Các loại định chế tài chính: - Ngân hàng thương mại - Công ty đầu tư - Ngân hàng tiết kiệm - Hiệp hội tiết kiệm và cho vay - Công ty bảo hiểm nhân thọ - Công ty bảo hiểm tài sản và tai
Trang 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh nhất thiết phải có nhiều vốn đầu
tư Tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân là một biện pháp quan trọng để tạo ra các nguồn lực tài chính dành cho việc đầu tư trong nước Để làm “cầu nối” giữa bên cần vốn và bên có vốn nhàn rỗi nhiều loại hình tài chính trung gian đã ra đời Hoạt động của chúng kéo tất cả cá nhân trong nền kinh tế vào cuộc, tận dụng tất cả mọi khoản tài sản nhỏ nhất bị lãng phí của từng cá nhân vào việc phục vụ cho sự sáng tạo tạo ra của cải vật chất cho đời sống con người Việc thu hút vốn là việc tối quan trọng của các định chế tài chính, là nguồn sống để các định chế tài chính tồn tại và phát triển Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì hầu hết tiền tiết kiệm lưu chuyển trong hệ thống tài chính đến từ các hộ gia đình, trong khi đó những người vay tiền chính là các doanh nghiệp, hộ gia đình khác Xuất phát từ thực tế đó, trong
bài tiểu luận này chúng em xin trình bày về những các thức mà các định chế tài chính huy động tiền tiết kiệm (S) của các hộ gia đình đem cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình khác vay để đầu tư
Trang 2I Bản chất của định chế tài chính
1 Khái niệm
Định chế tài chính là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó là các tài sản
tài chính hay còn gọi là các hình thức trái quyền – như cổ phiếu, trái phiếu và tài khoản cho vay – thay vì tài sản thực như nhà cửa, công cụ và nguyên vật liệu Định chế tài chính cho khách hàng vay hoặc mua chứng khoán đầu tư trong thị trường tài chính Ngoài ra trong các định chế này còn cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính khác từ bảo hiểm và bán các hợp đồng hưu bổng cho đến giữ hộ tài sản và cung cấp một cơ chế cho việc thanh toán, chuyển tiền và lưu trữ thong tin tài chính
Các loại định chế tài chính:
- Ngân hàng thương mại
- Công ty đầu tư
- Ngân hàng tiết kiệm
- Hiệp hội tiết kiệm và cho vay
- Công ty bảo hiểm nhân thọ
- Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn
- Quỹ hưu bổng
- …
2.Hoạt động của các định chế tài chính
Chủ thể vay
tiền (đơn vị
thiếu hụt tiết
kiệm)
Quỹ cho vay (tín dụng)
Giấy nợ tài chính
Các tổ chức trung gian tài hính (ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, quỹ hưu bổng, định chế tiết kiệm phi ngân hàng,…
Các định chế tiết kiệm khác (môi giới/ kinh doanh chứng khoán, ngân hàng đầu tư và ngân hàng cầm cố)
Quỹ cho vay (tín dụng)
Giấy nợ tài chính
Chủ thể cho vay (đơn vị thặng dư tiết kiệm)
Hộ gia đình,
doanh nghiệp
và chính
quyển
Hộ gia đình, doanh nghiệp, chính quyền
Trang 3A NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại
1 Tầm quan trọng của việc huy động vốn của ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng thương mại nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng Không có huy động vốn xem như không có hoạt động của ngân hàng thương mại Một ngân hàng khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định Tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tính dụng và các dịch
vụ ngân hàng khác Để có vốn phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khác hàng Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng
1.1 Đối với ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác Không có nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại sẽ không đủ vốn tài trợ cho những hoạt động của mình Mặt khác thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng thương mại có thể đo lường uy tín cũng như sự tín nhiệm của khác hàng đối với ngân hàng Từ đó, ngân hàng thương mại có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giũ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết đầu vào của ngân hàng
1.2 Đối với khách hàng
Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hạng Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khác hàng một nơi để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân
Trang 4hàng và dịch vụ tính dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng
2 Hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng có của ngân hàng thương mại Do vậy, đây cũng là điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và các tổ chức tính dụng phi ngân hàng Chính vì đặc thù này, ngân hàng thương mại thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) trong khi các tổ chức tính dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận tiền gửi (non-depository institutions) Do nhu cầu và động thía nhận tiền gửi của khác hàng rất đa dạng và khác nhau nên để thu hút được nhiều khác hàng gửi tiền, ngân hàng thương mại gửi tiền, ngân hàng thương mại phải thiết kế và phát triển thành nhiều loại sản phẩn tiền gửi khác nhau
2.1 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền giửu thanh toán.Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng
Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó ngân hàng thực hiện việc trích chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả, bằng cách ghi nợ vào tài khoản, sang tài khoản của đơn vị thụ hưởng bằng cách ghi có vào tài khoản
Để thực hiện nghiệp vụ thanh toán này, đòi hỏi khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng Số dư trên tài khoản tiền giửu thanh toán của khách hàng
có thể hình thành từ hai nguồn: (1) do khách hàng nộp tiền mặt vào, (2) do khách hàng nhận tiền chuyển khoản từ đơn vị khác Số dư này nhằn duy trì khả năng thanh toán và chi trả của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào
Tuy nhiên, không phải lúc nào khách hàng cũng có thể sử dụng số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của họ Do vậy, đôi khi số dư này nhàn rỗi tạm thời cho đến khi được huy động vào thanh toán Những lúc tạm thời nhàn rỗi số dư này trở thành nguồn vốn của ngân hàng, do đó, ngân hàng có thể sử dụng cho hoạt động của mình Tuy nhiên, do tài khoản tiền gửi là tài khoản không kỳ hạn, khách hàng có thể rút
Trang 5tiền bất cứ lúc nào mà không cần báo trước với ngân hàng, nên ngân hàng rất khó có
kế hoạch hóa việc sử dụng loại tiền gửi này Chính vì vậy, đối với loại tiền gửi này thường ngân hàng trải lãi suất thấp hoặc thậm chí không trả lãi, cho khách hàng Do không được hưởng lãi cao nên khách hàng thường duy trì số sư tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều, chỉ vừa đủ để đáp ứng nhu cầu chi trả hàng ngày của họ Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của từng khách hàng thường không lớn, nhưng do là trung tâm tập trung tiền tệ và cung cấp dịch vụ thanh toán nên ngân hàng thương mại có số lượng khách hàng rất đông khiến cho tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả khách hàng trở nên lớn đáng kể
2.2 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân
Tài khoản tiền gửi các nhân, như tên gọi của nó, được mở cho khách hàng cá nhân
có nhu cầu sử dụng Loại tài khoản này thích hợp cho cá nhân có nhu cầu nhận chuyển tiền vào tài khoản, chẳng hạn nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc từ cá nhân khác trong nước Khi nhận chuyển tiền, khách hàng được ghi “Có” vào tài khoản, ngược lại khi rút tiền tài khoản được ghi “Nợ” Số dư trên tài khoản này là “số dư có” phản ánh số tiền khách hàng còn gửi ở ngân hàng Đâu chính
là nguồn vốn ngân hàng có thể huy động qua tài khoản này
Thông thường số dư tài khoản này tăng lên khi khách hàng nhận tiền lương vào thời điểm trả lương và giảm dần khi khách hàng rút tiền về chi tiêu Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi cá nhân thường không lớn nhưng với số lượng tài khoản rất lớn, kết quả
là, ngân hàng có thể huy động được khối lượng vốn đáng kể Chẳng hạn ngân hàng thương mại ACB có số lượng tài khoản tiền gửi cá nhân là 100 nghìn tài khoản Trung bình mỗi tháng tài khoản có số dư hàng tháng là 2 triệu đồng Như vậy trong tháng ngân hàng ACB có thể huy động được khối lượng vốn lên đến 200 tỉ đồng Một con số rất đáng kể cho thấy vai trò tích tụ và tập trung vốn của ngân hàng
Trong những năm gần đây, số lượng tài khoản này ở các NHTM không ngừng tăng lên nhờ có sự phối hợp tốt giữa ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp cũng như các tổ chức khác trong việc triển khai tài khoản và trả lương trực tiếp cho nhân viên vào tài khoản Mặt khác, các ngân hàng thương mại đã khá thành công trong việc thay
Trang 6đổi thói quen sử dụng tiền mặt và ngày càng thu hút được nhiều người sử dụng dịch vụ của ngân hàng Điển hình là , Ngân hàng Phương Đông – Orientbank đã rất thành công trong trong việc kết hợp với Đại học kinh tế TPHCM mwor tài khoản và nhận chi trả tiền lương cho giảng viên và nhân viên của trường Ngoài ra, còn thu hút cả sinh viên mở tài khoản cá nhân để chuyển tiền và nộp học phí Tuy nhiên, những nỗ lực này của các ngân hàng thương mại chỉ thu hút được tần lớp nhân viên, sinh viên và cư dân
đô thị chứ chưa thu hút được đại bộ phận dân chúng sủ dụng tài khoản tiền gửi cá nhân Còn một phần lớn tầng lớp dân cư khác như giới hưu trí, dân lao động phổ thông, nông dân sống ở nông thôn,… vẫn chưa sử dụng phổ biến tài khoản tiền gửi ngân hàng
Ví dụ: Nghiên cứu tình huống Orientbank
Năm 2001, trường Đại học kinh tế TPHCM kêu gọi Orientbank mở chi nhánh giao dịch đặt trong khuôn viên của trường - chi nhánh Nguyễn Tri Phương, đồng thời mở tài khoản cá nhân cho toàn vộ giảng viên và nhân viên của trường giao dịch Theo thỏa thuận giữa hai bên, trường Đại học kinh tế TPHCM ủy quyền cho Orientbank trải lương cho giảng viên và nhân viên qua tài khoản mở ở Orientbank và Orientbank tiến hành cấp miễn phí cho giảng viên và nhân viên thẻ ATM để họ có thể rút tiền lương qua máy ATM đặt trong khôn viên trường Sự phối hợp này mang lại lợi ích đáng kể cho cả hai bên và trở thành tình huống điển hình cho các ngân hàng và trường đại học khác làm theo
Về phía đại học kinh tế, ngoài lợi ích tài chính, việc này còn giúp nhà trường cải thiện phần nào hiệu quả quản lý và khắc phục được không ít khó khăn của việc trả lương qua Phòng tài vụ của trường như trước đây.Mặt khacsgopws phần hạn chế chu chuyển tiền mặt, vốn gây ra không ít bất tiện Cụ thể, nhà trường thỏa thuận
và ủy thác cho Orientbank thu học phí của sinh viên và các nguồn thu khác trực tiếp vào tài khoản của trường mở tại Orientbank Việc này giảm đáng kể giao dịch tiền mặt
và khối lượng tiền đang chuyển trên đường ong song đó, từ tài khoản này, Orientbank nhận ủy thác trả luowng cho giản vên và nhân viên Kết quả là hầy hết tiền đều chu chuyển qua Orientbank bằng hình thức chuyển khoản Số tiền này vì thế cũng luôn sinh lợi tức (0.25%/tháng) cho trường và những người hưởng lương của trường
Trang 7Về phía Orientbank, lợi ích chủ yếu là huy động được khối lượng tiền gửi khá lớn từ trường và những người hưởng lương của trường Ngoài ra, Orientbank còn
có được những lợi ích mà các ngân hàng khác không thể nào có được đó là quảng bá hình ảnh và thương hiệu Orientbank cho đối tượng khách hàng rất tiềm năng: Giảng viên và sinh viên của trường
Từ kinh nghiệm thành công này, Orientbank có thể mở rộng hợp tác sang các trường đại học khác, trong khi các ngân hàng thương mại khác bắt đầu dòm ngó
và nghĩ đến việc thâm nhập vào các trường đại học để cạnh tranh với Orientbank Sự thâm nhập của các ngân hàng thương mại vào các trường đại học góp phần đánh dấu cột mốc quan trọng trong đổi mới hoạt động ngân hàng
2.3 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm
2.3.1 Tiết kiệm không kỳ hạn
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế cho đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi mốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoách sử dụng tiền gửi trong tương lai Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này thì mục tiêu an toàn và tiện lựi quan trọng hơn mục tiêu sinh lợi Đối với ngan hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dingj tiền gửi để cấp tín dụng Do vậy, ngân hàng thường trả lãi suất rất thấp cho loại tiền gửi này
Mặc dù số dư trên toàn khoản tiền gửi tiết kiệm không kì hạn của khác hàng thường không lớn (do chỉ hưởng mức lãi suất thấp) nhưng nếu ngân hàng thu hút được số lượng khác hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy động được cũng trở nên đáng kể
2.3.2 Tiết kiệm định kì
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiền gửi tiết kiệm định kì được thiết
kế dành cho những khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục đích
an toàn, sinh lợi và thiết lập kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định
Trang 8và thường xuyên đáp ứng cho việc chi tiêu hằng tháng hoặc hằng quý Đa số khách hàng thích lựa chọn hình thức này là công nhân, viên chức hưu trí Mục tiêu của họ khi lựa chọn hình thức này là lợi tức có được theo định kì Do vậy lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khác hàng này Dĩ nhiên lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kì cao hơn so với lãi suất trả cho tiền gửi không
kì hạn Ngoài ra mức lãi suất còn thay đổi tùy thuộc vào loại kì hạn gửi tùy theo loại đồng tiền tiết kiệm (VND, USD, EUR hay vàng) và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi
Tiền gửi tiết kiệm được phân thành nhiều loại căn cứ vào thồi hạn hoặc phương thức trả lãi Việc phân chia này làm cho sản phẩm tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng được nhu cầu gửi tiền đa dạng và phong phú của khách hàng
3 Các biện pháp thu hút tiền gửi khách hàng của ngân hàng thương mại
3.1 Phát triển đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi
- Đa dạng hóa sản phẩm theo loại đồng tiền gửi
- Đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi theo số dư
- Đa dạng hóa sản phẩm theo nhóm khách hàng
3.2 Tối đa hóa sự tiện lợi cho khách hàng
- Mở rộng mạng lưới chi nhánh để đưa dịch vụ tiền gửi đến sát địa bàn dân cư
- Phát triển công nghệ hiện đại để khách hàng có thể giao dịch qua điện thoại hoặc internet
- Tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái và thỏa mãn khi bước chân đến gửi tiền
3.3 Nâng cao trình độ tư vấn và kĩ năng bán hàng cho nhân viên
3.4 Xây dựng hình ảnh và thương hiệu ngân hàng
3.5 Khuyến mãi thu hút tiền gửi
II Huy động vốn qua phát hành các loại giấy tờ có giá.
Trang 9Giấy tờ có giá là chứng nhận của các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa các tổ chức tín dụng và người mua
1 Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành các loại giấy tờ có giá
Tại sao phải huy động vốn ngắn hạn thông qua các loại giấy tờ có giá? Điều này trước hết xuất phát từ nhu cầu đầu tư ngắn hạn của các nhà đầu tư rất khác nhau nên cần có nhiều hình tước khác nhau để thu hút Thứ đến là, do tập quán và trình
độ phát triển của thị trường vốn ngắn hạn Cụ thể:
- Huy động vốn thông qua giấy tờ có giá thích hợp hơn ở những nước có nền tiền tệ phát triển trong khi huy động tiền gửi tiết kiệm thích hợp hơn ở những nước có thị trường tiền tệ chưa phát triển
- ở những nước có thị trường tiền tệ phát triển, giấy tờ có giá thường có tính thanh khoản cao hơn tiền gửi tiết kiệm trong khi ở những thị trường tiển tệ kém phát triển thì ngược lại
a) Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành kì phiếu
Kì phiếu là một loại giấy tờ có gia do ngân hàng phát hành để huy động vốn ngắn hạn, trong đó ngân hàng cam kết sẽ trả lãi được hưởng và vốn gốc cho nhà đầu tư khi kì phiếu đến hạn
b) Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi
Ngoài kì phiếu, các ngân hàng thương mại còn có thể phát hành các chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn ngắn hạn Ở Việt Nam thời gian qua các ngân hàng thương mại cổ phần ít khi sử dụng các công cụ huy động vốn ngắn hạn này Trong khi các ngân hàng thương mại nhà nước sử dụng thường xuyên hơn
2 Huy động vốn trung và dài hạn thông qua phát hành các loại giấy tờ có giá
Với nhu cầu vốn dài hạn lên đến 10, 15 hoặc 20 năm, rõ ràng các ngân hàng thương mại không thể sử dụng các hình thức huy động tiền gửi hay phát hành các loại giấy tờ có giá ngắn hạn được Trong trường hợp này, ngân hàng có thể phát hành trái phiếu Bằng việc phát hành trái phiếu ngân hàng thu về một khối lượng nguồn vốn dài hại dưới hình thức nợ vay Tuy nhiên phát hành trái phiếu không làm tăng vốn chủ sở hữu mà chỉ làm tăng nợ dài hạn của ngân hàng
Trang 10a) Huy động vốn dài hạn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành bán cho nhà đầu
tư trong đó có thỏa thuận đến một thời điểm nào đó sau khi phát hành các nhà đầu
tư có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu theo một tỉ lệ chuyển đổi nào đó
Loại trái phiếu này được xem như là một dạng chứng khoán lai, do vừa có các tính chất của một chứng khoán nợ đồng thời vừa có tính chất của một chứng khoán vốn Nó rất phổ biến ở những nước có thị trường vốn phát triển, nhưng chưa được phổ biến lắm ở Việt Nam
b) Huy động vốn dài hạn bằng phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu nói chung là chứng nhân đầu tư vào công ty cổ phần Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một dạng công ty cổ phần, do đó có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn cổ phần Do cổ phần, phần hùn vốn bằng nhau trong công
ty là một khái niệm vô hình nên cổ phiếu cần thiết như là một tờ giấy cần thiết để hữu hình hóa số cổ phần mà một cổ đông nào đó nắm giữ
B CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
1 Quỹ đầu tƣ
Quỹ đầu tư là một mô hình định chế tài chính trung gian tập trung những nguồn vốn nhỏ bé, lẻ tẻ của nhiều người lại để đầu tư trung và dài hạn, đặc biệt là các dự án có nhu cầu vốn lớn trong nền kinh tế quốc dân hoặc để đầu tư vào chứng khoán
Quỹ đầu tư là một dạng doanh nghiệp thuộc loại công ty cổ phần, nó phát hành và bán cổ phiếu để lấy vốn hoạt động nguồn vốn hình thành quỹ đầu tư rất phong phú, đa dạng: các tập đoàn tư bản, các công ty, dân chúng,… có vốn nhàn rỗi dùi nhiều hay ít để có thể trở thành các chủ sở hữu quỹ đầu tư bằng việc mua cổ phiếu do quỹ đầu tư phát hành Việc đầu tư bỏ vốn mua các cổ phần của quỹ đầu tư
và có các chuyên gia nhận điều hành số vốn đó để nhận tiền lương Các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư phải nghiên cứu thị trường và ra quyết định đầu tư Không giống như các loại dịch vụ khác là phải đáp ứng nhu cầu là phải đáp úng nhu cầu