1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn học PHẦN dẫn LUẬN NGÔN NGỮ

14 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 560,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hãy phân tích các ví dụ về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong từng ngôn ngữ đề làm rõ sự giống nhau và khác nhau về loại hình của ngôn ngữ này.. Hay có thể hiểu theo cách khác chính là

Trang 1

1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

KHOA VIỆT NAM HỌC

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: DẪN LUẬN NGÔN NGỮ

Sinh viên thực hiện : PHAN NGUYỄN KHÁNH HUYỀN

Mã sinh viên : 20F7510143

Nhóm học phần : NHÓM 16

Giảng viên phụ trách : ĐẶNG DIỄM ĐÔNG

Huế, tháng 6 năm 2021

Trang 2

2

MỤC LỤC PHẦN CÂU HỎI

Câu hỏi 1 ……… trang 3 Câu hỏi 2 ……… trang 3

PHẦN BÀI LÀM

Câu 1 ….……… trang4 – 9

Câu 2 … ……… trang10 – 14

Trang 3

3

PHẦN CÂU HỎI

Câu hỏi 1

Anh/chị hãy kể tên các loại hình ngôn ngữ phổ biến trên thế giới và nêu đặc điểm của từng loại Tiếng Việt và ngoại ngữ anh/chị đang học thuộc loại hình ngôn ngữ nào ? Hãy phân tích các ví dụ về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong từng ngôn ngữ đề làm

rõ sự giống nhau và khác nhau về loại hình của ngôn ngữ này

Câu hỏi 2

Anh/chị hãy nêu các đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của tiếng lóng trong Tiếng Việt Phân tích ví dụ để minh họa

Có nhận định cho rằng việc sử dụng tiếng lóng của giới trẻ ngày nay hay

“ngôn ngữ thời @”, “ngôn ngữ tuổi teen”, “ngôn ngữ mạng” sẽ làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt Anh/chị hãy nêu ý kiến của mình về nhận định này

Trang 4

4

PHẦN BÀI LÀM

Câu 1

1 Các loại hình ngôn ngữ phổ biến và đặc điểm của chúng

Ngôn ngữ là nguồn gốc của sự sống Từ xa xưa, khi con người mới xuất hiện, ngôn ngữ chỉ là những tín hiệu, hành động đơn giản nhất Dần dần con người ngày càng hoàn thiện về trí

óc lẫn hành động của mình, họ biết lao động, tạo ra biết bao thành tựu đáng nể Song song với quá trình phát triển của loài người, ngôn ngữ như một loại phương tiện đặc biệt do chính họ tạo nên Từ những kí hiệu đơn giản này đã trở thành các ngôn ngữ riêng của mỗi quốc gia, tiếng nói riêng của mỗi dân tộc trên thế giới

Cho đến bây giờ, ở một xã hội hiện đại, có biết bao ngôn ngữ trên thế giới, con người đã bắt tay vào nghiên cứu ngôn ngữ như một phần của khoa học Họ bắt đầu phân loại ra các ngôn ngữ theo nguồn gốc như thuộc về vị trí địa lí nào, lịch sử của nơi họ sống ra sao,… Bên cạnh phân loại theo nguồn gốc, người ta còn phân loại theo các loại hình một cách chuyên sâu để dễ dàng phân biệt chúng Vậy phân loại theo loại hình được hiểu như thế nào? Chính là phân loại dựa vào cấu trúc và chức năng của chúng Hay có thể hiểu theo cách khác chính là tổng thể của những đặc điểm hoặc thuộc tính về cấu trúc và chức năng vốn có của một ngôn ngữ, những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thuộc nhóm đó

Có thể chia tất cả các ngôn ngữ trên thế giới thành hai loại hính lớn, đó là các ngôn ngữ

đơn lập và các ngôn ngữ không đơn lập

1.1 Trước hết, ta sẽ tìm hiểu những đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập

o Ví dụ điển hình cho loại hình ngôn ngữ này là tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Thái…

 Đầu tiên, từ không biến đổi hình thái Hình thái của từ, nó không tự chỉ ra mối quan hệ giữa các từ trong câu, không tự chỉ ra chức năng cú pháp của các từ Qua hình thái, tất cả các từ dường như đứng biệt lập một mình Chính vì vậy mà người ta gọi là loại hình này là “đơn lập”

Ta có ví dụ sau: Tôi đi học và Cô ấy đi học Như chúng ta đã thấy, động từ

“học” không hề bị biến đổi hay thể hiện bất cứ chức năng ngữ pháp nào,

“học” dù ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba số ít đều mang một hình thái là

“học” Đó chính là đặc điểm đầu tiên của ngôn ngữ đơn lập

Trang 5

5

 Tiếp theo, ngôn ngữ đơn lập có quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư từ và trật từ từ Hư từ nó không biểu thị ý nghĩa từ vựng mà nó chỉ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp Nó cực kì quan trọng và cần thiết trong hoạt động ngôn ngữ, đặc biệt tiếng Việt là một ngôn ngữ sử

dụng hư từ như một phương thức ngữ pháp chủ yếu Chẳng hạn, với từ sách khi dùng hư từ ta sẽ có “những cuốn sách”, từ ăn thì có “đang ăn” “đã ăn”

“sẽ ăn”,… Còn khi ta đổi trật tự từ liền có nghĩa khác: “cơm cháy”, “cháy

cơm”; “cá kho”, “kho cá”,… Rất nhiều ví dụ khác nữa minh họa cho đặc

điểm này của ngôn ngữ đơn lập

 Tính phân tiết cũng là một trong những đặc tính của ngôn ngữ đơn lập này Các từ đơn tiết là các đơn vị cơ bản của từ vựng Từ ghép, từ phái sinh được tạo nên từ những âm tiết này Do đó, ranh giới những âm tiết này thường trùng với ranh giới của hình vị hình vị không phân biệt với từ và ranh giới giữa đơn vị gọi là từ ghép với cụm từ cũng khó phân biệt

 Đặc điểm cuối cùng của ngôn ngữ này chính là tất cả những từ chỉ hành động, đối tượng, đều không phân biệt về mặt cấu trúc, đều được diễn đạt

bằng các từ không biến đổi chẳng hạn như, đỗ “hành động đỗ xe” và đỗ

“một loạt hạt”

1.2 Bên cạnh ngôn ngữ đơn lập, ta còn có các ngôn ngữ không đơn lập

o Loại hình ngôn ngữ này gồm có: các ngôn ngữ niêm kết (chắp dính), các ngôn ngữ hòa kết (chuyển dạng) và các ngôn ngữ hỗn nhập (hay đa tổng hợp)

o Đầu tiên là ngôn ngữ niêm kết, gồm có tiếng Thổ Nhĩ Kì, các tiếng Ugo – Phần

Lan, tiếng Bantu, Những ngôn ngữ này có các đặc điểm như sau

 Sử dụng rộng rãi các phụ tố để cấu tạo từ biểu thị những mối quan hệ khác nhau, Hình vị các ngôn ngữ này có tính độc lập lớn và mối liên hệ giữa các hình vị không chặt chẽ Chính tố có thể hoạt động độc lập

 Mỗi phụ tố trong các ngôn ngữ chắp dính biểu thị một ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại mỗi ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng một phụ tố Ví dụ trong

tiếng Hàn, hak-gyo “trường học”, dae-hak-gyo “trường đại học” Như vậy thêm phụ tố dae để chỉ trường học nhưng với cấp bậc và quy mô lớn hơn

Trang 6

6

o Thứ hai trong ngôn ngữ không đơn lập là ngôn ngữ hòa kết Loại hình này gồm

các ngôn ngữ như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Hy Lạp,… Loại hình ngôn ngữ gồm

có ba đặc điểm chính

 Có hiện tượng biến đổi của nguyên âm và phụ âm ở trong hình vị, sự biến đổi này mang ý nghĩa ngữ pháp và được gọi là “biến tố bên trong” Ví dụ ở

tiếng Việt, tooth “cái răng” – teeth “những cái răng”,… Bên cạnh đó, ý

nghĩa từ vựng và ngữ pháp trong từ không thể tách riêng ra phần nào là ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp Đấy chính là đặc điểm tiêu biểu mà người ta gọi là ngôn ngữ “hòa kết”

 Ngôn ngữ hào kết cũng có cả các phụ tố Mỗi phụ tố có thể đồng thời mang nhiều ý nghĩa và ngược lại, cùng một ý nghĩa có thể diễn đạt bằng phụ tố khác nhau Đây là đặc điểm đặc trưng nhất mà chúng ta có thể bắt gặp ở những ngôn ngữ này Điển hình là tiếng Pháp, có tận sáu ngôi để chia đối với một động từ, ứng với một ngôi là một phụ tố khác nhau Chẳng hạn,

động từ manger, thêm phụ tố -ons để biểu thị ngôi nous hoặc –ent để chỉ ngôi Ils/Elles

 Ngôn ngữ hòa kết có sự liên kết chặt chẽ vủa các hình vị ở trong từ Mối liên hệ này thể hiện ở chỗ ngay cả chính tố cũng không thể đứng một mình

o Ngoài ra các ngôn ngữ hòa kết còn được chia thành hai dạng là phân tích và tổng

hợp

 Các ngôn ngữ tổng hợp có đặc điểm: những mối quan hệ giữa các từ được biểu hiện bằng các dạng thức của từ

Vì vậy, nó có các cách khác nhau để diễn đạt mối quan hệ giữa các từ trong câu Ngôn ngữ viết Ấn – Âu cổ hay Sla-vơ thuộc dạng ngôn ngữ này

 Ở ngôn ngữ phân tích, mối quan hệ các từ trong câu được thể hiện bằng các

từ phụ trợ và bằng vị trí các từ Các ngôn ngữ chuyển dạng phân tích gồm tiếng Ấn Âu hiện đại như là tiếng Anh, tiếng Pháp,…

o Cuối cùng, các ngôn ngữ hỗn nhập hay đa tổng hợp Đặc điểm của nó là

 Một từ có thể tương ứng với một câu của ngôn ngữ khác Tức là đối tượng hành động, trạng thái hành động không được thể hiện bằng các thành phần câu đặc biệt: tân ngữ, trạng ngữ, như các ngôn ngữ khác, đà được thể hiện bằng các phụ tố khác nhau trong hình thái động từ

Trang 7

7

 Các ngôn ngữ Ấn ở Nam Mĩ và đông nam Xi-bê-ri, là các ngôn ngữ hỗn nhập

 Bên cạnh hình thái hỗn nhập, ngôn ngữ hỗn nhập còn có cả hình thái độc lập Cùng một mối quan hệ có thể vừa được diễn đạt bằng hình thái động từ vừa được diễn đạt bằng những thành phần câu từ trọn vẹn

2 So sánh những điểm giống và khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh

Trước hết, theo như nghiên cứu thì tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn

lập Còn tiếng Anh là ngôn ngữ không đơn lập, cụ thể là ngôn ngữ hòa kết

2.1 Về mặt ngữ âm:

o Như chúng ta đã biết cả tiếng Anh và tiếng Việt đều dùng chung hệ chữ cái La-tinh nên bảng chữ cái cũng như cách phát âm cũng tương tự nhau Hầu hết là các phụ âm, nguyên âm có mặt ở cả hai bảng chữ cái của hai tiếng [a], [b], [m], [n],

o Lấy ví dụ như sau:

/ ɪ /: môi hơi mở rộng sang hai bên, lưỡi hạ thấp

/ p /: lực chặn của 2 môi không mạnh bằng, nhưng hơi thoát ra vẫn mạnh

như vậy Hai môi chặn luồng khí trong miệng, sau đó bật mạnh luồng khí ra

 Đây là hai âm trong bảng chữ cái tiếng Anh và tiếng Việt Có thể thấy rằng

cơ chế để phát âm của hai âm trên gần như là giống nhau về cách vị trí đặt lưỡi, lượng hơi bật ra,

o Tuy nhiên, tiếng Việt không phân biệt âm ngắn hay âm dài như tiếng Anh Có một

số nguyên âm hay phụ âm người ta phân biệt bằng cách bật hơi ra âm ngắn hoặc dài Điển hình là /u/ và /u:/ Âm /u/ ngắn hơi hơn, đọc nhanh, dứt khoát còn /u:/ lại kéo dài ra tròn âm hơn một chút

Do tính chất đơn âm của tiếng Việt nên khi đọc các từ sẽ được đọc rõ và đồng đều,

thường không nhấn trọng âm

 Như câu “Nước là chất lỏng” mỗi từ được đọc rõ ràng như nhau: Nước – là

– chất – lỏng

Ngược lại những từ đa âm tiết thường có một hoặc vài trọng âm Việc đọc đúng trọng âm sẽ quyết định khả năng người khác có nghe hiểu đúng hay không

Trang 8

8

 Nếu nhấn mạnh vào âm tiết đầu sẽ được đọc là /ˈprez.ənt/ là danh từ mang

nghĩa là món quà, hiện tại

 Nếu nhấn mạnh vào âm tiết sau sẽ được đọc là /prɪˈzent/ là động từ mang

nghĩa là giới thiệu, thuyết trình…

o Tiếng Việt có tận 6 thanh điệu khác nhau Ví dụ: ma – má – mà – mạ - mả - mã

o Trong khi tiếng Anh thì không có thanh điệu nhưng lại có trọng âm Khi thanh đổi

trọng âm trong câu sẽ thể hiện sắc thái khác nhau Ví dụ: "Don't come here!", lên

giọng cuối câu sẽ là một câu cảnh báo

2.2 Về mặt từ vựng:

 Tất cả những từ cấu tạo thành câu ở ví dụ trên khi tách riêng biệt đều tự

mang nghĩa Xe là chủ ngữ, đứng đầu câu; đậu là động từ chỉ hành động của con người khi di chuyển một phương tiện giao thông; trước là giới từ chỉ vị trí; sân là danh từ, một khoảng trống trong nhà, trường học,

 Nếu như ở ví dụ đầu tiên, đậu là một động từ đơn giản chỉ hành động nào đó

thì ở câu này đậu là một danh từ, một loại thực phẩm, hay cụ thể hơn là loại hạt thiết yếu cho con người

hiện tượng đồng âm Cụ thể, từ đậu ở ví dụ (1) và ví dụ (2) hoàn toàn hiểu khác nhau

Chúng đồng âm là "đậu" nhưng ví dụ (1) là một động từ chỉ sự dừng lại của một

phương tiện giao thông nhưng ví dụ (2) lại là danh từ, một loại hạt Ngoài ra, trong

tiếng Việt, ta còn có hiện tượng đồng nghĩa Chẳng hạn như hai câu sau đây: “Ông ấy

đã đi rồi” và “Nó chết rồi – con chó – đêm hôm qua”

động vĩnh viến Tuy nhiên, từ đi lại mang một ý nghĩa trang trọng mà lịch sự hơn rất nhiều so với từ chết Bởi trong văn nói, văn viết người ta sẽ tùy thuộc vào đối tượng

và ngữ cảnh để sử dụng từ, đó còn gọi là hiện tượng “nói giảm nói tránh” để giảm bớt

sự đau buồn, ghê rợn cho người đọc, người nghe

tượng trái nghĩa Có thể định nghĩa từ trái nghĩa chính là những từ khác nhau về ngữ

Trang 9

9

âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện các khái niệm tương phản về logic Ví dụ: Trái nghĩa

từ “đi” trong câu Ông ấy đã đi rồi là “sống”, trái nghĩa với “cao” là “thấp”…

tương đồng với tiếng Việt về ý nghĩa của từ và ngữ, cụ thể là các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa và trái nghĩa

 Ví dụ: Hiện tượng đồng âm: rise “tăng lên” – right “bên phải”, I “tôi” – eye

“mắt”, fortune “tài sản” – fortune “vận may”,…

 Hiện tượng đồng nghĩa: fate – destiny “duyên phận”, exactly – accurate

“chính xác”, student – pupil “học sinh”,…

 Hiện tượng trái nghĩa: open “mở” – close “đóng”, big “to” – small “nhỏ”, love “yêu” – hate “ghét”,…

2.3 Về mặt ngữ pháp:

ngữ, số ít hay số nhiều hoặc thì của động từ Ví dụ: Một con mèo – Ba con chó

Như đã thấy, không có bất kì sự biến thể nào giữa hai danh từ mèo và chó

danh từ sẽ biến đổi theo số lượng Ví dụ: I go to school – She goes to school Động từ go thay đổi theo ngôi she và giữ nguyên đối với ngôi thứ nhất số ít

o Tiếng Việt cũng có các thì như tiếng Anh, gồm: quá khứ - hiện tại – tương lai

Nhưng nó không bị biến thể theo thì như tiếng Anh Chỉ cần thêm các hư từ "đã",

"đang", "sẽ" để biểu hiện các thì Ta có ví dụ như Tôi đã ăn cơm – Tôi đang ăn cơm – Tôi sẽ ăn cơm

o Tiếng Anh lại phức tạp hơn rất nhiều, khi mà mỗi ngôi theo các thì lại biến đổi

hoặc thêm trợ động từ như have, been,… với ba thể khẳng định, phủ định và nghi

vấn Đó cũng là một điều khó đối với người học tiếng Anh Lấy ví dụ với thì Hiện

tại Hoàn thành: I have eaten Bun bo Hue – I haven't eaten Bun bo Hue yet – Have you ever eaten Bun bo Hue already?

Câu 2:

1 Các đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của tiếng lóng trong tiếng Việt

Trang 10

10

Có nhiều cách hiểu về tiếng lóng “Tiếng lóng” là ngôn ngữ biến thể, là sự sáng tạo ý nghĩa dựa trên một ngôn ngữ nào đó và chúng không được công nhận ở bất kì ngôn ngữ nào Còn với cách khác, nó được hiểu như là một phương ngữ xã hội, do một nhóm người hoặc một tầng lớp tạo với những kí hiệu, kí tự riêng mà chỉ những người trong tầng lớp đó mới hiểu được Tiếng lóng có thể xuất hiện ở bất kì quốc gia nào trên thế giới Chúng được sử dụng thường xuyên và theo nhiều cách khác nhau Thông thường được hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa

mà họ đã quy ước với nhau từ trước

1.1 Cấu tạo và đặc điểm của tiếng lóng

o Cấp thêm nghĩa mới cho từ ngữ trong vốn từ toàn dân

Hầu hết đều được bắt đầu từ Từ thuần Việt Từ thuần Việt là bộ phận từ vựng cơ bản trong vốn từ tiếng Việt, chỉ tên các sự vật và các hiên tượng tự nhiên xã hội Chúng đã có từ lâu đời, ta có thể nói và hiểu được ý nghĩa của chúng mà không hề

có bất kì sự cản trở nào Cho dù tiếng lóng bắt nguồn từ đâu đi nữa thì nó cũng nằm trong vốn từ của người bản ngữ, được hiểu theo nghĩa gốc hay bóng theo cách của mình Qua khảo sát, người ta thấy được lớp từ này được sử dụng nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông như báo chí,…

 Xét ví dụ sau: “Nhan nhản trên những trang mạng là cuộc “mưa đá” giữa

hai bờ chiến tuyến ném qua ném lại” (2! số 258, ra ngày 17/04/2012)

 “Mưa đá” được định nghĩa là “mưa có hạt đông cứng thành những hạt đá” Tuy nhiên ở đây, người viết đã đặt tiêu đề với từ “mưa đá” như là trung tâm

Nó được hiểu theo nghĩa khác, chỉ những lời “tranh cãi, bình phẩm có ý xúc phạm nhau” Thông thường, mưa đá gây thiệt cho con người về thể xác còn

“mưa đá” lại gây tổn thương trong lòng, về mặt tinh thần

o Biến đổi vỏ ngữ âm Ngoài việc giữ nguyên vỏ âm thanh của từ, tiếng lóng còn có

sự biến đổi về âm, vần và thanh điệu

Ta có ví dụ (1): “Tuyệt vời ông mặt giời nhé! Hiếm có ông bố nào hợp làm tư vấn

tình yêu tình báo như ông bố Thần Nông đâu”

“Đúng là con zai của ta!”

 Sự biến đổi ngữ âm này chỉ thay đổi một bộ phận nào đó của từ Ở hai ví dụ trên đều bị biến đổi từ phụ âm /tr/ thành phụ âm /z/ Nếu viết đúng lại là

“con trai” và “mặt trời” Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi âm này là do bị ảnh hưởng của giọng địa phương Bắc bộ tuy cùng một biến thể nhưng lại

Ngày đăng: 27/08/2021, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w