Để đảm trách vai trò này, nhà nước phải nắm bắt các công cụ tài chính - tiền tệ, trong đó cân bằng ngân sách nhà nước được xem là một trong những công cụ sắc bén để nhà nước can thiệp to
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô
nền kinh tế - xã hội của nhà nước được đề cao hơn bao giờ hết Để đảm trách vai trò này,
nhà nước phải nắm bắt các công cụ tài chính - tiền tệ, trong đó cân bằng ngân sách nhà
nước được xem là một trong những công cụ sắc bén để nhà nước can thiệp toàn diện vào
nến kinh tế Nói đến ngân sách nhà nước thì không thể không nói đến tình trạng thâm
hụt ngân sách, ở các quốc gia có nền kinh tế đứng đầu thế giới hiện nay cũng phải đối
mặt với vấn đề này và tất nhiên Việt Nam là một nước không ngoại lệ
Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như
thế nào? Giải pháp nào để xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước, ổn định vĩ mô nền kinh
tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng
kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? Với nhận thức về tính cấp thiết của vấn đề nêu
trên, nhóm 1 lớp CH22A – tài chính ngân hàng (tối) đã lựa chọn đề tài nghiên cứu "Thực
trạng cân bằng ngân sách ở Việt Nam" với hy vọng sẽ góp phần phân tích, làm rõ diễn
biến thực trạng ngân sách ở Việt Nam
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn đề tài vẫn không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định, rất mong được những sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn học viên trong
nhóm khác để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 2CHƯƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG KHÁI QUÁT VỀ CÂN BẰNG
NGÂN SÁCH
1 Định nghĩa:
Theo Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 đã được Quốc hội Việt Nam
thông qua ngày 25/06/2015 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu chi do Chính phủ lập ra, đệ trình
Quốc hội phê chuẩn và giao cho chính phủ tổ chức thực hiện Xét về thực thể: NSNN
bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng Các
nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ - quỹ NSNN – và các khoản chi đều được
xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy Xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN các khoản
thu – luồng thu nhập quỹ NSNN, các khoản chi – xuất quỹ NSNN đều phản ánh những
quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nước và người nộp, giữa Nhà nước với cơ quan, đơn
vị thụ hưởng quỹ
- Các khoản Thu ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Toàn bộ các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí;
+ Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực
hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ
các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện
nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
+ Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp bội chi và
khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi
chung là tỉnh) quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách Nhà nước được đưa vào
cân đối ngân sách
Trang 3Cần lưu ý là không tính vào thu Ngân sách nhà nước các khoản thu mang tính
chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật
Ngân sách nhà nước (Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và
Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính)
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
- Các khoản Chi ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Chi đầu tư phát triển
+ Chi thường xuyên
+ Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do chính phủ vay
+ Chi viện trợ
+ Các khoản chi cho vay theo quy định của pháp luật
+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của trung ương
+ Chi bổ sung cho ngân sách địa phương
(Nội dung các khoản chi được quy định chi tiết tại điều 31 luật ngân sách nhà
nước ngày 16/12/2002)
Từ đây có thể rút ra nhận xét: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn
liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi
Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện chức năng
của Nhà nước trên cơ sở luật định
2 Cán cân ngân sách và tình hình ngân sách.
Cán cân ngân sách phản ánh mức độ cân đối giữa thu và chi ngân sách trong một
năm tài khóa
Có 3 trạng thái của cán cân
- Thặng dư ngân sách (bội thu ngân sách): nghĩa là thu NSNN lớn hơn chi
NSNN
- Thâm hụt ngân sách (thâm hụt ngân sách): nghĩa là chi NSNN lớn hơn thu
NSNN Trong trường hợp này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi
- Cán cân ngân sách cân băng: nghĩa là, nhà nước huy động nguồn thu vừa đủ
để trang trải nhu cầu chi tiêu
Trang 4Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cần thiết phải cân bằng
theo tháng, theo năm Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách
không bi thâm hụt qua lớn và kéo dài Tuy vậy, trong nhiều nước, đặc biệt là các nước
đang phát triển, các Chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong
đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách để tránh tình trạng
thâm hụt
a) Thâm hụt ngân sách nhà nước
- Thâm hụt ngân sách là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn
các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách nhà
nước bao gồm thâm hụt ngân sách trung ương và thâm hụt ngân sách địa phương cấp
tỉnh Thâm hụt ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng
chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung
ương Thâm hụt ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp thâm hụt ngân sách cấp tỉnh
của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách
cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa
phương
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu
- Chỉ tiêu tỷ lệ thâm hụt so với GDP
- Chỉ tiêu tỷ lệ thâm hụt so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước
Phân loại thâm hụt NSNN: Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách
thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ
+ Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách
tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi
tiêu cho giáo dục, quốc phòng
+ Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh
tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền
kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống
trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau
- Thâm hụt ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng
tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm)
Trang 5- Thâm hụt ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là
bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng
- Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động do sự vận động theo
chu kỳ của nền kinh tế thị trường Thâm hụt ngân sách chu kỳ được tính bằng hiệu số
giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và
ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính, chính sách ổn định
tùy biến và chính sách ổn định tự động
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh
giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng
hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có
những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế
b) Nguyên nhân gây ra thâm hụt NSNN
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra thâm hụt NSNN
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất: là tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng
làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết
những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức thâm hụt NSNN tăng
lên Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không
phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức thâm hụt NSNN Mức thâm hụt do tác động
của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là thâm hụt chu kỳ
- Nhóm nguyên nhân thứ hai: là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà
nước Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm
tăng mức thâm hụt NSNN Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của
Nhà nước thì mức thâm hụt NSNN sẽ giảm bớt Mức thâm hụt do tác động của chính
sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là thâm hụt cơ cấu Trong điều kiện bình thường
(không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp của thâm hụt chu kỳ và thâm
hụt cơ cấu sẽ là thâm hụt NSNN
nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay,
nhận viện trợ Tuy nhiên do hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều bất cập, sự quản lý
chưa chặt chẽ đã tạo ra khe hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để chốn thuế gây thất
thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước
Trang 6Đầu tư công kém hiệu quả: Tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí nguồn vốn
ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công các dự án trọng
điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả gây thất thoát vốn của nhà nước và kìm hãm
phát triển của các vùng miền
là một nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách Chúng ta có
thể thấy thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và
cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngân sách địa phương
được bố chí nguồn thu ứng với các nhiệm vụ cụ thể và được xác định cụ thể trong dự
toán hàng năm Vì vậy khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi đảm bảo nguồn
chi thường xuyên để bố chí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành đi vào hoạt
động cũng như chi phí duy tu bảo dưỡng các công trình làm giảm hiệu quả đầu tư
nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn
lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hụt của các khoản chi tiêu công và
thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính
Trang 7CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng thu NSNN từ năm 2007 đến nay
Theo số liệu của Bộ Tài Chính, trung bình giai đoạn 2007-2015, tổng thu ngân
sách nhà nước của Việt Nam khá ổn định và trung bình vào khoảng 20,0% GDP Tổng
thu NSNN từ năm 2007 đến năm 2018 tăng dần theo các năm, tuy nhiên tăng không ổn
định
Bảng 1: Thu Ngân sách Nhà Nước
Đvt: tỷ đồng
STT Khoản mục 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
6M-1 Thu nội địa từ sản xuất, kinh
doanh
182,994 240,076 236,435 377,030 383,097 477,106 567,403 574,100 740,062 343,800
2 Thu từ dầu thô 78,634 89,603 61,137 69,179 110,205 140,106 120,436 107,000 67,510 17,700
3
Thu cân đối
NSNN từ hoạt
động xuất khẩu,
nhập khẩu
60,272 91,457 105,629 130,351 155,765 107,404 129,385 160,800 177,293 63,000
4 Thu viện trợ không hoàn lại 6,012 9,413 7,908 11,868 12,103 10,267 11,124 4,500 12,005 1,300
5 TỔNG THU 327,911 430,549 411,109 588,428 661,170 734,883 828,348 846,400 996,870 425,800
(Nguồn:Bộ Tài Chính)
- Nguồn thu chủ yếu qua các năm vẫn là nguồn thu từ Thu nội địa sản xuất kinh
doanh, nguồn thu này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN Nguồn thu nội địa qua
cá năm đều tăng với tốc độ ổn định
- Thu từ đầu thô có xu hương tăng giảm không ổn định: từ năm 2007 đến năm
2012 thu từ dầu thô năm sau tăng hơn năm trước, từ năm 2013 thu từ dầu thô bắt đầu
Trang 8giảm xuống Nguyên nhân có do giá dầu thô thế giới giảm mạnh, ảnh hưởng đến nguồn
thu NS từ dầu thô
- Thu từ xuất nhập khẩu từ năm 2007 đến nay đều có xu hướng tăng chỉ có giảm
trong năm 2012, tuy nhiên càng về sau tốc độ tăng giảm Nguyên nhân của tốc độ tăng
giảm này là do kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng chịu thuế giảm, một số mặt hàng có
thuế suất cao giảm mạnh, thêm vào đó thuế suất đối với nhập khẩu xăng dầu thấp hơn
12% so với dự toán 20%, thuế suất xuất khẩu than chỉ có 10% so với dự toán là 20% để
bình ổn sản xuất
Trong giai đoạn 2010-2015 tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) giảm liên tục từ
22,0% xuống còn 16,.4% so với GDP Điều đáng nói ở đây là hầu như tất cả các khoản
thu thành phần đều trong xu thế giảm Một trong số nguyên do là Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tăng trưởng mạnh mẽ thời gian qua chủ yếu do những dự án mới được đưa
vào sản xuất Những dự án này đang được hưởng các ưu đãi lớn từ nghĩa vụ đóng góp
NSNN, trong khi các dự án đã hoạt động lâu năm tại Việt Nam dường như cũng bị ảnh
hưởng mạnh của đợt suy giảm tăng trưởng này (ví dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô, xe
máy ) do đó phần đóng góp ngân sách từ các doanh nghiệp này cũng giảm Cũng cần
phải nói thêm rằng hoạt động chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài cũng là yếu tố làm cho đóng góp của khối này vào GDP thấp
Ngân sách Việt Nam trong những năm gần đây đã chuyển dịch dần từ phụ thuộc
vào các nguồn thu không bền vững như dầu thô, viện trợ, bán nhà, giao đất sang chủ yếu
là các nguồn thu từ thuế và phí Do các khoản thu này có nguồn cung hữu hạn và đang
giảm dần, nên nguồn tăng thu phải là các khoản thuế và phí
Qua các năm thu NS đã của Việt Nam cũng có những thay đổi đáng ghi nhận
Hàng năm thu ngân sách đều tăng so với số dự toán và năm sau tăng lên so với năm
trước Cơ cấu các khoản thu Ngân sách đã chuyển biến theo hướng tích cực Chính sách
về thuế và quản lý thuế đã có những thay đổi phù hợp, góp phần làm tăng thu Ngân sách
Tuy nhiên, thu Ngân sách hiện này vẫn còn nhiều điểm hạn chế: Nguồn thu các
năm đều tăng tuy nhiên chưa ổn định, Cơ cấu thu ngân sách vẫn còn phụ thuộc vào các
nguồn thu không ổn định Chính sách thuế, quản lý thuế đã có nhiều thay đổi tuy nhiên
vẫn chưa theo kịp được theo sự phát triển của nền kinh tế
2.2 Thực trạng chi NSNN từ năm 2007 đến nay
Trang 9Trên cơ sở thu NSNN cùng với tình hình kính tế xã hội hằng năm, tốc độ tăng chi
ngân sách giai đoạn năm 2007 đến nay có xu hướng giảm dần Từ năm 2007-2012 tốc độ
tăng chi ngân sách ở mức khá cao, bước sang năm 2013 tốc độ tăng chi ngân sách lại giảm.s
Bảng 2:Chi Ngân sách Nhà Nước
Đvt: tỷ đồng
STT Khoản mục 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 6M-2016
1 Chi đầu tư phát triển 104,302 119,462 181,363 183,166 208,306 268,812 271,680 169,100 236,832 74,50 0
2 Chi trả nợ và viện trợ 57,711 58,390 74,328 88,772 111,943 105,838 112,055 120,000 150,000 68,000
3 Chi thường xuyên 204,746 252,375 303,371 376,620 467,017 603,372 704,165 717,500 790,168 363,400
4 Chi bổ sung quỹ dự trữ
tài chính
5 Tổng 366,951 430,386 559,309 648,833 787,554 978,463 1,088,153 1,006,700 1,177,000 505,900
(Nguồn:Bộ Tài Chính)
- Các khoản chi thường xuyên của NSNN là tương đối ổn định, chiếm tỷ trọng
lớn trong chi ngân sách và đều tăng lên qua các năm Những thay đổi này nằm trong
định hướng điều chỉnh chính sách kinh tế trong thời kỳ kính tế suy thoái của chính phủ
theo hướng tăng tỷ trọng trong chi thường xuyên, giảm tỷ trọng chi đầu tư phát triển
nhằm đáp ứng các nhu cầu an sinh xã hội đang càng tăng cao Đồng thời chính phủ cũng
đang thực hiện chính sách cải cách tiền lương trong các đơn vị hành chính sự nghiệp để
phù hợp với tình hình thực tiễn nên chi thường xuyên vẫn giữ tỷ trọng lớn trong tổng chi
ngân sách
Trang 10Song, việc quản lý khoản chi này vẫn không đảm bảo yêu cầu Bởi mỗi năm, có
hơn 7.000 khoản chi sai quy định Nếu các khoản này không được kiểm tra, thì Nhà
nước sẽ mất đi hơn 500 tỷ đồng, gây tổn thất cho NSNN.Chi thường xuyên đang là nỗi
lo lớn, việc tiêu xài hoang phí, “vung tay quá trán”, lạm chi đang khá phổ biến đặc biệt
chi cho lễ hội, khánh tiết, hội họp, đi công tác nước ngoài… Do khoản chi tiêu này lớn
và có xu hương tăng lên nên sẽ là một trong những tác nhân đẩy thâm hụt ngân sách tăng
theo
- Chi đầu từ phát triển giảm tỷ trọng trong tổng chi ngân sách Chi đầu phát triển
càng ngày được chú trọng, tuy nhiên cũng còn hạn chế trong việc giám sát chặt chẽ việc
chi các khoản tiền Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều sai phạm
và tăng hơn so với năm trước Tình trạng xây dựng dở dang, nợ khối lượng xây dựng cơ
bản,…vẫn xảy ra.Từ năm 2007 đến 2015, chi đầu tư phát triển tiếp tục tăng
- Chi trả nợ và viện trợ: Trong quá trình phát triển, nước ta vẫn luôn cố gắng đảm
bảo các khoản thanh toán nợ đầy đủ và đúng kì hạn cùng với việc viện trợ khi cần cần
thiết Số lượng ngân sách danh cho chi trả nợ và viện trợ từ năm 2007 đến năm 2015 đều
tăng, do biến động chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và tăng trả nợ gốc đối với các khoản vay
ngắn hạn để giảm áp lực bố trí trả nợ các năm sau Bên cạnh đó trong giai đoạn này, Việt
Nam đang ngày càng chú trọng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) Hầu hết
các DNNN hoạt động vẫn chưa có hiệu quả, thay vì tập trung vào các hoạt động kinh
doanh cốt lõi thì các tập đoàn này lại phát triển thành mạng lưới chằng chịt với hàng
trăm các tổng công ty, công ty con và công ty liên doanh Điển hình như tập đoàn Công
nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) Tháng 12/2010 Vinashin chính thức mất khả
năng thanh toán 60 triệu USD vốn gốc, một phần trong khoản nợ 600 triệu USD phát
hành năm 2007, cho các chủ nợ quốc tế Chính phủ Việt Nam đã bị Elliott Advisers LP,
một trong các chủ nợ, gửi đơn kiện lên Tòa thượng thẩm London đòi bồi thường cho
những khoản nợ không được thanh toán Mặc dù gần đây Elliott Advisers LP đã rút đơn
kiện do một công ty trong nước đã đứng ra mua lại nợ cho Vinashin, Vinashin đã và
đang được tái cấu trúc nhưng hậu quả mà nó gây ra đối với toàn nền kinh tế sẽ còn kéo
dài
Ngoài các khoản chi trên, nhà nước ta còn sử dụng một phần nguồn ngân sách cho
các khoản chi khác như: chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp