Tổng hợp các câu hỏi và trả lời thi môn kinh tế chính trị (p1) như: Phân tích nội dung và tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá. Sự vận dụng quy luật này vào việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Phân tích câu nói sau đây của C.Mác: ” Số lượng của giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng của lao động thể hiện trong hàng hóa đó, và thay đổi theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó’’ phân tích thực chất, động cơ của tích luỹ tư bản và các nhân tố quyết định qui mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.VÀ NHIỀU CÂU HỎI KHÁC
Trang 1Câu 1: Phân tích nội
dung và tác dụng của
quy luật giá trị trong
nền sản xuất hàng hoá.
Sự vận dụng quy luật
này vào việc phát triển
nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện
nay.
Trả lời:
1/ phân tích
nội dung và tác dụng
của quy luật giá trị:
Nội dung: quy
luật giá trị là quy luật
kinh tế quan trọng nhất
của sản xuất và lưu
thông hàng hoá Quy
luật này quy định việc
sản xuất và trao đổi
hàng hoá phải được tiến
hành trên cơ sở hao phí
lao động xã hội cần
thiết do vậy trong sản
xuất đòi hỏi người sản
xuất phải làm cho giá trị
cá biệt bằng hoặc thấp
hơn giá trị xã hội thì
mới có lãi
Còn trong lưu
thông đòi hỏi mọi người
phải trao đổi ngang giá
Nghĩa là phải bán theo
giá trị thị trường
Giá trị không tự
bộc lộ ra được, phải
thông qua giá cả người
ta mới nhận biết được
sự hoạt động của quy
luật giá trị
Giá cả thị
trường lên xuống xoay
quanh giá trị hàng hoá
và trở thành cơ chế tác
động của quy luật giá
trị Cơ chế này phát sinh
tác dụng trên thị trường
thông qua cạnh tranh,
cung cầu, sức mua của
đồng tiền,…
Chính sự tác
động của cạnh tranh,
cung cầu làm cho giá cả
và giá trị không bao giờ
trùng hợp nhau, chỉ có
trên phạm vi toàn xã hội
và trong một thời gian
nhất định thì: Tổng giá cả = Tổng giá trị.
Tác dụng: trong nền
kinh tế hàng hoá, quy luật giá trị có 3 tác dụng sau đây:
Điều tiết sản xuất và lưu thông: sự điều tiết của
quy luật giá trị đối với sản xuất được thể hiện ở việc phân bố lại sức lao động và
tư liệu sản xuất giữa các ngành Sự điều tiết này tiến hành một cách tự phát thông qua giá cả thị trường
Nếu cung nhỏ hơn cầu, hàng hoá khan hiếm làm cho giá cả cao hơn giá trị do
đó có lãi nhiều, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, một số người khác chuyển sang sản xuất mặt hàng này Như vậy tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác và ngược lại nếu cung lớn hơn cầu, hàng hoá không bán được buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác
Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất
mà còn điều tiết lưu thông
Nó khơi nguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao nhờ
đó mà tạo ra một sự cân đối tạm thời giữa cung và cầu hàng hoá
Kích thích cải tiến kỹ thuật, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: các hàng hoá
sản xuất trong những điều kiện khác nhau, nên có giá trị
cá biệt khác nhau Nhưng trên thị trường đòi hỏi người sản xuất phải tuân theo giá trị thị trường do vậy mọi người phải tìm mọi cách như: cải tiến kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất,… để làm cho giá trị cá biệt của mình nhỏ hơn giá trị
xã hội thì mới thu được lợi nhuận lúc đầu chỉ có một vài người đi tiên phong, sau trở thành phổ biến trên toàn xã hội như vậy, do tác dụng của quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Phân hoá người sản xuất: quy luật giá trị
đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải đảm bảo thời gian lao động xã hội cần thiết do vậy người nào có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội sẽ phát tài, trở nên giàu có
Ngược lại, người nào có giá trị cá biệt của hàng hoá cao hơn giá trị xã hội
sẽ ở vào thế bất lợi, làm
ăn thua lỗ và phá sản
Như vậy, do tác dụng của quy luật giá trị
đã đưa tới sự phân hoá người sản xuất hàng hoá,
sự phân hoá này là cơ sở kinh tế cho phân hoá giàu nghèo trong xã hội
2/ Ý nghĩa việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nhận thức đúng yêu cầu, nội dung và tác dụng của quy luật giá trị
để đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hóa
Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, có thể khẳng định rằng việc phát triển kinh tế thị trường và
sự tồn tại của quy luật giá trị là tất yếu khách quan
và lâu dài Từ đó, đòi hỏi nhà nước ta phải xây dựng một nền kinh tế, mà
ở đó tạo ra môi trường thuận lợi cho quy luật giá trị phát huy tác dụng chẵng hạn như: khuyến khích các thành phần kinh
tế tự do sản xuất, kinh doanh, trao đổi trong những lịnh vực mà luật pháp không cấm, từ đó tạo ra sự cạnh tranh bình đẵng để thúc đẩy đổi mới công nghệ, kỹ thuật Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực để tạo
ra nhiều hàng hoá với chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng nhu cầu đa dạng
của người tiêu dùng Bên cạnh đó, phải có sự điều tiết của nhà nước bằng những công cụ, chính sách, pháp luật để hạn chế những tác động tiêu cực, tự phát của quy luật giá trị như: phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, cạnh tranh không lành mạnh,
… nhằm định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta
- Đối với từng doanh nghiệp và cá nhân người sản xuất kinh doanh
+ Sử dụng tiết kiệm,
có hiệu quả mọi nguồn lực để giảm bớt chi phí đầu vào giảm giá trị cá biệt của hàng hoá + Thường xuyên đổi mới kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá trị cá biệt của hàng hóa + Có các biện pháp đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, phải có hệ thống đại lý, đào tạo nhận viên bàn hàng…
Trang 2Câu 2 - Phân
tích câu nói sau đây
của C.Mác: ” Số lượng
của giá trị của một
hàng hóa thay đổi theo
tỷ lệ thuận với số
lượng của lao động thể
hiện trong hàng hóa
đó, và thay đổi theo tỷ
lệ nghịch với sức sản
xuất của lao động đó’’
( C.Mác- Tư bản,
quyển thứ nhất, tập
1.Nxb Sự thật, Hà Nội,
1960, tr.62-63.)
1- Khái niệm
giá trị
-Khái niệm
hàng hóa: Hàng hóa là
sản phẩm của lao động
nhằm để thỏa mãn nhu
cầu của con người
thông qua trao đổi mua
bán Hàng hóa có 2
thuộc tính là giá trị và
giá trị sử dụng, hai
thuộc tính này là do tính
chất hai mặt của lao
động sản xuất hàng hóa
quyết định
-Khái niệm giá
trị sử dụng: là công
dụng hay tính có ích của
vật nhằm thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con
người
-Khái niệm: Giá
trị của hàng hóa là lao
động trừu tượng của
người sản xuất hàng hóa
kết tinh trong hàng hóa
-Hai mặt của
giá trị:
+ Chất của giá
trị: là lao động trừu
tượng kết tinh (hao phí
sức lực của con người)
+ Lượng của
gía trị: Là số lượng
lao động hao phí thể
hiện trong hàng
hóa( được tính bằng
thời gian: giờ, ngày,
tháng.v.v.)
Song lượng giá
trị của hàng hóa không
phải do hao phí lao
động cá biệt hay thời
gian lao động cá biệt
quyết định mà nó được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra hàng hóa quyết định hay do lượng lao động trung bình quyết định
Thời gian lao động
xã hội cần thiết: Là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với cường
độ lao động trung bình và trình độ thành thạo trung bình của xã hội đó
Trong thực tế, người
ta thường xác định lượng giá trị hàng hóa bằng cách căn cứ vào lượng lao động cá biệt của người sản xuất cung cấp đại bộ phận loại hàng hóa trên thị trường
2- Phân tích mối quan hệ giữa số lượng giá trị và lao động
Thời gian lao động
xã hội cần thiết là một lượng không cố định, do đó lượng giá trị hàng hóa cũng không
cố định Sự thay đổi của lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào năng suất lao động
và cường độ lao động
Trước hết là năng suất lao động, nếu năng suất lao động tăng thì thời gian lao động xã hội cần thiết giảm, do đó lượng giá trị hàng hóa giảm và ngược lại
C Mác viết: “Như vậy là đại lượng giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ
lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa đó và theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó”
Còn với cường độ lao động, nếu cường độ lao động tăng thì trong một đơn vị thời gian sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn và nhiều sản phẩm hơn,
do đó, giá trị cá biệt của một hàng hóa không thay đổi Vì vậy tăng cường độ lao động
có nghĩa như kéo dài thời gian lao động
Cụ thể:
Số lượng của giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng của lao động thể hiện trong hàng hóa đó:
- Số lượng lao động xã hội cần thiết tăng
Số lượng giá trị hàng hóa tăng
- Số lượng lao động xã hội cần thiết giảm Số lượng giá trị hàng hóa giảm
Số lượng của giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó.
Sức sản xuất của lao động phản ánh trình
độ của lao động Nó được thể hiện ở năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, là hiệu quả hay hiệu suất của lao động trong quá trình sản xuất
Lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghich với sức sản xuất
Nó được đo bằng:
- Số lượng sản phẩm được tạo ra trong một đơn vị thời gian
Ví dụ: 60 sp được tạo ra trong 1 giờ hoặc
- Số lượng thời gian cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm
Vi dụ 1 phút tạo
ra một sản phẩm
Vậy khi sức sản xuất tăng lên có nghĩa là người ta áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật mới hoặc thay đổi cách quản lý sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên
- Tăng năng suất lao động nghĩa là tăng số lượng sản phẩm được tạo
ra trong một đơn vị thời gian
Theo ví dụ trên, giả sử nslđ tăng gấp đôi thì 120
sp được tạo ra trong 1 giờ
hoặc 30 giây sx ra 1 sp ( Giảm 1/2 thời gian so với trước)
Kết luận : Khi sức sản
xuất của lao động xã hội tăng lên thì năng suất lao động tăng Năng suất lao động tăng số lượng gía trị hàng hóa giảm và ngược lại Năng suất lao động giảm số lượng gía trị hàng hóa tăng Đó chính là quan
hệ tỷ lệ nghịch
Trang 3Câu 3: phân
tích thực chất, động cơ
của tích luỹ tư bản và
các nhân tố quyết định
qui mô tích luỹ tư bản.
Ý nghĩa của việc
nghiên cứu vấn đề này
đối với quá trình đẩy
mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở
nước ta hiện nay.
1/ Thực chất
và động cơ của tích luỹ
tư bản:
Thực chất của
tích luỹ tư bản: Tích
luỹ tư bản là chuyển
một bộ phận giá trị
thặng dư thành tư bản
nói một cách khác, tích
luỹ tư bản là tư bản hoá
giá trị thặng dư
Tích luỹ tư bản
gắn liền với quá trình
phát triển của chủ nghĩa
tư bản, gắn với quá
trình bóc lột của chủ
nghĩa tư bản đối với lao
động làm thuê, gắn với
tái sản xuất mở rộng tư
bản chủ nghĩa Do đó,
xét một cách cụ thể, tích
luỹ tư bản chính là tái
sản xuất ra tư bản với
quy mô ngày càng mở
rộng
Như vậy, về
thực chất tích luỹ tư bản
là sự tăng cường bóc lột
giá trị thặng dư do
người công nhân tạo ra
với quy mô ngày càng
lớn hơn
Nguồn gốc duy
nhất của tích luỹ tư bản
là giá trị thặng dư và tư
bản tích luỹ chiếm tỷ lệ
ngày càng lớn trong
toàn bộ tư bản
Động cơ thúc
đẩy tích luỹ tư bản:
trước hết là quy luật giá
trị thặng dư – quy luật
kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản quy luật
đó chỉ rỏ mục đích của
nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa là sự tăng lên
không ngừng của giá trị
Thực hiện mục đích đó, các nhà tư bản không ngừng tích luỹ và mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, kỹ thuật tăng cường bóc lột lao động làm thuê, xem đó là những phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột giai cấp công nhân
Mặt khác do cạnh tranh với nhau, các nhà tư bản cá biệt buộc phải không ngừng làm cho tư bản của mình ngày càng tăng lên
Quy mô sản xuất ngày càng lớn, kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao số lượng, chất lượng và hạ giá
cả hàng hoá Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng nhanh tích luỹ tư bản, nghiên cứu tái sản xuất mở rộng
Theo C.Mác muốn tiến hành tích lũy tư bản để tái sản xuất mở rộng cần phải
có hai điều kiện:
- Phải có một phần sản phẩm thặng dư được chuyển hóa thành tư bản, những sản phẩm này phải đảm bảo cho quá trình SX và nuôi sống công nhân, tức là phải bao hàm cả về tư liệu sản xuất lẫn
tư liệu tiêu dùng
- Phải có lao động phụ thêm
Chính nhờ có lao động mới làm cho các yếu tố đó thực sự hoạt động với tư cách là tư bản Lđ phụ thêm có thề thực hiện được bằng cách kéo dài thời gian lđ, tăng cường độ lđ hoặc phải tuyển lđ mới
2/ Những nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản:
Với một lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy
mô của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư
đó thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản
nhưng nếu tỷ lệ phân chia đó
đã được xác định thì quy mô của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng
dư Do đó những nhân tố ảnh
hưởng tới khối lượng giá trị thặng dư cũng chính là nhân tố quyết định quy
mô của tích luỹ tư bản, những nhân tố đó là:
Nâng cao trình
độ bóc lột sức lao động:
bằng cách cắt xén vào tiền công để tăng tích luỹ tư bản
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động, rõ ràng làm tăng thêm giá trị thặng dư Số lượng lao động tăng thêm
mà nhà tư bản chiếm không do tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng Như vậy
để mở rộng quy mô bóc lột nhà tư bản có thể tăng thời gian sử dụng máy móc, thiết bị trong ngày, tức là nâng cao hệ số sx
mà không cần đầu tư thêm
tư bản để tăng thêm thiết
bị, nhà xưởng mà chỉ cần tăng thêm nguyên vật liệu một cách tương ứng
Nâng cao năng suất lao động xã hội:
nâng cao năng suất lao động làm cho giá cả hàng hoá giảm nên khối lượng giá trị thặng dư dành cho tích luỹ có thể mua được
tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn
và dành cho phần tiêu dùng giảm đi
Sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích luỹ tư bản
Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn
Năng suất lao động xã hội cao là biểu hiện tổng hợp tính ưu việt của nền sản xuất lớn hiện đại là đòn bẩy mạnh mẽ nhất của tích luỹ
Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng: tư bản sử
dụng là toàn bộ khối lượng giá trị máy móc, thiết bị, nhà xưởng, súc vật kéo,…mà trong quá trình sản xuất thường lắp đi lắp lại với toàn bộ quy mô hiện vật của chúng nhằm đạt tới một hiệu quả nhất định
Còn tư bản tiêu dùng là bộ phận giá trị của những tư liệu lao động đã hao mòn dần trong quá trình sản xuất
và được chuyển từng phần vào sản phẩm mới
Mặc dù đã mất dần giá trị nhưng trong suốt thời gian hoạt động, máy móc vẫn tác dụng như khi còn đủ giá trị Do đó nếu không kể đến giá trị của máy móc chuyển dần vào sàn phẩm trong từng thời gian thì máy móc phục
vụ không công cho nhà
tư bản
Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, khối lượng tư bản ngày càng nhiều, cùng với nó khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, máy móc ngày càng tinh vi thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và
tư bản tiêu dùng ngày càng lớn do đó tích luỹ
tư bản ngày càng cao
Quy mô của tư bản ứng trước: với mức
độ bóc lột không đổi thì khối lượng giá trị thặng
dư do số lượng công nhân bị bóc lột quyết định Do đó quy mô của
tư bản ứng trước, nhất
là bộ phận tư bản khả biến càng lớn thì giá trị thặng dư bóc lột được
và quy mô tích luỹ càng lớn như vậy khi đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản
Trang 4xuất càng mở rộng, kỹ
thuật sản xuất càng hiện
đại, là động lực thúc
đẩy sản xuất giá trị
thặng dư làm tăng quy
mô tích luỹ tư bản
3/ Ý nghĩa của
việc nghiên cứu:
Để tăng quy mô
tích luỹ tư bản, các nhà
tư bản phải sử dụng
nhiều nhân tố nâng cao
trình độ bóc lột sức lao
động, nâng cao năng
suất lao động xã hội, sử
dụng triệt để công suất
và hiệu quả của máy
móc thiết bị, tăng quy
mô của tư bản ứng
trước để mở rộng sản
xuất và đổi mới kỹ
thuật, công nghệ
Huy động và sử
dụng có hiệu quả các
nguồn vốn nước ngoài
Để tăng quy mô
tích luỹ tư bản, các nhà
tư bản phải:
Khai thác tốt
nhất lực lượng lao động
xã hội như phải nâng
cao trình độ quản lý,
trình độ tay nghề
chuyên môn cho người
lao động
Sử dụng tiết
kiệm, hợp lý, hiệu quả
các nguồn lực xã hội;
Sử dụng triệt để
công suất và hiệu quả
của máy móc thiết bị
(tăng ca, sử dụng máy
móc liên tục), phải khấu
hao nhanh, kéo dài tuổi
thọ máy móc để phục
vụ không công nhiều
hơn (bảo dưỡng, vệ sinh
máy móc hợp lý, bảo
quản kỹ lưỡng);
Muốn có nhiều
sản phẩm thặng dư hơn
thì nhà tư bản phải tăng
năng suất lao động
thông qua việc đổi mới
thường xuyên máy móc,
thiết bị, công cụ sản
xuất, ứng dụng khoa
học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất;
Tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu như huy động vốn góp từ nhà tư bản khác vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tiết kiệm tiêu dùng, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, có chính sách tiền tệ tốt để huy động tiền nhàn rỗi vào trong kinh doanh
Trang 5Câu 4: Phân
tích quy luật chung
của tích luỹ tư bản.
Việc nghiên cứu vấn
đề này có ý nghĩa như
thế nào trong việc
đánh giá chủ nghĩa tư
bản hiện nay?
Trả lời: Tích
luỹ tư bản là việc sử
dụng giá trị thặng dư
làm tư bản hay tư bản
hoá giá trị thặng dư
Chủ nghĩa tư
bản phát triển thì khối
lượng giá trị thặng dư
càng lớn, do đó tích luỹ
càng cao đưa tới quá
trình tích tự và tập trung
tư bản, sự tích tự và tập
trung tư bản cao dẫn tới
làm cho cấu tạo hữu cơ
tư bản tăng, cấu tạo hữu
cơ tăng dẫn tới tình
trạng thất nghiệp và sự
bần cùng của giai cấp
công nhân Ngược lại,
của cải ngày càng nhiều
và được tập trung ở một
số ít người đó chính là
quy luật chung của tích
luỹ tư bản
1-Quy luật
chung của tích lũy tư
bản:
Thứ 1: Quá
trình tích tụ và tập
trung tư bản ngày
càng tăng:
Tích tụ tư bản
là sự tăng thêm quy mô
tư bản cá biệt bằng cách
tư bản hoá giá trị thặng
dư
Tích tụ tư bản
là yêu cầu của quy luật
kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản, của cạnh
tranh và của tiến bộ kỹ
thuật, mặt khác trình độ
bóc lột và khối lượng
giá trị thặng dư bóc lột
được ngày càng tăng
trong quá trình phát
triển của chủ nghĩa tư
bản là điều kiện vật chất
làm cho khả năng tư
bản hoá giá trị thặng dư biến thành hiện thực tích luỹ tư bản
Như vậy tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích luỹ, làm cho tư bản cá biệt và tư bản xã hội tăng, là
sự biểu hiện trực tiếp mối quan hệ giữa tư bản và lao độnglàm thuê
Tập trung tư bản là
sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất nhiều tư bản cá biệt sẵn
có thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn Chẳng hạn tư bản A có 1000USD, tư bản B
có 2000USD và tư bản C có 3000USD; ba tư bản này hợp nhất nhau lại để kinh doanh thì sẽ có tổng tư bản cá biệt 6000USD, việc hợp nhất lại làm cho quy mô tư bản cá biệt tăng lên Việc tập trung
tư bản là do quy luật kinh tế
cơ bản của chủ nghĩa tư bản chi phối nhằm mục đích bóc lột càng nhiều giá trị thặng
dư do công nhân làm ra
Tập trung tư bản được tiến hành bằng nhiều hình thức như liên kết hoặc thôn tính lẫn nhau thông qua cạnh tranh và tín dụng tư bản chủ nghĩa
Mối quan hệ giữa tích tụ tư bản và tập trung
tư bản:
* Giống nhau: Tích
tụ tư bản và tập trung tư bản đều dẫn đến kết quả làm tăng quy mô tư bản cá biệt, do đó làm tăng cường sự thống trị của tư bản đối với người lao động
* Khác nhau: Nguồn tích luỹ cũa tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, còn nguồn tập trung tư bản là các tư bản
có sẵn trong xã hội
Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt và tư bản
xã hội tăng lên, còn tập trung
tư bản làm tăng quy mô của
tư bản cá biệt nhưng không làm tăng tư bản xã hội
Tích tụ tư bản bị hạn chế bởi khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được, còn
ngược lại giới hạn của tập trung tư bản rất rộng là tổng tư bản của ngành và giới hạn cuối cùng của tập trung tư bản là toàn xã hội
là tổng tư bản xã hội
Tích tụ tư bản trực tiếp biểu hiện quan
hệ giữa tư bản và lao động, còn tập trung tư bản biểu hiện quan hệ nội bộ giữa các nhà tư bản
Tích tụ tư bản và tập trung tư bản có mốiquan hệ mật thiết với nhau thúc đẩy nhau phát triển tích tụ tư bản càng lớn sẽ dẫn tới tập trung tư bản mạnh hơn và ngược lại tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường bóc lột giá trị thặng dư và thúc đẩy tích tụ tư bản
Việc tập trung tư bản làm cho quy mô sản xuất được mở rộng, thực hiện được chương trình công nghiệp lớn, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm cho cấu tạo hửu cơ tư bản tăng lên, làm cho năng suất lao động tăng, làm ra được nhiều hàng hoá, giá thành rẽ, quy mô tích luỹ tăng nhưng nó làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng tăng và gay gắt, dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, giai cấp công nhân ngày càng bị bần cùng hoá
Thứ 2:Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình cấu tạo hữu cơ tư bản ngày càng tăng:
Trong quá trình vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản, tư bản chẳng những tăng lên về quy mô mà còn không ngừng biến đổi trong cấu tạo tỷ lệ của việc kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất để phản
ánh các mối quan hệ này C.Mác đã dùng các khái niệm như cấu tạo giá trị, cấu tạo kỹ thuật
và cấu tạo hữu cơ tư bản
Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ giữa
số lượng giá trị của tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động cần thiết
để sản xuất hay nói cách khác cấu tạo giá trị của tư bản là chỉ quan
hệ tỷ lệ giữa số lượng giá trị tư bản bất biến và
tư bản khả biến cần thiết để tiến hành sản xuất
Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo
kỵ thuật quyết định và phản ánh sự biến đối của cấu tạo kỹ thuật đó,
ký hiệu là C/V
Cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên sẽ làm cho năng suất lao động tăng, từ đó làm tăng quy mô tích luỹ của tư bản, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến
sự hình thành nạn thất nghiệp trong xã hội tư bản
Thứ 3:Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tạo ra nạn thất nghiệp ngày càng tăng:
Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng là nguyên nhân quan trọng nhất của nạn nhân khẩu thừa tương đối làm cho đội ngũ công nhân thất nghiệp ngày càng tăng Ngoài
ra tích luỹ tư bản còn làm nẩy sinh tình hình khác khiến cho thất
Trang 6nghiệp ngày càng tăng
đó lá: việc kéo dài ngày
lao động, tăng cường độ
lao động vì thế làm cho
nhu cầu sử dụng lao
động chậm hơn và nạn
thất nghiệp càng trầm
trọng hơn Làm phá sản
những người sản xuất
hàng hoá nhỏ vì thế đội
quân thất nghiệp ngày
càng tăng, sử dụng công
nhân nữ và trẽ em ngày
càng nhiều hơn,…làm
cho công nhân là đàn
ông và những người lớn
tuối càng thất nghiệp
việc thừa nhân khẩu ở
đây chỉ là so với tích
luỹ tư bản, vì vậy
C.Mác gọi nạn thất
nghiệp trong xã hội tư
bản là “nhân khẩu thừa
tương đối”
Nhân khẩu thừa
tươngđối được tồn tại
dưới ba hình thức là
nhân khẩu thừa lưu
động; nhân khẩu thừa
tiềm tàng và nhân khẩu
thừa ngưng trệ
Thứ 4:Quá
trình chung của tích
luỹ tư bản là sự giàu
có về phía giai cấp tư
sản và sự bần cùng về
phía giai cấp công
nhân:
Qua phân tích ở
trên thì tích luỹ tư bản
tăng làm cho cấu tạo
hữu cơ tăng đưa tới
thừa lao động do đó
buộc một bộ phận công
nhân phải lao động quá
mức nhưng tiền lương
thất và một bộ phận
công nhân không có
việc làm, tình trạng đó
C.Mác gọi là sự bần
cùng hoá và có hai loại
là: bần cùng hoá tương
đối và bần cùng hoá
tuyệt đối
Bần cùng hoá
tương đối là phần thu
nhập cùa công nhân
trong thu nhập quốc dân
ngày càng giảm xuống,
còn phần thu nhập của các nhà tư bản ngày càng tăng lên Bần cúng hoá tương đối không phụ thuộc vào mức sống của giai cấp công nhân
mà phụ thuốc vào mức tăng thu nhập giữa giai cấp tư sản
và giai cấp vô sản
Bần cùng hoá tuyệt đối giai cấp vô sản là biểu hiện mức sống của họ giảm sút hơn trước mức sống của giai cấp vô sản tụt xuống không chỉ ở mức tiêu dùng cá nhân giảm tuyệt đối, mà cả trong trường hợp mức tiêu dùng cá nhân tăng hơn trước nhưng mức tăng đó chậm hơn
so với mức tăng của nhu cầu thiết yếu
Xu hướng lịch sử của tích luỹ tư bản: do tăng
cường bóc lột giá trị thặng dư
mà tư bản tích luỹ ngày càng tăng, quy mô tư bản ngày càng mở rộng, phương thức
tư bản chủ nghĩa trãi qua ba giai đoạn phát triển đã chiến thắng sản xuất nhỏ, lạc hậu,
đã khẵng định sản xuất lớn,
có sự phân công hợp lý, sử dụng máy móc hiện đại cùng với tích tụ và tập trung tư bản sản xuất ngày càng tập trung
và kỹ thuật phát triển mạnh
mẽ, phân công xã hội ngày càng mở rộng, thị trường phát triển thành thị trường thế giới,…
2-Đánh giá chủ nghĩa tư bản hiện nay:
Những thành tựu của chủ nghĩa tư bản:
Như đã phân tích, sự tích luỹ tư bản và cấu tạo hữu
cơ ngày càng tăng của chủ nghĩa tư bản trãi qua ba giai đoạn phát triển đã tạo ra một nền sản xuất quy mô lớn dựa trên sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ hiện đại đã sản xuất ra được khối lượng hàng hoá khổng
lồ đa dạng và chất lượng ngày càng cao đáp ứng cho nhu cầu của xã hội bên cạnh
sự phát triển của khoa học công nghệ đã đào tạo ra đội ngũ lực lượng sản xuất lành
nghề có trình độ cao, có
kỷ năng, kỹ thuật và có kinh nghiệm trong sản xuất,…
Sự phát triển của nền sản xuất lớn tư bản đã
mở rộng thị trường ra toàn thế giới
Khoa học quản lý nền kinh tế thị trường ngày càng có nhiều tiến
bộ, am hiểu và vận dụng khoa học trong quản lý chỉ đạo điều hành
Những hạn chế
và giới hạn:
Dù chủ nghĩa tư bản đã phát triển vượt bậc nhưng chế độ sở hữu vẫn dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về
tư liệu sản xuất vì vậy quan hệ bóc lột vẫn tồn tại
và càng tinh vi hơn
Do tích luỹ tư bản
và cấu tạo hữu cơ tư bản càng tăng dẫn tới tình trạng phân hoá giàu nghèo
và bất công trong xã hội
tư bản ngày càng gay gắt
Việc tập trung sản xuất lớn không có kế hoạch dẫn tới hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều nên cung lớn hơn cầu dẫn đến khủng hoảng kinh tế
và thất nghiệp diễn biến theo chu kỳ
Do bản chất của chủ nghĩa tư bản là tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư nên trong sản xuất nhà tư bản không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường sống, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên để chiếm đoạt giá trị thặng dư vì vậy đã gây
ra các thảm hoạ môi trường mà loài người phải gánh chịu như hiện tượng ennino, bùn đỏ ở Hunggari,…
Để có thêm thị trường thế giới chủ nghĩa
tư bản đã gây ra chiến tranh, phát triển các vũ khi có sức huỷ diệt lớn nên đã gây ra bao đau
thương tan tóc cho nhân loại qua các cuộc chiến tranh thế giới I, II, chiến tranh sắc tộc,… phát tán nhiều loại vi rút gây bệnh và do môi trường
bị huỷ hoại nên đã sản sinh ra nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm được coi là các đại dịch,… các tệ nạn xã hội ngày càng tăng nhất là bạo lực, phim ảnh đồi truỵ làm cho đạo đức bị suy thoái, giá trị đạo đức truyền thống của con người ngày càng mai một…
Từ đó tạo ra những mâu thuẫn cơ bản không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản là:
Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân
Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa tư bản
Mâu thuẫn giữa CNTB với các nước đang phát triển
Mâu thuẫn giữa CNTB với CNXH
Tóm lại, xu
hướng lịch sử của tích luỹ tư bản là CNTB không thể tồn tại vĩnh viễn, nó đã và đang tạo tiền đề, điều kiện cho sự
ra đời một xã hội sau nó tiến bộ hơn đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa
Trang 7Câu 5: Tại sao
Đảng ta chủ trương phát
triển nền kinh tế thị
trường định hướng xó
hội chủ nghĩa? Liên hệ
với thực tiễn phỏt triển
kinh tế thị trường tại
ngành hoặc địa phương
anh ( chị) đang công tác.
Trả lời: gồm 3 ý.
1- Một số vấn đề
về thị trường; cơ chế thị
trường; nền kinh tế thị
trường
A- Thị trường
- Khái niệm: thị trường là
tổng hợp các mối quan hệ
kinh tế hình thành trong
lĩnh vực mua bán
- Đặc trưng
+ Giá cả là công cụ quan
trọng để kích thích và điều
tiết các hoạt động kinh tế
+ Có sự cạnh tranh gay
gắt giữa các chủ thể sản
xuất kinh doanh và tiêu
dùng
+ Thị trường phát triển là
một thể thống nhất không
chia cắt giữa các vùng,
giữa thị trường trong nước
và thế giới
+ Hình thành hệ thống thị
trường
+ Chịu sự chi phối của các
quy luật kinh tế như: Quy
luật giá trị, cung cầu, cạnh
tranh
B- Cơ chế thị
trường
- Khái niệm: Cơ chế thị
trường là một cơ chế trong
đó các chủ thể kinh tế tác
động lẫn nhau thông qua
thị trường để xác định
những vấn đề cơ bản của
hoạt động kinh tế là: Sản
xuất cái gì? Sản xuất như
thế nào? Sản xuất cho ai?
- Các yếu tố cơ bản của cơ
chế thị trường
+ Hàng hóa, tiền tệ Trong
nền kinh tế thị trường có
nhiều loại hàng hóa khác
nhau nhưng có thể chia
thành hai loại hàng hóa cơ
bản là: hàng hóa các yếu
tố sản xuất ( đầu vào) và hàng hóa tiêu dùng dịch vụ( đầu ra) Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung phục vụ cho quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa
+ Quan hệ mua – bán (người mua – người bán)
+ Giá cả thị trường: Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của hàng hóa
+ Quan hệ cung - cầu là sự khái quán hóa giữa hai lực lượng cơ bản của thị trường đó là giữa người mua và người bàn, giữa người sx và người tiêu dùng
Những nhân tố ảnh hưởng đến cung:
- Giá thành của sản phẩm
- Giá cả của hàng hóa
- Công nghệ và số lượng của người sx
- Các chính sách của Chính phủ như:thuế, giá cả, tiền tệ
Những nhân tố ảnh hưởng đến cầu:
- Giá cả hàng hóa
- giá cả của các hàng hóa liên quan
- Thu nhập của người tiêu dùng
- Thị hiếu của người tiêu dùng
- dân số và các kỳ vọng + cạnh tranh trên thị trường : Cạnh trang là sự ganh đua, sự đấu tranh giữa các thành viên tham gia kinh tế thị trường nhằm thu được lợi nhuận tối đa
- Cạnh tranh trong sx bao gồm: cạnh tranh trong nội
bộ ngành và giữa các ngành với nhau, giữa các
DN sx ở những ngành khác nhau
- Cạnh tranh trong lưu thông bao gồm cạnh tranh giữa người mua và người bàn, giữa người bàn với
người bán, giữa người mua với người mua
Dưa vào trạng thái cạnh tranh người ta chia thị trường thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
+ Cơ chế thị trường chịu sự tác động của các quy luật kinh tế : quy luật giá cả, cung- cầu, hàng- tiền
C- Nền kinh tế thị trường
Khái niệm: Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường được gọi là nền kinh tế thị trường
Đặc trưng + Các chủ thể tự do lựa chọn phương thức sở hữu, phương thức sản xuất kinh doanh, hành nghề mà luật pháp không cấm
+ Sản xuất và bán hàng húa theo yêu cầu của thị trường, bán cái mà thị trường cần chứ không phải cái mà mình
có
+ Hoạt động kinh tế do các quy luật kinh tế chi phối
+ Tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế
+ Tiền là động lực và là mục đích kinh doanh
+ Chịu sự điều khiển của 2 ông vua là người tiêu dùng
và kỹ thuật
Ưu:
+ Kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ Làm cho nền kinh tế phát triển năng động có hiệu quả
+ Kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, qua đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng , đa dạng của người tiêu dùng
+ Điều tiết nhanh nhạy, năng động việc sản xuất và lưu thông hàng hóa, cơ chế thị trường thực hiện phân
phối các nguồn lực kinh tế một cách tối ưu
Do đó nó khai thác và
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả mọi nguồn lực
để phát triển kinh tế + Góp phần thực hiện chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, nõng cao trình độ phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế
- khuyết tật + Cạnh tranh gay gắt làm suy giảm đạo lý, tình người Hơn nữa họ ít quan tâm đến sản xuất hàng hóa công cộng tuy rất cần cho xã hội nhưng
có ít hoặc không có lợi nhuận như: đắp đê chống lụt, phũng chống cháy, nổ
+ Phân phối thu nhập khụng công bằng, gây nên sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng, bất công xó hội
+ Các tệ nạn xã hội gia tăng như trốn, lậu thuế, kinh doanh trái phép , làm hàng giả khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây
ô nhiễm môi trường + Tình trạng độc quyền xuất hiện làm giảm khả năng cạnh tranh, khủng hoảng, thất nghiệp Thất nghiệp xảy ra làm lãng phí các nguồn lực và làm mất ổn định kinh tế, xó hội
+ Các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, cục bộ chứ không quan tâm đến lợi ích toàn cục, lâu dài dẫn đến tổn thất cho nền kinh tế quốc dân
2- Phân tích vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
A- Chức năng của nhà nước
Đảm bảo sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn
Trang 8khổ pháp lý để tạo điều
kiện cần thiết cho hoạt
động kinh tế
Định hướng cho sự phát
triển kinh tế và thực hiện
điều tiết các hoạt động
kinh tế để đảm bảo cho
nền kinh tế tăng trưởng
ổn định
Đảm bảo cho nền kinh tế
hoạt động có hiệu quả
Để ngăn chặn tác động
tiêu cực của cơ chế thị
trường như: ô nhiễm môi
trường, khai thác cạn
kiệt tài nguyên , lãng
phí, độc quyền Nhà
nước phải thực hiện
những biện pháp nhằm
ngăn chặn những tác
động bên ngoài để nâng
cao hiệu quả kinh tế- xã
hội, bảo vệ cạnh tranh
chống độc quyền
Đảm bảo thực hiện công
bằng xã hội
B- Các công cụ
điều tiết vĩ mô của nhà
nước.
Hệ thống luật pháp là
một công cụ quản lý vĩ
mụ của nhà nước, nó tạo
ra khuôn khổ pháp luật
cho các chủ thể kinh tế
hoạt động, phát huy mặt
tích cực , hạn chế mặt
tiêu cực của kinh tế thị
trường, đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển Do đó
cần phải hoàn thiện, bổ
sung và xây dựng hệ
thống luật pháp đồng bộ,
đáp ứng yêu cầu của
kinh tế thị trường và phù
hợp với thông lệ quốc tế
Kế hoạch hoá: Cơ chế
vận hành nền kinh tế thị
trường là kế hoạch kết
hợp với thị trường kế
hoạch phải được hoạch
định trên cơ sở của thị
trường lấy thị trường
làm căn cứ và đối tượng
của kế hoạch, lấy mục
tiêu chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội làm định
hướng
Các lực lượng kinh tế của nhà nước: Bao gồm các nguồn lực do nhà nước
sở hữu đất đai, tài nguyên, vốn, các quỹ dự trữ…
Chính sách tài chính, tiền tệ
+ Chính sách tài chính:
đặc biệt là ngân sách nhà nước có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và xã hội nhà nước điều chỉnh
và phân bổ các nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu
hạ tầng, bảo đảm công bằng trong phân phối
+ Chính sách tiền tệ: là công cụ trọng yếu quản
lý vĩ mô của nhà nước, trong chính sách tiền tệ, lói suất là công cụ quan trọng là phương tiện điều tiết cung cầu tiền tệ
Công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại thuế xuất – nhập khẩu: Nhà nước khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa nước ta, giữ vững độc lập chủ quyền bảo
vệ được lợi ích quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế
3- Trình bày tính tất yếu và tỏc dụng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
A-
Tính tất yếu :
Còn phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của sản xuất và trao đổi hàng hóa chẳng những không mất đi mà ngày càng được phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực , từng địa phương và hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng
Còn tồn tại nhiều hình thức
sở hữu và nhiều thành phần kinh tế.Đó là sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân( gồm sở hữu cá thể
và sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa-tiền tệ
B-
Tác dụng
- Giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác mọi tiềm năng
để phát triển kinh tế Khắc phục tình trạng tự cấp, tự tỳc đẩy mạnh phân công lao động
xã hội, phát triển nhiều ngành, nghề tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Kích thích cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất kinh doanh do đó làm tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa( số lượng tăng, chất lượng tốt, giá cả rẻ, mẫu mó phong phú) đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
Góp phần khắc phục sự mất cân đối trong nền kinh tế
- Góp phần tăng tích luỹ vốn
- Tạo điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế
Liên hệ với thực tiễn phát triển kinh tế thị trường tại ngành hoặc địa phương anh ( chị) đang công tác.
Trang 9 Câu 6 - Phân
tích các đặc
trưng của nền
kinh tế thị
trường định
hướng xã hội
chủ nghĩa ở
Việt Nam và
trình bày các
giải pháp để
tiếp tục hoàn
thiện thể chế
kinh tế thị
trường ở nước
ta trong thời
gian tới.
Trả lời :
1- Phân tích
các đặc trưng
của nền kinh tế
thị trường
định hướng xã
hội chủ nghĩa
ở Việt Nam:
a/ Về mục đích
của việc phát
triển kinh tế thị
trường :
Việt Nam phát
triển nền KTTT
phóng sức lao
động, động viên
mọi nguồn lực
trong và ngoài
nước để thực
nghiệp hóa,
hiện đại hóa,
CSVC – kỹ
CNXH, nừng
cao hiệu quả
kinh tế xã hội,
từng bước cải
thiện đời sống
nhân dân, thực
hiện mục tiêu
dân giàu, nước
mạnh, xã hội
công bằng, dân
chủ, văn minh
KTTT tồn tại
nhiều hình thức
sở hữu, nhiều
thành phần
kinh tế, trong
đú kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay tồ tại ba hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Từ ba hình thức sở hữu đó hình thành nhiều thành phần kinh tế (tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta
có năm thành phần : Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), Kinh tế tư bản nhà nước, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài); nhiều hình thức tổ chức kinh doanh, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trũ chủ đạo:
- Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt ở những ngành, lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước, các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế và chấp hành pháp luật
- Kinh tế nhà nước
là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, quản
lý vĩ mụ nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nỳ
mở đường, hướng dẫn hỗ trợ và lụi cuốn các thành phần kinh tế khỏc cựng phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
- Kinh tế nhà nước cựng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân ú hội và chấp hành pháp luật
Nhà nước khuyến khớch và và tạo điều kiện thành phần kinh tết khỏc phát triển, cạnh tranh, hợp tỏc với nhau trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất
c/ Phân phối : Trong nền kinh tế TT định hướng XHCN ở nước ta, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập : phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đúng góp và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và
xã hội Trong đú phân phối theo lao động là hình thức chủ yếu
d/ Tổ chức quản lý:
Nhà nước ta là nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng CSVN lãnh đạo Do đó, nó khác
về bản chất với nhà nước tư sản với nhà nước của giai cấp tư sản, phục vụ lợi ích
và sự bóc lột của giai cấp tư sản
Nhà nước của ta quản lý nền kinh tế nhằm phátt huy tính tích cực và ưu điểm của nền kinh tết thị trường, đồng thời khắc phục, ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêu cực của
nó Nhà nước quản
lý kinh tế bằng kế hoạch, pháp luật, chính sách và các
công cụ khác nhằm thực hiện mục tiêu
“ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” , kết
trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trong từng bước phát triển
e/ Nền KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế mở cửa, hội nhập.
mở của, hội nhập, toàn cầu hóa nền KT thế giới là tất yếu khách quan Do vậy, nền KT nước
ta cũng phải thực hiện mở của, hội nhập nhằm tranh thủ KHCN, vốn, thị trường
và kinh nhiệm quản lý của thế giới để phát triển KT, phát huy nội lực, lợi thế của
ta, đồng thời
ngoại lực để rút ngắn quá trình phát triển Song chúng ta phải giữ vững độc
quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan
hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 10 2/ Các giải pháp
cơ bản nhằm
phát triển cơ
chế thị trường
định hướng
XHCN ở VN.
Để phát triển
nền kinh tế thị
trường theo
định hướng
XHCN thì ở
nước ta cần
phải thực hiện
đồng bộ nhiều
giải pháp, trong
đú có những
giải pháp cơ
bản sau:
a/ Thực hiện
chính sách kinh
tế nhiều thành
phần Điều này
sẽ tạo ra niềm
tin và sự lạc
quan cho các
chủ thể khi
tham gia vào thị
trường
+ Để phát triển
nền kinh tế thị
trường Nhà
nước cần phải
đa dạng hóa các
hình thức sở
hữu, phải thừa
nhận sự tồn tại
của các hình
thức sở hữu của
nền kinh tế cả
về mặt pháp lý
lẫn trong thực
tiễn Phải lấy
việc phát triển
sức sản xuất,
nâng cao hiệu
quả KTXH, cải
thiện đời sống
của nhân dân
làm mục tiêu
quan trọng để
khuyến khích
và huy động
nguồn lực của
tất cả các chủ
thể cũng như
của tất cả các
thành phần kinh
tế Theo tinh
thần đó, tất cả các thành phần kinh tế hiện nay ở nước ta đều phải được bình đẳng với nhau cả về quyền lợi và nghĩa
vụ trước pháp luật
+ Trong những năm trước mắt, NQĐH lần 10 của Đảng khẳng định cần phải phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Muốn vậy, cần tập trung các nguồn lực phát triển
có hiệu quả kinh tế Nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu, phải sắp xếp lại khu vực kinh tế Nhà nước, phải thực hiện tốt chủ trương
cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, tiến hành xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên
cơ sở các tổng công
ty Nhà nước, kết hợp với sự tham gia của các thành phần kinh tế khác Phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quản
lý công ty đối với tất các các doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn Nhà nước
b- Đẩy mạnh công nghiệp hoỏ, hiện đại hóa
- Đẩy mạnh CNH, HĐH, ứng dụng nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất kinh doanh để trên
cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động
xã hội Phân công lao động xã hội là một trong 2 điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế hàng hóa và cao hơn là kinh tế thị trường
Vì vậy, để phát triển kinh tế thị
trường ở nước ta đòi hỏi phải thúc đẩy và phát triển phân công lao động xã hội
Nhưng phân công lao động xã hội ở nước ta lại phụ thuộc rất lớn vào quá trình CNH, HĐH Con đường CNH, HĐH ở nước
ta hiện nay đang được thực hiện theo phương châm là rút ngắn thời gian so với các nước đi trước
Để thực hiện được mục tiêu đó, nước ta cần phải có những bước phát triển tuần
tự, kết hợp với những bước phát triển nhảy vọt, phải gắn CNH với HĐH, phải tận dụng mọi khả năng cả nội lực
và ngoại lực để đạt được trình độ phát triển cao
c- Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
- Phải hình thành và phát triển đồng bộ
hệ thống thị trường,
cụ thể là:
+ Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang ở mức
sơ khai thì cần phải từng bước phát triển thị trường hàng hóa
và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường, phải thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh, phải xóa bỏ độc quyền của các doanh nghiệp, phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá Phải phát triển mạnh thương mại trong nước gắn với việc tăng nhanh xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu
+ Phải phát triển vững
trường tài chính bao gồm thị trường vốn
và thị trường tiền tệ một cách đồng bộ
và có một cơ
chỉnh Đồng thời phải mở rộng và nâng cao chất lượng của thị trường chứng khoán ở VN
+ Phải phát
trường bất động sản bao gồm cả thị trường đất và thị trường bất động sản gắn với đất (nhà chung cư)
+ Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế đồng thời đẩy mạnh việc xuất khẩu lao động đặc biệt là xuất khẩu lao động
đú qua đào tạo nghề
+ Phải phát
trường KHCN trên cơ sở đổi mới cơ chế chính sách để phần lớn tất cả các sản phẩm KHCN đều tồn tại dưới hình thức là hàng hóa và đều thông qua thị trường để thị trường xác định giá trị và