V. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước ta hiện nay? Cơ sở hạ tầng là kết cấu kinh tế đa thành phần trong đó có thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể và nhiều thành kinh tế khác nhau. Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú được phản chiếu trên nền kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏi khách quan là nền kiến trúc thượng tầng cũng phải đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế. Do đó, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội ở nước ta, cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Theo chủ nghĩa Mác Lê nin,“ Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.” Vì thế, em xin chọn đề tài “Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài để nghiên cứu. Với trình độ kiến thức còn hạn chế, nên trong bài em còn nhiều sai xót, rất mong thầy cô thông cảm và sửa chữa để giúp em hoàn thiện kiến thức hơn. Em xin chân thành cảm ơn 1. Cơ sở hạ tầng là gì? Kiến trúc thượng tầng là gì? – Cơ sở hạ tầng (CSHT): là toàn bộ những quan hệ sản xuất (QHSX) hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội. CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những CSHT thống trị, những QHSX tàn dư của xã hội trước và những QHSX là mầm mống của xã hội sau. Trong một CSHT có nhiều thành phần kinh tế, nhiều QHSX thì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của tòan bộ đời sống kinh tế xã hội. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tính giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống trị quy định. Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong CSHT. – Kiến trúc thượng tầng (KTTT): là tòan bộ những quan điểm tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian. Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất định. Trong đó bộ phận mạnh nhất của KTTT là nhà nước công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý. Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được tòan bộ đời sống xã hội. 2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Mỗi hình thái kinh tếxã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó. Do đó, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mang tính lịch sử cụ thể, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định. 2.1. Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy. Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần. Quan hệ sản xuất nào thống trị thì tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng. Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng. Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc kiến trúc thượng tầng: nhà nước, pháp luật, đảng phái chính trị, triết học, đạo đức,.. đều không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định. Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái kinh tếxã hội và rõ rệt hơn khi chuyển từ hình thái kinh tếxã hội này sang hình thái kinh tếxã hội khác. Sự biến mất của một kiến trúc thượng tầng không diễn ra một cách nhanh chóng, có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng cũ còn tồn tại dai dẳng sau khi cơ sở kinh tế của nó đã bị tiêu diệt. Có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp cầm quyền mới sử dụng để xây dựng kiến trúc thượng tầng mới. Do đó, tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong quá trình chuyển từ hình thái kinh tếxã hội này sang hình thái kinh tếxã hội khác. 2.2. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế. Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng. Nhà nước không chỉ dựa vào hệ tư tưởng mà còn dựa vào chức năng kiểm soát xã hội để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. Ăngghen viết: “bạo lực (nghĩa là quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế”. Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng tác động đến cơ sở hạ tầng, nhưng thường thường phải thông qua nhà nước, pháp luật. Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, chỉ có kiến trúc thượng tầng tiến bộ nảy sinh trong quá trình của cơ sở kinh tế mới – mới phản ánh nhu cầu của sự phát triển kinh tế, mới có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tếxã hội. Nếu kiến trúc thượng tầng là sản phẩm của cơ sở kinh tế đã lỗi thời thì gây tác dụng kìm hãm sự phát triển kinh tếxã hội. Tất nhiên sự kìm hãm chỉ là tạm thời, sớm muộn nó sẽ bị cách mạng khắc phục. 3. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến thức thượng tầng thuần nhất và thống nhất. Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đối kháng, không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột. Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc và triệt để, là một giai đoạn lịch sử chuyền tiếp nó.Bởi vì, cơ sở hạ tầng mang tính chất quá độ với một kết cấu kinh tế nhiều thành phần đan xen của nhiều loại hình kinh tế xã hội khác nhau. Còn kiến trúc thượng tầng có sự đối kháng về tư tưởng và có sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá. Bởi vậy công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới thể chế chính trị là một quá trình mang tính cách mạng lâu dài. Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, cùng các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò quan trọng nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo hướng như : kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp , công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý. Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ xung cho nhau. Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải sử dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục, trong dó thì biện pháp kinh tế là quan trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hình thức và thích hợp theo hướng kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hợp lý. Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa MácLê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột thoát khỏi nỗi nhục của mình là đi làm thuê bị đánh đập, lương ít.Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ : ”xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa , nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo”.
Trang 1NỘI DUNG TRIẾT TỔNG HỢP
I Chế độ tư hữu là gì? Chế độ tư hữu
tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa?
II Sự khác nhau giữa ba hình thức của chủ nghĩa duy vật.
III Mối quan hệ biện chứng giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
IV Quy luật chuyển hóa lượng – chất.
V Lực lượng sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay
VI Bản chất là gì? Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng?
Trang 2I Chế độ tư hữu là gì? Chế độ tư
hữu tư liệu sản xuất của tư bản chủ
nghĩa?
Khái niệm chế độ tư hữu là gì? Chế độ tư hữu tiếng Anh là gì? Chế độ
tư hữu tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa? Vai trò của quyền tư hữu đối với sự phát triển kinh tế và chính trị?
Để đạt được những thành tựu to lớn như ngày hôm nay, thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Tất cảđều vì mục đích phục vụ cho lợi ích của con người Tuy nhiên, không phảichế độ nào cũng vì mục đích chung của con người mà còn là sự lợi dụng,
tư sản và phân chia xã hội thành nhiều giai cấp, từ đó gây ra nhiều tiêu cựctrong đời sống xã hội lúc bấy giờ Vậy, chế độ tư hữu là gì? Chế độ tư hữu
tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa? Hy vọng bài viết dưới đây sẽ giúpbạn đọc hiểu hơn về vấn đề nêu trên
1 Chế độ tư hữu là gì?
Sự hợp tác lao động, sự công bằng và bình đẳng về hưởng thụ trong xãhội nguyên thủy, một phần là do tình trạng đời sống còn quá thấp kém tạonên Nhưng từ khi có sản phẩm thừa thì tình hình lại diễn ra khác hẳn Sựphát triển của nền sản xuất cá thể theo từng gia đình phụ hệ, do khả nănglao động của các gia đình khác nhau làm cho của cải tích lũy ngày càngnhiều trong tay một số cá nhân hay gia đình, thường là các gia đình tộctrưởng, tù trưởng hay các bô lão, thủ lĩnh quân sự
Mặt khác, những người này lợi dụng chức phận để chiếm một phần sảnphẩm xã hội chi cho các công việc chung Đồng thời, họ cũng tự cho phépmình được “lĩnh” một khẩu phần nhiều hơn những người khác Chẳng bao
Trang 3lâu họ trở nên giàu hơn mọi người Dần dần, xã hội thị tộc đã bị phân hóathành kẻ giàu người nghèo Những người giàu có thì hợp thành tầng lớpquý lộc chiếm hữu nhiều ruộng đất, của cải…, còn những kẻ nghèo khógồm đông đảo các thành viên của thị tộc, bộ lạc thì bị mất dần của cải và tưliệu sản xuất, cuối cùng họ rơi vào tình trạng bị lệ thuộc tầng lớp trên và bịtầng lớp này áp bức bóc lột không khác gì nô lệ Do có lương thực và thựcphẩm dư thừa, người ta không giết tù binh bắt được trong các cuộc xungđội mà giữ lại nuôi để làm lao động cho thị tộc Lúc đầu, họ phải làm nhữngcông việc chung cho cả thị tộc, dần dần một số người đã lợi dụng chứcphận và uy tín cá nhân, bắt những người tù binh phục vụ cho riêng mình.
Họ đã bị biến thành nô lệ trong các gia đình quý tộc, quan lại
Như vậy, chế độ tư hữu được hiểu là việc chiếm hữu riêng của một số bộphận giai cấp vì mục đích cá nhân Trong nền kinh tế, tài sản thường đượcoi là quyền sở hữu (quyền đối với số tiền thu được từ tài sản) và kiểmsoát tài nguyên hoặc hàng hóa Nhiều nhà kinh ế cho rằng quyền quyền tàisản cần phải được cố định và cần phải diễn đạt mối quan hệ giữa các bênkhác để có hiệu quả hơn
2 Chế độ tư hữu tiếng Anh là gì?
Chế độ tư hữu tiếng Anh là Private ownership
Những thuật ngữ pháp lý liên quan dịch sang tiếng Anh:
Chế độ tư hữu Private ownership
Trang 43 Chế độ tư hữu tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa
Trong kinh tế học và xã hội học, tư liệu sản xuất là các đầu vào như nguyênliệu, lực lượng lao động, công cụ lao động, vốn nhà nước, tài nguyên thiênnhiên dùng để sản xuất ra các sản phẩm có giá trị kinh tế
Trong một xã hội nông nghiệp tư liệu sản xuất là đất đai và cuốc xẻng.Trong một xã hội công nghiệp, tư liệu sản xuất là hầm mỏ và nhà máy.Trong một xã hội tri thức, tư liệu sản xuất là máy tính và văn phòng Theomột nghĩa rộng, tư liệu sản xuất bao gồm cả tư liệu phân phối như internet,đường ray xe lửa, và các kho chứa hàng
Quyền sở hữu của tư liệu sản xuất trong xã hội là một yếu tố quan trọngtrong việc phân loại các hệ thống kinh tế khác nhau Trong thuật ngữ kinh
tế học cổ điển, tư liệu sản xuất là những “yếu tố sản xuất”, bỏ qua vốn đầu
tư và yếu tố con người
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, “xóa bỏ chế độ tư hữu” là một vấn đềlớn Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung vào hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu
đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cân phải bị xóa bỏ và hai là, nếu “xóa bỏchế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó làkhi nào?
Như vậy, chế độ tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa sẽ được hiểu theomột số vấn đề sau đây:
Về vấn đề chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa
bỏ, câu trả lời có rất rõ trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844 củaC.Mác: chế độ tư hữu khiến cho con người bị tha hóa Cũng như nói thêmrằng, sự phát triển của kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắcnhư Adam, Xmit,…cùng sự phát triển mạnh mẽ và điển hình của chủ nghĩa
Trang 5tư bản thời kỳ đó là hai điều kiện chín muồi cho những kết luận về chế độ
tư hữu và “xóa bỏ chế độ tư hữu” của C.Mác
Trong Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, C.Mác đã chỉ ra và phân tích rất
rõ chế độ tư hữu khiến cho con người bị tha hóa như thế nào trên haiphương diện: một là, sự tha hóa của con người công nhân trong sản phẩmlao động của anh ta; và hai là, sự tha hóa của người công nhân “trong bảnthân hành vi sản xuất, trong bản thân hoạt động sản xuất”
Ở phương diện thứ nhất, biểu hiện của sự tha hóa là, sản phẩm do laođộng của người công nhân làm ra không nhưng không thuộc về anh ta, màcòn “đối lập người sản xuất” Người công nhân sản xuất càng nhiều củacải, sức mạnh và công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trởthành một hàng hóa càng rẻ mạt Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trịthì thế giới con người càng mất giá trị Nói chung, anh ra làm ra càng nhiềuvật phẩm anh ta có thể chiếm hữu được càng ít và anh ta bị chính sảnphẩm do mình làm ra-tư bản-thống trị càng mạnh
Ở phương diện thứ hai, “sự tha hóa của công nhân trong sản phẩm củaanh ta không chỉ có ý nghĩa là lao động của anh ra trở thành một vật phẩm,
có được sự tồn tại bên ngoài, mà còn có ý nghĩa là lao động của anh ta tồntại
Như vậy, chế độ tư hữu tư liệu sản xuất đã khiến con người trong tư bảnchủ nghĩa trở nên xa lạ với chính mình Ở giai đoạn tư bản chủ nghĩa đãkhiến cho giá trị con người bị hạ thấp xuống chỉ bằng máy móc, khiến chongười công nhân “cảm thấy mình chỉ còn là con vật” trong những chứcnăng con người của anh ta, khiến cho “cái vốn có của súc vật trở thànhchức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn cócủa súc vật Cuối cùng, theo một số ý kiến thì chủ nghĩa tư bản không xóa
bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà cụ thể là xóa bỏ “chế độ sở hữu tưsản”-“biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và
Trang 6chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở nhữngngười này bóc lột những người kia.
4 Vai trò của quyền tư hữu đối với sự phát triển kinh tế và chính trị
Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith và Karl Marx thường nhận ratầm quan trọng của quyền tư hữu trong quá trình phát triển kinh tế và cácnhà kinh tế chính thống hiện đại đồng ý với sự công nhận này Một lời giảithích được chấp nhận rộng rãi là các quyền tư hữu nếu được thực thi tốt sẽtạo động lực cho các cá nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế, như đầu
tư, đổi mới và trao đổi, dẫn đến một thị trường hiệu quả hơn Sự phát triểncủa quyền tư hữu ở châu Âu trong thời trung cổ là một ví dụ
Trong thời đại này, toàn bộ quyền lực chính trị rơi vào tay các chế độ quânchủ cha truyền con nối, những kẻ này lạm dụng quyền lực của họ để bóclột các nhà sản xuất, đánh thuế tùy tiện hoặc từ chối trả các món nợ Việcthiếu bảo vệ quyền sở hữu đã tạo ra rất ít động lực cho chủ đất và thươngnhân đầu tư vào đất đai, vốn vật chất hoặc nhân lực hoặc công nghệ SauNội chiến Anh 1642-1646 và Cách mạng Vinh quang năm 1688, sự thay đổiquyền lực chính trị khỏi vua Stuart đã dẫn đến việc tăng cường quyền sởhữu của cả chủ sở hữu đất đai và tư bản Do đó, sự phát triển kinh tếnhanh chóng đã diễn ra, tạo tiền đề cho Cách mạng Công nghiệp
Quyền tài sản cũng được cho là giảm chi phí giao dịch bằng cách cung cấpmột giải pháp hiệu quả cho các xung đột về nguồn lực khan hiếm Thựctiễn, sử dụng dữ liệu lịch sử của các thuộc địa cũ của châu Âu, Acemoglu,Johnson và Robinson tìm ra bằng chứng thuyết phục rằng các thể chế kinh
tế tốt – những tổ chức cung cấp quyền tư hữu an toàn và bình đẳng về cơhội – mang đến sự thịnh vượng kinh tế
Trang 7Quyền tài sản có thể liên quan chặt chẽ đến sự hình thành trật tự chính trị,
do nó bảo vệ quyền lợi kinh tế của một cá nhân North, Wallis và Weingastcho rằng quyền tư hữu bắt nguồn để tạo điều tạo tiền đề cho các hoạt độngtrục lợi của giới thượng lưu Đặc biệt, các hệ thống pháp lý và chính trị bảo
vệ các quyền của giới thượng lưu đối với các khoản thu tiền thuê nhà tạonên cơ sở của cái gọi là “trật tự truy cập hạn chế”, trong đó những ngườikhông thuộc giới tinh hoa bị từ chối tiếp cận quyền lực chính trị và các đặcquyền kinh tế
Ví dụ, trong một nghiên cứu lịch sử về nước Anh thời trung cổ, North vàThomas phát hiện ra rằng sự phát triển mạnh mẽ của luật đất đai của Anhtrong thế kỷ 13 xuất phát từ lợi ích của giới thượng lưu trong việc khai thácdoanh thu tiền thuê đất từ quyền sở hữu đất đai sau khi giá đất tăng độtngột vào thế kỷ thứ 12 Ngược lại, “trật tự truy cập mở” ngày nay, bao gồmmột hệ thống chính trị dân chủ và nền kinh tế thị trường tự do, thường baohàm các quyền tư hữu rộng rãi, an toàn và cá nhân hóa Quyền tài sản phổquát, cùng với cạnh tranh kinh tế và chính trị không chính đáng, coi nhẹ vaitrò của việc trục lợi và thay vào đó ủng hộ những đổi mới và hoạt động sảnxuất trong nền kinh tế hiện đại
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Dương Gia về chế độ tư hữu là gì vàchế độ tư hữu tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa Trường hợp có thắcmắc xin vui lòng liên hệ để được xử lý cụ thể
Bản chất là gì? Mối quan hệ biện
chứng giữa bản chất và hiện tượng?
Khái niệm bản chất là gì? Khái niệm hiện tượng là gì? Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng? Ý nghĩa phương pháp luận? Bản chất và hiện tượng cũng có sự mâu thuẫn?
Trang 8Bản chất và hiện tượng đều tồn tại một cách khách quan Theo chủ nghĩaMarc – Lenin thì quan điểm duy tâm không thừa nhận hoặc không hiểuđúng sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng, họ cho rằng, bảnchất không tồn tại thật sự, bản chất chỉ là tên gọi trống rỗng do con ngườibịa đặt ra, còn hiện tượng dù có tồn tại nhưng đó chỉ là tổng hợp nhữngcảm giác của con người, chỉ tồn tại trong chủ quan con người.
Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan tuy thừa nhận sự tồn tạithực sự của bản chất nhưng đó không phải là của bản thân sự vật mà theo
họ đó chỉ là những thực thể tinh thần Vậy, bản chất là gì? Ý nghĩa phươngpháp luận, mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng? Điềunày, được làm rõ trong bài viết dưới đây, mời Qúy bạn đọc cùng thamkhảo
1 Bản chất là gì?
Bản chất là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các mối liên hệtất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động vàphát triển của sự vật đó Ví dụ, trong xã hội có giai cấp bản chất của nhànước là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế trong xã hội.bản chất này được thể hiện ra dưới nhiều hình thức cụ thể khác nhau phụthuộc vào tương quan giai cấp trong xã hội Bản chất gắn bó với cái chungnhưng không phải cái chung nào cũng là bản chất chỉ những cái chungnào quy định sự vận động phát triển của sự vật mới là cái chung bản chất
ví dụ, người Việt Nam (nhìn chung) có cái chung là màu tóc đen và davàng Nhưng cái chung tóc đen và da vàng không phải là cái chung bảnchất của người Việt Nam Bản chất và quy luật là những phạm trù cùngbậc, tuy nhiên bản chất rộng hơn, phong phú hơn quy luật
Tóm lại, bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiêntương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triểncủa sự vật đó
Trang 9Ví dụ: Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội trongcuộc sống Nếu ai đó không có bất cứ mối quan hệ xã hội nào, dù nhỏnhất, thì người đó chưa phải là con người theo đúng nghĩa.
2 Hiện tượng là gì?
– Hiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ thuộc bảnchất của sự vật, hiện tượng ra bên ngoài
Ví dụ: Màu da cụ thể của một người nào đó là trắng, vàng hay đen… chỉ
là hiện tượng, là vẻ bề ngoài
Qua đó, bản chất chính là mặt bên trong, mặt tương đối ổn định của hiệnthực khách quan Nó ẩn giấu đằng sau cái vẻ bề ngoài của hiện tượng vàbiểu lộ ra qua những hiện tượng ấy
Ngược lại, hiện tượng là mặt bên ngoài, mặt di động và biến đổi hơn củahiện thực khách quan Nó là hình thức biểu hiện của bản chất
3 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bản chất và hiệntượng có mối quan hệ biện chứng như sau:
3.1 Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan trong cuộc sống
– Cả bản chất và hiện tượng đều có thực, tồn tại khách quan bất kể conngười có nhận thức được hay không
Lý do là vì:
Trang 10+ Bất kỳ sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định Các yếu
tố ấy tham gia vào những mối liên hệ qua lại, đan xen chằng chịt với nhau,trong đó có những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định Những mối liên
hệ này tạo nên bản chất của sự vật
+ Sự vật tồn tại khách quan Mà những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổnđịnh lại ở bên trong sự vật, do đó, đương nhiên là chúng cũng tồn tại kháchquan
+ Hiện tượng chỉ là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài để chúng tanhìn thấy, nên hiện tượng cũng tồn tại khách quan
3.2 Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
– Không những tồn tại khách quan, bản chất và hiện tượng còn có mối liên
hệ hữu cơ, gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau
3.3 Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
3.4 Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra những hiện tượng khác nhau
Trang 11Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng tương ứng với nó cũng sẽ thay đổitheo Khi bản chất mất đi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất đi.
– Chính nhờ có sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, giữa cái quyđịnh sự vận động, phát triển của sự vật với những biểu hiện nghìn hình,vạn vẻ của nó mà ta có thể tìm ra cái chung trong nhiều hiện tượng cá biệt,tìm ra quy luật phát triển của những hiện tượng ấy
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nhận thức đúng sự thật, hiện tượng thì không dừng lại ở hiện tượngbên ngoài mà phải đi vào bản chất Phải thông qua nhiều hiện tượng khácnhau mới nhận thức đúng và đầy đủ bản chất Theo V.I.Lênin: “Tư tưởngcủa người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bảnchất cấp một… đến bản chất cấp hai…”
Nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của khoa học nhận thức nói riêng làphải vạch ra được bản chất của sự vật
Còn trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào bản chất chứ không phải dựavào hiện tượng
– Vì bản chất tồn tại khách quan ở ngay trong bản thân sự vật nên chỉ cóthể tìm ra bản chất sự vật ở bên trong sự vật ấy chứ không phải ở bênngoài nó Khi kết luận về bản chất của sự vật, cần tránh những nhận địnhchủ quan, tùy tiện
– Vì bản chất không tồn tại dưới dạng thuần túy mà bao giờ cũng bộc lộ rabên ngoài thông qua các hiện tượng tương ứng của mình nên chỉ có thểtìm ra cái bản chất trên cơ sở nghiên cứu các hiện tượng
– Trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải xem xét rất nhiềuhiện tượng khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau
Trang 12Sở dĩ như vậy vì hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng đãcải biến, nhiều khi xuyên tạc bản chất.
Nhưng trong một hoàn cảnh và một phạm vi thời gian nhất định ta khôngbao giờ có thể xem xét hết được mọi hiện tượng biểu hiện bản chất của sựvật Do vậy, ta phải ưu tiên xem xét trước hết các hiện tượng điển hìnhtrong hoàn cảnh điển hình
Dĩ nhiên, kết quả của một sự xem xét như vậy chưa thể phản ánh đầy
đủ bản chất của sự vật Mà đó mới chỉ phản ánh một cấp độ nhất định của
nó Quá trình đi vào nắm bắt các cấp độ tiếp theo, ngày càng sâu sắc hơn
trong bản chất của sự vật là một quá trình hết sức khó khăn, lâu dài, công
phu, không có điểm dừng
Cũng chính vì vậy, khi kết luận về bản chất của sự vật, chúng ta cần hết
sức thận trọng
5 Bản chất và hiện tượng cũng có sự mâu thuẫn
– Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất biện chứng.
Tức là, trong sự thống nhất ấy đã bao hàm sự khác biệt
Nói cách khác, tuy bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, về căn bản
là phù hợp với nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với nhau hoàntoàn
Sở dĩ như vậy là vì bản chất của sự vật bao giờ cũng được thể hiện rathông qua sự tương tác của sự vật ấy với những sự vật xung quanh Các
sự vật xung quanh này trong quá trình tương tác đã ảnh hưởng đến hiệntượng, đưa vào nội dung của hiện tượng những thay đổi nhất định
Trang 13Kết quả là, hiện tượng biểu hiện bản chất nhưng không phải là sự biểu hiện
y nguyên bản chất
– Sự không hoàn toàn trùng khớp khiến cho sự thống nhất giữa bản chất
và hiện tượng là một sự thống nhất mang tính mâu thuẫn
Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ởchỗ:
+ Bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại vàphát triển của sự vật Còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt
Vì vậy, cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ngoài bằng vô số hiệntượng khác nhau tùy theo sự biến đổi của của điều kiện và hoàn cảnh
Nội dung cụ thể của mỗi hiện tượng phụ thuộc không những vào bản chất,
mà còn vào hoàn cảnh cụ thể, trong đó bản chất được biểu hiện Chính vìthế, hiện tượng phong phú hơn bản chất Ngược lại, bản chất sâu sắc hơnhiện tượng
+ Bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan.Còn hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy
Các hiện tượng biểu hiện bản chất không phải dưới dạng y nguyênnhư bản chất vốn có mà dưới hình thức đã được cải biến, nhiều khi xuyêntạc nội dung thực sự của bản chất Ví dụ: Nhúng một phần cái thước vàochậu nước, ta thấy cái thước gấp khúc, trong khi thực tế cái thước vẫnthẳng
– Bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm Còn hiện tượng không ổnđịnh, nó luôn luôn trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất
Có tình hình đó là do nội dung của hiện tượng được quyết định không chỉbởi bản chất của sự vật, mà còn bởi những điều kiện tồn tại bên ngoài của
nó, bởi tác động qua lại của nó với các sự vật xung quanh
Trang 14Các điều kiện tồn tại bên ngoài đó và sự tác động qua lại của sự vật nàyvới sự vật khác lại thường xuyên biến đổi Vì vậy, hiện tượng thường xuyênbiến đổi, trong khi bản chất vẫn giữa nguyên.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bản chất luôn giữ nguyên như cũ từlúc ra đời cho đến lúc mất đi Mà bản chất cũng biến đổi, nhưng là biến đổirất chậm so với hiện tượng
iiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii
II Lý luận về địa tô của C.Mác? Khái niệm và bản chất của địa tô? Các hình thức địa tô tư
Trang 15bản? Vận dụng lý luận địa tô trong việc quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay?
Công tác quản lý sử dụng đất đai ngày càng được quan tâm chú trọng củaĐảng, nhà nước và các đối tượng sử dụng, đối tượng có nhu cầu sửdụngđất đai Việc quản lý và sử dụng đất đai đã có nhiều chuyển biến vàthay đổi theo hướng tích cực, từng bước phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế – xã hội thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh
đó chính sách quản lý và sử dụng đất vẫn còn một số tồn tại cần được giảiquyết Mới chỉ nghe về đất thì ta tưởng chừng như đây là vấn đề của nôngnghiệp nhưng thực tế hoàn toàn khác đây là một trong những vấn đề quantrọng trong dự án phát triển kinh tế sau này, thuê đất ở đâu để kinh doanh,tiền thuê đất như thế nào, hay khi kinh doanh nông nghiệp thì tiền thuê đất
là bao nhiêu, nghĩa vụ như thế nào? Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta phảiphân tích những lí luận về địa tô của Mác, từ đó tìm hiểu xem nhà nước ta
đã vận dụng ra sao và đề ra những quy định, hạn mức gì? Chính vì vậy mà
em chọn đề tài: “Vận dụng lý luận địa tô của C.Mác trong việc quản lý đấtđai ở Việt Nam hiện nay”
1 Lý luận về địa tô của C.Mác
1.1 Khái niệm và bản chất của địa tô
– Trong chủ nghĩa tư bản, người thực sự canh tác ruộng đất không phải làchủ tư bản mà là những người lao động làm thuê Nhà tư bản thuê đất củađịa chủ để kinh doanh, coi nông nghiệp là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh
Số tiền mà nhà tư bản trả cho người sở hữu ruộng đất theo hợp đồng đểđược sử dụng đất trong một thời gian nhất định là địa tô tư bản chủ nghĩa.– Địa tô tư bản chủ nghĩa thể hiện mối quan hệ giữa người công nhân làmthuê, nhà tư bản chủ nghĩa và địa chủ Khoản địa tô có được do nhà tư bản
Trang 16bóc lột người công nhân làm thuê để thuê lợi nhuận bình quân Do vậymuốn kéo dài thời gian sử dụng đất để thu lợi nhuân nhiều hơn Tuy nhiênchủ đất luôn tìm cách khống chế nhà tư bản bằng cách tăng khoản địa tôhoặc rút ngắn thời gian sử dụng đất.
=> Tóm lại, địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư còn lại saukhi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanhruộng đất
1.2 Các hình thức địa tô tư bản
a Địa tô chênh lệch
Địa tô chênh lệch là phần địa tô thu được ở trên những ruộng đất có lợi thế
về điều kiện sản xuất (độ màu mỡ của đất đai tốt hơn, vị trí gần thị trường,gần đường hơn, hoặc ruộng đất để đầu tư để thâm canh)
Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung – Giá cả sản xuất cá biệt
Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch Nguồn gốc của nó
là một phần giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra Địa
tô chênh lệch gắn với chế độ độc quyền kinh doanh ruộng đất theo lối tưbản chủ nghĩa
Địa tô chênh lệch có hai loại địa tô:
+ Địa tô chênh lệch (I): là địa tô chênh lệch thu được trên những ruộng đất
có độ màu mỡ tự nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trườnghoặc gần đường giao thông
+ Địa tô chênh lệch (II): là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh mà có Thâm canh là việc đầu tư them tư bản vào một đơn vị diện tích ruộng đất
Trang 17để nâng cao chất lượng canh tác của đất, nhằm tăng độ màu mỡ trên thửa ruộng đó, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích.
b Địa tô tuyệt đối là
Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho dù ruộng đất là tốt hay xấu Đây làloại địa tô thu trên mọi thứ đất Địa tô tuyệt đối là lợi nhuận siêu ngạch dôi
ra ngoài lợi nhuận bình quân, được hình thành do cấu tạo hữu cơ của tưbản trong nông nghiệp luôn thấp hơn cấu tạo hữu cơ của tư bản trongcông nghiệp, nó là số chênh lệch giữa giá trị nông phẩm và giá cả sản xuấtchung
Ngoài những loại địa tô trên thì còn có các loại địa tô khác như: địa tô vềcây đặc sản, địa tô về hầm mỏ, địa tô về các bãi cá, địa tô về đất rừng,thiên nhiên,…
2 Vận dụng lý luận địa tô trong việc quản lý đất đai
ở Việt Nam hiện nay
Ngày nay, khi đất nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những
lý luận địa tô đó được đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạotrong thực tiễn để xây dựng đất nước giàu mạnh trong thực tiễn để đấtnước trở nên giàu mạnh Lý luận này đã trở thành cơ sở khoa học để xâydựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liênquan nhằm kích thích phát triển nông nghiệp và các ngành trong nền kinhtế
2.1 Vận dụng trong luật đất đai
Đất đai là một tài nguyên quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phầnquan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng
Trang 18Ngày nay, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thốngnhất quản lý Nhà nước giao đất, rừng cho các tổ chức kinh tế hay đơn vị
vũ trang để sử dụng Để bổ sung cho nguồn ngân sách và thông qua ngânsách thực hiện một số chính sách phát triển nông nghiệp, những ngườithuê đất phải đóng thuế cho nhà nước Thuế này khác xa với địa tô tư bảnchủ nghĩa và địa tô phong kiến vì nó tập trung vào ngân sách đem lại lợi íchcho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và địa
tô tư bản chủ nghĩa
Ở mỗi chế độ, đất đai lại thuộc về thuộc về mỗi giai cấp khác nhau như: sởhữu của thực dân Pháp, của địa chủ và quan lại quý tộc phong kiến,… Vàcuối cùng Mác cũng đã kết luận: “mỗi bước tiến của nông nghiệp tư bảnchủ nghĩa là một bước tiến không những trong nghệ thuật bóc lột người laođộng mà còn là bước tiến về mặt làm cho đất đai bị kiệt quệ mà sự bóc lột
đó được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó có địa tô
Nhà nước đã ban hành luật đất đai để quy định một cách rõ ràng quyền vànghĩa vụ của người dân theo những điều khoản như: điều 1, điều 4, điều 5,điều 12, điều 22, điều 79 luật đất đai Ngoài ra, trong pháp luật về đất đaicủa nhà nước ta hiện nay cũng ban hành những quy định để người dânphải trả tiền thuê đất (một hình thức của địa tô) khi sử dụng đất một cách tựnguyện Hiện nay, đất được cấp cho dân, dân có quyền sử dụng đất vàomục đích của mình Nếu đối với đất ở thì người dân chỉ phải nộp một khoảntiền thuê đất rất nhỏ so với thu nhập của họ Còn đối với đất để làm nôngnghiệp thì người dân phải nộp thuế nhưng họ có thể tự do kinh doanh trênđất của mình sao cho thu được lợi nhuận cao nhất Chẳng hạn như cóvùng trồng lúa, có vùng lại trồng đay và có vùng lại trồng cà phê, điều,bông,…
2.2 Vận dụng trong thuế đất nông nghiệp
Trang 19Thuế nông nghiệp ở đây không phải thể hiện sự bóc lột đối với nông dân
mà đó là quyền và nghĩa vụ của mỗi công
Để khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả;thực hiện công bằng, hợp lý sự đóng góp của tổ chức, cá nhân sử dụng đấtnông nghiệp vào ngân sách Nhà nước; căn cứ vào điều 84 của Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Luật này quyđịnh thuế sử dụng đất nông nghiệp, cụ thể ở các điều 1 đến điều 10, điều
19, điều 21, điều 22, điều 23,…
Việc miễn giảm thuế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt là mộtviệc khác xa so với việc thu địa tô tư bản chủ nghĩa Đây là một sự sángtạo của đảng ta trong việc vận dụng lý luận về địa tô khi đề ra chính sáchthuế nông nghiệp, động viên thúc đẩy người dân sản xuất Hiện nay, tổngcục thuế đã ban hành quy trình miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
số 137 TCT/ QD/ NV7 ngày 21/8/2001 cho các đối tượng chính sách xã hội như: hộ gia đình có công với cách mạng, hộ gia đình liệt sĩ, thương binh,bệnh binh, hộ gia đình có nhiều khó khăn,…(báo pháp luật số 159 ra ngày29/8/2001)
Sự khác biệt lớn nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây giờ so vớigiai đoạn tư bản chủ nghĩa là đất đai là của dân Nhà nước trực tiếp quản
lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dân làm nông nghiệp, thu thuếnhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất Mặt khác nhà nước cònđưa ra một số quy định cho thấy thuế trong nông nghiệp bây giờ giảm đi rấtnhiều mà chủ yếu là tăng thuế trong việc thuê đất để hoạt động phi nôngnghiệp
+ Nếu chuyển quyền sử dụng đất đai mà được phép chuyển mục đích từđất nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì thuế từ 20% – 40%, nếu đấtnông nghiệp chuyển sang xây dựng các công trình công nghiệp từ 40%sang 60%
Trang 20+ Đối với các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng đất vào mụcđích nông nghiệp thì không phải trả tiền sử dụng đất cho nông nghiệp, nếu
sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền, thậm chí phải chuyển sanghình thức thuê đất nếu là tổ chức sử dụng đất ở trong nước
2.3 Vận dụng trong việc cho thuê đất
Hiện nay, một số các nhà kinh doanh có vốn muốn lập ra một công ty thì họphải thuê đất của nhà nước, họ phải trả cho nhà nước số tiền tương đươngvới diện tích cũng như vị trí của nơi được thuê Nhà nước đã quy định rất
rõ việc thuê đất để kinh doanh, trên cơ sở ấy, ta thấy rõ sự khác biệt và sựvận dụng lý luận địa tô của Mác trong thời đại ngày nay Đó chính là việcnhà nước sử dụng những văn bản pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ củangười thuê đất để người dân khi nộp tiền thuê đất đều tự nguyện đóng góp.Trong việc thuê đất để kinh doanh thì người đã thuê đất của nhà nước sẽphát triển kinh doanh trên mảnh đất đó rồi lấy lợi nhuận mà mình làm ra đểtrả cho nhà nước và số tiền đó sẽ vào ngân sách nhà nước Hiện naykhông chỉ có việc thuê đất trong nông nghiệp trong việc kinh doanh mà nhànước còn cho nước ngoài thuê đất để thu hút đầu tư trực tiếp của nướcngoài ở Việt Nam và tăng nguồn thu cho ngân sách
=> Qua việc nghiên cứu tìm hiểu về luật đất đai, thuế nông nghiệp cũngnhư trong một số lĩnh vực kinh doanh, ta có thể khẳng định hiện nay địa tôvẫn còn tồn tại nhưng về bản chất thì hoàn toàn khác so với địa tô phongkiến và địa tô tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên trong việc sử dụng lý luận địa tôcủa C.Mác trong việc quản lý đất đai vẫn còn tồn tại một số hạn chế Chẳnghạn như nhà nước thu đất của nông dân với giá rất rẻ sau đó quy hoạchxây dựng nhà ở và cho thuê với giá rất cao Đây là vấn đề cần được kiếnnghị lên cấp có thẩm quyền nhằm có sự đền bù thoả đáng cho dân Nếunhư trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, người sử dụng đất phảinộp tô cho địa chủ thì ngày nay tô hay còn nói các khác là thuế đất, thuế
Trang 21nhà, tiền thuê đất đều được nộp vào ngân sách nhà nước Nguồn ngânsách đó lại được dung vào những công việc nhằm xây dựng đấy nước.
Địa tô gắn liền với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất Địa
tô đã từng tồn tại trong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủnghĩa và cả trong thời kì đầu của chủ nghĩa xã hội Như vậy, lý luận địa tô
tư bản chất Mác không chỉ vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chínhsách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai
có hiệu quả hơn Như vậy ta một lần nữa ta khẳng định rằng lý luận về địa
tô của C.Mác đã được đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo
và hợp lý Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế
và nhà nước đang dần cải thiện để xây dựng một Việt Nam giàu mạnh
III, Quy luật chuyển hóa lượng – chất
Trang 22Những vấn đề lý luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại? Quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên?
Trong cuộc sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn màu muôn vẻ,con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lạicủa sự vật hiện tượng, từ đó hình thành khái niệm “quy luật” Với tư cách làphạm trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tưduy khoa học phản ánh sự liên hệ của các sự vật, hiện tượng và tính chỉnhthể của chúng
Các quy luật của tự nhiên, xã hội cũng như của tư duy con người đềumang tính khách quan Con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quyluật mà chỉ có thể nhận thức và vận dụng vào thực tế
Quy luật “chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thayđổi về chất và ngược lại” là một trong ba quy luật của phép biện chứng duyvật, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển Việc nhậnthức quy luật này có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn khi chúng ta xem xét các
sự vật, hiện tượng Nếu nhận thức không đúng quy luật này dễ dẫn đếnhiện tượng “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh” “Tả khuynh” có thể hiểu là tưtưởng chủ quan nóng vội, muốn sớm có sự thay đổi về lượng nhưng lạikhông tính đến việc tích lũy về chất “Hữu khuynh” là tư tưởng bảo thủ, trìtrệ, không dám thực hiện “bước nhảy” (sự thay đổi về chất) khi đã có sựtích lũy đủ về lượng
Với bài tiểu luận này, chúng tôi mong muốn tiếp cận và làm sáng tỏ phầnnào nội dung và ý nghĩa của quy luật quan trọng này và từ đó rút ra đượcnhững bài học bổ ích trong học tập và cuộc sống
Bằng việc tiếp cận vấn đề thông qua việc làm sáng tỏ ba ví dụ cụa thểtrong thực tế, chúng tôi mong muốn có thể cung cấp cho người đọc cáchnhìn nhận dễ dàng và chân thực nhất về quy luật này Với kiến thức triết
Trang 23học của bản thân còn rất hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong nhận được sự ghóp ý của thầy cô và các bạn
1 Những vấn đề lý luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
1.1 Một số khái niệm
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất là phạm trù triếthọc dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thốngnhất hữu cơ những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cáikhác Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sựvật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và pháttriển cũng như các thuộc tính của sự vật
Lượng và chất là hai mặt cơ bản của mọi sự vật hiện tượng Trong bảnthân sự vật thì hai mặt này luôn tác động qua lại, ở nột mức độ nào đó, làmcho sự vật phát triển Khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng trong
sự vật chưa đủ làm thay đổi căn bản chất của sự vật được gọi là độ Chỉtrong trường hợp khi sự thay đổi về lượng đạt tới mức đủ để dẫn tới sựthay đổi về chất thì độ bị phá vỡ và sự vật phát triển sang một giai đoạnmới, khác hẳn về chất
Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều vận động và phát triển không ngừng.Việc tích lũy về lượng cũng chính là một trong những cách vận động của
sự vật Vì thế, dù nhanh hay chậm, sớm hay muộn thì việc tích lũy vềlượng của sự vật cũng sẽ đến một giới hạn mà ở đó làm cho chất của sựvật thay đổi về căn bản Thời điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ đểlàm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút Chất của sự vật thay đổi dolượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi là bước nhảy
Trang 241.2 Nội dung quy luật.
Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội cũng như
sự phát triển nhận thức trong tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần
về lượng khi vượt qua giới hạn về độ tới điểm nút thì gây ra sự thay đổi cơ bản về chất, làm cho sự vật, hiện tượng phát triển cao hơn hoặc thay thế bằng sự vật , hiện tượng khác Sở dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặtthống nhất hữu cơ nhưng cũng mang trong mình tính mâu thuẫn vốn có trong sự vật Lượng thì thường xuyên biến đổi còn chất có xu thế ổn định
Do đó, lượng phát triển tới một mức nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ, yêu cầu tất yếu là phải thay đổi chất cũ, mở ra một độ mới cho sự phát triển của lượng Sự chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những
sự thay đổi về chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Quy luật này còn diễn ra theo chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời, do sự biến đổi
về lượng trước đó gây nên thì nó lại quay trở lại, tác động đến sự biến đổi của lượng mới Ảnh hưởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới Nội dung của quy luật được phát biểu như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chât của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi
Như chúng ta đã biết, quy luật về sự thay đổi của lượng dẫn đến sự thay đổi về chât và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản chủa chủ nghĩa duy vật biện chứng Nội dung của nó không chỉ giới hạn trong một hay một
số lĩnh vực cụ thể mà bao trùm lên mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,
xã hội và tư duy con người