1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh cấu trúc tòa án pháp anh việt nam

56 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh cấu trúc tòa án pháp anh việt nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 155,48 KB
File đính kèm So sánh cấu trúc Tòa án Pháp, Anh, Việt Nam.rar (154 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh hệ thống Tòa án Pháp, Tòa án Anh với Tòa án Việt Nam. Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc 2. Hệ thống tòa án của Anh2.1. Tổ chức tòa án cấp cao ở Anh2.2. Tòa án tối cao của Liên hợp quốc2.3. Hoạt động cơ mặt2.4. Xét xử các vụ việc hành chính2.5. Các quyết định của Tòa án Châu Âu về quyền con người2.6. Công bố và trích dẫn án lệ Pháp luật là một hiện tượng vô cùng phức tạp nên tính hệ thống của pháp luật có thể được xem xét ở nhiều phương diện, quy mô và phạm vi khác nhau như đối với các quy phạm pháp luật (hình thức cấu trúc bên trong của pháp luật), đối với nguồn pháp luật, mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống pháp luật thực định), đối với toàn bộ đời sống pháp luật. trong phạm vi quốc gia hoặc vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chủ thể xác định phương diện, quy mô và phạm vi xem xét khác nhau. Do vậy, hệ thống pháp luật theo nghĩa chung nhất được hiểu là một chỉnh thể các hiện tượng pháp luật (mà cốt lõi là các quy phạm pháp luật, được thể hiện trong các nguồn pháp luật) có sự liên kết, ràng buộc chặt chẽ, thong nhất với nhau, luôn cỏ sự tác động qua lại lẫn nhau để thực hiện việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Hệ thống pháp luật là tập hợp tất cả các quy phạm, văn bản pháp luật tạo thành một cấu trúc tổng thể, được phân chia thành các bộ phận có sự thống nhất nội tại theo những tiêu chí nhất định như bản chất, nội dung, mục đích. Việc nghiên cứu hệ thống tòa án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi nếu có thể hiểu được bản chất, xác định chính xác và sử dụng đúng đắn các kết quả nghiên cứu ấy sẽ góp phần tích cực vào công cuộc hoàn thiện hệ thống tòa án và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật của nó. Hiện nay, trên thế giới, có 02 hệ thống pháp luật là hệ thống Common law (hệ thống pháp luật Anh Mỹ) và hệ thống Civil law (hệ thống pháp luật Pháp Đức). Trong đó, hệ thống Common law chủ yếu sử dụng nguồn luật là án lệ trong xét xử, trái lại, Civil law lại dùng luật thành văn làm nguồn luật trong quá trình xét xử. Và Việt Nam có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc điểm của hệ thống Civil law. Tuy nhiên, Việt Nam ta không thừa nhận mình thuộc trường phái Common law hay Civil law một cách cụ thể. Luật Tòa án nhân dân 2014 có hiệu lực từ ngày 0162015 thừa nhận vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật nước nhà và Nghị quyết 032015NQHĐTP đã kịp thời được ban hành quy định về trình tự, công bố và áp dụng án lệ. Chính vì thế việc tìm hiểu và so sánh hai hệ thống pháp luật này với hệ thống pháp luật Việt Nam là rất cần thiết trong việc nghiên cứu pháp luật quốc tế nói chung và nghiên cứu pháp luật Việt Nam nói riêng.Có nhiều cách để phân loại các họ pháp luật trên thế giới tùy vào quan điểm, tiêu chí của từng người. Tuy nhiên trong bài tiểu luận chỉ đưa ra hai yếu tố cơ bản nhất để phân loại các họ pháp luật trên thế giới: lịch sử, cấu trúc hệ thống. Từ đó, hy vọng sẽ góp phần tạo nên cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về đặc điểm nổi bật của hai hệ thống pháp luật: Common law và Civil law dưới góc độ so sánh. Qua đó có được cái nhìn chính xác và khách quan hơn về vị trí pháp luật Việt Nam và những vấn đề còn tồn tại để có biện pháp cụ thể, kịp thời sửa đổi và định hướng phát triển trong tương lai.

Trang 1

So sánh hệ thống Tòa án Pháp, Tòa án Anh với Tòa án Việt Nam

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

Chương I Khái quát chung về nước Pháp và Hệ thống tòa án nước Pháp

1 Khái quát chung về nước Pháp

2 Hệ thống Tòa án của Pháp

2.1 Tòa án Tư pháp

2.2 Tòa án hành chính

2.3 Tòa án Hiến pháp

Chương II: Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc và hệ thống Tòa án Anh

1 Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc

2 Hệ thống tòa án của Anh

2.1 Tổ chức tòa án cấp cao ở Anh

2.2 Tòa án tối cao của Liên hợp quốc

2.3 Hoạt động cơ mặt

2.4 Xét xử các vụ việc hành chính

2.5 Các quyết định của Tòa án Châu Âu về quyền con người

2.6 Công bố và trích dẫn án lệ

Trang 2

2.7 Quy tắc án lệ và luật thành văn

Chương III: Khái quát chung về Việt Nam và hệ thống Tòa án Việt Nam 1 Khái quát chung về Việt Nam

2 Hệ thống Tòa án Việt Nam

3 Chế độ xét xử hai cấp

4 Thành phần hội đồng xét xử

Chương IV: Sự khác biệt giữa Tòa án Pháp, Tòa án Anh với Tòa án Việt Nam A Giống nhau

1 Thẩm quyền

2 Chia theo lãnh thổ

3 Chức năng

4 Vị trí, cách thức phá án

B Khác nhau

I Chia theo lãnh thổ

II Chức năng

III Vị trí

IV Cách thức phá án

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Pháp luật là một hiện tượng vô cùng phức tạp nên tính hệ thống của phápluật có thể được xem xét ở nhiều phương diện, quy mô và phạm vi khác nhau nhưđối với các quy phạm pháp luật (hình thức cấu trúc bên trong của pháp luật), đốivới nguồn pháp luật, mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống phápluật thực định), đối với toàn bộ đời sống pháp luật trong phạm vi quốc gia hoặcvượt ra khỏi phạm vi quốc gia Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chủ thể xác địnhphương diện, quy mô và phạm vi xem xét khác nhau Do vậy, hệ thống pháp luậttheo nghĩa chung nhất được hiểu là một chỉnh thể các hiện tượng pháp luật (mà cốtlõi là các quy phạm pháp luật, được thể hiện trong các nguồn pháp luật) có sự liênkết, ràng buộc chặt chẽ, thong nhất với nhau, luôn cỏ sự tác động qua lại lẫn nhau

để thực hiện việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội

Hệ thống pháp luật là tập hợp tất cả các quy phạm, văn bản pháp luật tạothành một cấu trúc tổng thể, được phân chia thành các bộ phận có sự thống nhấtnội tại theo những tiêu chí nhất định như bản chất, nội dung, mục đích Việcnghiên cứu hệ thống tòa án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi nếu có thểhiểu được bản chất, xác định chính xác và sử dụng đúng đắn các kết quả nghiêncứu ấy sẽ góp phần tích cực vào công cuộc hoàn thiện hệ thống tòa án và nâng caohiệu quả thực thi pháp luật của nó

Hiện nay, trên thế giới, có 02 hệ thống pháp luật là hệ thống Common law(hệ thống pháp luật Anh Mỹ) và hệ thống Civil law (hệ thống pháp luật Pháp Đức).Trong đó, hệ thống Common law chủ yếu sử dụng nguồn luật là án lệ trong xét xử,trái lại, Civil law lại dùng luật thành văn làm nguồn luật trong quá trình xét xử VàViệt Nam có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc điểm của hệ thống Civil law Tuynhiên, Việt Nam ta không thừa nhận mình thuộc trường phái Common law hay

Trang 6

Civil law một cách cụ thể Luật Tòa án nhân dân 2014 có hiệu lực từ ngày01/6/2015 thừa nhận vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật nước nhà và Nghịquyết 03/2015/NQ-HĐTP đã kịp thời được ban hành quy định về trình tự, công bố

và áp dụng án lệ Chính vì thế việc tìm hiểu và so sánh hai hệ thống pháp luật nàyvới hệ thống pháp luật Việt Nam là rất cần thiết trong việc nghiên cứu pháp luậtquốc tế nói chung và nghiên cứu pháp luật Việt Nam nói riêng

Có nhiều cách để phân loại các họ pháp luật trên thế giới tùy vào quan điểm,tiêu chí của từng người Tuy nhiên trong bài tiểu luận chỉ đưa ra hai yếu tố cơ bảnnhất để phân loại các họ pháp luật trên thế giới: lịch sử, cấu trúc hệ thống Từ đó,

hy vọng sẽ góp phần tạo nên cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về đặc điểm nổi bậtcủa hai hệ thống pháp luật: Common law và Civil law dưới góc độ so sánh Qua đó

có được cái nhìn chính xác và khách quan hơn về vị trí pháp luật Việt Nam vànhững vấn đề còn tồn tại để có biện pháp cụ thể, kịp thời sửa đổi và định hướngphát triển trong tương lai

Trang 7

Chương I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NƯỚC PHÁP VÀ TÒA ÁN PHÁP

1 Lịch sử nước pháp

Cộng hòa Pháp, tên thường gọi là Pháp (République française hay France).Paris là thủ đô của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tếnhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hànhchính của vùng Île-de-France Nằm ở phía bắc nước Pháp Paris được xây dựng haibên bờ sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité Đây cũng là nơi hợp lưu của sôngSeine và sông Marne

Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có Vào thế kỷ 10, Paris đã làmột trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu

Âu về giáo dục và nghệ thuật Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu Đến thế kỷ 19 và 20, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí

Nổi tiếng với tên gọi Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến

30 triệu khách nước ngoài Thành phố còn được xem như kinh đô của thời trang cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn Là nơi đặt trụ

sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO cộng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn "thành phố toàn cầu" cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo

Trang 8

áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Hệ thống dân luật được phát triển từ

bộ khung là luật La Mã, trong đó đã luật hóa các nguyên tắc chủ đạo để trở thành một hệ thống mà con người có thể viện dẫn được, đóng vai trò là nguồn luật cơ bản Hệ thống Civil law thông thường trái ngược hoàn toàn với hệ thống Common law có nguồn gốc từ nước Anh vào thời kỳ Trung cổ Khác biệt chủ yếu thường được đưa ra giữa hai hệ thống này là ở chỗ common law đề ra các quy tắc trừu tượng từ các vụ việc cụ thể, trong khi Civil law bắt đầu từ các quy tắc trừu tượng

để sau đó các quan tòa hay trọng tài phải áp dụng các quy tắc đó cho các vụ việc cụthể

2 Hệ thống Tòa án Pháp

Cộng Hòa Pháp, được chia thành 3 ngạch Tòa án Đó là Tòa án Hiến pháp,

Tòa án tư pháp và Tòa án hành chính Tòa án Hiến Pháp (hay chính là Hội

đồng bảo hiến) gồm 9 thành viên, trong đó 3 thành viên do Tổng thống bổ

nhiệm, 3 thành viên do Chủ tịch Thượng nghị viện bổ nhiệm, 3 thành viên do Chủ tịch Hạ nghị viện bổ nhiệm Thẩm phán là những người có năng lực xuất sắc thì mới được bổ nhiệm ; Tòa án tư pháp có chức năng giả quyết các tranh chấp giữa các cá nhân và chừng trị người phạm tội Trong Tòa án tư pháp gồm

Trang 9

có Tòa phá án, Tòa phúc thẩm, Tòa sơ thẩm bao gồm : Thẩm phán, Viện trưởngviện công tố, các phó viện trưởng, công tố viên ; Tòa án hành chính chịu sự giám sát tối cao của Tham chính viện (tòa hành chính tối cao) gồm các thẩm phán Các thẩm phán thuộc ngạch tòa hành chính có quy chế khác với thẩm phán ngạch tòa tư pháp, họ tôn trọng nhau, độc lập với nhau.

TÒA SƠ

THẨM QUYỀN

TÒA PHÚC THẨM

TÒA VI CÁNH

TÒA TIỂU HÌNH

TÒA ÁN HÀNH CHÍNH CHUYÊN BIỆT

TÒA TIỂU HÌNH PHÚC THẨM

TÒA ĐẠI HÌNH

TÒA HÀNH CHÍNH CHUYÊN BIỆT

TÒA SƠ THẨM

TÒA PHÚC THẨM

THAM CHINH VIỆN

TÒA ÁN HÀNH CHÍNH CHUYÊN BIỆT

TÒA ÁN HÀNH CHÍNH

HỆ THỐNG TÒA

ÁN PHÁP

Trang 10

SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HỆ THỐNG TÒA ÁN PHÁP

2.1 Toà án tư pháp

2.1.1 Toà dân sự sơ thẩm thông thường

Toà dân sự thông thường gồm có các cấp xét xử:

- Toà sơ thẩm thẩm quyền hẹp - Tribunal d,Instance toà này thay thế cho các toàhoà giải (Tribunal de paix) tồn tại trước năm 1958 Các toà này có thẩm quyền xét

xử các vụ dân sự nhỏ, có giá trị tranh chấp đến 10.000 euros, sơ thẩm đồng thờichung thẩm các vụ án có giá trị từ 3.000 euros trở xuống

- Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng (Tribunal de Grande Instance) là cấp xét xử cơbản của hệ thống toà án Pháp Mỗi tỉnh có từ 1 đến 3 toà Toàn bộ nước Pháp có

158 toà Toà án này xét xử theo nguyên tắc tập thể, mỗi phiên toà đều có 3 thẩmphán chuyên nghiệp Quyết định của toà án này có thể bị kháng nghị, kháng cáolên toà phúc thẩm

- Toà phúc thẩm (Cour d’Appel) được thành lập ở các thành phố lớn và các khuvực lãnh thổ Toàn thể nước Pháp có 35 Toà phúc thẩm (chưa kể lãnh thổ hảingoại) Tòa án này có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các vụ án do các toà án cấp dướixét xử bị kháng nghị, kháng cáo, và xét xử sơ thẩm các bản án phức tạp Các vụ ánxét xử phúc thẩm gồm có 5 thẩm phán, các vụ án xét xử sơ thẩm gồm 3 thẩm phán

và 9 hội thẩm (lấy theo danh sách cử tri có lý lịch tư pháp trong sạch) Quyết địnhcủa Toà phúc thẩm có thể bị kháng nghị, kháng cáo lên Toà phá án

2.1.2 Toà dân sự đặc biệt

Bên cạnh các toà dân sự thông thường còn có các toà án khác như toà thương mại(Tribunal de Commerce), toà lao động (Conseil prud’hommes), toà xét xử hợpđồng nông nghiệp (Tribunal pạritaire des baux ruraux)

2.1.3 Toà hình sự thông thường

Trang 11

Toà hình sự thông thường ở Pháp được tổ chức phù hợp với việc phân loại tộiphạm trong Bộ luật hình sự Pháp Bộ luật hình sự hiện hành của Pháp phân chia tộiphạm làm ba loại: Contravention (tội vi cảnh như lái xe quá tốc độ chưa gây tainạn, lái xe không có giấy phép, lái xe sử dụng rượu, bia, trộm cắp nhỏ bị bắt quảtang ); delit (tội phạm thường); crime (tội giết người) Mỗi loại tội phạm được xét

xử ở một loại toà án khác nhau

- Toà vi cảnh (Tribunal de police) xét xử các tội vi cảnh,có thể áp dụng các hìnhphạt tù từ 1 ngày đến 2 tháng, phạt tiền từ 3.000 euros trở xuống;

- Toà tiểu hình (Tribunal correctinnel) xét xử thường tội (delit) và có thể áp dụnghình phạt tù trên hai tháng hoặc phạt tiền trên 3.000 euros;

- Toà tiểu hình phúc thẩm (Tribunal correctionnel d’appel) xét xử phúc thẩm cácbản án bị kháng nghị, kháng cáo của hai loại toà án nói trên

Phiên toà phúc thẩm tiểu hình được xét xử bằng ba thẩm phán chuyên nghiệp

- Toà đại hình (Cour d'Assises) xét xử các tội đại hình (tội giết người)

Toà đại hình không phải là toà án hoạt động thường trực mà 3 tháng/kỳ Trong cácphiên toà đại hình ngoài 3 Thẩm phán, Công tố viên còn có 9 Hội thẩm (Jure) CácHội thẩm tham gia xét xử vụ án được lựa chọn một cách ngẫu nhiên bằng phươngpháp bốc thăm trong số 50 Hội thẩm nhân dân được toà án gọi đến Danh sách cácHội thẩm nhân dân được Toà đại hình lựa chọn hàng năm từ danh sách cử tri có lýlịch tư pháp trong sạch Các thẩm phán và hội thẩm bình đẳng khi xử án Trongmột phiên toà đại hình, thẩm phán và hội thẩm phải bỏ hai loại phiếu kín để giảiquyết vụ việc Phiếu thứ nhất trả lời câu hỏi có tội hay không có tội? Bị cáo chỉ bịcoi là có tội khi có ít nhất 2/3 tổng số thẩm phán và hội thẩm khẳng định là có tội.Hình phạt cụ thể sẽ được quyết định sau khi công bố kết quả lần bỏ phiếu thứ nhất.Lần bỏ phiếu thứ hai để quyết định hình phạt cụ thể chỉ xẩy ra khi kết quả lần mộtđược công bố là có tội Trước khi lần bỏ phiếu thứ hai sẽ thực hiện, trong phòngnghị án các thẩm phán có nghĩa vụ giải thích quy định điều luật liên quan đến tội

Trang 12

phạm tương ứng mà bị cáo phạm phải Mức độ hình phạt (thời gian tù có thời hạnhoặc tù chung thân) được quyết định theo đa số.

2.1.4 Toà án hình sự đặc biệt:

Toà án hình sự đặc biệt gồm có:

- Toà án dành cho các vị thành niên (Tribunal des Enfants);

- Toà án quân sự;

- Toà án an ninh quốc gia

Trong các toà hình sự của Pháp đều có thẩm phán điều tra (Jugde d’Instruction),thẩm phán xét xử (Jugde) và thẩm phán áp dụng hình phạt (Jugde d’Application depeine)

2.1.5 Toà phá án (Cour de Cassation)

Toà phá án là Toà án tư pháp tối cao của nước cộng hoà Pháp Toà án này được gọi

là Toà phá án vì nó thường huỷ bỏ các bản án của toà án cấp dưới nhưng khôngthay thế các bản án đó bằng các bản án của mình mà gửi vụ án xuống một toà ánkhác cùng cấp toà án đã xét xử vụ việc, xét xử lại Toà phá án chỉ xem xét

“questions of law” chứ không xem xét “questions of fact” điều đó có nghĩa là Toàphá án chỉ xem xét toà án cấp dưới khi xét xử có tuân thủ đúng các quy tắc củapháp luật vật chất và tố tụng hay không, áp dụng pháp luật đúng hay sai còn việcxét xử lại Toà án sẽ không tự mình xem xét Như vậy, nếu một bản án có sai sót vềmặt thủ tục tố tụng hay áp dụng pháp luật nội dung không đúng thì Toà phá án sẽhuỷ án và chuyển hổ sơ vụ án cho một Toà án phúc thẩm khác xét xử lại

Toà phá án có 6 toà (Chambre) chuyên trách bao gồm 3 tòa dân sự, 1 tòa thươngmại, tài chính, 1 toà hình sự, 1 toà về các vấn đề xã hội Về nhân sự Toà phá án có

1 chánh án, 6 chánh toà, 84 thẩm phán, 37 cố vấn (conseiller referendaire), 1 việntrưởng công tố, 1 viện phó công tố, 19 công tố viên cao cấp, 2 công tố viên uỷquyền Tổng số thẩm phán và công tố viên của Toà phá án là 149

Trang 13

2.2 Toà án hành chính

2.2.1 Toà án hành chính thẩm quyền chung

*Toà hành chính sơ thẩm (Tribunal Administratif)

Toà án hành chính sơ thẩm là toà án có thẩm quyền chung trong lĩnh vực hànhchính, xét xử sơ thẩm mọi vụ việc hành chính, trừ một số trường hợp ngoại lệ vụviệc được giao cho toà án khác theo quy định của pháp luật Các toà án hành chính

sơ thẩm được thành lập từ năm 1953(1) thay thế cho các “Hội đồng tỉnh trưởng”vốn là một dạng toà án được thành lập vào năm 1800 trong mỗi tỉnh với năng lựcrất hạn chế Thẩm quyền của Toà án hành chính được xác định theo nguyên tắclãnh thổ nghĩa là Toà hành chính có thẩm quyền xét xử là toà án nơi có trụ sở của

cơ quan hành chính đã ban hành quyết định hành chính bị khiếu kiện, hoặc hợpđồng hành chính có tranh chấp Hiện nay trên toàn bộ lãnh thổ Pháp có 37 Toàhành chính sơ thẩm

* Toà hành chính phúc thẩm (Tribunal Administratif d Appel).

Toà hành chính phúc thẩm được thành lập ở các thành phố lớn như Paris, Bordaux,Marseil, Lyon và một số thành phố là trung tâm của một số khu vực lãnh thổ nhưNancy, Nantes, Douai, Versailles.Theo nguyên tắc trên, Pháp có 8 toà hành chínhphúc thẩm

* Tham chính viện (Conseil d'Etat)

Tham chính viện là toà án hành chính tối cao của Pháp, ngoài ra Tham chính việncòn là cơ quan tham mưu cho Chính phủ Pháp

Tham chính viện có khoảng 300 thành viên nhưng chỉ 2/3 trong số đó là hoạt độngthường xuyên tại tham chính viện, số còn lại thường nắm giữ những chức vụ quantrọng trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương Đa số các thành viên củatham chính viện được lựa chọn từ những người đã tốt nghiệp Học viện hành chínhquốc gia Thành viên tham chính viện chia làm ba loại: thẩm phán tập sự, thẩm

Trang 14

phán tham vấn và thẩm phán cao cấp Tham chính viện được chia thành 6 ban, 5ban có chức năng hành chính (nội vụ, tài chính, công chính, xã hội, nghiên cứu) và

1 ban có chức năng tài phán Ban tài phán chia làm 10 tiểu ban Tuỳ theo tầm quantrọng và tính chất của vụ việc cần giải quyết, hội đổng xét xử của Tham chính viện

có 4 dạng sau đây:

- Đối với vụ việc đơn giản Hội đồng xét xử chỉ có 3 thẩm phán;

- Đối với những vụ việc tương đối phức tạp và khó giải quyết Hội đồng xét xửđược thành lập từ nhiều tiểu ban, gồm 9 thành viên, trong đó tiểu ban đã thụ lý vụviệc và tiến hành thẩm cứu sẽ phối hợp với một tiểu ban khác để xét xử

- Đối với những vụ việc phức tạp và khó giải quyết về mặt pháp luật hoặc có ýnghĩa quan trọng Hội đồng xét xử sẽ có 17 thành viên bao gồm Chủ tịch Ban tàiphán, 3 Phó chủ tịch Ban tài phán, 10 Chủ tịch tiểu ban, báo cáo viên và 2 thẩmphán cao cấp

- Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp và nhạy cảm về chính trị thì phải do Hội đồngthẩm phán Tham chính viện xét xử Đây là Hội đồng cao nhất, gồm Chủ tịch củatất cả các Ban hành chính và Ban tài phán, 3 Phó chủ tịch Ban tài phán, Chủ tịchtiểu ban thẩm cứu và báo cáo viên, dưới sự chủ toạ của Phó chủ tịch Tham chínhviện (tất cả có 12 thành viên)

Các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tham chính viện chủ yếu bao gồm:

- Khiếu kiện đối với Nghị định và Pháp lệnh của Chính phủ;

- Khiếu kiện đối với các quyết định là văn bản quy phạm pháp luật của các Bộtrưởng cũng như quyết định là văn bản áp dụng pháp luật;

- Khiếu kiện đối với những văn bản hành chính có phạm vi áp dụng vượt ra ngoàiquản hạt của một toà án hành chính sơ thẩm;

- Khiếu kiện đối với những quyết định hành chính của cơ quan đại diện của Pháp ởnước ngoài;

Trang 15

- Khiếu kiện đối với những quyết định của bộ trưởng trong lĩnh vực kiểm soát tậptrung kinh tế;

- Khiếu kiện về sự xâm hại của các quyết định xử phạt của cơ quan hành chính độclập ban hành;

- Khiếu kiện về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản hành chính;

- Tranh chấp liên quan đến tình trạng cá nhân của công chức được bổ nhiệm theoquyết định của Tổng thống;

- Khiếu kiện về bầu cử đại biểu Hội đổng vùng, đại biểu Hội đồng đảo Corse vàthành viên Nghị viện châu Âu

Tham chính viện là cơ quan duy nhất có quyền giải quyết kháng nghị giám đốcthẩm đối với các quyết định xét xử chung thẩm của mọi toà án hành chính Khácvới Toà phá án trong toà án tư pháp Tham chính viện sau khi huỷ án hành chính cóthể trực tiếp xét xử lại về mặt nội dung vụ việc nếu thấy “ có lợi cho công tác quản

lý xét xử” Ngoài ra Tham chính viện có thẩm quyền đưa ra ý kiến hướng dẫn giảiquyết vụ việc theo yêu cầu của các toà án hành chính sơ thẩm hoặc toà án hànhchính phúc thẩm

2.2.2 Các toà án hành chính thẩm quyền chuyên biệt

Nước công hoà Pháp có các toà án hành chính chuyên biệt sau đây:

- Toà kiểm toán (Tribunal de Compte) thành lập năm 1807;

- Toà kỷ luật, ngân sách và tài chính thành lập năm 1948;

- Ưỷ ban quốc gia về giải quyết tranh chấp về dịch vụ y tế và xã hội thành lập năm1990;

- Uỷ ban trung ương về giải quyết khiếu kiện của người tỵ nạn thành lập năm

1988

Trang 16

Sở dĩ các toà án hành chính này gọi là các toà án hành chính có thẩm quyềnchuyên biệt là vì mồi toà án thuộc loại này chỉ có một phạm vi thẩm quyền nhấtđịnh, mang tính chất đặc thù của vụ việc Một số thiết chế nói trên được tổ chứctheo hai cấp xét xử Ví dụ, Toà kiểm toán trung ương có quyền xử phúc thẩm quyếtđịnh của các Toà kiểm toán vùng Tất cả các thiết chế này đều chịu sự kiểm tra củaTham chính viện thông qua cơ chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc giámđốc thẩm, chính vì vậy mà các toà án này được xếp vào ngạch hành chính.

Các quy tắc tố tụng áp dụng cho các toă án hành chính thẩm quyền chungcũng được áp dụng cho toà án hành chính có thẩm quyền chuyên biệt trừ trườnghợp văn bản thành lập toà án hành chính chuyên biệt có quy định khác Nguyên tắctranh tụng với sự đòi hỏi các bên phải được thông báo về các tài liệu, lý lẽ và yêucầu của bên kia được áp dụng cho tất cả các toà án chuyên biệt cũng như các toà án

có thẩm quyền chung

2.3 Toà án Hiến pháp

Ở Pháp Toà án Hiến pháp được gọi là Hội đồng bảo hiến (ConseilConstitutionnel) Hội đồng bảo hiến được thành lập theo Hiến pháp 1958 Hộiđổng bảo hiến bao gồm 9 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm 1/3, Chủ tịchThượng viện bổ nhiệm 1/3, Chủ tịch Hạ viện bổ nhiệm 1/3 với nhiệm kỳ 9 năm vàcác thành viên không ai được phép giữ chức vụ này quá một nhiệm kỳ Ngoài 9thành viên nói trên, các cựu Tổng pháp (nếu không từ chối) đều là thành viên củaHội đổng bảo hiến

Chức năng của Hội đổng bảo hiến là kiểm soát tính hợp hiến của luật tuy nhiênHội đồng chỉ xem xét vụ việc khi có đơn đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủtịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện, 60 Thượng nghị sĩ hoặc 60 Hạ nghị Sĩ

Trang 17

Chương II: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT ANH QUỐC VÀ HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH QUỐC

1 Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc

Cải cách tư pháp ở Anh đã được khởi xướng từ những năm 1918 và được đưa rabàn bạc trong chính phủ Ngay từ 1986, Cục Công Tố Hoàng Gia đã ra đời và vừaqua tháng 5/2007 Bộ Tư Pháp mới của Anh cũng được thành lập Đồng thời dựđịnh sẽ đưa Tòa Án Tối Cao vào hoạt động từ tháng 10/2009 để đảm nhiệm toàn

bộ chức năng xét xử của ủy ban phúc thẩm của Thượng Nghị Viện Chế độ bổnhiệm thẩm phán cũng sẽ có nhiều thay đổi đó là trách nhiệm bổ nhiệm thẩm phảntheo luật cải tổ Hiến Pháp năm 2005 được đặt vào tay tập thể chứ không nằm trongtay cá nhân Đại Pháp Quan như trước, hơn nữa thủ tục bổ nhiệm thẩm phán cũngminh bạch hơn, việc bổ nhiệm được tiến hành căn cứ vào phẩm chất và năng lựccủa từng ứng cử viên

Cải cách tư pháp là hoạt động được tiến hành rộng rãi trên nhiều lĩnh vực: Cảicách hệ thống tòa án, cải cách ngành công tố, Bộ tư pháp Trên cơ sở tiếp thu nhữngkinh nghiệm cải cách tư pháp ở Anh và nghị quyết 49/TW ngày 2/6/2005 của BộChính Trị nhóm tác giả đưa ra những ý kiến cải cách tư pháp ở Việt Nam trongthời gian tới

Việc nghiên cứu án lệ Anh đòi hỏi phải đặt trong quá trình ra đời, phát triển củapháp luật nước này và hệ thống toà án Anh Hệ thống thông luật trên toàn thế giớibắt nguồn từ Anh quốc vào giai đoạn phát triển về kinh tế, xã hội, chính trị và phápluật dưới chế độ phong kiến Một trong những đặc điểm ở Anh lúc đó là các tranhchấp được giải quyết hoàn toàn trong phạm vi hẹp của các lãnh địa mà không quantâm đến các vùng khác giải quyết như thế nào Khi nhà vua muốn thiết lập quyềnlực tập trung, ý định này gặp phải sự phản kháng từ các vị lãnh chúa Mặc dù vậy,nhà vua vẫn thành lập các tòa án của mình và cử các thẩm phán đi xét xử lưu động

Trang 18

trên toàn vương quốc với thẩm quyền về một số loại vụ việc, chứ không phải cóthẩm quyền chung Bằng các phán quyết của mình có tính chất chung, thông lệ(common) trên toàn vương quốc, các tòa án hoàng gia đã tạo nên những luật lệthống nhất đầu tiên, tạo nền tảng cho sự thống nhất của cả trật tự pháp lý Từ đâyxuất hiện khái niệm “thông luật”- common law, tức là pháp luật có tính chất chungtrên toàn vương quốc Anh Đáng nói là, quá trình phát triển và tập trung hóa hệthống pháp luật ở Anh diễn ra sớm hơn nhiều so với sự phát triển của nghị việnAnh Trong suốt quá trình song hành, luôn diễn ra sự xung đột giữa luật của tòa án

và luật thành văn, phản ánh mâu thuẫn giữa vương quyền và nghị viện

Khi luật thành văn có thể áp dụng trực tiếp cho một tình huống cụ thể, tòa ánphải ra phán quyết theo quy định thành văn; nhưng khi có sự nghi ngờ, văn bảnpháp luật do nghị viện ban hành sẽ được giải thích một cách rất hạn hẹp nhằmgiảm thiểu tối đa sự 2 “xâm chiếm” của văn bản và dành cho tòa án thẩm quyền tối

đa Hệ thống các quy phạm pháp lý đã định hình cơ bản dựa trên các phán quyếtcủa tòa án Cần biết đặc điểm này để hiểu được bản chất của thông luật nói chung

và án lệ nói riêng ở Anh quốc, nhất là đặt trong mối quan hệ giữa án lệ và luậtthành văn Nguyên tắc stare decisis, theo đó, nghĩa vụ của thẩm phán Anh quốcphải tuân theo những quy tắc có trong những quyết định toà án được đưa ra trước

đó bắt đầu ăn sâu ở Anh chỉ từ nửa sau thế kỷ XIX Việc ban hành "Luật về Tổchức toà án" vào thời điểm này làm cho cấu trúc của hệ thống toà án trở nên rõràng, chặt chẽ hơn và việc nâng cao chất lượng của các tuyển tập án lệ đã hỗ trợđáng kể cho quy tắc án lệ được đưa vào thực tế nhiều hơn

2 Hệ thống toà án Anh quốc

Trang 19

SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH QUỐC

THƯỢNG NGHỊVIỆN

HỘI ĐỒNG CƠMẬT

TÒA PHÚCTHẨM

TÒA TỐI

TÒA NỮ

Trình tự phúc

thẩm

Quan hệ tổ chức(Phân tòa)

Trang 20

Hệ thống toà án Anh chia ra xét xử cấp cao (senior courts), với đỉnh là Tòa ántối cao Liên hiệp Anh (Supreme Court of the UK) và xét xử cấp thấp do số lượnglớn các toà cấp dưới và những cơ quan bán pháp lý tương đương thực hiện Tuynhiên, từ góc độ nghiên cứu án lệ, phần này của bài viết chỉ đề cập đến hoạt độngcủa các toà cấp cao bởi những toà đó không chỉ xem xét các vụ việc cụ thể mà cònđưa ra quyết định thường vượt ra khỏi khuôn khổ của vụ án và trong những điềukiện nhất định tạo ra tiền lệ cho những vụ việc sau này Các quan toà những toà áncấp cao ở Anh có vị trí quan trọng và vai trò của họ rất to lớn Ở Anh tồn tạimộtquyền lực tư pháp thực thụ mà về uy tín lẫn ý nghĩa đều không thua kém quyềnlực lập pháp và hành pháp

2.1 Tổ chức của các tòa cấp cao ở Anh (senior courts)

Theo Luật về Toà án năm 1971 của Anh, các tòa cấp cao ở Anh gồm: Toà tốithượng Công lý (Hight Court of Justice), Toà Vương miện (Crown Court) và Toàphúc thẩm (Court of Appeal) Toà tối thượng gồm ba bộ phận: bộ phận Hoàng gia(Queen’s Bench Division), Tòa đại pháp - bộ phận xét xử theo luật công lý(Chancery Division) và bộ phận về luật gia đình (Family Division) Trong khuônkhổ của bộ phận Hoàng gia có Toà Đô đốc và Toà Thương mại; trong khuôn khổTòa đại pháp có Toà môn bài Toà tối thượng có gần 100 quan toà (mang danhhiệu "Justices") cộng với Chánh án (Lord) đứng đầu bộ phận Hoàng gia, Phó phápquan (Vice Chancellor) đứng đầu Tòa đại pháp và quan toà đứng đầu bộ phận luậtgia đình Các quan toà được bổ nhiệm từ những luật sư mà đối với họ, trở thànhquan toà là đỉnh cao trong đường sự nghiệp Những vụ việc ở cấp sơ thẩm do mộtquan toà xét xử Hiện nay, bồi thẩm đoàn chỉ tham gia vào những vụ việc dân sựtrong những trường hợp ngoại lệ Toà Vương miện - một tổ chức mới do Luật vềToà án 1971 lập ra Toà xem xét những vụ án hình sự Thành phần của toà đa dạnghơn Phụ thuộc vào dạng tội phạm, vụ án có thể do quan toà của Toà tối thượng,

Trang 21

hoặc quan toà hạt (phải là quan toà chuyên nghiệp, thường xuyên làm việc), hoặcluật sư - 3 recorders (barristers, solisiters) tạm thời gánh trách nhiệm của quan toàxem xét Nếu bị cáo không chịu công nhận mình có tội, bồi thẩm đoàn sẽ tham giaxét xử - điều hiếm thấy hiện nay Toà phúc thẩm gồm có hai bộ phận: bộ phận dân

sự (Civil Division) và hình sự (Criminal Division); các quan toà được gọi là phápquan (lord - justices) và do người đứng đầu bộ phận dân sự (Master of the Rolls)lãnh đạo Các vụ án do hội đồng gồm ba thẩm phán xem xét Đơn kháng án sẽ bịbãi bỏ nếu đa số họ phủ quyết Một trong những hội đồng của toà án chỉ chuyênphụ trách các vụ án hình sự - bộ phận hình sự của Toà phúc thẩm Hội đồng nàythường hoạt động với thành phần một pháp quan và hai thẩm phán từ bộ phậnVành móng ngựa hoàng gia Khác với những hội đồng xem xét các vụ án dân sự, ởđây không chấp nhận để ý kiến của các thẩm phán thiểu số được tuyên bố côngkhai

2.2 Tòa án Tối cao của Liên hiệp Anh (Supreme Court of UK)

Trước đây, Viện Nguyên lão (Thượng viện Anh) là cấp xét xử cao nhất vàchung thẩm trên toàn bộ lãnh thổ Liên hiệp Anh[9] Từ tháng 10/2009, theo quyđịnh của Luật Cải cách hiến pháp năm 2005, Tòa án Tối cao của Liên hiệp Anh(UKSC) được thành lập thay thế Viện Nguyên lão thực hiện công việc này[10].Mười hai thẩm phán của UKSC do Nữ hoàng bổ nhiệm theo giới thiệu của Thủtướng sau khi được một Ủy ban tuyển chọn đề xuất theo một quy trình phức tạp.Luật pháp Anh không huỷ bỏ quyết định và trả vụ việc về để xử lại Cả Tòa án Tốicao hiện nay (Viện Nguyên lão trước đây) lẫn Toà phúc thẩm đều luôn đưa ra phánquyết về những vụ việc bị kháng án

2.3 Hội đồng cơ mật

Trang 22

Các thẩm phán của Tòa án tối cao Liên hiệp Anh đồng thời cũng là thành viên

Ủy ban Tư pháp thuộc Hội đồng cơ mật có thẩm quyền xem xét những đơn kháng

án đối với các quyết định của các toà án tối cao ở các lãnh thổ hải ngoại thuộc Liênhiệp Anh hoặc các nhà nước thành viên của Khối thịnh vượng chung, vì những nhànước này không loại trừ khả năng của những đơn kháng án như thế (New Zealand,Gambia, Sirea - Leone ) Như vậy, các thẩm phán thường phải áp dụng luật phápnước khác Các quyết định của Uỷ ban dựa trên thông luật có uy tín như nhữngquyết định của Viện Nguyên lão trước đây và Tòa án tối cao hiện nay Chúng đềuđược xuất bản trong cùng những tuyển tập về thực tiễn tòa án

2.4 Xét xử các vụ việc hành chính

Ở Anh không có hệ thống đẳng cấp các toà án hành chính, cũng như không có "cấptoà cao nhất'' chuyên trách xem xét những vụ việc trong đó một trong các bên là cơquan nhà nước Những nỗ lực thành lập ''bộ phận hành chính'' ở Toà án tối cao đềugặp phải sự phản kháng của những ai không muốn phát triển luật hành chính theomẫu lục địa, tức là ngoài khuôn khổ của thông luật Tuy vậy, từ 1981 bắt đầu códanh mục những vụ việc hành chính do các cấp toà tối cao xem xét Những vụ việcnày do 9 thẩm phán của bộ phận đặc biệt thuộc Toà Hoàng gia xét xử Có những

vụ án thuộc thẩm quyền Toà phúc thẩm Vào năm 1980 đã xác định được thủ tụcchính để xem xét những yêu cầu về bãi bỏ các quyết định của cơ quan quản lý vàtoà cấp dưới

2.5 Các quyết định của Tòa án châu Âu về quyền con người:

Điều 2, Luật về quyền con người năm 1998 của Anh quy định, tất cả các tòa ánkhi giải quyết một vấn đề pháp lý liên quan đến quyền con người phải xem xét bất

kỳ phán quyết, quyết định hoặc ý kiến tư vấn của Tòa án châu Âu về quyền conngười với tư cách là một án lệ tham khảo Tuy nhiên, các quyết định đó không cótính chất bắt buộc phải tuân theo, mà các tòa án Anh có thẩm quyền có tuân theo

Trang 23

các quyết định đó hay không - Các quyết định tòa án nước ngoài: Các thẩm phán

và luật sự Anh quốc có xu hướng ngày càng tăng viện dẫn các quyết định của tòa

án nước ngoài, nhất là từ Scotland, Ireland, Mỹ, Úc, Canada, New Zealand

Như Chánh án Tòa phúc thẩm thừa nhận, “các vụ án đã được xét xử ở cácnước khác nếu được sử dụng đúng sẽ là một nguồn pháp luật có giá trị” Mặt khác,nhằm hạn chế việc viện dẫn quá nhiều luật nước ngoài, Tòa phúc thẩm Anh đã ravăn bản quy định một số trường hợp không được viện dẫn - Quy tắc pháp lý đượcđưa ra thiếu cẩn trọng: Toà phúc thẩm trong vụ Young v Bristol Aeroplane Co Ltdtuyên rằng, Tòa có quyền không tuân theo một trong những quyết định trước đócủa chính Tòa này, với lý do Toà đã đưa ra quyết định đó ter incuriam, tức là dothiếu cẩn trọng Mặc dù án lệ này nguyên thủy chỉ áp dụng cho chính Tòa phúcthẩm, nhưng các tòa án khác cũng áp dụng nó Chẳng hạn, trong vụ R v.Northumberland Compensation Appeal Tribunal, ex parte Shaw, một nhánh tòacủa Bộ phận Hoàng gia thuộc Tòa tối thượng (High Court) đã không áp dụng mộtquyết định của Tòa phúc thẩm với lý do quyết định đó được đưa ra thiếu cẩn trọng,Tòa phúc thẩm đã bỏ sót không viện dẫn một quyết định có liên quan của ViệnNguyên lão

Các kỹ thuật tuân thủ, khu biệt, bác bỏ Khi tình huống mới phát sinh tương tựnhư trong vụ việc trước đây, nhưng không hoàn toàn như vậy, thẩm phán ở Anh có

ba lựa chọn]: một là, nếu thẩm phán cho rằng, cách giải quyết trong án lệ là chấpnhận được về mặt xã hội, ông/bà ta sẽ tuân thủ (follows) và áp dụng nó (applies).Hai là, nếu thẩm phán không cho là như vậy, ông/bà ta sẽ “khu biệt”(distinguishes) phán quyết trước, tức là chỉ áp dụng án lệ đối với một số sự kiệntrong vụ án đang xét xử Ba là, trong một số trường hợp, nếu thẩm phán thấy án lệkhông còn phù hợp, ông/bà ta có thể bác bỏ (overules) và đưa ra phán quyết khácvới quyết định trong án lệ trước đó Theo các nhà nghiên cứu[33], cách tiếp cậntuân thủ và áp dụng chính là để bảo đảm tính tiếp nối, bền vững, đoán định trước

Trang 24

của pháp luật; còn kỹ thuật khu biệt và bác bỏ nhằm dành đất cho thẩm phán linhhoạt sáng tạo để bắt kịp với sự phát triển của xã hội, của cuộc sống, cũng tức làlàm cho pháp luật phát triển.

2.6 Công bố và trích dẫn án lệ

Không thể có án lệ nếu chúng không được lưu giữ Ở Anh (cũng như các nướcthông luật khác), án lệ được đăng tải trong các tuyển tập tòa án (Law Reports) vàlưu giữ qua hàng trăm năm Tuy nhiên, không phải mọi quyết định của tòa đều trởthành án lệ Quy tắc án lệ có ít nhiều bị suy giảm do những điều kiện công bố cácquyết định toà án trong các tuyển tập bản án Khi công bố có sự loại trừ nhất định:công bố 75% các quyết định của Viện Nguyên lão (hiện nay: của Tòa án Tối cao),25% các quyết định của Toà phúc thẩm và chỉ 10% của Toà tối thượng Như vậy,hoàn toàn có thể gạt ra những quyết định không được đăng tải trong các tuyển tậpthực tiễn tòa án, vì chúng không được coi là án lệ Cách làm này giảm bớt số lượngkhổng lồ của những quyết định có thể làm lạc hướng luật gia Anh và làm suy yếu

uy tín của án lệ Những tuyển tập được trọng dụng nhất hiện nay là "Law Reports"

có những loạt sau: các quyết định của Viện Nguyên lão (từ năm 2009: của Tòa ántối cao) và Uỷ ban toà án thuộc Hội đồng Cơ mật và các quyết định của ba toà cấpcao Ngoài ra, người ta cũng thường viện đến "All England Law Reports" và

"Weekly Law Reports" Các quyết định toà án ở Anh được trích dẫn đúng như sau:Read v Lyons (1947) A.C 156 Trong đó, Read - nguyên đơn, Lyons - bị đơn.Chữ cái v ở giữa - viết tắt của "versus" - "chống lại, kiện" Những dữ liệu tiếp theocho thấy quyết định đó đăng tải trong tuyển tập “Law Reports", ở loạt A.C -Appeal Cases (các quyết định của Toà phúc thẩm), ở tập xuất bản năm 1947, ởtrang 156

2.7 Quy tắc án lệ và luật thành văn (Statue law)

Quy tắc án lệ được áp dụng trong việc giải thích luật thành văn Nhiều tác giảphê phán thực tiễn như vậy[38] Bởi lẽ, những điều khoản của luật bị chìm trong

Trang 25

vô số các quyết định của thực tiễn toà án Tinh thần chung và mục đích của luật cónguy cơ bị lãng quên và mất hút trong vô số quyết định toà án mà mỗi trong số đóchỉ giải quyết vấn đề riêng rẽ Phương thức áp dụng luật của Anh ở các toà án gây

ra những e ngại cho nhà lập pháp, và Nghị viện đã thông qua những biện pháp loại

bỏ sự giám sát của các toà án cấp cao đối với các toà án cấp dưới về việc việc giảithích luật ở những toà án này

Cuối cùng, khi nói đến pháp luật, tiếng Việt chúng ta có từ “nghiêm pháp luật nghiêm minh “Minh” có thể hiểu là “minh bạch”; hiểu như thế cũngđược, nhất là hiện nay chúng ta đang muốn pháp luật minh bạch hơn Nhưng chúngtôi nghiêng về “minh triết” nhiều hơn Pháp luật không những cần nghiêm khắc, tộinào (trong luật hình sự), lỗi nào (trong luật dân sự) ra tội ấy, lỗi ấy; tội mức nào,lỗi mức nào thì chịu xử mức ấy Pháp luật còn cần phải minh triết nữa Trong tácphẩm “Một bậc minh triết thì vô ý” (Nguyên Ngọc dịch), triết gia người PhápFrancois Julien có đưa ra những nhận định lý thú về minh triết Á Đông: minh triếtquan tâm đến sự ngộ, đối tượng của ngộ là những gì đã biết, biết dễ, ngộ khó; minhtriết quan tâm đến sự thoả đáng, điều tiết cũng làm sao cho thoả đáng; minh triếtquan tâm đến tổng thể, nhờ cách nhìn nhận tổng thể mà minh triết nhậy cảm hơnvới những sự bất trắc, những sự khôn lường trong tồn tại… Thú vị là trong vụ kiệnnói trên, có lẽ các vị thẩm phán Anh đã nghĩ và làm theo kiểu “minh triết” phươngĐông Một thẩm phán có thể biết rất nhiều 13 điều luật, nhiều án lệ liên quan đếnnhà cửa - house, tuy nhiên chưa chắc ông đã ngộ ra được cái hồn của tổ ấm - home.Nhưng trong vụ này, có lẽ các thẩm phán đã ngộ ra điều ấy Họ nhìn vào vụ kiện từmột tầm tổng thể hơn tầm của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vàpháp luật tài sản của Anh quốc Có lẽ họ thấy, nếu chỉ đơn giản xử như toà sơ thẩmthì không thoả đáng đối với bà chủ nhà Nghĩa là minh triết đã giúp pháp luật soirọi vào những ngóc ngách, những góc khuất của cuộc đời muôn hình vạn dạng.Minh triết giúp pháp luật trở nên dễ được chấp nhận hơn trong con mắt người dân;

Trang 26

minh”-hay nói cách khác, pháp luật điều tiết làm sao cho thoả đáng hơn Nói tóm lại, sựuyển chuyển, cái nhìn vượt ra ngoài pháp luật, tầm minh triết khi áp dụng án lệ đãgiúp làm cho con đường đến với công lý bớt nhọc nhằn và bớt xa xôi đi hơn nhiềulần.

Trang 27

CHƯƠNG III LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ HỆ THỐNG TÒA ÁN VIỆT NAM

1 Khái quát chung về Việt Nam

Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á Có diện tích: 331.211,6 km² với dân số: 97.425.501, thủ đô nước ta ở: Hà Nội Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa; địa hình lãnh thổ Việt Nam bao gồm 3 phần 4 là đồi núi;

Việt Nam có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú như: tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản đa dạng Việt Nam có 63 tỉnh và thành phố Với một quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược để bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước có từ hàng ngàn năm của người Việt cùng sự hội tụ của 54 thành phần dân tộc khác nhau đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú trong văn hóa và ẩm thực của nước ta

2 Hệ thống Tòa án Việt Nam

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tòa án là một cơ quan thực thi pháp luậtquan trọng, đồng thời là một phương thức giải quyết tranh chấp Từ sau khi Luật

Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực, cơ cấu tổ chức hệ thống Tòa ánViệt Nam đã có nhiều thay đổi cũng như về quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấpTòa án Trong xu thế mở rộng cửa đón nhà đầu tư nước ngoài, chịu sự điều chỉnhcủa pháp luật Việt Nam, các nhà đầu tư cần phải biết về hệ thống Tòa án ViệtNam Trong phạm vi bài viết này, người viết xin giới thiệu về tổ chức hệ thốngTòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam

Đến năm 2020, có nêu: "Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) có nhiệm vụtổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển

án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm".Trong Dự án Luật sửa đổi một số điều của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2010, TANDTC đã đề xuất cho phép được xét xử theo

án lệ (nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành, chưa đưa ra Quốc hộibàn và quyết) Sự thận trọng nói trên là cần thiết vì nói chung, ở Việt Nam, khái

Trang 28

niệm án lệ còn mới không chỉ đối với các nhà thực thi pháp luật mà còn đối với cảcác nhà khoa học, nên hiện nay còn nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, nhiềucâu hỏi đặt ra mà chưa có câu trả lời rõ ràng

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét

xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Cónhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân Tòa án xét xử các vụ án thuộc mọi lĩnh vực trong xã hội : hình sự( xử về tội phạm), dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế và hành chính

Từ sau khi Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực, cơ cấu tổ chức

hệ thống Tòa án Việt Nam đã có nhiều thay đổi cũng như về quyền hạn, tráchnhiệm của mỗi cấp Tòa án

Tòa án ở nước ta được chia làm các cấp như sau:

-Tòa án nhân dân tối cao

-Tòa án nhân dân cấp cao

-Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Mỗi tỉnh có một tòa án Ví

dụ : TP HCM có TAND TP.HCM, tỉnh Vĩnh Long có TAND tỉnh Vĩnh Long.-Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Mỗi huyện có một tòa

án Ví dụ: Quận 10 thuộc TP.HCM có TAND Quận 10, TP Biên Hòa thuộc tỉnhĐồng Nai có TAND TP Biên Hòa Như vậy, trong một tỉnh sẽ có nhiều tòa án cấpquận, huyện

-Tòa án quân sự (chia theo quân khu - khu vực)

Ngày đăng: 04/10/2023, 02:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH QUỐC - So sánh cấu trúc tòa án pháp anh việt nam
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH QUỐC (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w