1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tong hop day du cac CAU HOI VA DAP AN thi tot nghiep nganh kinh te chinh tri p2

17 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 221 KB
File đính kèm cac CAU HOI VA DAP AN kinh te chinh tri p2.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tong hop day du cac CAU HOI VA DAP AN thi tot nghiep nganh kinh te chinh tri p2:Phân tích quá trình hình thành và những nội dung cơ bản trong bộ “tư bản” của C.Mác; Trình bày những lý luận cơ bản trong học thuyết kinh tế của Lê nin?; Trình bày đặc điểm và nội dung cơ bản của lý thuyết Keynes. Ý nghĩa của Việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay?:Trình bày nội dung của lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” của Samuelson. Việc vận dụng lý thuyết này đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ?:Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên. Liên hệ với thực tiễn nước ta về vấn đề nay.CÒN PHẦN 3

Trang 1

Câu 08: Phân tích quá

trình hình thành và

những nội dung cơ bản

trong bộ “tư bản” của

C.Mác.

Trả lời:

1/ Quá trình hình

thành:

1.1-Giai đoạn 1843 –

1848: Đây là giai đoạn

Mac chuyển từ lĩnh vực

triết học sang lĩnh vực

kinh tế chính trị Lúc đầu

các ông là những người

dân chủ CM tham gia

phong trào đấu tranh vì

tự do dân chủ, bảo vệ lợi

ích của nông dân và bắt

đầu tìm hiểu những vấn

đề về kinh tế cũng như

xem xét lại các quan

điểm của các nhà kinh tế

học trước Mác Từ đó

hình thành thế giới quan,

phương pháp luận khoa

học đồng thời cũng là

giai đoạn chuyển từ lập

trường dân chủ tư sản

sang lập trường của chủ

nghĩa cộng sản

Trong giai đoạn này,

C.Mác và Ph.Angghen đã

viết một số tác phẩm như

sau:

-Bản thảo kinh tế - triết

học (1844)

-Lược thảo phê phán

khoa kinh tế chính trị

(1844)

-Tình cảnh giai cấp lao

động ở Anh(1884)

-Hệ tư tưởng Đức (1846)

-Sự khốn cùng của Triết

học (1947)

-Lao động làm thuê và tư

bản(1949)

-Tuyên ngôn của Đảng

Cộng sản(1848)

Trong những tác phẩm

trên Tuyên ngôn của

Đảng Cộng Sản được coi

là cái mốc đầu thời đại

mới trong lịch sử đấu

tranh cách mạng của giai

cấp công nhân quốc tế

Đây là tác phẩm trình bày

một cách súc tích nhất

những tư tưởng, quan điểm về: Triết học, kinh

tế chính trị, và chủ nghĩa cộng sản khoa học của C.Mác và Ph.ăngghen và có những đặc điểm cơ bản như sau:

Một là: vượt qua khỏi tư tưởng duy tâm siêu hình, các ông đã khẳng định cơ sở kinh tế là nhân tố quyết định chính trị, tư tưởng của thời đại.Nghĩa là sản xuất vật chất là nhân tốt quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đặcbiệt khi

xã hội có giai cấp thì lịch sử xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của

xã hội loài người

Hai là: các ông đã xác định rõ đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là nghiên cứu mặt xã hội của quá trình sản xuất và trao đổi những của cải vật chất nhất định của một xã hội Đồng thời đã đi vào phân tích nhiều khái niệm, phạm trù kinh tế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa như: Hàng hóa, giá trị, tiền tệ, tư bản, Trong

đó vấn đề được các ông quan tâm nhất là vấn đề

sở hữu về tư liệu sản xuất Theo các ông chế

độ sở hữu TBCN là biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của phương thức SX, trên

cơ sở những người này bóc lột những người kia

Ba là: phương thức sản xuất ư bản chủ nghĩa không phải là phương thức tồi tại vĩnh viễn,

nó tất yếu phải tiêu vong và được thay thế

bằng một phương thức phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn – đó là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

Người có vai trò lịch

sử để xóa bỏ chủ nghĩa

tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản chính là giai cấp vô sản

1.2-Giai đoạn 1848 – 1895: Đây là giai đoạn

Mác hình thành học thuyết kinh tế của mình thông qua bộ

“Tư bản” từ bản thảo thứ nhất năm 1859, thứ hai năm

1861-1863, thứ ba năm 1864- 1865, cuối cùng

là bộ “Tư bản” với 4 quyển

Quyển 1 : Quá trình sản xuất của tư bản

Quyển 2: Quá trình lưu thông của tư bản

Quyển 3: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa

Quyển 4: Phê phán lịch sử lý luận giá trị thặng dư

Năm 1867, quyển I bộ

Tư bản được xuất bản bằng tiếng Đức, sau đó được tái bản nhiều lần

và bằng nhiều thứ tiếng Sự xuất hiện của quyển I bộ tư bản như một tiếng sét nổ ra giữa bầu trời tư bản

C Mác định biên tập tiếp những quyển còn lại để xuất bản nhưng ông không thực hiện được vì phải dành nhiều thời gian cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân

và vì sức khỏe quá yếu

Sau khi C.Mác mất,

Ph Angghen tiếp tục

sự nghiệp của C.Mác

Ông đã chỉnh lý và cho xuất bản tiếp

quyển II vào năm

1885 và quyển III vào năm 1894

Trong bộ tư bản, Ph.Ăngghen cũng tham gia viết một số chương, ngoài ra ông còn cùng C.Mác viết tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta Đặc biệt khi C.Mác mất, để bảo vệ và phát triển học thuyết kinh tế của C.Mác, Ph.Ăngghen

đã viết tác phẩm Chống Đuyrinh Trong tác phẩm này, lần đầu tiên ông đã khái quát chủ nghĩa Mác thành 3

bộ phận:

-Tiết học mácxít -Kinh tế chính trị mácxít

-Chủ nghĩa xã hội khoa học

2/ Những nội dung cơ bản:

Quyển 1: nghiên cứu quá trình sản xuất, trừu tượng quá trình lưu thông nhằm vạch

ra bản chất và các phạm trù, quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản thông qua lý luận:

-Lý luận giá trị lao động

-Lý luận giá trị thặng dư

-Lý luận tích lũy tư bãn

Quyển I gồm 7 phần – nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa với tư cách vừa

là quá trình lao động nói chung vừa là quá trình làm tăng thêm giá trị trên cơ sở sức lao động trở thành hàng hoá

Phần 1: lý luận về giá

trị lao động hay nghiên cứu hàng hoá

và tiền tệ

Trang 2

Trọng tâm của quyển 1 là

giá trị thặng dư, Mác

phân tích thực chất của

giá trị thặng dư, điều kiện

ra đời của giá trị thặng

dư, các phương pháp sản

xuất giá trị thặng dư và

sự chuyển giá trị thặng

dư thành tư bản

Phần 2: Từ phân tích

công thức chung của tư

bản T – H – T giá trị

thặng dư chỉ có được trên

cơ sở lưu thông hàng hoá

tự do trên thị trường, nhờ

đó sự lưu thông hàng hoá

sức lao động xuất hiện

nên sự chiếm đoạt lao

động thặng dư đã trở

thành sự chiếm đoạt giá

trị thặng dư, khi đó giá trị

thặng dư mới mang hình

thái lợi nhuận

Phần 3: Mác nghiên cứu

sản xuất trực tiếp và sự

xuất hiện ra giá trị thặng

dư tuyệt đối là cơ sở cho

việc nghiên cứu giá trị

thặng dư nói chung

Phần 4: nghiên cứu sự

sản xuất ra giá trị thặng

dư tương đối, Mác đã

làm rõ việc nâng cao

năng suất lao động đã

biến thành giá trị thặng

dư như thế nào, tư bản tổ

chức lại lao động ra sao,

Phần 5: nghiên cứu tổng

hợp hai hình thức sản

xuất giá trị thặng dư,

nghiên cứu sự biến đổi về

lượng của giá cả sức lao

động và giá trị thặng dư

Phần 6: nghiên

cứu tiền công Mác chỉ rõ

do trên bề mặt xã hội tiền

công lại biểu hiện ra là

giá cả lao động chứ

không phải giá cả sức lao

động, trong khi lý luận

giá trị thặng dư là mua

bán sức lao động, do đó

nghiên cứu tiền công là

để làm ra tiền công là

hình thức biểu hiện

Phần 7: nghiên

cứu quá trình tích luỹ tư bản; Mác đã nghiên cứu một bộ phận giá trị thặng dư trở thành tư bản như thế nào, do những phần trước chỉ nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa như là một quá trình lớn lên của giá trị

Mác cũng đã nghiên cứu mối quan hệ trong sản xuất TBCN trong mối liên hệ thường xuyên và tiến trình đổi mới không ngừng, tức

là quá trình tái sản xuất của tư bản cá biệt và rút

ra một loạt kết luận và

xu hướng phát triển chung của tích luỹ tư bản

Trong quyển I, C.Mác

có nhiều phát minh khoa học mới như sau:

-Một là: Xác định rõ đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là mặt xã hội của quá trình sản xuất, tức là nghiên cứu quan

hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất

và trao đổi Đồng thời, ông đã nêu ra các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị

đó là:

+Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

+Phương pháp trừu tượng hóa khoa học(đây

là phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị)

+Phương pháp Lôgíc và lịch sử

+Phương pháp phân tích và tổng hợp

-Hai là: Phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

đó là lao động cụ thể và lao động trừu trượng

-Ba là: Vạch rõ nguồn gốc, bản chất của tiền

Tiền là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò

là vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa khác Sự xuất hiện của tiền do quá trình phát triển của sản xuất

và trao đổi hàng hóa chứ không phải do dấu hiệu ước định hay do bản chất của vàng làm cho nó trở thành tiền tệ

-Bốn là: Phát hiện ra

lý luận giá trị thặng dư: C Mác đã vạch rõ được bản chất cơ bản của chủ nghĩa tư bản

đó là quan hệ bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê, đồng thời vạch ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản đó là quy luật giá trị thặng dư

-Năm là: Phân biệt giữa lao động và sức lao động C.Mác cho rằng: Người công nhân bán sức lao động chứ không phải bán lao động, lao động không phải là hàng, nó không

có gía trị Nên tiền lương là giá cả và giá trị của sức lao động chứ không phải của lao động Với phát hiện này, Ông đã làm

rõ hơn nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư

-Sáu là: C.Mác đã phát hiện ra lý luận tích lũy

tư bản

Quyển 2: Nghiên cứu quá trình lưu thông, trừu tượng quá trình sản xuất để vạch rõ

quan hệ bóc lột của

tư bản trong quá trình vận động của nó

Mác đã nghiên cứu quá trình lưu

thông trừu tượng, quá trình sản xuất để vạch

rõ quan hệ bóc lột của

tư bản trong quá trình vận động của nó Trong qúa trình lưu thông Mác xem xét trên hai phương diện:

Lưu thông của tư bản

cá biệt, đó là tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.

Đối tượng là nghiên cứu sự vận động của

tư bản cá biệt, trong sự vận động, tư bản lần lượt mang những hình thái khác nhau (như hình thái tiền, hình thái sản xuất, hình thái hàng hoá,…) nó khoác lấy rồi lại trút bỏ đi trong quá trình lập lại

sự tuần hoàn của nó Ngoài ra các hình thái

tư bản còn tồn tại bên cạnh nhau

Tuần hoàn của tư bản với tư cách là một quá trình chu kỳ, nghĩa là lập đi lập lại sau từng thời kỳ nhất định hình thành nên sự chu chuyển của tư bản tuần hoàn thì nghiên cứu về mặt chất của tư bản, còn chu chuyển thì nghiên cứu về mặt lượng của tư bản

Lưu thông của tư bản

xã hội, đó là quá trình tái sản xuất tư bản xã hội Mác đã nghiên

cứu tái sản xuất và lưu thông của tổng tư bản

xã hội, tư bản tiền tệ

có vai trò lớn vì sự vận động của tư bản từ đầu đến cuối đều lấy tư bản dưới hình thái tiền

tệ làm tiền đề, trong hoạt động của tư bản luôn phải có tư bản tiềm tàng tồn tại dưới hình thái tiền tệ Mặt khác việc bố trí cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản xuất

Trang 3

cũng liên quan đến khối

lượng tiền mặt cần thiết

trong lưu thông, liên

quan đến cung cầu trên

thị trường tiền tệ từ

nghiên cứu hình thái tư

bản chủ nghĩa của sự vận

động sản phẩm xã hội và

sự tái sản xuất sản phẩm

xã hội, Mác vạch ra sự

vận động thống nhất của

tổng tư bản xã hội được

hình thành như thế nào

Trong quyển II, C.Mác

đã có những phát minh

khoa học như sau:

-Một là: Phát hiện ra lý

luận tuần hoàn và chu

chuyển của tư bản Theo

C.Mác, quá trình tuần

hoàn và chu chuyển của

tư bản chính là quá trình

vận động của tư bản qua

ba giai đoạn: Lư

thông-sản xuất -bán, mang ba

hình thái:TB tiền tệ, TB

sản xuất, TB hàng hóa,

thực hiện ba chức năng:

chức năng mua, chức

năng sản xuất, chức năng

thực hiện giá trị để trở về

hình thái ban đầu với một

khối lượng lớn hơn và

quá trình này được lắp đi

lắp lại một cách có định

kỳ Do vậy đến đây công

thức chung của tư bản

được bồ sung, phát triển

thành công thức:

-Hai là: Bổ sung và hoàn

thiện lý luận tái sản xuất

tư bản xã hội Những

phát hiện mới của C.Mác

ở đây là:

+Chia nền sản xuất tư

bản thành hai khu

vực:Khu vực I:sản xuất

tư liệu sản xuất và khu

vực II: sản xuất tư liệu

tiêu dùng

+Tính tổng sản phẩm trên

cả hai mặt: mặt giá trị

gồm: c+v+m, mặt hiện

vật gồm: tư liệu sản xuất

và tư liệu tiêu dùng

+Rút ra các quy luật hay điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội của tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

+Vạch ra tính chất chu

kỳ, tính tất yếu của khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Quyển 3: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa.Nghiên cứu

toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa

để tiến sát tới hiện thực của chủ nghĩa tư bản với những nội dung sau:

Sự chuyển hoá của giá trị thặng dư thành lợi nhuận và lợi nhuận bình quân.

Mác đã nghiên cứu các hình thái chuyển hoá từ hình thái chuyển hoá chung nhất đến trừu tượng nhất

Chi phí sản xuất là hình thái chuyển hoá của giá trị, lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, tỷ suất của lợi nhuận là sự chuyển hoá của tỷ suất giá trị thặng dư và Mác đã đi đến những hình thái chuyển hoá cụ thể hơn như: lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất, lợi nhuận thương nghiệp, sự phân chia lợi nhuận bình quân thành lợi tức và lợi nhuận doanh nghiệp, sự chuyễn hoá lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô

Để nghiên cứu sự chuyển hoá lợi nhuận thành lợi nhuận bình quân mác đã nghiên cứu

tư bản xã hội trong sự vận động cụ thể hơn, trong sự cạnh tranh không ngừng của chúng, dẫn đến sự khác nhau về lượng giữa giá

trị thặng dư và lợi nhuận, giữa giá trị của hàng hoá và giá cả sản xuất

Mác đã vạch ra quy luật của tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống tích luỹ

tư bản đã làm nẫy sinh quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm và tạo ra tư bản thừa tương đối do không tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận bình thường trong các ngành hiện có Quy luật này là một trong những yếu tố làm trầm trọng thêm khủng hoảng kinh tế chu kỳ, biểu hiện mâu thuẫn

đã trở nên gay gắt giữa lực lượng sản xuất xã hội hoá với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Các loại hình tư bản:

- Tư bản thương nghiệp: là một hình

thái phái sinh của tư bản công nghiệp với

sự tách biệt giữa tư bàn hàng hoá và tư bản tiền tệ Mác đã xem xét việc phần phối như thế nào giữ

tư bản công nghiệp với

tư bản thương nghiệp

Mác đã làm rõ vai trò, chức năng của tư bản thương nghiệp, ưu thế của thương nghiệp lớn

so với thương nghiệp nhỏ, tính chất và đặc điểm của lao động làm thuê trong thương nghiệp,…làm rõ sự khác nhau về bản chất giữa tư bản thương nghiệp trước chủ nghĩa

tư bản với tư bản thương nghiệp trong chủ nghĩa tư bản

- Tư bản cho vay: là

một hình thái phái sinh của tư bản công

nghiệp, như vậy tư bản sinh lợi tức là tư bản phát sinh không những của tư bản công nghiệp mà cả của tư bản thương nhân, nò là

tư bản phát sinh hạng hai, lợi nhuận được khấu trừ không phải từ giá trị thặng dư mà từ lợi nhuận bình quân Nghiên cứu trọng tâm của mác trong phần này là sự phân chia lợi nhuận thành lợi nhuận doanh nghiệp và lợi tức, là tư bản sinh lợi tức

- Tư bản nông nghiệp:

sự chuyển hoá lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô, là hình thái chuyển hoá nữa của lợi nhuận, lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô tư bản chủ nghĩa Lý luận địa tô được nghiên cứu trong khuôn khổ chung của

lý luận về giá trị thặng

dư, về lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất, sự phát triển hơn nữa những lý luận ấy

và sự vận dụng vào nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa

Trang 4

Câu 9: Trình bày

những lý luận cơ bản

trong học thuyết kinh tế

của Lê nin?

Trả lời:

V.I.Lê nin sinh ngày

22-4-1870 và mất ngày

28 tháng giêng năm

1924 V.I.Lê nin đã

người đã cống hiến

suốt đời cho sự nghiệp

cách mạng của giai cấp

công nhân công nhân

và các dân tộc bị áp

bức trên toàn thế giới

Cuộc cách mạng tháng

Mười vĩ đại do V.I.Lê

nin lãnh đạo thành

công đã đáng dấu một

bước ngoặt lịch sử của

nhân loại V.I.Lê nin là

học trò trung thành và

triệt để nhất của C.Mác

và Ph.Ăng nghen

V.I.Lê nin đã nâng chủ

nghĩa Mác lên một tầm

cao mới, cao hơn bằng

những phát minh mới

có ý nghĩa thế giới vô

cùng to lớn Do đó có

thể khẳng định: Chủ

nghĩa Lê nin là chủ

nghĩa Mác trong thời

đại chủ nghĩa đế quốc

và cách mạng vô sản

Học thuyết kinh tế

của Lê nin trình bày

những khía cạnh khác

nhau về quá trình hình

thành của chủ nghĩa đế

quốc (CNĐQ) Nhất là

tác phẩm CNĐQ giai

đoạn tột cùng của

CNTB ông trình bày

một cách đầy đủ về

CNĐQ Từ đó rút ra

bản chất và xu hướng

vận động của CNĐQ

Vì vậy có thể nói đây

là tác phẩm kế tục trực

tiếp Bộ TB của Mác

Những lý luận cơ bản

trong học thuyết của Lê

nin gồm lý luận về tái

sản xuất TBXH, lý luận

CNĐQ, lý luận về thời

kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH

1 Lý luận tái SX

TB xã hội, dựa trên

cơ sở lý luận tái SX TBXH của Mac, Lê nin đã bổ sung một số điểm cho sát với hiện thực của XHTB trong điều kiện phát triển của nó Lê nin chia khu vực I – SX TLSX thành 2 khu vực nhỏ:

Khu vực sản xuất TLSX để SX TLSX

và Khu vực sản xuất TLSX để SX tư liệu tiêu dung Lê nin cho cấu tạo hữu cơ v/c thay đổi Từ đó ông rút ra qui luật ưu tiên:SX TLSX để SX TLSX phát triển nhanh nhất, tiếp đó là

SX TLSX để SX TLTD, cuối cùng là

SX TLTD

2 Lý luận CNĐQ,

Lê nin kịch liệt phê phán tất cả các quan điểm TS cải lương về CNĐQ vạch ra tính chất phi khoa học, phản động của họ Từ

đó ông trình bày những tư tưởng cơ bản của mình về CNĐQ: CNĐQ không phải là một chính sách, mà là giai đoạn phát triển cao của CNTB, là kết quả của quá trình vận động phát triển dưới tác động của các quy luật kinh tế nội tại của nó, trong đó nổi bật là quy luật cạnh tranh tự

do đưa tới tập trung sản xuất, tập trung SX tới 1 mức độ nhất định thì dẫn tới độc quyền

Vạch ra 5 đặc điểm kinh tế cơ bản của CNĐQ bao gồm: Tập trung sản xuất và các

tổ chức độc quyền;

TB tài chính và đầu

sỏ tài chính (TB tài chính ra đời là sự dung hợp giữa công nghiệp và ngân hang Lợi nhuận thu được trong sản xuất công nghiệp ngoài việc đầu tư cho sản xuất còn đem vốn tích lũy được để mở ngân hang Ngược lại ngân hang ngoài việc cho vay có lãi,

mở thêm nhiều chi nhánh còn đầu tư vào SXKD do đó mà hình thành nên TB tài chính); Xuất khẩu TB (TB là giá trị mang lại giá trị lớn hơn hay GTTD

Do đó XKTB là XK vốn, XK công nghệ,

XK con người, XK chuyên gia Ngày nay do thừa TB ở các nước phát triển nên phải XKTB nhằm mục đích mở rộng sự bóc lột); Các

tổ chức độc quyền phân chia thị trường thế giới (ngày nay

sự phân chia này đang được tăng cường dưới các hình thức mới đó là CNTB độc quyền nhà nước quốc tế

VD như: Khối liên minh Châu Âu (EU, Khu vực mậu dịch

Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), diễn đàn hợp tác KT Châu Á-TBD (APEC), lien minh mậu dịch tự do (AFTA), Ngân hang thế giới (WB), Quỹ tiền tệ TG (IMF), Tổ chức thương mại TG (WTO)); Các cường quôc phân chia lãnh thổ thế giới

Vạch ra địa vị lịch

sử của CNĐQ: CNĐQ là CNTB độc quyền, là giai đoạn phát triển cao của CNTB; CNĐQ là CNTB ăn bám, thối nát; CNĐQ là CNTB đang đi đến diệt vong Nó sẽ bị thay thế bởi một phương thức sản xuất tiến bộ hơn đó

là PTSX cộng sản chủ nghĩa

3 Lý luận về thời

kỳ quá độ đi từ CNTB lên CNXH:

Lý luận thời kỳ quá độ được thể hiện qua 2 mô hình: Mô hình chính sách công sản thời chiến

và mô hình chính sách kinh tế mới -Mô hình chính sách cộng sản thời chiến: Đây là mô hình xây dựng CNXH trong điều kiện có chiến tranh: chống bọn bạch vệ

và sự can thiệp cũa

14 nước Đế quốc

Do vậy, mô hình này được tiến hành theo những nội dung như: + Tiến hành xóa

bỏ sở hữu TBTN về TLSX bằng cách quốc hữu vì GCTS chống đối quyết liệt + Thực hiện chính sách trưng thu mua lương thực thừa của nông dân để cung cấp cho quân đội và công nhân mà nhà nước không trả một thứ gì cho nông dân + Tiến hành quân

sự hóa nền kinh tế tức là chuyển việc

SX hàng tiêu dùng sang việc SX hàng quân sự

Trang 5

Sau hơn 3 năm thực

hiện chính sách cộng

sản thời chiến, Đảng

CS Nga dưới sự lãnh

đạo của V.I.Lê nin đã

chiến thắng được thù

trong giặc ngoài, giữ

được chính quyền Xô

viết Nhưng khi chấm

dứt chiến tranh, chính

sách này đã không còn

phù hợp nữa, nó đã bộc

lộ nhiều tiêu cực như

kìm hãm sản xuất, triệt

tiêu động lực kinh tế

dẫn tới đời sống nhân

dân khó khăn và đẩy

đất nước lâm vào

khủng hoảng kinh

Trước bối cảnh đó

buộc V.I.Lê nin phải

thay đổi mô hình chính

sách cộng sản thời

chiến bằng mô hình

chính sách kinh tế mới

-Mô hình chính sách

kinh tế mới thể hiện

qua các nội dung sau:

Thừa nhận sự tồn tại

khách quan của nhiều

hình thức sở hữu và

nhiều thành phần kinh

tế; Thừa nhận sự tồn tại

của kinh tế hàng hóa và

cơ chế thị trường

Về thời kỳ quá độ:

Đối với những nước

kém phát triển đi lên

CNXH phải trãi qua

một bước quá độ và tất

yếu phải bắc một chiếc

cầu trung gian đó là

CNTB nhà nước

Về sở hữu và các

thành phần kinh tế: Đối

với những nước kém

phát triển đi lên CNXH

thì không xóa bỏ ngay

các hình thức sở hữu và

các thành phần kinh tế,

kể cả thành phần kinh

tế tư bản Sự tồn tại của

nó là một tất yếu khách

quan tạo nên một cơ

cấu kinh tế thống nhất

trong thời kỳ quá độ

Về kinh tế hang hóa, KT hang hóa không phải là tàn dư của CNTB, nó không đối lập với CNXH

Theo Lê nin phải phát triển kinh tế hang hóa, phải tiến hành hạch toán kinh tế, học cách buôn bán, phải xác lập quan hệ hang hóa, tiền tệ giữa công nhân với nông dân, giữa thành thị với nông thôn,… Nhưng phải đẩy mạnh sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế

Tóm lại, Lê nin là người bổ sung phát triển học thuyết kinh

tế của Mác và Ăngghen hình thành nên học thuyết

Mác-Lê nin với một số điểm sát với hiện thực của CNTB trong đk phát triển của nó về lý luận CNĐQ và vấn đề trung tâm là xây dựng

mô hình CNXH hiện thực

Trang 6

Câu 10: Trình bày đặc

điểm và nội dung cơ

bản của lý thuyết

Keynes Ý nghĩa của

Việc nghiên cứu vấn đề

này đối với việc điều tiết

vĩ mô nền kinh tế ở Việt

Nam hiện nay?

1 Tiểu sử:

J.M.Keynes (1884-1946)

là một nhà kinh tế học

người Anh, là chuyên gia

trong lĩnh vực tài chính

tín dụng và lưu thông tiền

tệ, tác động nỗi tiếng

nhất của ông là thuyết

chung về việc làm, lãi

suất và tiền tệ

2.Về đặc điểm:

-Lý thuyết KT của

Keynes đề cao vai trò

điều tiết kinh tế vĩ mô

của nhà nước; Học thuyết

Keynes là sự biểu hiện

lợi ích và công trình sư

của chủ nghĩa tư bản độc

quyền nhà nước

-Lý thuyết trung tâm

của ông là lý thuyết về

“Việc làm” Theo ông,

việc làm không chỉ xác

định thị trường lao động

mà còn bao gồm cả trạng

thái SX, khối lượng việc

làm và qui mô thu nhập;

-Lý thuyết Keynes còn

đánh giá cao vai trò của

tiêu dùng, của lĩnh vực

trao đổi, coi tiêu dùng và

trao đổi là nhiệm vụ số

một mà kinh tế học phải

giải quyết;

-Phương pháp phân

tích dựa trên tâm lý chủ

quan, tâm lý xã hội Do

đó mang tính chất duy

tâm siêu hình, vì ông cho

rằng phương pháp của

ông là đúng cho mọi xã

hội

3.Về nội dung cơ bản

của lý thuyết kinh tế

Keynes:

a/ Lý thuyết chung về

việc làm:

Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết “Việc làm”:

- Khuynh hướng tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng cá nhân:

J.M.Keynes cho rằng với sự tăng lên của htu nhập thì tiêu dùng cũng tăng lên nhưng tốc độ chậm hơn, vì phần thu nhập tăng thêm đó đem chia cho tiêu dùng ít hơn Do đó tạo ra khoảng cách giữa tăng thu nhập với tăng tiêu dùng Khoảng cách này chính là tiết kiệm Các nhân tố ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng

cá nhân.

Một là: Thu nhập:

khi thu nhập tăng, thì tiêu dùng cũng tăng và ngược lại),

Hai là: các nhân tố chủ quan ảnh hưởng

đến khuynh hướng tiêu dùng cá nhân như: các khoản dự phòng rủi ro,

để dành cho tuổi già, đầu tư cho giáo dục, học tập cho con cái, để có phương tiện thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh,

Ba là: các nhân tố khách quan (sự thay

đổi tiền công danh nghĩa, sự thay đổi của lãi suất, sự thay đổi trong chính sách thuế) Ông cho rằng: Cùng với việc làm tăng sẽ làm tăng thu nhập, do đó cũng làm tăng tiêu dùng Song do duy luật tâm lý cơ bản nên sự gia tăng tiêu dùng nói chung chậm hơn sự gia tăng thu nhập Nghĩa là tiết kiệm có khuynh hướng tăng lên nhanh hơn Vì vậy, sự thiếu hút cầu tiêu dùng là xu

hướng vĩnh viễn của mọi xã hội tiên tiến

Nó là nguyên nhân gây ra tình trạng trì tuệ

và thất nghiệp

Khi mức thu nhập thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết thì xuất hiện tình trạng chi vượt quá thu nhập, nhưng khi thu nhập cao thì sẽ có sự chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng

- Khuynh hướng tiết kiệm: Khi thu nhập

nâng cao đạt được mức tiện nghi nào đó rồi thì phần thu nhập tăng thêm trích cho tiêu dùng ít hơn còn cho tiết kiệm nhiều hơn Đây chính là qui luật tâm lý cơ bản

- Đầu tư và mô hình

số nhân: Số nhân là

mối quan hệ giữa tăng thu nhập với gia tăng đầu tư Nó xác định sự gia tăng đầu tư sẽ làm cho gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần Mô hình số nhân thì phản ánh mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập với gia tăng đầu tư

Mô hình này được biểu hiện dưới hình thức tác động dây chuyền: tăng đầu tư là tăng việc làm, làm tăng thu nhập, tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới, tăng đầu tư mới lại làm tăng việc làm mới, làm tăng thu nhập mới,

- Hiệu quả giới hạn của TB: Theo ông,

cùng với đà tăng lên

của vốn đầu tư thì

hiệu quả của tư bản sẽ

giảm dần Ông gọi đó

là hiệu quả giới hạn của tư bản Có 2 nguyên nhân làm cho

hiệu quả giới hạn của

tư bản giảm sút:

Một là: Đầu tư tăng sẽ

làm tăng thêm khối lượng hàng hóa cung

ra thị trường Do đó làm cho giá cả hàng hóa sản xuất thêm giảm xuống

Hai là: Tăng cung

hàng hóa sẽ làm giảm hiệu quả giới hạn của

tư bản

Vì vậy muốn kích thích đầu tư cần phải

có sự điều tiết của nhà nước

-Lãi Lãi suất: Lãi

suất còn được gọi là sự trả công cho sự chia ly với của cải tiền tệ Người ta chỉ bỏ tiền của mình ra cho vay khi có lãi suất cao Theo ông,

có 2 nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất:

Một là: Khối lượng

tiền tệ Khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông càng tăng thì lãi suất càng giảm

Hai là: Sự ưa chuộng

tiền mặt Theo ông, sự

ưa chuộng tiền mặt là tiềm năng hay khuynh hướng có tính chất hàm số, ấn định khối lượng tiền tệ mà dân chúng muốn giữ theo mức lãi suất nhất định

- Sự ưa chuộng tiền mặt là do các động lực sau quy định:

+ Động lực giao dịch

là nhu cầu tiền tệ dùng vào nghiệp vụ giao dịch hàng ngày, nó bao gồm động lực thu nhập và động lực KD + Động lực đầu cơ là giữ tiền nhằm kiếm lời

do đẫ hiểu rõ tương lai sắp tới của thị trường chứng khoán

+ Động lực dự phòng

là giữ tiền để đề phòng bất trắc, rủi ro

Trang 7

b/ Nội dung cơ bản của

lý thuyết chung về việc

làm:

- Tăng việc làm sẽ tăng

thu nhập và tăng tiêu

dùng và từ đó sẽ làm tăng

tiêu dùng

- Do khuynh hướng tiêu

dùng giới hạn nên tiêu

dùng tăng chậm còn tiết

kiệm lại tăng nhanh nên

giảm cầu có hiệu quả Từ

đó, ảnh hưởng tới việc

tiêu dùng hang hóa và lợi

nhuận của doanh nghiệp

giảm Các doanh nghiệp

giảm quy mô sản xuất

nên giảm việc làm dẫn

tới thất nghiệp

- Để điều chỉnh sự thiếu

hụt của cầu tiêu dùng cần

phải tăng đầu tư vì đầu tư

sẽ tăng cầu bổ sung tư

liệu sản xuất và công

nhân, Song việc đầu tư

lại phụ thuộc vào ý muôn

của các DN DN chỉ đầu

tư khi có lợi nhuận

Muốn có lợi nhuận thì

giá các yếu tố đầu vào

phải giảm tương đối (giá

nguyên liệu, lãi suất, thuê

đất,…) và giá đầu ra phải

tăng tương đối,… Để giải

quyết vấn đề này, phải có

sự điều tiết vĩ mô của

Nhà nước thông qua kế

hoạch, đầu tư và các

chính sách kinh tế: tiền

tệ, lãi suất, tiết kiệm…

Đặc biệt, nhà nước phải

có một chương trình đầu

tư quy mô lớn để sử dụng

số tư bản nhà rỗi và lao

động thất nghiệp Số

người này sau khi nhận

được thu nhập sẽ tham

gia vào thị trường mua

sắm hàng hóa Do đó sức

cầu sẽ tăng lên, giá hàng

tăng lên, hiệu quả của tư

bản cũng tăng lên Điều

đó, khuyến khích doanh

nhân mở rộng sản xuất

Theo nguyên lý số nhân

này mà nền kinh tế được

tiếp tục phát triển, khủng

hoảng và thất nghiệp được ngăn chặn

Tóm lại, để giải quyết khủng hoảng kinh tế, tăng việc làm cần phải tăng vai trò điều tiết của nhà nước

c/ Lý thuyết về sự điều tiết kinh tế của Nhà nước:

Nhà nước điều tiết

KT thông qua các công

cụ và chính sách sau:

- Đầu tư của nhà nước: sử dụng ngân sách để kích thích đầu

tư tư nhân thông qua các đơn đặt hàng của Nhà nước, hệ thống mua hàng của nhà nước, trợ cấp về tài chính, tín dụng do NSNN đảm bảo để tạo sự ổn định về lợi nhuận và đầu tư cho

tư bản độc quyền CP phải có chương trình đầu tư lớn qui mô lớn

để cầu có hiệu quả, thông qua chương trình

đó nhà nước can thiệp vào KT

Sự tham gia của nhà nước vào nền kinh tế sẽ

làm tăng đầu tư tư nhân, cũng như tăng tiêu dùng của nhà nước lên Do

đó, làm cho cầu có hiệu quả tăng, nhờ vậy mà việc làm tăng, thu nhập tăng, hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp

- Sử dụng hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ:

Trong lú thuyết Keynes, tài chính, tín dụng và lưu thông tiền

tệ được coi là công cụ kinh tế vĩ mô rất quan trọng Nhà nước dùng

hệ thống tài chính, tín dụng, tiền tệ để làm công cụ kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của doanh nhân Theo ông, giảm

lãi suất cho vay để XD lòng tin và niềm lạc quan cho nhà đầu tư bằng cách tăng mức cung tiền, đưa tiền vào lưu thông Điều này dễ dẫn đến lạm phát nên nhà nước phải tăng cường kiểm soát lạm phát, chấp nhận lạm phát ở 1 mức độ cho phép mà nhà nước có thể kiểm soát được không nguy hiểm cho nền kinh tế

Để bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước, ông đề nghị in thêm tiền giấy để cấp phát cho ngân sách hoạt động, mở rộng đầu tư nhà nước và đảm bảo chi tiêu cho chính phủ Ông còn chủ trương sử dụng công cụ thuế khóa để điều tiết kinh tế

- Các hình thức tạo việc làm: Để nâng cao tổng cầu và việc làm, ông chủ trương mở rộng nhiều hình thức đầu tư, thâm chí kể cả những hoạt động không có lợi cho nền kinh tế như: tăng cường sản xuất vũ khí chiến tranh, quân sự hóa nền kinh tế, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm, trợ cấp cho người nghèo

- Khuyến khích tiêu dùng: để nâng cao tổng cầu và sự chi tiêu

từ đó tạo ra nhiều việc làm

Để nâng cầu tiêu dùng, ông khuyến khích tiêu dùng đối với mọi tầng lớp dân

cư trong xã hội bằng cách thực hiện tín dụng tiêu dùng Với hình thức này nhà nước khuyến khích mọi người mua hàng

hóa và trả dần, nhờ đó

mà tiêu dùng được hàng hóa nhanh

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

Việc nghiên cứu cho

ta thấy được mặt tích cực và hạn chế của lý thuyết Keynes; Trong nền KTTT cần phải có

sự điều tiết của nhà nước để phát huy tính tích cực và hạn chế khuyết tật của nền KTTT; Nhà nước điều tiết KT thong qua các chức năng và công cụ của mình cụ thể là chính sách tài khóa thắc chặt hay nới lỏng tiền tệ, chính sách thuế Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên điều tiết KTTT theo định hướng XHCN vì lợi ích của nhân dân lao động

Tóm lại, Học thuyết

KT Keynes ra đời vào những năm 30 của tK20 khi mà nền KT của các nước phương Tây đang gặp khủng hoảng (1929-1933) với quan điểm trọng cầu ông đã XD nên mô hình KT vĩ mô Trong

đó, trung tâm là vai trò điều tiết của Nhà nước thong qua các giải pháp kích cầu để tác động vào khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, khuynh hướng

ưa chuộng tiền mặt với mục đích chống đỡ khủng hoảng và thất nghiệp Học thuyết này đã được vận dụng rộng rãi ở các nước phương tây vào những năm 40,50, đầu những năm 60 của thế kỷ XX

và đặt biệt là trong những năm đầu của

Trang 8

TK XXI Lý luận KT của

ông đã đóng gop rất lớn

cho việc Xd bộ môn

KTCT học vĩ mô hiện

đại Trong điều kiện ngày

nay, xu hướng quốc tế

hóa của nền KT, không

thể không có sự chảy ra

nước ngoài của KT, tuy

nhiên đối với nước phát

triển thì lợi nhiều hơn,

các nước đang phát triển

lợi ít hơn KT mỗi nước

đều có chân rết ở các

nước khác trên TG Việt

Nam cũng đầu tư sang

Lào, Campuchia, Nga,…

Ngày nay việc sử dụng

gói kích cầu nhưng phải

có sự phối hợp với các

biện pháp khác thì mới

đạt hiệu quả

Trang 9

Câu 11: Trình bày nội

dung của lý thuyết “nền

kinh tế hỗn hợp” của

Samuelson Việc vận dụng

lý thuyết này đối với phát

triển kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam ?:

1 / Phân tích nội dung của

lý thuyết “nền kinh tế hỗn

hợp”:

Một số khái niệm:

-Kinh tế học là việc nghiên

cứu xã hội sử dụng các nguồn

lực khan hiếm như thế nào để

sản xuất ra các hàng hóa có giá

trị và phân phối chúng cho các

đối tượng khác nhau Kinh tế

học được phân thành hai nhánh

lớn đó là kinh tế học vi mô và

kinh tế học vĩ mô Tùy theo

cách sử dụng mà kinh tế học

được chia thành hai dạng là

kinh tế học thực chứng và kinh

tế học chuẩn tắc

-Tính hiệu quả là sự không

lãng phí hoặc việc sử dụng các

nguồn lực kinh tế để tạo ra mức

độ thỏa mãn tối đa có thể được

với đầu vào và công nghệ cho

trước

+ Đầu vào (Input) là các

hàng hóa hay dịch vụ được các

hãng sử dụng trong quá trình

sản xuất của họ

+ Đầu ra (Output) là các

hàng hóa và dịch vụ hữu ích

được tiêu dùng hay sử dụng để

tiếp tục sản xuất

-Tăng trưởng kinh tế: Sự

tăng lên của tổng sản lượng của

một quốc gia qua thời gian

Tăng trưởng kinh tế thường

được đo bằng tốc độ tăng hàng

năm trong GDP thực tế của

quốc gia

-Tổng sản phẩm quốc nội

danh nghĩa (GDP danh nghĩa):

Là giá trị tính theo thị trường

cuối cùng được sản xuất trong

phạm vi một quốc gia trong một

năm nhất định

-Tổng sản phẩm quốc nội

thực tế là GDP danh nghĩa được

điều chỉnh theo lạm phát, tức là

GDP thực tế bằng GDP danh

nghĩa chia cho hệ số giảm phát GDP

-Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) danh nghĩa: Là giá trị tính theo giá thị trường hiện hành của tất cả các hàng hóa

và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một năm bởi các yếu tố do một quốc gia sở hữu

-Tổng sản phẩm quốc dân thực tế (hay GNP thực tế)

là GNP danh nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát, tức là GNP thực tế bằng GNP danh nghĩa chia cho

hệ số giảm phát GNP

2.Lý thuyết về nền kinh tế

hỗn hợp:

Ba vấn đế của tổ chức kinh tế:

Nếu như các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với bàn tay phái keynes và keynes mới say sưa với bàn tay nhà nước, thì Samuelson cho rằng nền kinh

tế vận động và chịu sự điều tiết của cả hai yếu tố đó là cơ chế thị trường và nhà nước, ông chủ trương phân tích kinh

tế phải dựa vào cả hai bàn tay

là cơ chế thị trường và nhà nước, ông cho rằng điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay

Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trọng tâm của tổ chức kinh tế là: Sản xuất cái gì; sản xuất như thế nào và sản xuất cho

ai ? -Sản xuất hàng hóa gì, với

số lượng bao nhiêu?Mỗi xã hội cần xác định nên sản xuất mỗi loại bao nhiêu trong vô số các loại hàng hóa và dịch vụ

có thể sản xuất được và sản xuất chúng vào thời điểm nào?

-Sản xuất hàng hóa như thế nào? Mỗi xã hội cần xác định

ai sẽ là người sản xuất, sản

xuất bằng nguồn lực nào và cần sử dụng kỹ thuật sản xuất nào?

-Sản xuất hàng hóa cho ai? Ai sẽ là người được hưởng thành quả của những

nổ lực kinh tế? Nghĩa là sản phẩm quốc dân được phân chia cho các hộ gia đình khác nhau như thế nào?

Một nhiệm vụ chủ chốt của kinh tế học là nghiên cứu

và giải thích những cách thức khác nhau mà xã hội trả lời các câu hỏi: cái gì, thế nào, cho ai Các xã hội khác nhau được tổ chức theo những hệ thống kinh tế khác nhau và kinh tế học nghiên cứu những cơ chế khác nhau mà

xã hội có thể vận dụng để phân bổ các nguồn lực khan hiếm của mình

Cơ chế thị trường:

Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua

và người bán một thứ hàng hoá nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả

và sản lượng hàng hoá

Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế

là cái gì? như thế nào? Và cho ai?

Nền kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợp mọi người, mọi hoạt động và mọi doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trường

Các yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường.

Giá cả: khi nói đến nền

kinh tế thị trường thì phải nói tới hàng hoá, người bán và người mua, giá cả hàng hoá

Giá cả mang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bán và mỗi người lại dùng thu nhập để mua cái mình cần nếu một loại hàng hoá được nhiều người mua thì người bán tăng

giá lên để phân phối một lượng cung hạn chế, giá sẽ lên cao thúc đẩy người sản xuất làm ra nhiều hàng hoá hơn Khi có nhiều hàng hoá người bán cần bán nhanh để giải quyết lượng hàng của mình nên hạ giá xuống, khi

hạ giá thì số người mua tăng lên, do đó người bán lại tăng giá lên, như vậy cơ chế thị trường có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa giá cả

và sản xuất Giá cả chỉ cho người sản xuất biết sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào

và phân phối cho ai

Cung - cầu: đó là khái quát của hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường sự biến động của giá

cả đã làm cho trạng thái cân bằng cung cầu thường xuyên biến đổi và đó cũng chính là nội dung quy luật cung cầu hàng hoá

Người tiêu dùng và kỹ thuật: nền kinh tế thị trường

chịu sự điều khiển của hai ông vua là người tiêu dùng

và kỹ thuật người tiêu dùng thống trị thị trường vì họ là người bỏ tiền ra mua hàng hoá do các doanh nghiệp sản xuất ra Song kỹ thuật hạn chế người tiêu dùng vì nền sản xuất không thể vượt giới hạn khả năng sản xuất Như vậy, thị trường chịu sự chi phối của cá chi phí kinh doanh, lẫn các quyết định cung cầu của người tiêu dùng quy định ở đây thị trường đóng vai trò môi giới trung gian hoá giải giữa sở thích người tiêu dùng với hạn chế

kỹ thuật

Động lực là lợi nhuận: lợi

nhuận chi phối hoạt động của người kinh doanh, lợi nhuận đưa doanh nghiệp đến với khu vực sản xuất hàng hoá

mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có

ít người tiêu dùng Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến với việc sử dụng kỹ thuật sản

Trang 10

xuất hiệu quả nhất như vậy, hệ

thống thị trường luôn phải dùng

lãi và lỗ để quyết định ba vấn

đề cái gì, thế nào và cho ai

Môi trường cạnh tranh: do

các quy luật kinh tế khách quan

chi phối việc cạnh tranh giữa

các nhà sản xuất sẽ xác định các

hàng hoá được sản xuất như thế

nào, cách tốt nhất để các nhà

sản xuất giữ mức giá cạnh tranh

và tối đa hoá lợi nhuận là giảm

chi phí sản xuất nhờ áp dụng

các phương pháp sản xuất hiệu

quả nhất

Tiền tệ là công cụ quan

trọng: đồng tiền được vận động

theo quy trình vòng tròn khép

kín Nó đi từ hộ tiêu dùng ra thị

trường hàng hoá tiêu dùng, dịch

vụ để mua hàng hoá, thông qua

giá cả và quan hệ cung cầu, tiền

trở về tay các doanh nghiệp,

doanh nghiệp lại dùng tiền đó

để mua các yếu tố sản xuất

thông qua quan hệ cung cầu và

giá cả nó lại trở về hộ gia đình

Ưu điểm của cơ chế thị

trường: kích thích kỷ thuật, phát

triển sản xuất, khai thác sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực; điều

tiết nhanh quan hệ sản xuất và

lưu giải quyết việc làm, mở

rộng quan hệ kinh tế quốc tế

Khuyết tật của cơ chế thị

trường: thị trường không phải

lúc nào cũng đưa tới kết quả tối

ưu mà nó có những khuyết tật

nhất định

Khuyết tật thứ nhất của thị

trường là do độc quyền và các

hình thức cạnh tranh không

hoàn hảo

Khuyết tật thứ hai xảy ra khi

xuất hiện những tác động lan

toả hay ảnh hưởng ngoại sinh

bên ngoài thị trường, đó là

những ngoại sinh tiêu cực như

nạn ô nhiểm môi trường, phân

phối thu nhập không thể chấp

nhận được về chính trị lẫn đạo

đức, phân hóa giàu nghèo, bất

công xã hội Chỉ quan tâm đến

sản xuất có lợi nhuận, buôn lậu

làm hàng giả, trốn thuế…vì vậy

cần phải có sự can thiệp của

chính phủ

Vai trò kinh tế của chính phủ:

Chính phủ có ba chức năng kinh tế chính trong nền kinh tế thị trường là nâng cao hiệu quả, khuyến khích công bằng,

ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng

-Chức năng thứ nhất là khắc phục các khuyết tật của thị trường nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế Trong kinh tế thị trường có nhiều nhân tố tác động làm giảm tính hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng như: cạnh tranh không hoàn hảo, ảnh hưởng ngoại sinh và hàng hoá công cộng, vì vậy chính phủ có thể đóng vai trò hữu ích để khắc phục căn bệnh đó, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

+Một là: cạnh tranh không

hoàn hảo hay độc quyền là khi

có người bán hàng hay người mua có thể tác động tới giá cả hàng hóa Cạnh tranh không hoàn hảo làm cho giá bán cao hơn chi phí và mức tiêu thụ của người tiêu dùng giảm dưới mức hiệu quả Vì vậy cần có

sự can thiệp của chính phủ để hạn chế độc quyền, bảo đảm tính hiệu quả của cạnh tranh thị trường, chẳng hạn như chính phủ điều tiết giá cả và lợi nhuận của hãng độc quyền hoặc đề ra luật chống tờ rớt nhằm nghiêm cấm những hoạt động như ấn định giá hay thỏa thuận phân chia thị trường

+Hai là: ảnh hưởng ngoại

sinh xảy ra khi một hãng hay một người khác làm lợi hoặc làm thiệt hại tới người khác bên ngoài thị trường Ngày nay, các Chính phủ thường quan tâm đến những tác động tiêu cực của ảnh hưởng ngoại sinh đó là: tình trạng ô nhiểm môi trường nước, không khí, chất thải độc hại, khai thác mỏ

lộ thiên, thuốc và thực phẩm không an toàn, các chất phóng xạ, Do vậy, chính phủ phải

sử dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế, kiểm soát các tác

động tiêu cực của ảnh hưởng ngoại sinh

+Thứ ba: Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà chi phí phục vụ thêm cho một người nữa bằng không

và nó không thể loại trừ các

cá nhân không hưởng thụ hàng hóa đó Ví dụ như: chi phí quốc phòng, an ninh, phòng chống lụt bảo… Để có chi phí cho sản xuất hàng hóa công cộng, chính phủ phải gây dựng được nguồn thu

Các nguồn thu đó là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và công ty, vào tiền lương, vào doanh thu bán hàng tiêu dùng và các khoản khác…Mỗi người đều là đối tượng phải đóng thuế, đều có nghĩa vụ trả một phần chi phí của hàng hóa công cộng

Như vậy, chính phủ phải can thiệp vào thị trường để nâng cao tính hiệu quả của kinh tế

-Chức năng thứ hai của chính phủ là đảm bảo sự công bằng Tạm giả định rằng nền kinh tế thị trường hoạt động hoàn hảo nhất, lựa chọn đúng đắn số lượng hàng hoá công cộng và hàng hoá

cá nhân Nguyên nhân phân phối chênh lệch về thu nhập phụ thuộc vào nhiều nhân tố như sự nổ lực, trình độ giáo dục, thừa kế, giá cả,… để hạn chế sự phân phối bất bình đẵng, chính phủ phải sử dụng các chính sách và biện pháp về phân phối thu nhập với các công cụ như thuế, trợ cấp, bảo hiểm thất nghiệp,…

Chức năng thư ba của chính phủ là tăng trưởng và

ổn định kinh tế vĩ mô Bằng việc sử dụng linh hoạt chính sách tài khoá và tiền tệ, chính phủ có thể tác động tới sản lượng, việc làm, lạm phát, chính sách tài khoá là quyền lực đánh thuế và chi tiêu, chính sách tiền tệ Sử dụng hai công cụ cơ bản đó của chính sách kinh tế vĩ mô,

chính phủ có thể tác động tới mức tổng chi tiêu xã hội, tốc

độ tăng trưởng và tổng sản lượng, tỷ lệ có việc làm và thất nghiệp mức giá cũng như tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế Bên cạnh đó nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế, chính phủ có thể tăng cường đầu tư vào giáo dục, giảm thâm hụt ngân sách và tăng tỷ lệ tiết kiệm quốc gia

3/ Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này:

Nhận thức được ưu điểm

và hạn chế của học thuyết này để trong quá trình điều tiết nền kinh tế thị trường cần phát huy ưu điểm của nền kinh tế để nền kinh tế vận hành theo quy luật kinh tế khách quan của thị trường đồng thời có chính sách, biện pháp khắc phục kịp thời hạn chế của nền kinh tế để đưa nền kinh tế vận hành đúng theo quy luật khách quan của nó

Cần phải tăng cường vai trò của chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chính phủ tăng cường vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô, xây dựng hoàn thiện các chính sách pháp luật về kinh tế, chính sách thuế, chính sách cạnh tranh công bằng, … để kích thích nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước phải có kế hoạch, pháp luật, chính sách

và các công cụ như chính sách tài khoá, chính sách tiền

tệ để điều tiết nền kinh tế

Ngày đăng: 31/07/2018, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w