Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của các nước phát triển trên thế giới là một trong những hướng đi có
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU THỦY
SO S¸NH PH¸P LUËT CHèNG C¹NH TRANH KH¤NG LµNH M¹NH TRONG LÜNH VùC Së H÷U TRÝ TUÖ ë VIÖT NAM Vµ HOA Kú
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU THỦY
SO S¸NH PH¸P LUËT CHèNG C¹NH TRANH KH¤NG LµNH M¹NH TRONG LÜNH VùC Së H÷U TRÝ TUÖ ë VIÖT NAM Vµ HOA Kú
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ QUẾ ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 7
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 7
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh 7
1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh 12
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 16
1.2.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ 16
1.2.2 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ 19
1.3 PHÂN BIỆT GIỮA CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 20
1.3.1 Sự khác nhau về phạm vi điều chỉnh 22
1.3.2 Sự khác nhau về phạm vi áp dụng 23
1.3.3 Sự khác nhau về đối tượng xâm phạm 23
1.3.4 Sự khác nhau về phương thức xử lý 24
1.4 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC S Ở HỮU TRÍ TUỆ CỦA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ 24
Trang 51.4.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 24 1.4.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Hoa Kỳ 29 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH 36 2.1 CÁC DẠNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 36 2.1.1 Các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam 36 2.1.2 Các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ theo pháp luật Hoa Kỳ 45
2.2 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 51 2.2.1 Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam 51 2.2.2 Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật Hoa Kỳ 58
2.3 THẨM QUYỀN XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 64 2.3.1 Thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam 64 2.3.2 Thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật Hoa Kỳ 68 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
Trang 6Chương 3: THỰC TIẾN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG MỘT SỐ KINH
NGHIỆM CỦA HOA KỲ 75
3.1 THỰC TIỄN CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM 75
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM 82
3.3 KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ LOẠI HÀNH VI NÀY TẠI VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ 85
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện về pháp luật 85
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện về tổ chức 88
3.3.3 Giải pháp nâng cao ý thức của doanh nghiệp 90
3.3.4 Giải pháp nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng 91
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, sở hữu trí tuệ là một công cụ đắc lực đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Thực tiễn cho thấy, nhiều công ty, doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khai thác có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ Đối với các doanh nghiệp nước ta, quyền sở hữu trí tuệ cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Đây là loại tài sản “vô hình”, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Tài sản “vô hình” này giúp các doanh nghiệp tăng cường sức mạnh, nâng cao vị thế, uy tín và khả năng cạnh tranh để nâng cao doanh thu và lợi nhuận
Bắt nguồn từ vai trò to lớn của loại tài sản “vô hình” này, có nhiều doanh nghiệp làm ăn không chính đáng luôn tìm cách trục lợi từ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp khác Trước đây, các doanh nghiệp này chủ yếu thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, việc kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ đã bị các lực lượng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tích cực phát hiện và xử lý Vì vậy, các doanh nghiệp này đang có xu hướng thực hiện hành vi vi phạm một cách tinh vi hơn, chuyển sang sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, cạnh tranh không lành mạnh về
sở hữu trí tuệ với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực hoạt động
Đứng trước đòi hỏi của thực tiễn vận hành kinh tế thị trường ở Việt Nam và thông lệ quốc tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh không chỉ được đề cập trong Luật Cạnh tranh năm 2004 mà Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, được sửa đối, bổ sung năm 2009 cũng đưa ra quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các quy định
Trang 8hiện hành về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, đồng bộ Từ đó dẫn đến việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ gặp nhiều khó khăn Tình hình trên đã dẫn đến thực tế là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ngày càng diễn ra phổ biến nhưng số lượng vụ việc được thụ lý và xử lý bởi các cơ quan có thẩm quyền còn rất hạn chế Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp mà còn xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của các nước phát triển trên thế giới là một trong những hướng đi có ý nghĩa trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Đặc biệt, Hoa Kỳ là một trong các nước đi tiên phong trong lĩnh vực pháp luật sở hữu trí tuệ và cạnh tranh không lành mạnh với những kinh nghiệm, ưu điểm đáng học hỏi trong lĩnh vực này
Với mong muốn tìm hiểu bản chất, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong tương quan so sánh với pháp luật Hoa Kỳ, từ đó vận dụng kinh nghiệm của Hoa Kỳ nhằm hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “So sánh
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam và Hoa Kỳ” cho luận văn thạc sĩ, chuyên ngành luật kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói
chung và hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, ví dụ như “Tổng
quan về quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam” của
Thạc sĩ Lê Hoài Dương (năm 2003); “Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về
Trang 9sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật (năm 2001); “Xâm phạm sở hữu trí tuệ: thực trạng, nguyên nhân, giải pháp” của Thạc sĩ Lê Việt
Long (năm 2008); “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Nam; “Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và vấn đề truy tố
đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của Thạc sĩ
Trần Đại Thắng (năm 2006); “Cam kết WTO và trách nhiệm hình sự đối với
các hành vi xâm phạm quyền SHTT” của Tiến sĩ Trần Thị Quang Vinh (năm
2007) Và Luận án tiến sĩ “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam” của Lê Anh Tuấn (năm 2008), Luận văn thạc sĩ “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh về chỉ dẫn thương mại ở Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Thị Ngọc Diệp (năm 2010)
Các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu tập trung vào phân tích, bình luận luật cạnh tranh nói chung, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong luật cạnh tranh, hoặc các vấn đề chung của luật sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, nghiên cứu về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ vẫn chưa xuất hiện nhiều
Luận văn sẽ tiếp cận pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ dưới góc độ phân tích chuyên sâu, so sánh các quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và Hoa Kỳ, từ đó tìm ra những điểm chưa phù hợp trong quy định pháp luật của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của Hoa Kỳ
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn sẽ làm sáng tỏ một cách có hệ thống về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đặc biệt khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, sự khác nhau
Trang 10giữa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Đồng thời, luận văn cũng phân tích, so sánh những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Qua đó, đƣa ra các nhận xét, đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh nói chung và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng,
sự khác nhau giữa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
- Nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
và Hoa Kỳ;
- Phân tích, so sánh những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ;
- Đánh giá những điểm còn hạn chế trong pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam;
- Vận dụng kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
3.3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, cụ thể là: khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh; khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; sự hình thành và phát
Trang 11triển pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và Hoa Kỳ
Luận văn cũng nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam và Hoa Kỳ, cụ thể là: các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; thẩm quyền xử lý loại hành vi này
3.4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh có nội dung rất rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác, đặc biệt là pháp luật kinh tế Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được quy định
ở Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ Đồng thời, tác giả cũng tiến hành nghiên cứu, so sánh với các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ, từ đó đánh giá về nội dung của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, so sánh pháp luật
5 Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, làm sáng tỏ về mặt lý luận khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Thứ hai, phân tích, so sánh những nội dung cơ bản của pháp luật về
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam với các quy định tương ứng trong pháp luật Hoa Kỳ
Trang 12Thứ ba, nêu ra những điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam về chống
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Thứ tư, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những phân tích, so sánh, đánh giá và kiến nghị trong luận văn có ý nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn nhằm chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Luận văn còn giúp cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam hiểu rõ hơn về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và các chế tài đối với hành vi này Đặc biệt, luận văn có ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động kinh doanh tại Hoa Kỳ khi giúp các doanh nghiệp tìm hiểu về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Chương 2 Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp
luật Hoa Kỳ về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ - nhìn từ góc độ so sánh
Chương 3 Thực tiễn và phương hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trên cơ sở vận dụng một số kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh trong kinh doanh là một quy luật tất yếu trong nền kinh tế thị trường Ngày nay, khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thì hoạt động cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn với cả các doanh nghiệp nước ngoài Trong quá trình cạnh tranh, doanh nghiệp luôn phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng để đưa ra các sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất hàng hóa
và cung ứng dịch vụ, giúp cân bằng cung cầu trên thị trường, tạo động lực đổi mới và phát triển, cũng như bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng Tuy nhiên, để đem lại những lợi ích như vậy, hoạt động cạnh tranh cần diễn ra lành mạnh, đặc biệt cần tuân theo những nguyên tắc nhất định với sự can thiệp của nhà nước
Mặc dù còn nhiều quan niệm, cách diễn đạt khác nhau về cạnh tranh, song, điểm chung của các quan niệm về cạnh tranh là: i) có ít nhất từ hai chủ thể trở lên; ii) các chủ thể này có chung mục đích; iii) các chủ thể đó cùng cố gắng giành và vượt lên các đối thủ cạnh tranh; iv) được diễn ra trong môi trường pháp lý bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, nếu không có môi trường pháp lý đó, cạnh tranh có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực về xã hội Kết quả của quá trình cạnh tranh là, nếu doanh nghiệp nào đáp ứng được yêu cầu trên thị trường sẽ tồn tại và phát triển, nếu doanh nghiệp nào không
Trang 14đáp ứng được yêu cầu đó sẽ bị loại ra khỏi thị trường, và để không bị loại “ra khỏi cuộc chơi”, các đối thủ cạnh tranh buộc phải tìm mọi cách, kể cả những biện pháp không lành mạnh, không phù hợp với đạo đức kinh doanh, đạo đức của thị trường để dành phần thắng về phía mình [26]
Cạnh tranh không lành mạnh, ngược lại, có thể hiểu đơn giản là một thứ cạnh tranh quá mức và vì thế gây tác dụng ngược Nhà nghiên cứu người Pháp Dominique Brault đã trích dẫn một so sánh mang tính hình tượng về
cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Cạnh tranh là một thứ rượu, dùng
đúng liều nó là chất kích thích, dùng quá liều nó trở thành thuốc độc” [6]
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu là những hành vi cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trường vi phạm những chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường, có thể gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho các chủ thể kinh doanh khác và người tiêu dùng Quan điểm khác lại cho rằng, cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm đến lợi ích của chủ thể kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể, đơn phương, vì mục đích cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không chỉ là bất hợp pháp) mà mục đích của nó là gây cho một hay một số đối thủ cạnh tranh cụ thể sự bất lợi hay gây thiệt hại trong hoạt động kinh doanh [26]
Một trong những định nghĩa pháp lý phổ biến nhất và lâu đời nhất về cạnh tranh không lành mạnh nằm tại Điều 10bis Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Điều khoản này được bổ sung vào Công ước năm
1900 và được sửa đổi lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967, theo đó:
“Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và
thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh” Có thể
Trang 15nhận thấy Điều 10bis không đưa ra một khái niệm trực tiếp về hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà tiếp cận loại hành vi này từ góc độ gián tiếp Theo
đó Điều 10bis quy định nguyên tắc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và một danh mục không đầy đủ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Cụ thể, những hành động sau đây phải bị ngăn cấm:
(i) tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh của người cạnh tranh;
(ii) những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại
có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh của người cạnh tranh;
(iii) những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể lừa dối công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, đặc điểm, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá
Như vậy, theo định nghĩa tại Điều 10bis Công ước Paris, có thể thấy tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh/không lành mạnh của
một hành vi cạnh tranh là “tập quán trung thực” không rõ ràng và ổn định, ở
mỗi quốc gia có thể có những khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và lịch sử của quốc gia đó Trên thực tế, Điều 10bis đã có ý bỏ ngỏ khái niệm này cho pháp luật quốc gia của các nước thành viên Công ước
tự định đoạt
Tại Hoa Kỳ, do thiếu định nghĩa trong các văn bản pháp luật, các toà án
đã xác định từ nguồn án lệ định nghĩa cạnh tranh lành mạnh là “các nguyên
tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường” Pháp luật
đã không đưa ra được chuẩn mực để nhận diện các hành vi cạnh tranh lành mạnh, được chấp nhận trong kinh doanh
Trang 16Theo pháp luật Hoa Kỳ, có 4 loại hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm: hành vi cản trở hoạt động kinh doanh thông thường (thuộc sự điều chỉnh của các luật của các bang khác nhau); hành vi xâm phạm nhãn hiệu hoặc bản quyền (thuộc sự điều chỉnh của Đạo luật lu mờ nhãn hiệu liên bang năm 1996 (Federal Trademark Dilution Act) và Đạo luật Lanham năm 1946 (Lanham Act); hành vi quảng cáo so sánh gian dối hoặc gây nhầm lẫn (thuộc sự điều chỉnh của Đạo luật Lanham năm 1946); và hành
vi thương mại gian dối hoặc không lành mạnh (thuộc sự quản lý của Ủy ban Thương mại liên bang (Federal Trade Commission - FTC), theo Mục 5 của Đạo luật về Ủy ban Thương mại liên bang năm 1914 (FTC Act) [30]
Năm 1994, Đạo luật về Ủy ban Thương mại liên bang sửa đổi định nghĩa
hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi “gây ra ho c có thể gây ra những
thiệt hại đáng kể mà người tiêu dùng không thể tránh được một cách hợp lý và thiệt hại gây ra này không bù lại được những lợi ích tương ứng do hành vi đó tạo
ra cho người tiêu dùng ho c đối thủ cạnh tranh” [15, 15 U.S.C Sec 45(n)]
Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng được xây dựng dựa trên cơ sở khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Công ước Paris, theo đó:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng [9, Điều 3, khoản 4]
Nếu như Công ước Paris dựa trên tiêu chí “trái với tập quán trung thực
trong công nghiệp và thương mại” thì Luật Cạnh tranh đã “Việt hóa” tiêu chí
này để trở thành hành vi “trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh” Có thể nói, các tiêu chí trên đây đều có tính chất định tính và tương đối
Trang 17Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh tranh quy định rõ một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định thỏa mãn các tiêu chí quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh
Nhìn chung, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của những chủ thể kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng
và lợi ích chung của xã hôi Bản chất của cạnh tranh không lành mạnh là hành
vi bất chính nhằm vào những đối thủ cạnh tranh cụ thể nào đó, gây cản trở hoạt động, gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến họ
Mặc dù có nhiều cố gắng, song pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế đều không thể đưa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh có thể bao quát được mọi biểu hiện trên thực tế Có thể nói, sự đua tranh gay gắt của thị trường và bản tính hám lợi của con người đã thúc đẩy các chủ thể kinh doanh luôn sớm tìm ra những thủ đoạn mới để cạnh tranh bất chính
Mà pháp luật, với tính ổn định tương đối của nó, sẽ mau chóng trở nên lỗi thời so với những diễn biến sinh động của thị trường Vì vậy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, với cách tiếp cận từ mặt trái vấn đề, nghĩa là quy định và cấm đoán các hành vi cạnh tranh trái với pháp luật và truyền thống kinh doanh lành mạnh, đã xác định giới hạn của sự tự do trong kinh doanh, xác định ranh giới mà các doanh nghiệp được quyền sáng tạo trên tinh thần vì lợi ích của bản thân, tôn trọng quyền và lợi ích của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng và bảo đảm trật tự kinh tế Theo đó, với mục đích đảm bảo tính lành mạnh và tự do của hoạt động
Trang 18cạnh tranh, đối tượng mà pháp luật cạnh tranh hướng đến để điều chỉnh chính là biểu hiện không lành mạnh của doanh nghiệp
1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh
Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh có đặc điểm là chỉ đưa
ra một danh mục không đầy đủ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nói cách khác là không giới hạn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Điều này xuất phát từ nguyên nhân số lượng các quan hệ kinh tế rất nhiều và luôn luôn vận động, phát triển Số quan hệ kinh tế ngày càng nhiều cũng kéo theo
số lượng hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng đa dạng Thêm vào
đó, nội dung của hoạt động cạnh tranh là ứng dụng các thủ pháp kinh doanh
và vì thế nó luôn được biến đổi theo năng lực sáng tạo vô tận của con người Bởi vậy, nếu chỉ giới hạn cứng một số hành vi nhất định sẽ không đầy đủ và không theo kịp với sự phát triển của thực tiễn Vì vậy, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đã tìm cách tiếp cận từ mặt trái của hành vi để từ đó xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi trái với chuẩn mực, đạo đức kinh doanh
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trước hết là hành vi cạnh tranh
Đây là đặc điểm thể hiện phạm vi áp dụng của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh của một doanh nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranh trong tương quan với các doanh nghiệp khác, do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị xem xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh có thể can thiệp vào nhiều hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế Đặc điểm này khiến cho pháp luật về
Trang 19cạnh tranh không lành mạnh tại một số quốc gia có thể có phạm vi áp dụng rất rộng và điều chỉnh những hành vi đa dạng
- Hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện
Đây là đặc điểm thể hiện đối tượng áp dụng của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, các hiệp hội ngành nghề, cá nhân có đăng ký kinh doanh Nói cách khác, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường
- Hành vi cạnh tranh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo
Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế
xã hội, không thể một sớm một chiều mà có được Mặt khác, đặc điểm này cũng đòi hỏi pháp luật cạnh tranh phải luôn được chỉnh lý, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Nhận thức về các dấu hiệu, biểu hiện không lành mạnh cụ thể luôn thay đổi và có sự khác biệt theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
vì quan niệm về tính không lành mạnh là kết quả của những ý thức xã hội
Trang 20liên quan đến xã hội học, kinh tế học, đạo đức học của một xã hội nhất định nên có thể dẫn đến hiện tượng là hành vi cạnh tranh bị coi là cạnh tranh không lành mạnh ở nước này, nhưng được coi là lành mạnh ở nước khác Ngoài ra, những hành vi cạnh tranh luôn được sáng tạo không ngừng về hình thức thể hiện và phương thức cạnh tranh, làm xuất hiện những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh mới và phát triển không ngừng Vì vậy, phạm vi của khái niệm cạnh tranh không lành mạnh cũng phải luôn được bổ sung bởi sự nhận thức của con người
- Hành vi gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của doanh
nghiệp, người tiêu dùng và xã hội:
Đây là đặc điểm biểu hiện hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đặc điểm này mang nhiều ý nghĩa về tố tụng Câu hỏi đặt ra là liệu việc chứng minh thiệt hại thực tế có được coi là bắt buộc để bắt đầu tiến trình xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không? Tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia cũng như quan điểm của cơ quan xử lý, có các cách thức nhìn nhận khác nhau về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể trực tiếp đã gây ra hậu quả thiệt hại (vật chất và tinh thần) cho các đối tượng được pháp luật bảo vệ Hậu quả của hành
vi cạnh tranh không lành mạnh cũng có thể được xác định được thông qua một
số căn cứ có thể gây ra thiệt hại cho các chủ thể trên, có nghĩa là một thiệt hại
sẽ xảy ra trong tương lai do hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Về đối tượng chịu thiệt hại, dễ thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể tác động đến nhiều đối tượng khác nhau tham gia thị trường khác nhau, trong đó hai nhóm cơ bản là các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng Luật Cạnh tranh Việt Nam có đưa thêm một đối tượng có thể bị xâm hại là Nhà nước, tuy nhiên đối tượng này không mang tính tiêu biểu, không phổ
Trang 21biến trong quy định về cạnh tranh không lành mạnh của nhiều quốc gia, do chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại những nền kinh tế mà ở đó Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh, và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường Trong đa số trường hợp khác, lợi ích của Nhà nước đã được thể hiện thông qua lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia thị trường là doanh nghiệp và người tiêu dùng
Dưới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức của con người về tính nguy hại và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Trước đây, một số quốc gia có cách tiếp cận cứng khi xác định một hành vi là cạnh tranh không lành mạnh ngay khi nó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành mà không cần xem xét ảnh hưởng đến các đối tượng khác, đặc biệt là người tiêu dùng Hiện nay, cách nhìn nhận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trở nên cân bằng hơn,
cơ quan xử lý thường phải đánh giá cả thiệt hại của người tiêu dùng và các đối tượng khác để kết luận về vi phạm Cần thấy rằng trong một phạm vi thị trường hữu hạn, doanh nghiệp thực hiện một hành vi cạnh tranh bất kỳ cũng đều có khả năng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó,
do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh để xác định một hành vi là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ Trên thực tế, các hành
vi cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác nhưng đem lại lợi ích thực tế cho người tiêu dùng sẽ không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
Ví dụ điển hình là trường hợp quảng cáo so sánh, trước đây bị coi là một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, tuy nhiên từ sự cân nhắc lợi ích nó đem lại cho người tiêu dùng (tiết kiệm thời gian tìm kiếm,
Trang 22lựa chọn sản phẩm), mà hành vi này đến nay đã được chấp nhận tại nhiều quốc gia với những điều kiện ràng buộc về tính chính xác, đầy đủ của thông tin để tránh bị các doanh nghiệp lợi dụng công kích đối thủ cạnh tranh
Tóm lại việc xác định hậu quả thiệt hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là không giống nhau giữa các thời điểm lịch sử khác nhau và giữa các quốc gia khác nhau, tùy theo chính sách của mỗi nhà nước trong việc quản lý về kinh tế nói chung và trong hoạt động quản lý môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh thương mại
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.2.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp hầu như hướng đến mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận của chính mình Để đạt được mục tiêu, họ có thể sử dụng nhiều thủ thuật kinh doanh, thậm chí là bất hợp pháp Giữa một nền kinh tế thị trường phong phú và đa dạng, sự lựa chọn của người tiêu dùng bắt đầu bằng sự so sánh giữa hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác Hàng hóa nào rẻ nhất, tốt nhất thì sẽ được
ưu tiên lựa chọn Từ đó mà có cạnh tranh Thông qua cạnh tranh, người tiêu dùng và cả xã hội được hưởng lợi, vì ai cũng cố gắng để sản xuất ra những sản phẩm với giá cả rẻ nhất, chất lượng tốt nhất để có được lựa chọn của người tiêu dùng Mà một trong những nhân tố tốt nhất để tạo nên ưu thế đó cho doanh nghiệp chính là quyền sở hữu trí tuệ Đây là loại tài sản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong khối tài sản của doanh nghiệp, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Điều này dẫn đến một hệ quả là có những doanh nghiệp không muốn tự vươn lên bằng chính khả năng của mình mà lại tìm cách đánh cắp thành quả lao động của người khác Do đó, hành vi cạnh
Trang 23tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trở thành bức xúc của những doanh nghiệp làm ăn chân chính
Để tìm hiểu khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ngoài việc nắm được khái niệm cạnh tranh không lành mạnh như tác giả đã nêu ở trên, một khái niệm nữa cần được làm rõ là khái niệm về sở hữu trí tuệ
Mặc dù không có định nghĩa chính thống và trực tiếp thế nào là sở hữu
trí tuệ, ta có thể định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với
tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ [8, tr 16-17]
Pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới không có định nghĩa trực tiếp như thế nào là sở hữu trí tuệ, mà chỉ có định nghĩa gián tiếp thông qua phân loại sở hữu trí tuệ thành quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa), tên thương mại, bí mật kinh doanh và các quyền sở hữu công nghiệp khác do pháp luật quy định Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ
sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp
Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống,
có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây
Trang 24trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được tiếp cận từ góc độ gián tiếp, theo đó pháp luật liệt
kê các hành vi bị cấm
Tại Hoa Kỳ, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được đề cập đến tại Điều 43(a) Đạo luật Nhãn hiệu liên bang, hay còn gọi là Đạo luật Lanham (Lanham Act) (1946), mặc dù Đạo luật này có nội dung chủ yếu là các quy định về việc xác lập, duy trì và bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ Theo đó, bên bị hại có quyền khởi kiện đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Điều 43(a) Đạo luật Lanham - Lanham Act,
cụ thể như sau:
Bất kỳ ai liên quan đến việc kinh doanh hàng hóa hoặc dịch
vụ, hoặc bao bì hàng hóa, sử dụng từ ngữ, thuật ngữ, tên, biểu tượng, hoặc hình vẽ, hoặc sự kết hợp của chúng, hay nguồn gốc xuất xứ giả mạo, mô tả gian dối hoặc gây nhầm lẫn
(A) Có thể gây nhầm lẫn, hiểu sai hoặc lừa dối về sự liên hệ, liên kết hoặc hợp tác giữa người này với một người khác, hoặc về nguồn gốc, khả năng tài trợ hoặc sự chấp nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc hoạt dộng thương mại của người này từ người khác đó, hoặc
(B) Trong quảng cáo hay khuyến mại mà diễn giải sai lệch bản chất, đặc đỉểm, số lượng hoặc nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ hay hành động thương mại của người này hay người khác đó, sẽ phải chịu trách nhiệm từ khởi kiện dân sự của bất kỳ ai cho rằng lợi ích của
họ bị thiệt hại hoặc có thể bị thiệt hại do hành vi nêu trên
Trang 25Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm
2009 không có khái niệm cụ thể về cạnh tranh không lành mạnh nhưng Luật đã dành 01 điều (Điều 130) quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ với một số điểm mới hơn và rõ hơn so với Luật cạnh tranh Theo
đó, các hành vi sau đây bị coi là cạnh tranh không lành mạnh:
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu
và không có lý do chính đáng;
- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng
1.2.2 Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trước hết là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy, nó cũng có những đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh như đã nêu tại mục 1.1.2 và cả đặc điểm riêng có của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, cụ thể là:
Trang 26- Đối tượng xâm hại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ tương đối riêng biệt, cụ thể là nó xâm hại một số đối tượng sở hữu trí tuệ và các đối tượng khác có liên quan đến sở hữu trí tuệ (có thể gọi chung là các “chỉ dẫn thương mại”), bao gồm nhãn hiệu, tên thương
mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa Đây được coi là các loại “tài sản vô hình”, là thành quả sáng tạo và đầu tư của các doanh nghiệp khác Các đối tượng sở hữu trí tuệ nói riêng và các chỉ dẫn thương mại nói chung là công cụ cho phép chủ sở hữu tạo nên và duy trì một lợi thế cạnh tranh, dựa trên khả năng sử dụng, cũng như khả năng ngăn cản người khác sử dụng các đối tượng
sở hữu trí tuệ của mình Lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn nằm chủ yếu ở tài nguyên thiên nhiên hoặc lao động rẻ, mà nghiêng về tiềm lực tri thức và công nghệ, được chứa đựng chủ yếu trong các đối tượng sở hữu trí tuệ Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ nói riêng và các chỉ dẫn thương mại nói chung trong hoạt động kinh doanh của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
- Nếu một hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ thì nó sẽ vừa vi phạm pháp luật về cạnh tranh, vừa vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ Hai lĩnh vực pháp lý này có mối quan hệ qua lại,
gắn bó chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến nhau Điều này thể hiện mối quan
hệ khăng khít giữa pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại
1.3 PHÂN BIỆT GIỮA CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, một hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong các trường hợp sau:
Dấu hiệu vi phạm trùng với nhãn hiệu được bảo hộ và hàng hóa, dịch
Trang 27vụ mang dấu hiệu vi phạm trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ Dấu hiệu vi phạm tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ và hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu vi phạm trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ
Riêng đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dấu hiệu vi phạm trùng hoặc tương
tự với nhãn hiệu nổi tiếng và hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu vi phạm tuy không trùng, không tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng việc sử dụng dấu hiệu vi phạm làm nhãn hiệu có thể làm cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng có tồn tại mối quan hệ giữa hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, có khả năng thực tế làm suy giảm khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc tổn hại đến uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng Điều này xuất phát từ việc nhãn hiệu nổi tiếng thường có tính phân biệt cao và phạm vi gây ấn tượng rộng và mạnh hơn một nhãn hiệu thông thường [5, Điểm 20.2.7.e]
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ được sử dụng cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ được sử dụng cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó hoặc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý được sử dụng cho sản phẩm rượu mạnh, rượu vang cho sản phẩm rượu không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý được bảo hộ
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một dạng của hành vi xâm phạm quyền sở hữu và quyền sở hữu nào cũng đem lại cho người nắm giữ nó những độc quyền nhất định
Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
Trang 28hữu trí tuệ là hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ; gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ Bản chất pháp lý của hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là mọi hành vi trái với các chuẩn mực trung thực và lành mạnh trong quan hệ thương mại, gây thiệt hại chủ yếu đến doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh Mục đích của việc kiện về hành vi cạnh tranh không lành mạnh là buộc chấm dứt hành vi vi phạm và đòi bồi thường thiệt hại
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nhìn bề ngoài có thể có rất nhiều điểm giống nhau Tuy nhiên, giữa hai loại hành vi này có sự khác nhau về mặt bản chất của từng hành vi Việc phân định rõ sự khác biệt giữa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ sẽ tạo thuận lợi trong việc áp dụng điều luật để giải quyết trong từng trường hợp cụ thể
Dưới đây tác giả sẽ tập trung làm rõ các điểm khác biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đó là sự khác nhau về phạm vi điều chỉnh, phạm vi áp dụng, đối tượng xâm phạm và phương thức xử lý
1.3.1 Sự khác nhau về phạm vi điều chỉnh
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chỉ chịu sự điều chỉnh của
pháp luật về sở hữu trí tuệ Tại Việt Nam, các hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm: hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí (Điều 126), hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh (Điều 127), hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (Điều 129)
Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
Trang 29hữu trí tuệ trước hết là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bên cạnh đó
nó còn có đặc điểm riêng biệt gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ Do vậy, hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ chịu sự điều
chỉnh của cả pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về cạnh tranh Luật
Cạnh tranh của Việt Nam quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” có chứa đựng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…) Luật Sở hữu trí tuệ cũng dành riêng Điều 130 để quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
1.3.2 Sự khác nhau về phạm vi áp dụng
Chỉ có thể tạo thành hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi có một
quyền sở hữu trí tuệ hợp pháp đang được bảo hộ bị xâm phạm Nói một cách
khác đi sẽ không có khái niệm về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi mà quyền đó không hề tồn tại, ví dụ như trường hợp một nhãn hiệu không đăng
ký bảo hộ độc quyền tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì không thể căn cứ vào pháp luật về sở hữu trí tuệ để bảo vệ khi bị xâm phạm Tuy nhiên, trường hợp này hoàn toàn có thể áp dụng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh để điều chỉnh Theo đó hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ hoặc về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ
đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phụ thuộc vào việc
chỉ dẫn thương mại đó đã được đăng ký bảo hộ hay chưa
1.3.3 Sự khác nhau về đối tượng xâm phạm
Đối tượng của hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là các đối tượng
sở hữu trí tuệ, cụ thể là: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, bí
mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý Trong khi đó, đối
Trang 30tượng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ bao gồm một số đối tượng sở hữu trí tuệ và các đối tượng khác có liên quan
đến sở hữu trí tuệ (có thể gọi chung là các chỉ dẫn thương mại), tức là các dấu
hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ Cụ thể, bên cạnh nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý thì đối tượng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn có biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa
1.3.4 Sự khác nhau về phương thức xử lý
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất,
mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, biện pháp hành
chính ho c biện pháp hình sự Trong khi đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc
có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu
cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự và các
biện pháp hành chính
1.4 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC S Ở HỮU TRÍ TUỆ CỦA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
1.4.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
Trong khi nhiều nước phương Tây đã đạt được những thành tựu to lớn bằng phương thức tư bản chủ nghĩa và biến xã hội của họ thành những xứ sở công nghệ với nền thương mại phát triển thì Việt Nam vẫn còn chìm dưới chế
độ phong kiến với nền sản xuất chủ yếu mang tính chất tự cấp, tự túc Tiếp đó Việt Nam lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh trường kỳ và gian khổ chống
đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung và pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ nói riêng do đó mà chưa có điều kiện ra đời
Trang 31Chỉ đến khi Việt Nam bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường, các quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh mới được soạn thảo
và ban hành
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được đề cập đến là tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp
Điều 24 của Nghị định số 54/2000/NĐ-CP quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp bao gồm:
1 Sử dụng các chỉ dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức
và thông tin về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ, nhằm mục đích:
a) Lợi dụng uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinh doanh của mình;
b) Làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinh doanh của mình;
c) Gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng trong quá trình nhận biết, chọn lựa hàng hoá, dịch vụ hoặc hoạt động kinh doanh
2 Chiếm đoạt, sử dụng thành quả đầu tư của người khác mà không được người đó cho phép
Có thể khẳng định rằng, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP đã tiếp cận được một số khía cạnh mang tính bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là sự chiếm đoạt thành quả kinh doanh của doanh nghiệp khác vì mục đích cạnh tranh, đồng thời xác định quyền chống cạnh tranh không lành
Trang 32mạnh thuộc phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng nằm ngoài phạm vi bảo hộ theo văn bằng sở hữu công nghiệp
Điều 25 của Nghị định số 54/2000/NĐ-CP quy định về quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp Theo đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc lĩnh vực sở hữu công nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền: buộc người có hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải chấm dứt hành vi đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại; xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cạnh tranh không lành mạnh Các hội người tiêu dùng, hội nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân có quyền đại diện cho các hội viên của mình thực hiện quyền nêu trên
Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nghĩa vụ chứng minh với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của tổ chức, cá nhân
do mình đại diện đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra [2, Điều 26] Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi đó sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật [2, Điều 27]
Nghị định số 54/2000/NĐ-CP không đưa ra chế tài để xử lý hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp Việc xử lý vi phạm hành chính về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp không được quy định tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP mà được bỏ ngỏ “quy định tại Nghị định khác của Chính phủ” Chính quy định này là hạn chế của Nghị định số 54/2000/NĐ-
Trang 33CP vì thiếu cơ chế, biện pháp để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh một cách có hiệu quả
- Sau nhiều năm xây dựng nền kinh tế thị trường, ngày 03/12/2004,
Việt Nam mới ban hành Luật Cạnh tranh, có hiệu lực vào ngày
01/07/2005 Luật Cạnh tranh ra đời là kết quả của quá trình đổi mới về kinh
tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
và là bước cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thứ IX của Đảng, theo đó cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển Đây cũng là đạo luật được ban hành nhằm cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp năm 1992 về bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, cũng như pháp điển hóa các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh tại Nghị định số
54/2000/NĐ-CP vào nội dung của Luật
Luật Cạnh tranh quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ vì chúng có chứa đựng
các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…)
Điểm nổi bật so với Nghị định số 54/2000/NĐ-CP là Luật Cạnh tranh
đã quy định các biện pháp chế tài cụ thể để xử lý các tổ chức, cá nhân có hành
vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp được quy định tại Chương V của Luật và được cụ thể hóa tại Nghị định số 71/2014/NĐ-
CP ngày 21/7/2014 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
- Tiếp sau Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Sở hữu trí tuệ ra đời vào
năm 2005 cũng nhằm bảo vệ quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ của mình, một loại tài sản vô hình nhưng có giá trị ngày càng lớn trong nền kinh tế thị trường
Trang 34Luật Sở hữu trí tuệ quy định cụ thể hơn về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Điều 130
Qua việc khảo sát các quy định của Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Thứ nhất, sự không đồng bộ trong sử dụng thuật ngữ giữa Luật Cạnh
tranh và Luật Sở hữu trí tuệ Luật Cạnh tranh sử dụng thuật ngữ “chỉ dẫn gây nhầm lẫn”, trong khi đó Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng thuật ngữ “chỉ dẫn thương mại” Chỉ dẫn gây nhầm lẫn theo quy định của Luật Cạnh tranh gồm: tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ [9, Điều 40, khoản 1] Chỉ dẫn thương mại theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa [10, Điều 130, khoản 2]
Thứ hai, có sự khác biệt về phạm vi các chỉ dẫn gây nhầm lẫn giữa
Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ Nếu không kể đến “các yếu tố khác” được quy định tại Luật Cạnh tranh thì phạm vi đối tượng được bảo vệ chống lại chỉ dẫn gây nhầm lẫn của Luật Sở hữu trí tuệ rộng hơn so với Luật Cạnh tranh Cụ thể, so với Luật Sở hữu trí tuệ thì các đối tượng là nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hàng hóa không thuộc phạm vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn tại Luật Cạnh tranh
Thứ ba, sự khác biệt về mục đích của hành vi Nếu như mục đích của
pháp luật sở hữu trí tuệ là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân, pháp nhân tránh khỏi sự xâm phạm của các hành vi trái pháp luật, thì pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, ngoài mục đích nêu trên còn có nhiệm vụ bảo vệ trật tự cạnh tranh trong một thị trường cụ thể
Thứ tư, sự mở rộng các chế tài xử lý hành vi xâm phạm của Luật Sở
hữu trí tuệ so với Luật Cạnh tranh Theo quy định của Luật Cạnh tranh,
Trang 35hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ cho phép tổ chức, cá nhân được lựa chọn sử dụng biện pháp hành chính hoặc biện pháp dân sự để bảo vệ quyền lợi của mình
Tóm lại, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Cạnh tranh có một số điểm khác biệt trong quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Luật Sở hữu trí tuệ là văn bản chuyên ngành và được ban hành sau nên đã có nhiều quy định cụ thể hơn đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
Trước đây, trong những năm 1800, tại Hoa Kỳ có rất nhiều công ty lớn được biết tới như là những “liên hiệp” (trusts) Những công ty liên hiệp này kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực của nền kinh tế như ngành đường sắt, dầu mỏ, thép và đường Hai trong số các công ty liên hiệp nổi tiếng nhất là Công ty liên hiệp về thép và Công ty liên hiệp về dầu mỏ của Mỹ Các công ty này hoàn toàn độc quyền kiểm soát việc cung cấp sản phẩm cũng như kiểm soát giá cả Với một công ty kiểm soát toàn bộ một ngành công nghiệp, sự cạnh tranh không tồn tại, và các doanh nghiệp nhỏ cũng như người tiêu dùng không
có sự lựa chọn về người bán Giá cả thường vượt ngưỡng, và chất lượng không phải là ưu tiên hàng đầu Điều này đã gây khó khăn và đe dọa tới sự phát triển của nền kinh tế Hoa Kỳ
Trang 36Trong khi những người sở hữu các công ty liên hiệp ngày càng giàu hơn, công chúng bắt đầu giận dữ và yêu cầu Chính phủ phải có hành động Tổng thống Theodore Roosevelt đã phá vỡ rất nhiều công ty liên hiệp bằng việc đưa vào áp dụng các quy định pháp luật về chống độc quyền (antitrust laws) Mục đích của các quy định pháp luật này là bảo vệ người tiêu dùng bằng việc thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường
Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua nhiều đạo luật để thúc đẩy cạnh tranh bằng cách cấm các cách thức cạnh tranh không lành mạnh:
- Đạo luật Sherman (Sherman Act) là đạo luật chống độc quyền ở tầm
quốc gia lâu đời nhất Được thông qua vào năm 1890, đạo luật này quy định hành vi của các bên cạnh tranh ký thỏa thuận với bên khác nhằm hạn chế cạnh tranh là bất hợp pháp Đạo luật này cũng cấm doanh nghiệp trở thành độc quyền nếu công ty này làm ăn gian dối hoặc cạnh tranh không lành mạnh
- Đạo luật Clayton (Clayton Act) được thông qua vào năm 1914 Với
sự hiện diện của Đạo luật Sherman, và các công ty liên hiệp bị phá vỡ, tình hình kinh tế tại Hoa Kỳ đã có chuyển biến Tuy nhiên, một số công ty phát hiện ra việc sáp nhập như cách thức để kiểm soát giá và việc sản xuất (thay vì tạo thành các công ty liên hiệp, các bên cạnh tranh hợp nhất thành một công
ty duy nhất) Đạo luật Clayton giúp bảo vệ người tiêu dùng Hoa Kỳ bằng việc ngăn chặn các hành vi sáp nhập hoặc mua lại công ty mà có khả năng làm kiềm chế cạnh tranh
- Với Đạo luật về Ủy ban Thương mại liên bang (Federal Trade Commission
(FTC) Act) (1914), Quốc hội đã tạo ra một cơ quan mới chịu trách nhiệm thực thi pháp luật cạnh tranh ở Hoa Kỳ, đó là Ủy ban Thương mại liên bang Hoa
Kỳ (Federal Trade Commission - FTC) Khác với cơ quan cạnh tranh còn lại
là Cục Chống độc quyền của Bộ Tư Pháp chuyên trách về hạn chế cạnh tranh theo Luật Chống độc quyền, chức năng của Ủy ban Thương mại Liên bang
Trang 37rộng hơn, bên cạnh chức năng điều tra và giám sát các vụ việc chống độc quyền, còn bao gồm việc xử lý “các cách thức cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến thương mại và các hành vi không lành mạnh hoặc gây gian dối ảnh hưởng đến thương mại” [15, Điều 5] Khái niệm “cách thức cạnh tranh không lành mạnh” (unfair methods of competition) đã gây nhiều tranh luận giữa các nhà lập pháp ở cả hai Viện của Quốc Hội Hoa Kỳ, và sau đó được thay thế bằng khái niệm “cạnh tranh không lành mạnh” (với phạm vi bao gồm
cả các hành vi hạn chế cạnh tranh) Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ đã
có những giải thích rõ hơn về phạm vi các hành vi “không lành mạnh” và
“gian dối” trong các văn bản hướng dẫn theo thẩm quyền của mình Trong bản Tuyên bố chính sách về hành vi gian dối, cơ quan này nêu rõ: “Luật thành văn chỉ định khung cho các điều khoản chung do Nghị viện nhận thấy rằng không thể soạn ra một danh sách các hành vi không lành mạnh mà không bị lạc hậu một cách nhanh chóng hoặc tạo ra những kẽ hở cho việc vi phạm Nhiệm vụ xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về Ủy ban, với hy vọng các tiêu chí đánh giá sẽ được xem xét và phát triển”
Căn cứ trên các án lệ tại tòa án, đến năm 1964 Ủy ban đã hình thành 3 tiêu chí để đánh giá hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là: (i) gây thiệt hại cho người tiêu dùng; (ii) vi phạm các chính sách xã hội hiện hành; và (iii)
vô đạo đức và không cẩn trọng Cũng trên cách tiếp cận này, trong Tuyên bố chính sách về hành vi gian dối, Ủy ban xác định 3 yếu tố cần xem xét trong một vụ việc gian dối, đó là:
Phải có một diễn giải, một thiếu sót hoặc một hành động
có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng;
Người tiêu dùng ứng xử có nhận thức và ứng xử hợp lý trong hoàn cảnh tiếp nhận quảng cáo;
Cuối cùng, diễn giải, thiếu sót hoặc hành động phải có tác
Trang 38động về mặt vật chất, có nghĩa là có thể dẫn người tiêu dùng đến quyết định hoặc hành động mua hàng Khi có tác động vật chất, mới dẫn đến khả năng gây thiệt hại cho người tiêu dùng, do người tiêu dùng có thể đã lựa chọn nếu không có gian dối
- Đạo luật Lanham (Lanham Act) được ban hành năm 1946 và được
sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần gần nhất là vào năm 2002 Đây là đạo luật quy định về nhãn hiệu liên bang đầu tiên của Hoa Kỳ
Mục tiêu chính của Đạo luật Lanham là nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc tiếp thị hàng hóa/dịch vụ và bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa Nếu Đạo luật về Ủy ban Thương mại Liên bang trao quyền cho Ủy ban Thương mại liên bang chủ động thực hiện các biện pháp pháp lý chống quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh với tư cách đại diện cho lợi ích công và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thì Đạo luật Lanham mở ra một kênh khác cho phép đối thủ cạnh tranh trực tiếp khiếu nại, và thủ tục này cũng được Ủy ban Thương mại liên bang ủng hộ với quan điểm cho rằng thiệt hại của người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh
Bên cạnh đó, trong khi Ủy ban Thương mại liên bang khi tiến hành xử
lý các vụ việc có quyền yêu cầu bên bị đơn chứng minh tính đúng đắn trong quảng cáo của mình, thì theo thủ tục quy định tại Đạo luật Lanham, bên nguyên đơn phải chứng minh về sự gian dối trong quảng cáo của bên bị đơn Điều này cho thấy do nằm trong một đạo luật về nhãn hiệu, thủ tục giải quyết tranh chấp về quảng cáo gian dối của Đạo luật Lanham cũng mang nhiều màu sắc của thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Tóm lại, mặc dù đã phát triển hệ thống các quy định về hạn chế cạnh tranh từ rất lâu (Đạo luật Sherman năm 1890), các quy định về cạnh tranh không lành mạnh của Hoa Kỳ lại tương đối phân tán Các nhà lập pháp của
Trang 39Hoa Kỳ kết hợp cả hai cách tiếp cận của Châu Âu trong việc điều chỉnh hành
vi cạnh tranh không lành mạnh, sử dụng các quy định chung về bồi thường thiệt hại dân sự cũng như một số quy định chuyên ngành, và thậm chí có sự khác biệt giữa pháp luật liên bang và pháp luật các tiểu bang Các quy định cạnh tranh và sở hữu trí tuệ quan trọng nhất có thể kể đến là Đạo luật về Ủy ban Thương mại liên bang (1914) và Đạo luật Lanham (1946)
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Sau những nghiên cứu, viện dẫn và phân tích tại Chương 1 về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, có thể đưa ra một vài kết luận như sau:
Thứ nhất, quan niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của pháp
luật Hoa Kỳ, pháp luật Việt Nam và phần lớn các quốc gia trên thế giới có nguồn gốc chung là xuất phát từ Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp Theo đó, không có khái niệm trực tiếp về hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà hành vi này được tiếp cận từ góc độ gián tiếp, tức
là quy định nguyên tắc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được xác định là các hành vi trái với chuẩn mực, đạo đức kinh doanh
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí
tuệ có những đặc điểm giống với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung, nhưng cũng có những đặc trưng riêng biệt Cụ thể là, đối tượng xâm phạm mà nó hướng đến là các chỉ dẫn thương mại, bao gồm một số đối tượng
sở hữu trí tuệ và các đối tượng khác có liên quan đến sở hữu trí tuệ; và một khi hành vi xâm phạm đã xảy ra thì nó sẽ vừa vi phạm pháp luật về cạnh tranh, vừa vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ
Thứ ba, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nhìn bề ngoài có thể có rất nhiều điểm giống nhau và nhiều người có thể bị nhầm lẫn giữa hai loại hành
vi này Tuy vậy, hai hành vi này có sự khác nhau về phạm vi điều chỉnh, phạm
vi áp dụng, đối tượng xâm phạm và phương thức xử lý Một hành vi có thể bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ khi: (i) đối tượng xâm phạm mà hành vi này hướng đến là các chỉ dẫn thương mại;