3. Quy luật chuyển hóa lượng – chất Những vấn đề lý luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại? Quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên? Trong cuộc sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn màu muôn vẻ, con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của sự vật hiện tượng, từ đó hình thành khái niệm “quy luật”. Với tư cách là phạm trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh sự liên hệ của các sự vật, hiện tượng và tính chỉnh thể của chúng. Các quy luật của tự nhiên, xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tính khách quan. Con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quy luật mà chỉ có thể nhận thức và vận dụng vào thực tế. Quy luật “chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại” là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển. Việc nhận thức quy luật này có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng. Nếu nhận thức không đúng quy luật này dễ dẫn đến hiện tượng “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh”. “Tả khuynh” có thể hiểu là tư tưởng chủ quan nóng vội, muốn sớm có sự thay đổi về lượng nhưng lại không tính đến việc tích lũy về chất. “Hữu khuynh” là tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện “bước nhảy” (sự thay đổi về chất) khi đã có sự tích lũy đủ về lượng. Với bài tiểu luận này, chúng tôi mong muốn tiếp cận và làm sáng tỏ phần nào nội dung và ý nghĩa của quy luật quan trọng này và từ đó rút ra được những bài học bổ ích trong học tập và cuộc sống. Bằng việc tiếp cận vấn đề thông qua việc làm sáng tỏ ba ví dụ cụa thể trong thực tế, chúng tôi mong muốn có thể cung cấp cho người đọc cách nhìn nhận dễ dàng và chân thực nhất về quy luật này. Với kiến thức triết học của bản thân còn rất hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự ghóp ý của thầy cô và các bạn. 1. Những vấn đề lý luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại. 1.1. Một số khái niệm. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác. Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật. Lượng và chất là hai mặt cơ bản của mọi sự vật hiện tượng. Trong bản thân sự vật thì hai mặt này luôn tác động qua lại, ở nột mức độ nào đó, làm cho sự vật phát triển. Khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng trong sự vật chưa đủ làm thay đổi căn bản chất của sự vật được gọi là độ. Chỉ trong trường hợp khi sự thay đổi về lượng đạt tới mức đủ để dẫn tới sự thay đổi về chất thì độ bị phá vỡ và sự vật phát triển sang một giai đoạn mới, khác hẳn về chất. Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều vận động và phát triển không ngừng. Việc tích lũy về lượng cũng chính là một trong những cách vận động của sự vật. Vì thế, dù nhanh hay chậm, sớm hay muộn thì việc tích lũy về lượng của sự vật cũng sẽ đến một giới hạn mà ở đó làm cho chất của sự vật thay đổi về căn bản. Thời điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ để làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút. Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi là bước nhảy. 1.2. Nội dung quy luật. Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội cũng như sự phát triển nhận thức trong tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng khi vượt qua giới hạn về độ tới điểm nút thì gây ra sự thay đổi cơ bản về chất, làm cho sự vật, hiện tượng phát triển cao hơn hoặc thay thế bằng sự vật , hiện tượng khác. Sở dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ nhưng cũng mang trong mình tính mâu thuẫn vốn có trong sự vật. Lượng thì thường xuyên biến đổi còn chất có xu thế ổn định. Do đó, lượng phát triển tới một mức nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ, yêu cầu tất yếu là phải thay đổi chất cũ, mở ra một độ mới cho sự phát triển của lượng. Sự chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Quy luật này còn diễn ra theo chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời, do sự biến đổi về lượng trước đó gây nên thì nó lại quay trở lại, tác động đến sự biến đổi của lượng mới. Ảnh hưởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới. Nội dung của quy luật được phát biểu như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chât của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi. Như chúng ta đã biết, quy luật về sự thay đổi của lượng dẫn đến sự thay đổi về chât và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản chủa chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nội dung của nó không chỉ giới hạn trong một hay một số lĩnh vực cụ thể mà bao trùm lên mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trước hết, ta hãy xét ví dụ về sự chuyển hóa thành các dạng tồn tại khác nhau của nước. Nước (ở đây chỉ xét nước tinh khiết) xét trên phương diện cấu tạo hóa học là một hợp chất được cấu tạo nên bởi hai nguyên tố là hiđro và oxi. Nước có công thức cấu tạo hóa học là H2O. Ở điều kiện bình thường nước tồn tại ở dạng lỏng nhưng ở những điều kiện đặc biệt, nước còn có thể tồn tại ở những dạng khác như rắn, khí hay plasma. Quy luật lượng chất thể hiện rõ nhất trong quá trình chuyển hóa giữa những dạng tồn tại khác nhau của nước. Trước hết, ta hãy xét sơ đồ sau: thể plasma H2O ở thể khí H2O ở thể lỏng H2O ở thể rắn – 273oC 0oC 100oC 550oC to Sơ đồ: các trạng thái tồn tại của nước. Ở ví dụ này, trong mối quan hệ giữa các trạng thái tồn tại của nước ta có thể thấy rằng chất của nước chính là trạng thái tồn tại (rắn, lỏng, khí hay plasma) còn lượng chính là nhiệt độ nước, vận tốc của các phân tử nước. Có thể nhận thấy rõ rằng, trạng thái của nước luôn tương ứng với nhiệt độ của nó. Khi nhiệt độ của nước ở 273oC thì nước ở thể rắn, nhiệt độ có tăng thêm tới 270oC, 250oC hay thậm chí lên tới 10C thì nước vẫn ở thể rắn mà thôi. Cũng trong khoảng nhiệt độ này, vận tốc của các phân tử nước cũng tăng dần theo nhiệt độ của nước nhưng chưa đủ để tạo nên sự thay đổi trong trạng thái tồn tại của nước, tức là mặc dù lượng của nước đã thay đổi nhưng về cơ bản thì chất của nó vẫn được giữ ổn định. Tuy nhiên, Khi nhiệt độ của nước tăng lên đến 0oC và cao hơn nữa thì trạng thái của nước bắt đầu có sự thay đổi, chuyển từ thể rắn sang thể lỏng, tức là về cơ bản, chất của nước đã thay đổi. Quá trình chuyển hóa giữa các dạng của nước cũng diễn ra tương tự ở những nhiệt độ khác nhau. Như vậy, có thể thấy rằng, Khoảng nhiệt độ từ 273oC đến 0oC chính là độ của nước. Đây là khoảng giới hạn mà lượng của nước đựơc tích lũy nhưng không làm thay đổi chất căn bản của nước. Đến 0oC thì sự thay đổi về chất diễn ra, như vậy, 0oC chính là điểm nút mà ở đó, sự tích lũy về lượng của nước đã đủ để làm nó có sự thay đổi về chất. Từ 0oC, nước không còn ở thể rắn nữa mà chuyển hoàn toàn sang thể lỏng, vì vậy, đây chính là bước nhảy của nước trong quá trình chuển từ thể rắn sang thể lỏng. Chất mới được sinh ra lại tiếp tục quay trở lại tác động đến lượng mới, điều này thể hiện ở vận tốc của các phân tử nước ở trạng thái lỏng được tăng lên đáng kể so với trạng thái rắn khi mà nhiệt độ của nước tiếp tục được nâng lên… Tương tự như sự phân tích trên, căn cứ vào sơ đồ ta sẽ có được những độ, những điểm nút (100oC, 550oC) và những chất mới. Quy luật này của nước được thể hiện rõ ràng nhất ở vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên. Ví dụ về nước chỉ là một trong vô vàn ví dụ về quy luật lượng chất trong tự nhiên. Việc nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất to lớn, trước hết, nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thế giới tự nhiên và từ đó đem những gì nhận thức được quay trở lại, cải tạo tự nhiên, phục vụ cho cuộc sống của con người. 2. Quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên. Biển lớn tri thức nhân loại thật bao la vô tận. Con người, bên cạnh việc phát triển về thể xác, tinh thần còn phải luôn tự mình tiếp thu những tri thức của nhân loại, trước hết là để phục vụ cho bản thân. Tri thức tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, do vậy con người có thể tiếp thu nó bằng nhiều cách khác nhau. Quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm diễn ra ở mỗi người khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, khả năng, điều kiện… của mỗi người. Quá trình tích lũy tri thức của con người cũng không nằm ngoài quy luật lượng chất. Bởi vì, dù nhanh hay chậm thì sớm muộn, sự tích lũy về tri thức cũng sẽ làm con người có được sự thay đổi nhất định, tức là có sự biến đổi về chất. Quá trình biến đổi này trong bản thân con người diễn ra vô cùng đa dạng và phong phú, ở ví dụ này chúng tôi chỉ xin giới hạn việc làm rõ quy luật lượng chất thông qua quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên. Là sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập ở các bậc học phổ thông kéo dài trong suốt 12 năm. Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những kĩ năng, những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội. Quá trình tích lũy về lượng (tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ từ phía gia đình, nhà trường mà còn chính từ sự nỗ lực và khả năng của bản thân người học. Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một khối lượng kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập ở nhà. Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì, trước hết là các kì thi học kì và sau đó là kì thi tốt nghiệp. Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt qua các kì thi và chuyển sang một giai đoạn học mới. Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh thì quá trình học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kì thi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất. Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy đủ khối lượng kiến thức và vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quan trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượt qua đó là kì thi đại học. Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng vượt qua được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, việc vượt qua điểm nút này chứng tỏ học sinh đã có sự tích lũy đầy đủ về lượng, tạo nên bước nhảy vọt, mở ra một thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyển thành sinh viên. Cũng giống như ở phổ thông, để có được tấm bằng đại học thì sinh viên cũng phải tích lũy đủ các học phần theo quy định. Tuy nhiên, việc tích lũy kiến thức ở bậc đại học có sự khác biệt về chất so với học phổ thông. sự khác biệt nằm ở chỗ, sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức một cách đơn thuần mà phải tự mình tìm tòi nghiên cứu, dựa trên những kĩ năng mà giảng viên đã cung cấp. Nói cách khác, ở bậc đại học, việc học tập của sinh viên khác hẳn về chất so với học sinh ở phổ thông. Việc tiếp thu tri thức diễn ra dưới nhiều hình thức đa đạng và phong phú, từ cơ bản đến chuyên sâu, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều. Từ sự thay đổi về chất do sự tich lũy vê lượng trước đó (ở bậc học phổ thông) tạo nên, chất mới cũng tác động trở lại.Trên nền tảng mới, trình độ, kết cấu cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng thay đổi, tiếp tục hướng sinh viên lên tầm tri thức cao hơn. Cũng giống như ở bậc học phổ thông, quá trình tích lũy các học phần của sinh viên chính là độ, các kì thi chính là điểm nút và việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy, trong đó bước nhảy quan trọng nhất chính là kì thi tốt nghiệp. Vượt qua kì thi tốt nghiệp lại đưa sinh viên chuyển sang một giai đoạn mới, khác về chât so với giai đoạn trước. Quá trình đó cứ liên tục tiếp diễn, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng ngay trong chính bản thân con người, tạo nên động lực không nhỏ cho sự phát triển của xã hội. Việc nhận thức quy luật lượng chất trong quá trình học tập của học sinh sinh viên có ý nghĩa rất to lớn trong thực tiễn, không chỉ với bản thân người học mà còn rất có ý nghĩa với công tác quản lý và đào tạo. Thực tế tong nhiều năm qua, giáo dục nước ta đã mắc phải nhiều sai lầm trong tư duy quản lý cũng như trong hoạt động đào tạo thực tiễn. Việc chạy theo bệnh thành tích chính là thực tế đáng báo động của nghành giáo dục bởi vì mặc dù sự tích lũy về lượng của học sinh chưa đủ nhưng lại vẫn được “tạo điều kiện” để thực hiện “thành công” bước nhảy, tức là không học mà vẫn đỗ, không học nhưng vẫn có bằng. Kết quả là trong nhiều năm liền, giáo dục nước ta đã cho ra lò những lớp người không “lượng” mà cũng chẳng có “chất”. Xuất phát từ việc nhận thức một cách đúng đắn quy luật trên cho phép chúng ta thực hiện những cải cách quan trọng trong giáo dục. Tiêu biểu là việc chống lại căn bệnh thành tích trong giáo dục vẫn tồn tại hàng thập kỉ qua. Bên cạnh đó là việc thay đổi phương giáo dục ở bậc phổ thông và đào tạo đại học. Việc chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ và cho phép người học được học vượt tiến độ chính là việc áp dụng đúng đắn quy luật lượng chất trong tư duy con người.
Trang 1NỘI DUNG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
3 Quy luật chuyển hóa lượng – chất.
4 Quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng quan điểm toàn diện
Trang 21 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước ta hiện nay?
Cơ sở hạ tầng là kết cấu kinh tế đa thành phần trong đó có thành phần kinh tế quốcdoanh, tập thể và nhiều thành kinh tế khác nhau Đây là một kết cấu kinh tế năngđộng, phong phú được phản chiếu trên nền kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏikhách quan là nền kiến trúc thượng tầng cũng phải đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của
cơ sở kinh tế Do đó, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theođịnh hướng xã hội ở nước ta, cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Theo chủ nghĩa Mác- Lê nin,“ Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệbiện chứng không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết địnhkiến trúc thượng tầng Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng
nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.” Vì thế, emxin chọn đề tài “Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”làm đề tài để nghiên cứu
Với trình độ kiến thức còn hạn chế, nên trong bài em còn nhiều sai xót, rất mongthầy cô thông cảm và sửa chữa để giúp em hoàn thiện kiến thức hơn Em xin chânthành cảm ơn!
1 Cơ sở hạ tầng là gì? Kiến trúc thượng tầng là gì?
– Cơ sở hạ tầng (CSHT): là toàn bộ những quan hệ sản xuất (QHSX) hợp thành cơcấu kinh tế của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sởkinh tế của các hiện tượng xã hội CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm nhữngCSHT thống trị, những QHSX tàn dư của xã hội trước và những QHSX là mầmmống của xã hội sau Trong một CSHT có nhiều thành phần kinh tế, nhiều QHSXthì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phầnkinh tế và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướngchung của tòan bộ đời sống kinh tế xã hội Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tínhgiai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống trị quy định Tính chất đối kháng
Trang 3giai cấp và sự xung đột giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trongCSHT.
– Kiến trúc thượng tầng (KTTT): là tòan bộ những quan điểm tư tưởng xã hội,những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thànhtrên một cơ sở hạ tầng nhất định
KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấpthống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chứccủa các giai cấp trung gian Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết địnhtính chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất định Trong đó bộ phậnmạnh nhất của KTTT là nhà nước- công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế
độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giaicấp thống trị mới thống trị được tòan bộ đời sống xã hội
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Mỗi hình thái kinh tế-xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó Do
đó, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mang tính lịch sử cụ thể, giữa chúng cómối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định
2.1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy Giai cấp nào chiếm địa vị thốngtrị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần Quan hệ sảnxuất nào thống trị thì tạo ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng Mâu thuẫntrong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng
Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc kiến trúc thượng tầng: nhà nước,pháp luật, đảng phái chính trị, triết học, đạo đức, đều không thể giải thích từ chính
nó, bởi vì, chúng đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và do cơ
sở hạ tầng quyết định
Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổicăn bản trong kiến trúc thượng tầng Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình tháikinh tế-xã hội và rõ rệt hơn khi chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hìnhthái kinh tế-xã hội khác Sự biến mất của một kiến trúc thượng tầng không diễn ramột cách nhanh chóng, có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng cũ còn tồn tạidai dẳng sau khi cơ sở kinh tế của nó đã bị tiêu diệt Có những yếu tố của kiến trúcthượng tầng cũ được giai cấp cầm quyền mới sử dụng để xây dựng kiến trúc thượngtầng mới
Trang 4Do đó, tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rấtphức tạp trong quá trình chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinhtế-xã hội khác.
2.2 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ởchức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển
cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngcũ
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trịchính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế
Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quantrọng, có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng Nhà nước không chỉ dựa vào hệ tưtưởng mà còn dựa vào chức năng kiểm soát xã hội để tăng cường sức mạnh kinh tếcủa giai cấp thống trị Ăngghen viết: “bạo lực (nghĩa là quyền lực nhà nước) cũng
là một lực lượng kinh tế” Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triếthọc, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng tác động đến cơ sở hạ tầng, nhưng thườngthường phải thông qua nhà nước, pháp luật
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, chỉ có kiến trúc thượng tầng tiến bộ nảy sinhtrong quá trình của cơ sở kinh tế mới – mới phản ánh nhu cầu của sự phát triển kinh
tế, mới có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội Nếu kiến trúc thượng tầng làsản phẩm của cơ sở kinh tế đã lỗi thời thì gây tác dụng kìm hãm sự phát triển kinhtế-xã hội Tất nhiên sự kìm hãm chỉ là tạm thời, sớm muộn nó sẽ bị cách mạng khắcphục
3 Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến thức thượng tầng thuầnnhất và thống nhất Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đối kháng,không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau Hình thức sở hữu bao trùm là sởhữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phốisản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cáchmạng sâu sắc và triệt để, là một giai đoạn lịch sử chuyền tiếp nó.Bởi vì, cơ sở hạtầng mang tính chất quá độ với một kết cấu kinh tế nhiều thành phần đan xen củanhiều loại hình kinh tế xã hội khác nhau Còn kiến trúc thượng tầng có sự đốikháng về tư tưởng và có sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trênlĩnh vực tư tưởng văn hoá
Trang 5Bởi vậy công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới thể chế chính trị là một quá trìnhmang tính cách mạng lâu dài Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm cácthành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước,kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, cùng các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền vớihình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơ cấukinh tế quốc dân thống nhất
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủnghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước phải thực hiệnbiện pháp kinh tế có vai trò quan trọng nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuấtvới hình thức và bước đi thích hợp theo hướng như : kinh tế quốc doanh được củng
cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hútphần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp ,công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọitiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý Cácthành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất vớinhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liênkết và bổ xung cho nhau
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải
sử dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục, trong dó thì biệnpháp kinh tế là quan trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hìnhthức và thích hợp theo hướng kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươnlên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những ngườisản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp, công ty cổ phần pháttriển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát triểnlực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hợp lý
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân
ta Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng
về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột thoát khỏi nỗi nhục của mình là đilàm thuê bị đánh đập, lương ít.Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ : ”xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa , nhànước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo”
Trang 62 Sự khác nhau giữa ba hình thức của chủ nghĩa duy vật
Sự khác nhau giữa ba hình thức của chủ nghĩa duy vật Bài tập cá nhân
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin.
Trong triết học, chủ nghĩa duy vật là một hình thức của thực hữu luận (physicalism)với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng,
về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quảcủa các tương tác vật chất
Cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật để được hìnhthành và phát triển vói ba hình thức cơ bản là: Chủ nghĩa duy vật chất phác, chủnghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời
cổ đại Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giai đoạnnày để lý giải toàn bộ sự hình thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất
cụ thể, cảm tính, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới
– Ưu điểm: Lấy giới tự nhiên để giải thích giới tự nhên, không viện đến thần linhhay Thượng Đế
– Hạn chế: Những lý giải về thế giới còn mang nặng tính trực quan nên những kếtluận về thế giới về cơ bản còn mang tính ngây thơ, chất phác
– Ví dụ: Quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit
Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thểhiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII và đỉnh cao vào thế kỉthứ XVII, XVIII Đây là thời kì mà cơ học cổ điển thu được những thành tựư rực rỡnên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủnghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duysiêu hình, máy móc của cơ học cổ điển Do đó theo quan niệm của chủ nghĩa duyvật siêu hình, thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạonên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảmđơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gây ra
Trang 7– Tích cực: Góp phần không nhỏ vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôngiáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang thời Phục Hưng ởcác nước Tây Âu
– Hạn chế: Chưa phản ứng đúng hiện thực trong mỗi liên hệ phổ biến và sự pháttriển
– Ví dụ: Các quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, doMác và Ănghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỉ XIX, sau đó đượcV.I.Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó
và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biệnchứng, ngay từ khi mới ra đời đ• khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vậtchất phác thời cổ đại, chủ nghĩa siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủnghĩa duy vật Nó là kết quả của quá trình đúc kết, khái quát hoá những tri thức củanhân loại về nhiều lĩnh vực để xây dựng nên hệ thống quan điểm lý luận chung,đồng thời định hướng cho các lực lượng x• hội tiến bộ trong hoạt động nhận thức
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình triét học Mác Lênin, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, nxb Chính trị Quốc gia, HàNội 2009
Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Hội đồng TW chỉ đạo biên soạn giáo trình quốcgia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, nxb CTQG, Hà Nội 1999
Trang 83 Quy luật chuyển hóa lượng – chất
Những vấn đề lý luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại? Quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên?
Trong cuộc sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn màu muôn vẻ, conngười dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của sự vậthiện tượng, từ đó hình thành khái niệm “quy luật” Với tư cách là phạm trù của lýluận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh sựliên hệ của các sự vật, hiện tượng và tính chỉnh thể của chúng
Các quy luật của tự nhiên, xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tínhkhách quan Con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quy luật mà chỉ có thểnhận thức và vận dụng vào thực tế
Quy luật “chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi vềchất và ngược lại” là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó chobiết phương thức của sự vận động và phát triển Việc nhận thức quy luật này có ýnghĩa to lớn trong thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng Nếu nhậnthức không đúng quy luật này dễ dẫn đến hiện tượng “tả khuynh” hoặc “hữukhuynh” “Tả khuynh” có thể hiểu là tư tưởng chủ quan nóng vội, muốn sớm có sựthay đổi về lượng nhưng lại không tính đến việc tích lũy về chất “Hữu khuynh” là
tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện “bước nhảy” (sự thay đổi về chất)khi đã có sự tích lũy đủ về lượng
Với bài tiểu luận này, chúng tôi mong muốn tiếp cận và làm sáng tỏ phần nào nộidung và ý nghĩa của quy luật quan trọng này và từ đó rút ra được những bài học bổích trong học tập và cuộc sống
Bằng việc tiếp cận vấn đề thông qua việc làm sáng tỏ ba ví dụ cụa thể trong thực tế,chúng tôi mong muốn có thể cung cấp cho người đọc cách nhìn nhận dễ dàng vàchân thực nhất về quy luật này Với kiến thức triết học của bản thân còn rất hạn chếnên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự ghóp ýcủa thầy cô và các bạn
1 Những vấn đề lý luận của quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
Trang 91.1 Một số khái niệm
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất là phạm trù triết học dùng
để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ nhữngthuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác Lượng là phạm trù triếthọc dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ,nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật
Lượng và chất là hai mặt cơ bản của mọi sự vật hiện tượng Trong bản thân sự vậtthì hai mặt này luôn tác động qua lại, ở nột mức độ nào đó, làm cho sự vật pháttriển Khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng trong sự vật chưa đủ làm thayđổi căn bản chất của sự vật được gọi là độ Chỉ trong trường hợp khi sự thay đổi vềlượng đạt tới mức đủ để dẫn tới sự thay đổi về chất thì độ bị phá vỡ và sự vật pháttriển sang một giai đoạn mới, khác hẳn về chất
Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều vận động và phát triển không ngừng Việctích lũy về lượng cũng chính là một trong những cách vận động của sự vật Vì thế,
dù nhanh hay chậm, sớm hay muộn thì việc tích lũy về lượng của sự vật cũng sẽđến một giới hạn mà ở đó làm cho chất của sự vật thay đổi về căn bản Thời điểm
mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ để làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểmnút Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi là bướcnhảy
1.2 Nội dung quy luật.
Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội cũng như sự phát triển nhận thức trong tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng khi vượt qua giới hạn về độ tới điểm nút thì gây ra sự thay đổi cơ bản về chất, làm cho sự vật, hiện tượng phát triển cao hơn hoặc thay thế bằng sự vật , hiện tượng khác Sở
dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ nhưng cũng mang trongmình tính mâu thuẫn vốn có trong sự vật Lượng thì thường xuyên biến đổi còn chất có xu thế ổn định Do đó, lượng phát triển tới một mức nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ, yêu cầu tất yếu là phải thay đổi chất cũ, mở ra một độ mới cho sự phát triển của lượng Sự chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Quy luật này còn diễn ra theo chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời, do sự biến đổi về lượng trước
đó gây nên thì nó lại quay trở lại, tác động đến sự biến đổi của lượng mới Ảnh hưởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới Nội dung của quy luật được phát biểu như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chât của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới
ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới Quá trình tác động đó diễn ra liêntục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi
Trang 10Như chúng ta đã biết, quy luật về sự thay đổi của lượng dẫn đến sự thay đổi về chât
và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản chủa chủ nghĩa duy vật biện chứng Nội dung của nó không chỉ giới hạn trong một hay một số lĩnh vực cụ thể mà bao trùm lên mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người
Trước hết, ta hãy xét ví dụ về sự chuyển hóa thành các dạng tồn tại khác nhau của nước Nước (ở đây chỉ xét nước tinh khiết) xét trên phương diện cấu tạo hóa học là một hợp chất được cấu tạo nên bởi hai nguyên tố là hiđro và oxi Nước có công thức cấu tạo hóa học là H2O Ở điều kiện bình thường nước tồn tại ở dạng lỏng nhưng ở những điều kiện đặc biệt, nước còn có thể tồn tại ở những dạng khác như rắn, khí hay plasma Quy luật lượng chất thể hiện rõ nhất trong quá trình chuyển hóa giữa những dạng tồn tại khác nhau của nước Trước hết, ta hãy xét sơ đồ sau: thể plasma H2O ở thể khí H2O ở thể lỏng H2O ở thể rắn – 273oC 0oC 100oC 550oC to Sơ đồ: các trạng thái tồn tại của nước Ở ví dụ này, trong mối quan hệ giữa các trạng thái tồn tại của nước ta có thể thấy rằng chất của nước chính là trạng thái tồn tại (rắn, lỏng, khí hay plasma) còn lượng chính là nhiệt độ nước, vận tốc của các phân tử nước
Có thể nhận thấy rõ rằng, trạng thái của nước luôn tương ứng với nhiệt độ của nó Khi nhiệt độ của nước ở -273oC thì nước ở thể rắn, nhiệt độ có tăng thêm tới -270oC, 250oC hay thậm chí lên tới -10C thì nước vẫn ở thể rắn mà thôi Cũng trong khoảng nhiệt độ này, vận tốc của các phân tử nước cũng tăng dần theo nhiệt
độ của nước nhưng chưa đủ để tạo nên sự thay đổi trong trạng thái tồn tại của nước,tức là mặc dù lượng của nước đã thay đổi nhưng về cơ bản thì chất của nó vẫn đượcgiữ ổn định Tuy nhiên, Khi nhiệt độ của nước tăng lên đến 0oC và cao hơn nữa thì trạng thái của nước bắt đầu có sự thay đổi, chuyển từ thể rắn sang thể lỏng, tức là
về cơ bản, chất của nước đã thay đổi Quá trình chuyển hóa giữa các dạng của nướccũng diễn ra tương tự ở những nhiệt độ khác nhau
Như vậy, có thể thấy rằng, Khoảng nhiệt độ từ -273oC đến 0oC chính là độ của nước Đây là khoảng giới hạn mà lượng của nước đựơc tích lũy nhưng không làm thay đổi chất căn bản của nước Đến 0oC thì sự thay đổi về chất diễn ra, như vậy, 0oC chính là điểm nút mà ở đó, sự tích lũy về lượng của nước đã đủ để làm nó có
sự thay đổi về chất Từ 0oC, nước không còn ở thể rắn nữa mà chuyển hoàn toàn sang thể lỏng, vì vậy, đây chính là bước nhảy của nước trong quá trình chuển từ thểrắn sang thể lỏng Chất mới được sinh ra lại tiếp tục quay trở lại tác động đến lượng mới, điều này thể hiện ở vận tốc của các phân tử nước ở trạng thái lỏng đượctăng lên đáng kể so với trạng thái rắn khi mà nhiệt độ của nước tiếp tục được nâng lên… Tương tự như sự phân tích trên, căn cứ vào sơ đồ ta sẽ có được những độ, những điểm nút (100oC, 550oC) và những chất mới Quy luật này của nước được thể hiện rõ ràng nhất ở vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
Ví dụ về nước chỉ là một trong vô vàn ví dụ về quy luật lượng chất trong tự nhiên Việc nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất to lớn, trước hết, nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thế giới tự nhiên và từ đó đem
Trang 11những gì nhận thức được quay trở lại, cải tạo tự nhiên, phục vụ cho cuộc sống của con người.
2 Quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn
luyện của học sinh, sinh viên.
Biển lớn tri thức nhân loại thật bao la vô tận Con người, bên cạnh việc phát triển
về thể xác, tinh thần còn phải luôn tự mình tiếp thu những tri thức của nhân loại, trước hết là để phục vụ cho bản thân Tri thức tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng
và phong phú, do vậy con người có thể tiếp thu nó bằng nhiều cách khác nhau Quátrình tích lũy tri thức, kinh nghiệm diễn ra ở mỗi người khác nhau là khác nhau, tùythuộc vào mục đích, khả năng, điều kiện… của mỗi người Quá trình tích lũy tri thức của con người cũng không nằm ngoài quy luật lượng chất Bởi vì, dù nhanh hay chậm thì sớm muộn, sự tích lũy về tri thức cũng sẽ làm con người có được sự thay đổi nhất định, tức là có sự biến đổi về chất Quá trình biến đổi này trong bản thân con người diễn ra vô cùng đa dạng và phong phú, ở ví dụ này chúng tôi chỉ xingiới hạn việc làm rõ quy luật lượng chất thông qua quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên
Là sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập ở các bậc học phổ thông kéo dài trong suốt 12 năm Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản làkhoa học tự nhiên và khoa học xã hội Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị chomình những kĩ năng, những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội Quá trình tích lũy về lượng (tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ từ phía gia đình, nhà trường mà còn chính từ sự nỗ lực và khả năng của bản thân người học Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một khối lượng kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập ở nhà Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các
kì, trước hết là các kì thi học kì và sau đó là kì thi tốt nghiệp Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt qua các kì thi và chuyển sang một giai đoạn học mới Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình học tập, rèn luyện củahọc sinh thì quá trình học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kì thi chính là điểmnút, việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất
Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy đủ khối lượng kiến thức và vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quan trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượt qua đó
là kì thi đại học Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng vượt qua được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, việc vượt qua điểm nút này chứng tỏ học sinh đã có sự tích lũy đầy đủ về lượng, tạo nên bướcnhảy vọt, mở ra một thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyển thành sinh viên
Trang 12Cũng giống như ở phổ thông, để có được tấm bằng đại học thì sinh viên cũng phải tích lũy đủ các học phần theo quy định Tuy nhiên, việc tích lũy kiến thức ở bậc đạihọc có sự khác biệt về chất so với học phổ thông sự khác biệt nằm ở chỗ, sinh viênkhông chỉ tiếp thu kiến thức một cách đơn thuần mà phải tự mình tìm tòi nghiên cứu, dựa trên những kĩ năng mà giảng viên đã cung cấp Nói cách khác, ở bậc đại học, việc học tập của sinh viên khác hẳn về chất so với học sinh ở phổ thông Việc tiếp thu tri thức diễn ra dưới nhiều hình thức đa đạng và phong phú, từ cơ bản đến chuyên sâu, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều Từ sự thay đổi về chất do sự tich lũy vê lượng trước đó (ở bậc học phổ thông) tạo nên, chất mới cũng tác động trở lại.Trên nền tảng mới, trình độ, kết cấu cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng thay đổi, tiếp tục hướng sinh viên lên tầm tri thức cao hơn Cũng giống như ở bậc học phổ thông, quá trình tích lũy các học phần của sinh viên chính là độ, các kì thi chính là điểm nút và việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy, trong đóbước nhảy quan trọng nhất chính là kì thi tốt nghiệp.
Vượt qua kì thi tốt nghiệp lại đưa sinh viên chuyển sang một giai đoạn mới, khác
về chât so với giai đoạn trước Quá trình đó cứ liên tục tiếp diễn, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng ngay trong chính bản thân con người, tạo nên độnglực không nhỏ cho sự phát triển của xã hội Việc nhận thức quy luật lượng chất trong quá trình học tập của học sinh sinh viên có ý nghĩa rất to lớn trong thực tiễn, không chỉ với bản thân người học mà còn rất có ý nghĩa với công tác quản lý và đào tạo Thực tế tong nhiều năm qua, giáo dục nước ta đã mắc phải nhiều sai lầm trong tư duy quản lý cũng như trong hoạt động đào tạo thực tiễn Việc chạy theo bệnh thành tích chính là thực tế đáng báo động của nghành giáo dục bởi vì mặc dù
sự tích lũy về lượng của học sinh chưa đủ nhưng lại vẫn được “tạo điều kiện” để thực hiện “thành công” bước nhảy, tức là không học mà vẫn đỗ, không học nhưng vẫn có bằng Kết quả là trong nhiều năm liền, giáo dục nước ta đã cho ra lò những lớp người không “lượng” mà cũng chẳng có “chất” Xuất phát từ việc nhận thức một cách đúng đắn quy luật trên cho phép chúng ta thực hiện những cải cách quan trọng trong giáo dục Tiêu biểu là việc chống lại căn bệnh thành tích trong giáo dụcvẫn tồn tại hàng thập kỉ qua Bên cạnh đó là việc thay đổi phương giáo dục ở bậc phổ thông và đào tạo đại học Việc chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ
và cho phép người học được học vượt tiến độ chính là việc áp dụng đúng đắn quy luật lượng chất trong tư duy con người
Trang 134 Quan điểm toàn diện của chủ
nghĩa Mác – Lênin và vận dụng quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác-Lênin? Vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung?
Chúng ta đang sống trong một thời kì mà ở bất cứ nơi đâu trên đất nướcViệt Nam này cũng có thể tiến hành giao dịch thương mại Cứ ngủ dậy gửimột tin nhắn hay rửa mặt dưới nước máy là bạn đã tham gia một giao dịchthương mại Từ cái tăm, đến gói muối nơi nào cũng có người bán, kẻ mua,
cứ có cầu thì nguồn cung sẽ xuất hiện Chỉ cần có tiền là hàng sẽ đượcgiao tới tận nơi nhanh nhất có thể Sản phẩm làm ra có thể dùng hoặc đembán ở bất cứ nơi đâu được giá cao mà không bị bó buộc bởi bất kỳ một luật