1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tong hop day du cac CAU HOI VA DAP AN thi tot nghiep nganh kinh te chinh tri p1

19 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 188 KB
File đính kèm cac CAU HOI VA DAP AN thi kinh te chinh.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp các câu hỏi và trả lời thi môn kinh tế chính trị (p1) như: Phân tích nội dung và tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá. Sự vận dụng quy luật này vào việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Phân tích câu nói sau đây của C.Mác: ” Số lượng của giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng của lao động thể hiện trong hàng hóa đó, và thay đổi theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó’’ phân tích thực chất, động cơ của tích luỹ tư bản và các nhân tố quyết định qui mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.VÀ NHIỀU CÂU HỎI KHÁC

Trang 1

Câu 1: Phân tích nội

dung và tác dụng của

quy luật giá trị trong

nền sản xuất hàng hoá.

Sự vận dụng quy luật

này vào việc phát triển

nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ

nghĩa ở nước ta hiện

nay.

Trả lời:

1/ phân tích

nội dung và tác dụng

của quy luật giá trị:

Nội dung: quy

luật giá trị là quy luật

kinh tế quan trọng nhất

của sản xuất và lưu

thông hàng hoá Quy

luật này quy định việc

sản xuất và trao đổi

hàng hoá phải được tiến

hành trên cơ sở hao phí

lao động xã hội cần

thiết do vậy trong sản

xuất đòi hỏi người sản

xuất phải làm cho giá trị

cá biệt bằng hoặc thấp

hơn giá trị xã hội thì

mới có lãi

Còn trong lưu

thông đòi hỏi mọi người

phải trao đổi ngang giá

Nghĩa là phải bán theo

giá trị thị trường

Giá trị không tự

bộc lộ ra được, phải

thông qua giá cả người

ta mới nhận biết được

sự hoạt động của quy

luật giá trị

Giá cả thị

trường lên xuống xoay

quanh giá trị hàng hoá

và trở thành cơ chế tác

động của quy luật giá

trị Cơ chế này phát sinh

tác dụng trên thị trường

thông qua cạnh tranh,

cung cầu, sức mua của

đồng tiền,…

Chính sự tác

động của cạnh tranh,

cung cầu làm cho giá cả

và giá trị không bao giờ

trùng hợp nhau, chỉ có

trên phạm vi toàn xã hội

và trong một thời gian

nhất định thì: Tổng giá cả = Tổng giá trị.

Tác dụng: trong nền

kinh tế hàng hoá, quy luật giá trị có 3 tác dụng sau đây:

Điều tiết sản xuất và lưu thông: sự điều tiết của

quy luật giá trị đối với sản xuất được thể hiện ở việc phân bố lại sức lao động và

tư liệu sản xuất giữa các ngành Sự điều tiết này tiến hành một cách tự phát thông qua giá cả thị trường

Nếu cung nhỏ hơn cầu, hàng hoá khan hiếm làm cho giá cả cao hơn giá trị do

đó có lãi nhiều, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, một số người khác chuyển sang sản xuất mặt hàng này Như vậy tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác và ngược lại nếu cung lớn hơn cầu, hàng hoá không bán được buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác

Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất

mà còn điều tiết lưu thông

Nó khơi nguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao nhờ

đó mà tạo ra một sự cân đối tạm thời giữa cung và cầu hàng hoá

Kích thích cải tiến kỹ thuật, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: các hàng hoá

sản xuất trong những điều kiện khác nhau, nên có giá trị

cá biệt khác nhau Nhưng trên thị trường đòi hỏi người sản xuất phải tuân theo giá trị thị trường do vậy mọi người phải tìm mọi cách như: cải tiến kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất,… để làm cho giá trị cá biệt của mình nhỏ hơn giá trị

xã hội thì mới thu được lợi nhuận lúc đầu chỉ có một vài người đi tiên phong, sau trở thành phổ biến trên toàn xã hội như vậy, do tác dụng của quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Phân hoá người sản xuất: quy luật giá trị

đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải đảm bảo thời gian lao động xã hội cần thiết do vậy người nào có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội sẽ phát tài, trở nên giàu có

Ngược lại, người nào có giá trị cá biệt của hàng hoá cao hơn giá trị xã hội

sẽ ở vào thế bất lợi, làm

ăn thua lỗ và phá sản

Như vậy, do tác dụng của quy luật giá trị

đã đưa tới sự phân hoá người sản xuất hàng hoá,

sự phân hoá này là cơ sở kinh tế cho phân hoá giàu nghèo trong xã hội

2/ Ý nghĩa việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nhận thức đúng yêu cầu, nội dung và tác dụng của quy luật giá trị

để đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hóa

Trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, có thể khẳng định rằng việc phát triển kinh tế thị trường và

sự tồn tại của quy luật giá trị là tất yếu khách quan

và lâu dài Từ đó, đòi hỏi nhà nước ta phải xây dựng một nền kinh tế, mà

ở đó tạo ra môi trường thuận lợi cho quy luật giá trị phát huy tác dụng chẵng hạn như: khuyến khích các thành phần kinh

tế tự do sản xuất, kinh doanh, trao đổi trong những lịnh vực mà luật pháp không cấm, từ đó tạo ra sự cạnh tranh bình đẵng để thúc đẩy đổi mới công nghệ, kỹ thuật Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực để tạo

ra nhiều hàng hoá với chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng nhu cầu đa dạng

của người tiêu dùng Bên cạnh đó, phải có sự điều tiết của nhà nước bằng những công cụ, chính sách, pháp luật để hạn chế những tác động tiêu cực, tự phát của quy luật giá trị như: phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, cạnh tranh không lành mạnh,

… nhằm định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta

- Đối với từng doanh nghiệp và cá nhân người sản xuất kinh doanh

+ Sử dụng tiết kiệm,

có hiệu quả mọi nguồn lực để giảm bớt chi phí đầu vào giảm giá trị cá biệt của hàng hoá + Thường xuyên đổi mới kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá trị cá biệt của hàng hóa + Có các biện pháp đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, phải có hệ thống đại lý, đào tạo nhận viên bàn hàng…

Trang 2

Câu 2 - Phân

tích câu nói sau đây

của C.Mác: ” Số lượng

của giá trị của một

hàng hóa thay đổi theo

tỷ lệ thuận với số

lượng của lao động thể

hiện trong hàng hóa

đó, và thay đổi theo tỷ

lệ nghịch với sức sản

xuất của lao động đó’’

( C.Mác- Tư bản,

quyển thứ nhất, tập

1.Nxb Sự thật, Hà Nội,

1960, tr.62-63.)

1- Khái niệm

giá trị

-Khái niệm

hàng hóa: Hàng hóa là

sản phẩm của lao động

nhằm để thỏa mãn nhu

cầu của con người

thông qua trao đổi mua

bán Hàng hóa có 2

thuộc tính là giá trị và

giá trị sử dụng, hai

thuộc tính này là do tính

chất hai mặt của lao

động sản xuất hàng hóa

quyết định

-Khái niệm giá

trị sử dụng: là công

dụng hay tính có ích của

vật nhằm thỏa mãn nhu

cầu nào đó của con

người

-Khái niệm: Giá

trị của hàng hóa là lao

động trừu tượng của

người sản xuất hàng hóa

kết tinh trong hàng hóa

-Hai mặt của

giá trị:

+ Chất của giá

trị: là lao động trừu

tượng kết tinh (hao phí

sức lực của con người)

+ Lượng của

gía trị: Là số lượng

lao động hao phí thể

hiện trong hàng

hóa( được tính bằng

thời gian: giờ, ngày,

tháng.v.v.)

 Song lượng giá

trị của hàng hóa không

phải do hao phí lao

động cá biệt hay thời

gian lao động cá biệt

quyết định mà nó được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra hàng hóa quyết định hay do lượng lao động trung bình quyết định

 Thời gian lao động

xã hội cần thiết: Là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với cường

độ lao động trung bình và trình độ thành thạo trung bình của xã hội đó

Trong thực tế, người

ta thường xác định lượng giá trị hàng hóa bằng cách căn cứ vào lượng lao động cá biệt của người sản xuất cung cấp đại bộ phận loại hàng hóa trên thị trường

2- Phân tích mối quan hệ giữa số lượng giá trị và lao động

Thời gian lao động

xã hội cần thiết là một lượng không cố định, do đó lượng giá trị hàng hóa cũng không

cố định Sự thay đổi của lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào năng suất lao động

và cường độ lao động

Trước hết là năng suất lao động, nếu năng suất lao động tăng thì thời gian lao động xã hội cần thiết giảm, do đó lượng giá trị hàng hóa giảm và ngược lại

C Mác viết: “Như vậy là đại lượng giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ

lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa đó và theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó”

Còn với cường độ lao động, nếu cường độ lao động tăng thì trong một đơn vị thời gian sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn và nhiều sản phẩm hơn,

do đó, giá trị cá biệt của một hàng hóa không thay đổi Vì vậy tăng cường độ lao động

có nghĩa như kéo dài thời gian lao động

Cụ thể:

Số lượng của giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng của lao động thể hiện trong hàng hóa đó:

- Số lượng lao động xã hội cần thiết tăng

 Số lượng giá trị hàng hóa tăng

- Số lượng lao động xã hội cần thiết giảm  Số lượng giá trị hàng hóa giảm

Số lượng của giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó.

 Sức sản xuất của lao động phản ánh trình

độ của lao động Nó được thể hiện ở năng suất lao động

 Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, là hiệu quả hay hiệu suất của lao động trong quá trình sản xuất

Lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghich với sức sản xuất

 Nó được đo bằng:

- Số lượng sản phẩm được tạo ra trong một đơn vị thời gian

Ví dụ: 60 sp được tạo ra trong 1 giờ hoặc

- Số lượng thời gian cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm

Vi dụ 1 phút tạo

ra một sản phẩm

Vậy khi sức sản xuất tăng lên có nghĩa là người ta áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật mới hoặc thay đổi cách quản lý sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên

- Tăng năng suất lao động nghĩa là tăng số lượng sản phẩm được tạo

ra trong một đơn vị thời gian

Theo ví dụ trên, giả sử nslđ tăng gấp đôi thì 120

sp được tạo ra trong 1 giờ

hoặc 30 giây sx ra 1 sp ( Giảm 1/2 thời gian so với trước)

Kết luận : Khi sức sản

xuất của lao động xã hội tăng lên thì năng suất lao động tăng Năng suất lao động tăng số lượng gía trị hàng hóa giảm và ngược lại Năng suất lao động giảm số lượng gía trị hàng hóa tăng Đó chính là quan

hệ tỷ lệ nghịch

Trang 3

Câu 3: phân

tích thực chất, động cơ

của tích luỹ tư bản và

các nhân tố quyết định

qui mô tích luỹ tư bản.

Ý nghĩa của việc

nghiên cứu vấn đề này

đối với quá trình đẩy

mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá ở

nước ta hiện nay.

1/ Thực chất

và động cơ của tích luỹ

tư bản:

Thực chất của

tích luỹ tư bản: Tích

luỹ tư bản là chuyển

một bộ phận giá trị

thặng dư thành tư bản

nói một cách khác, tích

luỹ tư bản là tư bản hoá

giá trị thặng dư

Tích luỹ tư bản

gắn liền với quá trình

phát triển của chủ nghĩa

tư bản, gắn với quá

trình bóc lột của chủ

nghĩa tư bản đối với lao

động làm thuê, gắn với

tái sản xuất mở rộng tư

bản chủ nghĩa Do đó,

xét một cách cụ thể, tích

luỹ tư bản chính là tái

sản xuất ra tư bản với

quy mô ngày càng mở

rộng

Như vậy, về

thực chất tích luỹ tư bản

là sự tăng cường bóc lột

giá trị thặng dư do

người công nhân tạo ra

với quy mô ngày càng

lớn hơn

Nguồn gốc duy

nhất của tích luỹ tư bản

là giá trị thặng dư và tư

bản tích luỹ chiếm tỷ lệ

ngày càng lớn trong

toàn bộ tư bản

Động cơ thúc

đẩy tích luỹ tư bản:

trước hết là quy luật giá

trị thặng dư – quy luật

kinh tế cơ bản của chủ

nghĩa tư bản quy luật

đó chỉ rỏ mục đích của

nền sản xuất tư bản chủ

nghĩa là sự tăng lên

không ngừng của giá trị

Thực hiện mục đích đó, các nhà tư bản không ngừng tích luỹ và mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, kỹ thuật tăng cường bóc lột lao động làm thuê, xem đó là những phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột giai cấp công nhân

Mặt khác do cạnh tranh với nhau, các nhà tư bản cá biệt buộc phải không ngừng làm cho tư bản của mình ngày càng tăng lên

Quy mô sản xuất ngày càng lớn, kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao số lượng, chất lượng và hạ giá

cả hàng hoá Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng nhanh tích luỹ tư bản, nghiên cứu tái sản xuất mở rộng

Theo C.Mác muốn tiến hành tích lũy tư bản để tái sản xuất mở rộng cần phải

có hai điều kiện:

- Phải có một phần sản phẩm thặng dư được chuyển hóa thành tư bản, những sản phẩm này phải đảm bảo cho quá trình SX và nuôi sống công nhân, tức là phải bao hàm cả về tư liệu sản xuất lẫn

tư liệu tiêu dùng

- Phải có lao động phụ thêm

Chính nhờ có lao động mới làm cho các yếu tố đó thực sự hoạt động với tư cách là tư bản Lđ phụ thêm có thề thực hiện được bằng cách kéo dài thời gian lđ, tăng cường độ lđ hoặc phải tuyển lđ mới

2/ Những nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản:

Với một lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy

mô của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư

đó thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản

nhưng nếu tỷ lệ phân chia đó

đã được xác định thì quy mô của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng

dư Do đó những nhân tố ảnh

hưởng tới khối lượng giá trị thặng dư cũng chính là nhân tố quyết định quy

mô của tích luỹ tư bản, những nhân tố đó là:

Nâng cao trình

độ bóc lột sức lao động:

bằng cách cắt xén vào tiền công để tăng tích luỹ tư bản

Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động, rõ ràng làm tăng thêm giá trị thặng dư Số lượng lao động tăng thêm

mà nhà tư bản chiếm không do tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng Như vậy

để mở rộng quy mô bóc lột nhà tư bản có thể tăng thời gian sử dụng máy móc, thiết bị trong ngày, tức là nâng cao hệ số sx

mà không cần đầu tư thêm

tư bản để tăng thêm thiết

bị, nhà xưởng mà chỉ cần tăng thêm nguyên vật liệu một cách tương ứng

Nâng cao năng suất lao động xã hội:

nâng cao năng suất lao động làm cho giá cả hàng hoá giảm nên khối lượng giá trị thặng dư dành cho tích luỹ có thể mua được

tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn

và dành cho phần tiêu dùng giảm đi

Sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích luỹ tư bản

Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn

Năng suất lao động xã hội cao là biểu hiện tổng hợp tính ưu việt của nền sản xuất lớn hiện đại là đòn bẩy mạnh mẽ nhất của tích luỹ

Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng: tư bản sử

dụng là toàn bộ khối lượng giá trị máy móc, thiết bị, nhà xưởng, súc vật kéo,…mà trong quá trình sản xuất thường lắp đi lắp lại với toàn bộ quy mô hiện vật của chúng nhằm đạt tới một hiệu quả nhất định

Còn tư bản tiêu dùng là bộ phận giá trị của những tư liệu lao động đã hao mòn dần trong quá trình sản xuất

và được chuyển từng phần vào sản phẩm mới

Mặc dù đã mất dần giá trị nhưng trong suốt thời gian hoạt động, máy móc vẫn tác dụng như khi còn đủ giá trị Do đó nếu không kể đến giá trị của máy móc chuyển dần vào sàn phẩm trong từng thời gian thì máy móc phục

vụ không công cho nhà

tư bản

Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, khối lượng tư bản ngày càng nhiều, cùng với nó khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, máy móc ngày càng tinh vi thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và

tư bản tiêu dùng ngày càng lớn do đó tích luỹ

tư bản ngày càng cao

Quy mô của tư bản ứng trước: với mức

độ bóc lột không đổi thì khối lượng giá trị thặng

dư do số lượng công nhân bị bóc lột quyết định Do đó quy mô của

tư bản ứng trước, nhất

là bộ phận tư bản khả biến càng lớn thì giá trị thặng dư bóc lột được

và quy mô tích luỹ càng lớn như vậy khi đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản

Trang 4

xuất càng mở rộng, kỹ

thuật sản xuất càng hiện

đại, là động lực thúc

đẩy sản xuất giá trị

thặng dư làm tăng quy

mô tích luỹ tư bản

3/ Ý nghĩa của

việc nghiên cứu:

Để tăng quy mô

tích luỹ tư bản, các nhà

tư bản phải sử dụng

nhiều nhân tố nâng cao

trình độ bóc lột sức lao

động, nâng cao năng

suất lao động xã hội, sử

dụng triệt để công suất

và hiệu quả của máy

móc thiết bị, tăng quy

mô của tư bản ứng

trước để mở rộng sản

xuất và đổi mới kỹ

thuật, công nghệ

Huy động và sử

dụng có hiệu quả các

nguồn vốn nước ngoài

Để tăng quy mô

tích luỹ tư bản, các nhà

tư bản phải:

Khai thác tốt

nhất lực lượng lao động

xã hội như phải nâng

cao trình độ quản lý,

trình độ tay nghề

chuyên môn cho người

lao động

Sử dụng tiết

kiệm, hợp lý, hiệu quả

các nguồn lực xã hội;

Sử dụng triệt để

công suất và hiệu quả

của máy móc thiết bị

(tăng ca, sử dụng máy

móc liên tục), phải khấu

hao nhanh, kéo dài tuổi

thọ máy móc để phục

vụ không công nhiều

hơn (bảo dưỡng, vệ sinh

máy móc hợp lý, bảo

quản kỹ lưỡng);

Muốn có nhiều

sản phẩm thặng dư hơn

thì nhà tư bản phải tăng

năng suất lao động

thông qua việc đổi mới

thường xuyên máy móc,

thiết bị, công cụ sản

xuất, ứng dụng khoa

học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất;

Tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu như huy động vốn góp từ nhà tư bản khác vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, có chính sách tiền tệ tốt để huy động tiền nhàn rỗi vào trong kinh doanh

Trang 5

Câu 4: Phân

tích quy luật chung

của tích luỹ tư bản.

Việc nghiên cứu vấn

đề này có ý nghĩa như

thế nào trong việc

đánh giá chủ nghĩa tư

bản hiện nay?

Trả lời: Tích

luỹ tư bản là việc sử

dụng giá trị thặng dư

làm tư bản hay tư bản

hoá giá trị thặng dư

Chủ nghĩa tư

bản phát triển thì khối

lượng giá trị thặng dư

càng lớn, do đó tích luỹ

càng cao đưa tới quá

trình tích tự và tập trung

tư bản, sự tích tự và tập

trung tư bản cao dẫn tới

làm cho cấu tạo hữu cơ

tư bản tăng, cấu tạo hữu

cơ tăng dẫn tới tình

trạng thất nghiệp và sự

bần cùng của giai cấp

công nhân Ngược lại,

của cải ngày càng nhiều

và được tập trung ở một

số ít người đó chính là

quy luật chung của tích

luỹ tư bản

1-Quy luật

chung của tích lũy tư

bản:

Thứ 1: Quá

trình tích tụ và tập

trung tư bản ngày

càng tăng:

Tích tụ tư bản

là sự tăng thêm quy mô

tư bản cá biệt bằng cách

tư bản hoá giá trị thặng

Tích tụ tư bản

là yêu cầu của quy luật

kinh tế cơ bản của chủ

nghĩa tư bản, của cạnh

tranh và của tiến bộ kỹ

thuật, mặt khác trình độ

bóc lột và khối lượng

giá trị thặng dư bóc lột

được ngày càng tăng

trong quá trình phát

triển của chủ nghĩa tư

bản là điều kiện vật chất

làm cho khả năng tư

bản hoá giá trị thặng dư biến thành hiện thực tích luỹ tư bản

Như vậy tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích luỹ, làm cho tư bản cá biệt và tư bản xã hội tăng, là

sự biểu hiện trực tiếp mối quan hệ giữa tư bản và lao độnglàm thuê

Tập trung tư bản là

sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất nhiều tư bản cá biệt sẵn

có thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn Chẳng hạn tư bản A có 1000USD, tư bản B

có 2000USD và tư bản C có 3000USD; ba tư bản này hợp nhất nhau lại để kinh doanh thì sẽ có tổng tư bản cá biệt 6000USD, việc hợp nhất lại làm cho quy mô tư bản cá biệt tăng lên Việc tập trung

tư bản là do quy luật kinh tế

cơ bản của chủ nghĩa tư bản chi phối nhằm mục đích bóc lột càng nhiều giá trị thặng

dư do công nhân làm ra

Tập trung tư bản được tiến hành bằng nhiều hình thức như liên kết hoặc thôn tính lẫn nhau thông qua cạnh tranh và tín dụng tư bản chủ nghĩa

Mối quan hệ giữa tích tụ tư bản và tập trung

tư bản:

* Giống nhau: Tích

tụ tư bản và tập trung tư bản đều dẫn đến kết quả làm tăng quy mô tư bản cá biệt, do đó làm tăng cường sự thống trị của tư bản đối với người lao động

* Khác nhau: Nguồn tích luỹ cũa tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, còn nguồn tập trung tư bản là các tư bản

có sẵn trong xã hội

Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt và tư bản

xã hội tăng lên, còn tập trung

tư bản làm tăng quy mô của

tư bản cá biệt nhưng không làm tăng tư bản xã hội

Tích tụ tư bản bị hạn chế bởi khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được, còn

ngược lại giới hạn của tập trung tư bản rất rộng là tổng tư bản của ngành và giới hạn cuối cùng của tập trung tư bản là toàn xã hội

là tổng tư bản xã hội

Tích tụ tư bản trực tiếp biểu hiện quan

hệ giữa tư bản và lao động, còn tập trung tư bản biểu hiện quan hệ nội bộ giữa các nhà tư bản

Tích tụ tư bản và tập trung tư bản có mốiquan hệ mật thiết với nhau thúc đẩy nhau phát triển tích tụ tư bản càng lớn sẽ dẫn tới tập trung tư bản mạnh hơn và ngược lại tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường bóc lột giá trị thặng dư và thúc đẩy tích tụ tư bản

Việc tập trung tư bản làm cho quy mô sản xuất được mở rộng, thực hiện được chương trình công nghiệp lớn, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm cho cấu tạo hửu cơ tư bản tăng lên, làm cho năng suất lao động tăng, làm ra được nhiều hàng hoá, giá thành rẽ, quy mô tích luỹ tăng nhưng nó làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng tăng và gay gắt, dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, giai cấp công nhân ngày càng bị bần cùng hoá

Thứ 2:Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình cấu tạo hữu cơ tư bản ngày càng tăng:

Trong quá trình vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản, tư bản chẳng những tăng lên về quy mô mà còn không ngừng biến đổi trong cấu tạo tỷ lệ của việc kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất để phản

ánh các mối quan hệ này C.Mác đã dùng các khái niệm như cấu tạo giá trị, cấu tạo kỹ thuật

và cấu tạo hữu cơ tư bản

Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ giữa

số lượng giá trị của tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động cần thiết

để sản xuất hay nói cách khác cấu tạo giá trị của tư bản là chỉ quan

hệ tỷ lệ giữa số lượng giá trị tư bản bất biến và

tư bản khả biến cần thiết để tiến hành sản xuất

Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất

Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo

kỵ thuật quyết định và phản ánh sự biến đối của cấu tạo kỹ thuật đó,

ký hiệu là C/V

Cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên sẽ làm cho năng suất lao động tăng, từ đó làm tăng quy mô tích luỹ của tư bản, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến

sự hình thành nạn thất nghiệp trong xã hội tư bản

Thứ 3:Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tạo ra nạn thất nghiệp ngày càng tăng:

Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng là nguyên nhân quan trọng nhất của nạn nhân khẩu thừa tương đối làm cho đội ngũ công nhân thất nghiệp ngày càng tăng Ngoài

ra tích luỹ tư bản còn làm nẩy sinh tình hình khác khiến cho thất

Trang 6

nghiệp ngày càng tăng

đó lá: việc kéo dài ngày

lao động, tăng cường độ

lao động vì thế làm cho

nhu cầu sử dụng lao

động chậm hơn và nạn

thất nghiệp càng trầm

trọng hơn Làm phá sản

những người sản xuất

hàng hoá nhỏ vì thế đội

quân thất nghiệp ngày

càng tăng, sử dụng công

nhân nữ và trẽ em ngày

càng nhiều hơn,…làm

cho công nhân là đàn

ông và những người lớn

tuối càng thất nghiệp

việc thừa nhân khẩu ở

đây chỉ là so với tích

luỹ tư bản, vì vậy

C.Mác gọi nạn thất

nghiệp trong xã hội tư

bản là “nhân khẩu thừa

tương đối”

Nhân khẩu thừa

tươngđối được tồn tại

dưới ba hình thức là

nhân khẩu thừa lưu

động; nhân khẩu thừa

tiềm tàng và nhân khẩu

thừa ngưng trệ

Thứ 4:Quá

trình chung của tích

luỹ tư bản là sự giàu

có về phía giai cấp tư

sản và sự bần cùng về

phía giai cấp công

nhân:

Qua phân tích ở

trên thì tích luỹ tư bản

tăng làm cho cấu tạo

hữu cơ tăng đưa tới

thừa lao động do đó

buộc một bộ phận công

nhân phải lao động quá

mức nhưng tiền lương

thất và một bộ phận

công nhân không có

việc làm, tình trạng đó

C.Mác gọi là sự bần

cùng hoá và có hai loại

là: bần cùng hoá tương

đối và bần cùng hoá

tuyệt đối

Bần cùng hoá

tương đối là phần thu

nhập cùa công nhân

trong thu nhập quốc dân

ngày càng giảm xuống,

còn phần thu nhập của các nhà tư bản ngày càng tăng lên Bần cúng hoá tương đối không phụ thuộc vào mức sống của giai cấp công nhân

mà phụ thuốc vào mức tăng thu nhập giữa giai cấp tư sản

và giai cấp vô sản

Bần cùng hoá tuyệt đối giai cấp vô sản là biểu hiện mức sống của họ giảm sút hơn trước mức sống của giai cấp vô sản tụt xuống không chỉ ở mức tiêu dùng cá nhân giảm tuyệt đối, mà cả trong trường hợp mức tiêu dùng cá nhân tăng hơn trước nhưng mức tăng đó chậm hơn

so với mức tăng của nhu cầu thiết yếu

Xu hướng lịch sử của tích luỹ tư bản: do tăng

cường bóc lột giá trị thặng dư

mà tư bản tích luỹ ngày càng tăng, quy mô tư bản ngày càng mở rộng, phương thức

tư bản chủ nghĩa trãi qua ba giai đoạn phát triển đã chiến thắng sản xuất nhỏ, lạc hậu,

đã khẵng định sản xuất lớn,

có sự phân công hợp lý, sử dụng máy móc hiện đại cùng với tích tụ và tập trung tư bản sản xuất ngày càng tập trung

và kỹ thuật phát triển mạnh

mẽ, phân công xã hội ngày càng mở rộng, thị trường phát triển thành thị trường thế giới,…

2-Đánh giá chủ nghĩa tư bản hiện nay:

Những thành tựu của chủ nghĩa tư bản:

Như đã phân tích, sự tích luỹ tư bản và cấu tạo hữu

cơ ngày càng tăng của chủ nghĩa tư bản trãi qua ba giai đoạn phát triển đã tạo ra một nền sản xuất quy mô lớn dựa trên sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ hiện đại đã sản xuất ra được khối lượng hàng hoá khổng

lồ đa dạng và chất lượng ngày càng cao đáp ứng cho nhu cầu của xã hội bên cạnh

sự phát triển của khoa học công nghệ đã đào tạo ra đội ngũ lực lượng sản xuất lành

nghề có trình độ cao, có

kỷ năng, kỹ thuật và có kinh nghiệm trong sản xuất,…

Sự phát triển của nền sản xuất lớn tư bản đã

mở rộng thị trường ra toàn thế giới

Khoa học quản lý nền kinh tế thị trường ngày càng có nhiều tiến

bộ, am hiểu và vận dụng khoa học trong quản lý chỉ đạo điều hành

Những hạn chế

và giới hạn:

Dù chủ nghĩa tư bản đã phát triển vượt bậc nhưng chế độ sở hữu vẫn dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về

tư liệu sản xuất vì vậy quan hệ bóc lột vẫn tồn tại

và càng tinh vi hơn

Do tích luỹ tư bản

và cấu tạo hữu cơ tư bản càng tăng dẫn tới tình trạng phân hoá giàu nghèo

và bất công trong xã hội

tư bản ngày càng gay gắt

Việc tập trung sản xuất lớn không có kế hoạch dẫn tới hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều nên cung lớn hơn cầu dẫn đến khủng hoảng kinh tế

và thất nghiệp diễn biến theo chu kỳ

Do bản chất của chủ nghĩa tư bản là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư nên trong sản xuất nhà tư bản không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường sống, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên để chiếm đoạt giá trị thặng dư vì vậy đã gây

ra các thảm hoạ môi trường mà loài người phải gánh chịu như hiện tượng ennino, bùn đỏ ở Hunggari,…

Để có thêm thị trường thế giới chủ nghĩa

tư bản đã gây ra chiến tranh, phát triển các vũ khi có sức huỷ diệt lớn nên đã gây ra bao đau

thương tan tóc cho nhân loại qua các cuộc chiến tranh thế giới I, II, chiến tranh sắc tộc,… phát tán nhiều loại vi rút gây bệnh và do môi trường

bị huỷ hoại nên đã sản sinh ra nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm được coi là các đại dịch,… các tệ nạn xã hội ngày càng tăng nhất là bạo lực, phim ảnh đồi truỵ làm cho đạo đức bị suy thoái, giá trị đạo đức truyền thống của con người ngày càng mai một…

Từ đó tạo ra những mâu thuẫn cơ bản không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản là:

Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa tư bản

Mâu thuẫn giữa CNTB với các nước đang phát triển

Mâu thuẫn giữa CNTB với CNXH

Tóm lại, xu

hướng lịch sử của tích luỹ tư bản là CNTB không thể tồn tại vĩnh viễn, nó đã và đang tạo tiền đề, điều kiện cho sự

ra đời một xã hội sau nó tiến bộ hơn đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa

Trang 7

Câu 5: Tại sao

Đảng ta chủ trương phát

triển nền kinh tế thị

trường định hướng xó

hội chủ nghĩa? Liên hệ

với thực tiễn phỏt triển

kinh tế thị trường tại

ngành hoặc địa phương

anh ( chị) đang công tác.

Trả lời: gồm 3 ý.

1- Một số vấn đề

về thị trường; cơ chế thị

trường; nền kinh tế thị

trường

A- Thị trường

- Khái niệm: thị trường là

tổng hợp các mối quan hệ

kinh tế hình thành trong

lĩnh vực mua bán

- Đặc trưng

+ Giá cả là công cụ quan

trọng để kích thích và điều

tiết các hoạt động kinh tế

+ Có sự cạnh tranh gay

gắt giữa các chủ thể sản

xuất kinh doanh và tiêu

dùng

+ Thị trường phát triển là

một thể thống nhất không

chia cắt giữa các vùng,

giữa thị trường trong nước

và thế giới

+ Hình thành hệ thống thị

trường

+ Chịu sự chi phối của các

quy luật kinh tế như: Quy

luật giá trị, cung cầu, cạnh

tranh

B- Cơ chế thị

trường

- Khái niệm: Cơ chế thị

trường là một cơ chế trong

đó các chủ thể kinh tế tác

động lẫn nhau thông qua

thị trường để xác định

những vấn đề cơ bản của

hoạt động kinh tế là: Sản

xuất cái gì? Sản xuất như

thế nào? Sản xuất cho ai?

- Các yếu tố cơ bản của cơ

chế thị trường

+ Hàng hóa, tiền tệ Trong

nền kinh tế thị trường có

nhiều loại hàng hóa khác

nhau nhưng có thể chia

thành hai loại hàng hóa cơ

bản là: hàng hóa các yếu

tố sản xuất ( đầu vào) và hàng hóa tiêu dùng dịch vụ( đầu ra) Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung phục vụ cho quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa

+ Quan hệ mua – bán (người mua – người bán)

+ Giá cả thị trường: Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của hàng hóa

+ Quan hệ cung - cầu là sự khái quán hóa giữa hai lực lượng cơ bản của thị trường đó là giữa người mua và người bàn, giữa người sx và người tiêu dùng

Những nhân tố ảnh hưởng đến cung:

- Giá thành của sản phẩm

- Giá cả của hàng hóa

- Công nghệ và số lượng của người sx

- Các chính sách của Chính phủ như:thuế, giá cả, tiền tệ

Những nhân tố ảnh hưởng đến cầu:

- Giá cả hàng hóa

- giá cả của các hàng hóa liên quan

- Thu nhập của người tiêu dùng

- Thị hiếu của người tiêu dùng

- dân số và các kỳ vọng + cạnh tranh trên thị trường : Cạnh trang là sự ganh đua, sự đấu tranh giữa các thành viên tham gia kinh tế thị trường nhằm thu được lợi nhuận tối đa

- Cạnh tranh trong sx bao gồm: cạnh tranh trong nội

bộ ngành và giữa các ngành với nhau, giữa các

DN sx ở những ngành khác nhau

- Cạnh tranh trong lưu thông bao gồm cạnh tranh giữa người mua và người bàn, giữa người bàn với

người bán, giữa người mua với người mua

Dưa vào trạng thái cạnh tranh người ta chia thị trường thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

+ Cơ chế thị trường chịu sự tác động của các quy luật kinh tế : quy luật giá cả, cung- cầu, hàng- tiền

C- Nền kinh tế thị trường

Khái niệm: Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường được gọi là nền kinh tế thị trường

Đặc trưng + Các chủ thể tự do lựa chọn phương thức sở hữu, phương thức sản xuất kinh doanh, hành nghề mà luật pháp không cấm

+ Sản xuất và bán hàng húa theo yêu cầu của thị trường, bán cái mà thị trường cần chứ không phải cái mà mình

+ Hoạt động kinh tế do các quy luật kinh tế chi phối

+ Tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế

+ Tiền là động lực và là mục đích kinh doanh

+ Chịu sự điều khiển của 2 ông vua là người tiêu dùng

và kỹ thuật

Ưu:

+ Kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ Làm cho nền kinh tế phát triển năng động có hiệu quả

+ Kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, qua đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng , đa dạng của người tiêu dùng

+ Điều tiết nhanh nhạy, năng động việc sản xuất và lưu thông hàng hóa, cơ chế thị trường thực hiện phân

phối các nguồn lực kinh tế một cách tối ưu

Do đó nó khai thác và

sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả mọi nguồn lực

để phát triển kinh tế + Góp phần thực hiện chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, nõng cao trình độ phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế

- khuyết tật + Cạnh tranh gay gắt làm suy giảm đạo lý, tình người Hơn nữa họ ít quan tâm đến sản xuất hàng hóa công cộng tuy rất cần cho xã hội nhưng

có ít hoặc không có lợi nhuận như: đắp đê chống lụt, phũng chống cháy, nổ

+ Phân phối thu nhập khụng công bằng, gây nên sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng, bất công xó hội

+ Các tệ nạn xã hội gia tăng như trốn, lậu thuế, kinh doanh trái phép , làm hàng giả khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây

ô nhiễm môi trường + Tình trạng độc quyền xuất hiện làm giảm khả năng cạnh tranh, khủng hoảng, thất nghiệp Thất nghiệp xảy ra làm lãng phí các nguồn lực và làm mất ổn định kinh tế, xó hội

+ Các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, cục bộ chứ không quan tâm đến lợi ích toàn cục, lâu dài dẫn đến tổn thất cho nền kinh tế quốc dân

2- Phân tích vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

A- Chức năng của nhà nước

Đảm bảo sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn

Trang 8

khổ pháp lý để tạo điều

kiện cần thiết cho hoạt

động kinh tế

Định hướng cho sự phát

triển kinh tế và thực hiện

điều tiết các hoạt động

kinh tế để đảm bảo cho

nền kinh tế tăng trưởng

ổn định

Đảm bảo cho nền kinh tế

hoạt động có hiệu quả

Để ngăn chặn tác động

tiêu cực của cơ chế thị

trường như: ô nhiễm môi

trường, khai thác cạn

kiệt tài nguyên , lãng

phí, độc quyền Nhà

nước phải thực hiện

những biện pháp nhằm

ngăn chặn những tác

động bên ngoài để nâng

cao hiệu quả kinh tế- xã

hội, bảo vệ cạnh tranh

chống độc quyền

Đảm bảo thực hiện công

bằng xã hội

B- Các công cụ

điều tiết vĩ mô của nhà

nước.

Hệ thống luật pháp là

một công cụ quản lý vĩ

mụ của nhà nước, nó tạo

ra khuôn khổ pháp luật

cho các chủ thể kinh tế

hoạt động, phát huy mặt

tích cực , hạn chế mặt

tiêu cực của kinh tế thị

trường, đảm bảo cho nền

kinh tế phát triển Do đó

cần phải hoàn thiện, bổ

sung và xây dựng hệ

thống luật pháp đồng bộ,

đáp ứng yêu cầu của

kinh tế thị trường và phù

hợp với thông lệ quốc tế

Kế hoạch hoá: Cơ chế

vận hành nền kinh tế thị

trường là kế hoạch kết

hợp với thị trường kế

hoạch phải được hoạch

định trên cơ sở của thị

trường lấy thị trường

làm căn cứ và đối tượng

của kế hoạch, lấy mục

tiêu chiến lược phát triển

kinh tế- xã hội làm định

hướng

Các lực lượng kinh tế của nhà nước: Bao gồm các nguồn lực do nhà nước

sở hữu đất đai, tài nguyên, vốn, các quỹ dự trữ…

Chính sách tài chính, tiền tệ

+ Chính sách tài chính:

đặc biệt là ngân sách nhà nước có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và xã hội nhà nước điều chỉnh

và phân bổ các nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu

hạ tầng, bảo đảm công bằng trong phân phối

+ Chính sách tiền tệ: là công cụ trọng yếu quản

lý vĩ mô của nhà nước, trong chính sách tiền tệ, lói suất là công cụ quan trọng là phương tiện điều tiết cung cầu tiền tệ

Công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại thuế xuất – nhập khẩu: Nhà nước khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa nước ta, giữ vững độc lập chủ quyền bảo

vệ được lợi ích quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế

3- Trình bày tính tất yếu và tỏc dụng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

A-

Tính tất yếu :

Còn phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của sản xuất và trao đổi hàng hóa chẳng những không mất đi mà ngày càng được phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực , từng địa phương và hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng

Còn tồn tại nhiều hình thức

sở hữu và nhiều thành phần kinh tế.Đó là sở hữu toàn

dân, sở hữu tập thể và sở hữu

tư nhân( gồm sở hữu cá thể

và sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa-tiền tệ

B-

Tác dụng

- Giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác mọi tiềm năng

để phát triển kinh tế Khắc phục tình trạng tự cấp, tự tỳc đẩy mạnh phân công lao động

xã hội, phát triển nhiều ngành, nghề tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Kích thích cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất kinh doanh do đó làm tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa( số lượng tăng, chất lượng tốt, giá cả rẻ, mẫu mó phong phú) đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Góp phần khắc phục sự mất cân đối trong nền kinh tế

- Góp phần tăng tích luỹ vốn

- Tạo điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế

Liên hệ với thực tiễn phát triển kinh tế thị trường tại ngành hoặc địa phương anh ( chị) đang công tác.

Trang 9

Câu 6 - Phân

tích các đặc

trưng của nền

kinh tế thị

trường định

hướng xã hội

chủ nghĩa ở

Việt Nam và

trình bày các

giải pháp để

tiếp tục hoàn

thiện thể chế

kinh tế thị

trường ở nước

ta trong thời

gian tới.

Trả lời :

1- Phân tích

các đặc trưng

của nền kinh tế

thị trường

định hướng xã

hội chủ nghĩa

ở Việt Nam:

a/ Về mục đích

của việc phát

triển kinh tế thị

trường :

 Việt Nam phát

triển nền KTTT

phóng sức lao

động, động viên

mọi nguồn lực

trong và ngoài

nước để thực

nghiệp hóa,

hiện đại hóa,

CSVC – kỹ

CNXH, nừng

cao hiệu quả

kinh tế xã hội,

từng bước cải

thiện đời sống

nhân dân, thực

hiện mục tiêu

dân giàu, nước

mạnh, xã hội

công bằng, dân

chủ, văn minh

KTTT tồn tại

nhiều hình thức

sở hữu, nhiều

thành phần

kinh tế, trong

đú kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

 Trong nền kinh tế nước ta hiện nay tồ tại ba hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Từ ba hình thức sở hữu đó hình thành nhiều thành phần kinh tế (tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta

có năm thành phần : Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh

tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), Kinh tế tư bản nhà nước, kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài); nhiều hình thức tổ chức kinh doanh, trong

đó kinh tế nhà nước giữ vai trũ chủ đạo:

 - Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt ở những ngành, lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước, các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế và chấp hành pháp luật

 - Kinh tế nhà nước

là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản

lý vĩ mụ nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nỳ

mở đường, hướng dẫn hỗ trợ và lụi cuốn các thành phần kinh tế khỏc cựng phát triển theo

định hướng xã hội chủ nghĩa

- Kinh tế nhà nước cựng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân ú hội và chấp hành pháp luật

 Nhà nước khuyến khớch và và tạo điều kiện thành phần kinh tết khỏc phát triển, cạnh tranh, hợp tỏc với nhau trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất

 c/ Phân phối : Trong nền kinh tế TT định hướng XHCN ở nước ta, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập : phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đúng góp và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và

xã hội Trong đú phân phối theo lao động là hình thức chủ yếu

 d/ Tổ chức quản lý:

Nhà nước ta là nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng CSVN lãnh đạo Do đó, nó khác

về bản chất với nhà nước tư sản với nhà nước của giai cấp tư sản, phục vụ lợi ích

và sự bóc lột của giai cấp tư sản

 Nhà nước của ta quản lý nền kinh tế nhằm phátt huy tính tích cực và ưu điểm của nền kinh tết thị trường, đồng thời khắc phục, ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêu cực của

nó Nhà nước quản

lý kinh tế bằng kế hoạch, pháp luật, chính sách và các

công cụ khác nhằm thực hiện mục tiêu

“ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” , kết

trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trong từng bước phát triển

e/ Nền KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế mở cửa, hội nhập.

mở của, hội nhập, toàn cầu hóa nền KT thế giới là tất yếu khách quan Do vậy, nền KT nước

ta cũng phải thực hiện mở của, hội nhập nhằm tranh thủ KHCN, vốn, thị trường

và kinh nhiệm quản lý của thế giới để phát triển KT, phát huy nội lực, lợi thế của

ta, đồng thời

ngoại lực để rút ngắn quá trình phát triển Song chúng ta phải giữ vững độc

quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan

hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 10

2/ Các giải pháp

cơ bản nhằm

phát triển cơ

chế thị trường

định hướng

XHCN ở VN.

 Để phát triển

nền kinh tế thị

trường theo

định hướng

XHCN thì ở

nước ta cần

phải thực hiện

đồng bộ nhiều

giải pháp, trong

đú có những

giải pháp cơ

bản sau:

a/ Thực hiện

chính sách kinh

tế nhiều thành

phần Điều này

sẽ tạo ra niềm

tin và sự lạc

quan cho các

chủ thể khi

tham gia vào thị

trường

 + Để phát triển

nền kinh tế thị

trường Nhà

nước cần phải

đa dạng hóa các

hình thức sở

hữu, phải thừa

nhận sự tồn tại

của các hình

thức sở hữu của

nền kinh tế cả

về mặt pháp lý

lẫn trong thực

tiễn Phải lấy

việc phát triển

sức sản xuất,

nâng cao hiệu

quả KTXH, cải

thiện đời sống

của nhân dân

làm mục tiêu

quan trọng để

khuyến khích

và huy động

nguồn lực của

tất cả các chủ

thể cũng như

của tất cả các

thành phần kinh

tế Theo tinh

thần đó, tất cả các thành phần kinh tế hiện nay ở nước ta đều phải được bình đẳng với nhau cả về quyền lợi và nghĩa

vụ trước pháp luật

 + Trong những năm trước mắt, NQĐH lần 10 của Đảng khẳng định cần phải phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Muốn vậy, cần tập trung các nguồn lực phát triển

có hiệu quả kinh tế Nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu, phải sắp xếp lại khu vực kinh tế Nhà nước, phải thực hiện tốt chủ trương

cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, tiến hành xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên

cơ sở các tổng công

ty Nhà nước, kết hợp với sự tham gia của các thành phần kinh tế khác Phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quản

lý công ty đối với tất các các doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn Nhà nước

b- Đẩy mạnh công nghiệp hoỏ, hiện đại hóa

 - Đẩy mạnh CNH, HĐH, ứng dụng nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất kinh doanh để trên

cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động

xã hội Phân công lao động xã hội là một trong 2 điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế hàng hóa và cao hơn là kinh tế thị trường

Vì vậy, để phát triển kinh tế thị

trường ở nước ta đòi hỏi phải thúc đẩy và phát triển phân công lao động xã hội

Nhưng phân công lao động xã hội ở nước ta lại phụ thuộc rất lớn vào quá trình CNH, HĐH Con đường CNH, HĐH ở nước

ta hiện nay đang được thực hiện theo phương châm là rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

Để thực hiện được mục tiêu đó, nước ta cần phải có những bước phát triển tuần

tự, kết hợp với những bước phát triển nhảy vọt, phải gắn CNH với HĐH, phải tận dụng mọi khả năng cả nội lực

và ngoại lực để đạt được trình độ phát triển cao

c- Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa.

 - Phải hình thành và phát triển đồng bộ

hệ thống thị trường,

cụ thể là:

 + Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang ở mức

sơ khai thì cần phải từng bước phát triển thị trường hàng hóa

và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường, phải thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh, phải xóa bỏ độc quyền của các doanh nghiệp, phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá Phải phát triển mạnh thương mại trong nước gắn với việc tăng nhanh xuất

khẩu, hạn chế nhập khẩu

 + Phải phát triển vững

trường tài chính bao gồm thị trường vốn

và thị trường tiền tệ một cách đồng bộ

và có một cơ

chỉnh Đồng thời phải mở rộng và nâng cao chất lượng của thị trường chứng khoán ở VN

 + Phải phát

trường bất động sản bao gồm cả thị trường đất và thị trường bất động sản gắn với đất (nhà chung cư)

 + Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế đồng thời đẩy mạnh việc xuất khẩu lao động đặc biệt là xuất khẩu lao động

đú qua đào tạo nghề

 + Phải phát

trường KHCN trên cơ sở đổi mới cơ chế chính sách để phần lớn tất cả các sản phẩm KHCN đều tồn tại dưới hình thức là hàng hóa và đều thông qua thị trường để thị trường xác định giá trị và

Ngày đăng: 31/07/2018, 12:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w