa vào than đá để cung cấp
Trang 21trên 70% nhu cầu năng lượng trong nước, và vượt qua Hoa Kỳ để trở thànhnước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới vào tháng 9 năm 2013.
Trung Quốc là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và làcường quốc giao thương lớn nhất thế giới, với tổng giá trị mậu dịch quốc tế là3.870 tỷ USD trong năm 2012 Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đạt 2.850 tỷUSD vào cuối năm 2010, là nguồn dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới cho đếnđương thời Năm 2012, Trung Quốc là quốc gia tiếp nhận đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) nhiều nhất thế giới, thu hút 253 tỷ USD Trung Quốc cũngđầu tư ra hải ngoại, tổng FDI ra ngoại quốc trong năm 2012 là 62,4 tỷ USD,các công ty Trung Quốc cũng tiến hành những vụ thu mua lớn các hãng ngoạiquốc Tỷ giá hối đoái bị định giá thấp gây xích mích giữa Trung Quốc với cácnền kinh tế lớn khác
Dân số tầng lớp trung lưu tại Trung Quốc (có thu nhập hàng năm từ10.000-60.000 USD) đạt trên 300 triệu vào năm 2012 Theo Hurun Report, sốlượng tỷ phú USD tại Trung Quốc tăng lên 251 vào năm 2012 Thị trường bán
lẻ nội địa của Trung Quốc có giá trị 20.000 tỷ tệ (3.200 tỷ USD) vào năm
2012 và tăng trưởng trên 12%/năm vào năm 2013, trong khi thị trường xa xỉphẩm phát triển mạnh, với 27,5% thị phần toàn cầu vào năm 2010 Tuy nhiên,trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốcgóp phần vào lạm phát tiêu thụ nghiêm trọng, làm gia tăng các quy định củachính phủ Trung Quốc có bất bình đẳng kinh tế ở mức độ cao, và tăng lêntrong các thập niên vừa qua
Đến cuối năm 2012, số người nghèo tại khu vực nông thôn của TrungQuốc là khoảng 98,99 triệu theo chuẩn nghèo Trung Quốc, chiếm 10,2% dân
số khu vực nông thôn Một báo cáo của Đại học Bắc Kinh cho biết theo sốliệu thu nhập năm 2012, 1% các gia đình giàu có nhất tại Trung Quốc sở hữu
Trang 22hơn 1/3 giá trị tài sản toàn quốc, 25% các gia đình nghèo nhất chiếm 1% giátrị tài sản toàn quốc.
Trang 23CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG PHÁP LUẠT TRUNG QUỐC
1 Khái niệm hệ thống pháp luật Trung Quốc
1.1 Chế độ pháp luật Trung Quốc
“Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc" là bộ luật căn bản của quốc gia, dựa trên
cơ sở lý luận Chủ nghĩa Tam Dân và Ngũ quyền phân lập của Tôn Trung Sơn.Chủ nghĩa Tam Dân chủ trương chủ nghĩa dân tộc bình đẳng cùng tồn tại giữacác dân tộc và quốc gia, chủ nghĩa dân quyền mà theo đó công dân được thihành quyền lợi chính trị quản lý chính phủ, và chủ nghĩa dân sinh mà theo đóchính phủ vì nhân dân phục vụ và xây dựng kinh tế-xã hội phồn vinh, do đó
"Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc chỉ rõ chế độ là "nước cộng hòa dân chủcủa dân, do dân, vì dân" Ngũ quyền hiến pháp xác lập chế độ tư pháp độc lậpvới các quyền hành chính, quyền lập pháp, quyền khảo thí và quyền giám sát.Ngoài quy định ngũ quyền hiến pháp của thể chế chính phủ trung ương và chế
độ chính phủ tự trị địa phương, hiến pháp còn làm rõ quyền hạn giữa chínhphủ trung ương và chính phủ địa phương, chọn chế độ bình quyền, các quốcsách cơ bản khác
Ngày 11 tháng 3 năm 1912, Tôn Trung Sơn công bố "Ước pháp lâm thờiTrung Hoa Dân Quốc" để làm pháp luật cơ bản lâm thời của quốc gia, đây làlần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc tư tưởng "chủ quyền tại dân" được đưavào pháp quy Năm 1913, Quốc hội khóa I của Trung Hoa Dân Quốc đề xuất
dự thảo hiến pháp (còn gọi là Dự thảo hiến pháp Thiên Đàn) Năm 1914, ViênThế Khải giải tán quốc hội, đến ngày 1 tháng 5 cùng năm ông công bố "Ướcpháp Trung Hoa Dân Quốc" (còn gọi là Ước pháp Viên ký") Năm 1919,trong thời kỳ Đoàn Kỳ Thụy chấp chính, có đề xuất dự thảo hiến (Dự thảohiến pháp năm thứ 8) Năm 1923, trong thời kỳ Tào Côn nhậm chức đại tổngthống đã công bố "Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc (Hiến pháp Tào Côn)
Trang 24Năm 1925, Đoàn Kỳ Thụy trong thời gian tại nhiệm lần thứ hai lại đề xuất dựthảo hiến pháp (Dự thảo hiến pháp năm thứ 14).
Năm 1928, sau khi Quốc dân đảng thống nhất Trung Quốc, vào ngày 3tháng 10 cùng năm Ủy ban Thường vụ Trung ương của đảng này thông qua
"Cương lĩnh huấn chính", vào ngày 5 tháng 5 năm 1931 trong Đại hội đảngthông qua "Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân Quốc" Ngày 5tháng 5 năm 1936, Chính phủ Quốc dân công bố dự thảo hiến pháp, là tiềnthân của Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc hiện nay Ngày 25 tháng 12 năm
1946, Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc được thông qua, được công bố vàođầu năm 1947 và thi hành từ ngày 25 tháng 12 cùng năm Từ đó, Trung HoaDân Quốc kết thúc thời kỳ huấn chính, chính thức bước vào thời kỳ hiếnchính Tuy nhiên, Quốc-Cộng nội chiến khiến rất nhiều điều khoản mất hiệulực
Sau khi Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1912, Chính phủBắc Dương lấy phương thức "trên nguyên tắc kế thừa pháp chế triều Thanh"trong thời kỳ quá độ Ngày 21 tháng 2 năm 1913, Bộ Tư pháp lệnh cho cáctỉnh cải tổ tòa án: tại các tỉnh thành lập tòa án cao đẳng, tại khu hành chínhcấp địa khu và thương cảng lập tòa án cấp địa phương, địa phương cấp huyệntòa án sơ cấp" Tháng 10 năm 1927, Chính phủ Quốc dân Nam Kinh công bố
"Điều lệ tạm thời tổ chức Tòa án tối cao", thực hiện chế độ bốn cấp và ba lầnxét xử Bốn cấp tức là tại trung ương lập tòa án tối cao, tại địa phương lập tòa
án cấp cao, tòa án địa phương, các huyện không lập tòa án địa phương thì lập
cơ quan tư pháp Tháng 10 năm 1932, ban bố quy định tổ chức tòa án, theo đó
cơ quan thẩm phán phổ thông trung ương và địa phương, từ bốn cấp giảm còn
ba cấp: trung ương lập tòa án tối cao, cấp tỉnh có tòa cao đẳng, cấp huyện cótòa án địa phương Trung Quốc có quá trình lịch sử lâu đời với nền văn minhtrải dài hàng chục thế kỉ Lịch sử pháp luật Trung Quốc có thể chia thành hai
Trang 25giai đoạn: lịch sử pháp luật Trung Quốc truyền thống và lịch sử pháp luậtTrung Quốc hiện đại.
Trung Quốc truyền thống là nhà nước Trung Quốc dưới các triều đại trướctriều đại nhà Thanh Lịch sử pháp luật và cấu trúc pháp luật Trung Quốctruyền thống mang đặc điểm của chế độ phong kiến, đứng đầu là hoàng đế vàchịu ảnh hưởng của hai trường phái triết học cổ điển của Trung Quốc: Nhogiáo và Chủ nghĩa tuân thủ pháp luật tuyệt đối (legalism)
Bộ luật lâu đời nhất của Trung Quốc truyền thống là Bộ luật nhà Đườngban hành vào thế kỉ thứ VII sau công nguyên Bộ luật nhà Đường là nền tảngcho việc xây dựng và phát triển các bộ luật của các triều đại nhà Tống, nhàNguyên, nhà Minh và thậm chí cả nhà Thanh sau này Những bộ luật và luật
đó điều chỉnh cả những vấn đề đáng nhẽ phải được điều chỉnh bằng luật hình
sự, theo cách tiếp cận pháp luật hiện đại Tuy nhiên, trong các triều đại phongkiến Trung Quốc, không có sự phân biệt về phương diện luật học giữa luậthình sự và luật dân sự và các chế tài hình sự đôi khi được áp dụng đối với cảnhững hành vi mà ngày nay được điều chỉnh bởi luật dân sự
Vì vậy, nếu một người muốn nhà nước can thiệp vào vấn đề nào đó thuộclĩnh vực luật tư, người đó sẽ phải cáo buộc bên bị về hành vi phạm tội nào đó.Các tranh chấp giữa các cá nhân (tranh chấp dân sự) có liên quan tới nhữngvấn đề gia đình hoặc đất đai nói chung, thường được giải quyết bằng conđường hoà giải Việc giải quyết tranh chấp không chính thức đó do nhữngngười lãnh đạo có uy tín hoặc người già trong các làng, xã đảm nhiệm Luật
áp dụng để hoà giải xung đột giữa các bên có tranh chấp là tập quán pháp vàcác quy phạm đạo đức
Trong nhà nước Trung Quốc truyền thống, hoàng đế được trao cả quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp Luật do hoàng đế sáng tạo ra có giá trị ràng buộc
Trang 26mọi chủ thể trong xã hội nhưng không có giá trị ràng buộc chính Hoàng đế.Tuy nhiên, cái được gọi là luật do hoàng đế ban hành chỉ chủ yếu nhằm điềuchỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hành chính và hình sự; luật tư hầunhư không có và vì vậy vẫn phải dựa vào tập quán pháp Với quyền lực tưpháp tối cao, hoàng đế có thể định tội cho các phạm nhân, áp đặt hình phạthoặc sửa đổi phán quyết của các cơ quan xét xử cấp dưới.
Trung Quốc hiện đại là nhà nước Trung Quốc từ triều đại nhà Thanh trở đi.Đầu thế kỉ XX, nhà Thanh đã có những nỗ lực để hiện đại hoá hệ thống phápluật Trung Quốc Một số khía cạnh của hệ thống pháp luật Trung Quốc dướitriều đại Nhà Thanh (ví dụ : sự khắc nghiệt của thủ tục tố tụng hình sự và sựvắng bóng của luật thương mại) đã cho thấy sự sơ khai của pháp luật TrungQuốc so với các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác trong cùng thời kì
Vì vậy, một sáng kiến đã được đưa ra vào năm 1904, đó là việc thành lập Vănphòng cải tổ pháp luật với nhiệm vụ dịch các bộ luật của nước ngoài đểnghiên cứu và tham khảo, phục vụ cho việc xây dựng và ban hành luật mới.Sáng kiến thứ hai theo xu hướng hiện đại hoá là việc soạn thảo Đe cươngHiến pháp đế quốc (Imperial Constitutional Outline) vào năm 1908 Tuynhiên, triều đại nhà Thanh đã bị sụp đổ vào năm 1911 trước khi kịp ban hànhnhững đạo luật đã được soạn thảo
Theo sau cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911, ước nguyện về một đất nướckhông bị các cường quốc văn minh phương Tây chi phối đã buộc Trung Quốcphải ban hành hàng loạt các bộ luật được soạn thảo dựa trên hình mẫu các bộluật của các nước châu Âu lục địa Bộ luật dân sự trong giai đoạn năm 1929 -
1931 bao gồm cả luật dân sự và thương mại, Bộ luật đất đai năm 1930 và Bộluật tố tụng dân sự năm 1932 đã lần lượt được đưa vào áp dụng Như vậy vềmặt hình thức, có thể nói, luật của Trung Quốc đã bị Âu hoá và vì vậy có thểtạm xếp hệ thống pháp luật Trung Quốc vào dòng họ civil law ở Trung Quốc,
Trang 27cũng tương tự như ở Châu Âu lục địa khi đó, người ta có xu hướng quan tâmtới việc nghiên cứu về lí luận pháp luật.
Sau đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ra đời ngày 01 tháng 07 năm 1921) đãthành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, vì vậy, hệ thống pháp luậtTrung Quốc đã chuyển sang hướng mới theo mô hình của Liên Xô, dựa trên
cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Sự kiện này đã làm cho hệ thốngpháp lụât Trung Quốc trở thành thành tố của dòng họ pháp luật mới, đó làdòng họ pháp luật xã hội chủ nghĩa
Sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vào cuối thập kỉ thứ 8, đầuthập kỉ thứ 9 của thế kỉ XX đã một lần nữa đem đến những đổi thay cho hệthống pháp luật Trung Quốc Trong những năm gần đây, nhiều đạo luật điểnhình của nền kinh tế thị trường đã được Nhà nước Cộng hoà nhân dân TrungHoa thông qua, ví dụ: Luật công ti năm 1993 (sửa đổi năm 1999 và 2005);Luật chứng khoán năm 1998 (sửa đổi năm 2005); Luật phá sản năm 2006 vàLuật chống độc quyền năm 2007 Vì vậy, khó có thể nói ngày nay Trungquốc vẫn tiếp tục sở hữu hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa thuần túy Thựcchất, hệ thống pháp luật đó đã ít nhiều pha trộn với pháp luật phương Tây,pháp luật của chủ nghĩa tư bản Hơn nữa, sự trở lại với Trung Quốc đại lụccủa Hong Kong năm 1997 theo thoả thuận giữa Chính phủ Trung Quốc vớiChính phủ Anh (năm 1984) và của Macau năm 1999 theo thoả thuận giữaChính phủ Trung Quốc với Chính phủ Bồ Đào Nha (năm 1987) đã làm cho hệthống pháp luật Trung Quốc thêm phần phức tạp, đặc biệt với chính sách
“một quốc gia, hai chế độ” của Đặng Tiểu Bình
Chính phủ Trung Quốc đã và đang theo đuổi chính sách khoan dung thựcdụng đối với Hong Kong và Macau nhằm mục đích kinh tế, với điều kiệnchính sách áp dụng ở những miền đất mới được giành lại này không gây ảnh
Trang 28hưởng bất lợi tới an ninh chính trị của Đảng cộng sản Trung Quốc Ngay từnăm 1957, Thủ tướng Chu Ân Lai đã chỉ rõ rằng Hong Kong và Macau hoàntoàn khác với Trung Quốc đại lục, vì vậy, cần phải có chính sách khác ápdụng với những miền đất này; rằng sẽ là sai lầm nếu Chính phủ Trung Quốcquản lí Hong Kong và Macau theo cùng phương thức với Trung Quốc đại lục;rằng Hong Kong có nền kinh tế thị trường tự do dựa trên các nguyên tắc củachủ nghĩa tư bản và hoạt động theo mô hình tư bản chủ nghĩa, vì vậy khôngthể và không nên quản lí Hong Kong theo phương thức xã hội chủ nghĩa; ràngHong Kong chỉ có thể tồn tại và thịnh vượng nếu được quản lí theo chế độ tưbản chủ nghĩa và chỉ bàng cách đó Trung Quốc có thể tận dụng được sự tăngtrưởng kinh tế của Hong Kong.
Chủ trương nói trên của Thủ tướng Chu Ân Lai trong thập kỉ thứ năm của thế
kỉ XX đã được thu nhỏ và thể hiện trong lời phát biểu nổi tiếng nhất của ĐặngTiểu Bình về “một đất nước có thể có hai chế độ” Đặng Tiểu Bình còn khẳngđịnh: “trừ khi họ không cố ý lật đổ chế độ của Đại lục, chúng tôi sẽ không tìmcách lật đổ họ” Đó chính là cốt lõi của chính sách “một đất nước, hai chế độ”
Như vậy, sau khi Hong Kong và Macau được trả về với đại lục, Trung Quốc,
từ một hệ thống pháp luật điều chỉnh nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đã trở thành một hệ thống pháp luật đa dạng, gồm nhữngthành tố của pháp luật xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn chuyển đổi, củacommon law (trong địa phận của Hong Kong) và của civil law (trong địa phậncủa Macau) Theo các tuyên bố chung và theo các luật cơ bản (Tiểu Hiếnpháp) của cả Hong Kong và Macau, pháp luật ở hai vùng này về cơ bảnkhông thay đổi, cả hai vùng vẫn tiếp tục hưởng quyền lập pháp và tư pháp độclập để duy trì sự thịnh vượng và ổn định của mỗi vùng Với tư cách là nhữngkhu vực hành chính đặc biệt, độc lập về phương diện pháp luật, Hong Kongvẫn tiếp tục duy trì hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng sâu sẳc của hệ thống