1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số điểm mới của bộ luật dân sự 2005 về nghĩa vụ dân sự

24 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 110,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự quán triệt các quan điểm của BLDS 2005 Một trong những công việc mang tính quyết định khi xây dựng phápluật nói chung và xây dựng BLDS nói riêng, đó là xác định các quan điểm cơbản cầ

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng pháttriển nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành tạo cơ sở pháp lýcho công cuộc đổi mới đất nước trong đó phải kể đến BLDS năm 1995, cóhiệu lực thi hành ngày 1/7/1996 Thông qua Bộ luật, các quan điểm, chủtrương của Đảng, Nhà nước đã được thể chế thành các quy phạm pháp luật.Đồng thời Bộ luật cũng đã cụ thể hoá các quyền cơ bản của con người tronglĩnh vực dân sự được cụ thể hoá trong Hiến pháp 1992

Sau gần 10 năm áp dụng BLDS đã cho thấy về cơ bản BLDS đã thật sự

đi vào đời sống xã hội Bộ luật đã tạo chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử củacác bên tham gia giao dịch dân sự góp phần đảm bảo công bằng xã hội, antoàn pháp lý cho các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.Qua đó BLDS đã góp phần ổn định và phát triển KT-XH, góp phần đắc lựccho công cuộc đổi mới đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả trênBLDS còn bộc lộ những hạn chế so với yêu cầu hiện nay Nhiều quy địnhtrong BLDS mâu thuẫn, bất cập với các luật khác Ví dụ như quy định vềquyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức và quyền sử dụng đất trong luật dấtđai năm 2003…đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước ta

đã ký nhiều hiệp định thương mại và chuẩn bị gia nhập tổ chức kinh tế thươngmại thế giới (WTO) Trước tình hình đó BLDS 2005 có một số quy định chưathích ứng với điều kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên Vì vậy việc banhành BLDS mới là cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật dân sự, đápứng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước ta và hội nhập kinh tếquốc tế Từ đó xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân

2 Tình hình nghiên cứu

Qua trình nghiên cứu một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa vụdân sự được coi là mô hình thu nhỏ của luật nghĩa vụ dân sự đÓ thấy được

Trang 2

một cách tổng quan những tiến bộ và hạn chế của các quy định pháp luật Và

sự cần thiết bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước tronggiai đoạn hiện nay mà trước đây chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn

đề này

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu tổng quan luật dân sự gồm một số điểm mới củaBLDS 2005 về nghĩa vụ dân sự, nội dung và đề xuất giải pháp để hoàn thiệnBLDS

Đề tài tập trung nghiên cứu một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa

vụ dân sự và trên cơ sở đó đề ra những đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiệnBLDS cho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước

4 Nhiêm vụ của đề tài

Đề tài có nhiệm vụ là tìm ra một số điểm mới và những “lỗ hổng” củangành luật dân sự và nêu ra tính tất yếu phải khắc phục để hoàn thiện hơnnữa BLDS

5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học của đề tài là dựa trên ngành luật dân sự và mô hình thunhỏ của một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa vụ dân sự

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật, phếp biệnchứng duy vật, phân tích tổng hợp…Trong đó phương pháp phân tích làphương pháp chủ đạo nhất

6 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của đề tài.

Những nghiên cứu của đề tài có thể trở thành tư liệu giảng dạy để họctập, nghiên cứu và làm tư liệu nghiên cứu cho các cơ quan

Đề tài chỉ ra được những thành tựu to lớn và hạn chế của BLDS 2005

về nghĩa vụ dân sự Từ đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện tốt BLDS

Trang 3

B NỘI DUNGChương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÒ BLDS 2005 VÀ MỘT SỐ ĐIỂM MỚI

CỦA BỘ LUẬT VỀ NGHĨA VỤ DÂN SỰ

1.1 Quá trình ban hành và sự quán triệt thực hiện quan điểm của BLDS 2005

1.1.1 Quá trình ban hành BLDS 2005

Xuất phát từ vị trí quan trọng của BLDS trong đời sống xã hội nóichung và hệ thống pháp luật nói riêng, trong những năm vừa qua ban soạnthảo BLDS (Sửa đổi) đã tích cực chuẩn bị dự thảo BLDS Dự thảo đã đượcQuốc Hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 10/2004 Uỷ ban thường vụ Quốc Hội

đã tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo BLDS (Sửađổi) nhằm phát huy quyền làm chủ và trí tuệ của toàn dân, bảo đảm tính khảthi và hiệu lực thực tế của bộ luật sau khi ban hành Thực hiện chương trìnhxây dựng pháp luật, pháp lệnh của Quốc Hội, dự thảo BLDS mới đã đượcQuốc Hội thông qua ngày 14/06/2005 tại kỳ họp thứ 7 Bộ luật này đã đượcthay thế BLDS 1995 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006

Đây là Bộ luật lớn nhất của nước ta hiện nay với 34 chương, 7 phần và

777 điều

1.1.2 Sự quán triệt các quan điểm của BLDS 2005

Một trong những công việc mang tính quyết định khi xây dựng phápluật nói chung và xây dựng BLDS nói riêng, đó là xác định các quan điểm cơbản cần phải được thể hiện trong nội dung của đạo luật BLDS 2005 đã quántriệt các quan điểm cơ bản sau đây:

BLDS đã quán triệt và cụ thể hoá các nghị quyết của Đảng trong việc đẩymạnh xây dựng và hoàn thiệ khung pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường

và đổi mới thể chế, thủ tục hành chính tập trung trước hết vào việc tiếp xúc xoá

bỏ những quy định mang nặng tính hành chính, quan liêu, bao cấp, gây phiền hà,

Trang 4

sách nhiễu kìm hãm sự phát triển năng động trong nền kinh tế thị trường, đảmbảo các văn bản pháp luật có nội dung đúng đắn, nhất quán, khả thi.

BLDS 2005 đã cụ thể hoá một số quy định của hiến pháp 1992 trong đó

có điều 15 về “Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sảnxuất, kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu tập thể, sở hữu tư nhântrong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng” Điều 16 về “Cácthành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tếđược sản xuất, kinh doanh trong các ngành nghề mà pháp luật không cấmcùng phát triển, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật”

Việc ban hành BLDS mới nhằm xây dựng Bộ luật chung điều chỉnh cácquan hệ xã hội được xác lập theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoảthuận và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể Theo đó, BLDS quy định địa vịpháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thểkhác, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong cácquan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

BLDS 2005 được ban hành là thực hiện một bước quan trọng phát triểnhoá pháp luật dân sự, khắc phục tình trạng không đầy đủ, tản mạn của phápluật trong lĩnh vực dân sự, các quan hệ dân sự, tạo cơ sở thuận lợi cho việc ápdụng thi hành pháp luật

BLDS 2005 cũng là sự kế thừa và phát triển của pháp luật dân sự củaông cha ta BLDS 1995 và những tinh hoa của pháp luật dân sự trên thÕ giớivận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay

1.2 Những vấn đề lý luận về nghĩa vụ dân sự

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ theo cách hiểu thông thường là những gì mà một ngườiphải làm hoặc không được làm đối với người khác Theo cách hiểu này:

Trang 5

Nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bênphải thực hiện nhừng hành vi nhất định.

Thuật ngữ “nghĩa vụ” được hiểu đầy đủ xét dưới các phương diện sau: Trong đời sống xã hội, chúng ta thường bắt gặp hai loại nghĩa vụ: loạithứ nhất là những xử sự bắt buộc không được đảm bảo bằng pháp luật mà dongười thực hiện hành động theo quan niệm về bổn phận, lương tâm, đạođức… Ví dụ như thờ cúng tổ tiên, cứu giúp người gặp hoạn nạn, khó khăn.Loại thứ hai, là những nghĩa vụ bắt buộc được Nhà nước bảo đảm thực hiệnbằng pháp luật Ví dụ trong quan hệ mua bán hàng hoá, bên mua phải cónghĩa vụ trả tiền cho bên bán còn bên bán có nghĩa vụ giao hàng, ai gây thiệthại về tài sản cho người khác thì phải chịu bồi thường

Trong BLDS 2005, nghĩa vụ dân sự được định nghĩa tại điều 280:

“Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọichung là bªn cã nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiềnhoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việcnhất định vì lợi ích của một hay nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên

có quyền)

Từ định nghĩa về nghĩa vụ dân sự được pháp luật ghi nhận nổi bật lênnhững đặc điểm cơ bản sau:

- Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự vì nó có đầy đủ cả

ba yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung quan hệ

- Nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng được phát sinh từ một sự kiện mà đãđược luật dự liệu tới một hậu quả pháp lý nhất định Đó là những sự kiện làmhình thành một quan hệ và quan hệ này được sự tác động của pháp luật Trong

đó quyền và nghĩa vụ các bên chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo đảmthực hiện vì thế mà nghĩa vụ có đầy đủ cả ba yếu tố là chủ thể, khách thể vànội dung quan hệ

Trang 6

- Các bên chủ thể trong nghĩa vụ luôn luôn được xác định cụ thể Nghĩa

vụ dân sự tồn tại ở trạng thái là một quan hệ pháp luật nên bao giờ cũng làmối quan hệ giữa hai bên chủ thể: Đặc điểm cho thấy nghĩa vụ dân sự hoàntoàn khác với giao dịch dân sự bởi trong nhiều trường hợp giao dịch dân sựkhông phải là một quan hệ pháp luật và trong trường hợp đó, giao dịch dân sựchỉ có một bên chủ thể

Chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ là những người đã được xác định cụthể, có thể họ là người có nghĩa vụ, có thể họ là người có quyền Đặc trưngnày cho thấy quan hệ nghĩa vụ dân sự khác với quan hệ sở hữu Trong quan

hệ sở hữu chỉ xác định được một bên chủ thể

- Trong nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập quyền của bên này

sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược l¹i Bên này có bao nhiêu quyền thì bênkia có bấy nhiêu nghĩa vụ tương ứng Thông thường các chủ thể phải thựchiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, có những trường hợp phápluật quy định người thứ ba phải thực hiện nghĩa vụ đó, ví dụ cha mẹ phải bồithường thay cho con chưa thành niên gây thiệt hại

Quyền dân sự của các chủ thể là một quyền đối nhân Nếu trong quan

hệ pháp luật về sở hữu quyền của chủ thể mang quyền (chủ sở hữu) được thựchiện bằng hành vi của chính mình thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyềncủa bên này lại được thực hiện thông qua hành vi của bên kia Mặt khác, nếuviệc thực hiện quyền trong quan hệ sở hữu là việc người có quyền tác độngtrực tiếp đến vật (vật quyền), thì trong quan hệ nghĩa vụ người mang quyềnkhông tác động trực tíêp đến tài sản của người mang nghĩa vụ Khi ngườimang nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền được sử dụngcác phương thức mà pháp luật cho phép để tác động và yêu cầu người đó thựchiện nghĩa vụ đối với mình (trái quyền)

Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó một bên chủ thể làmột hoặc nhiều người phải làm hoặc không được làm một hoặc một số việc

Trang 7

nhất định vì lợi ích của chủ thể bên kia.Bên phải làm hoặc không được làmnhững công việc được gọi là người có nghĩa vụ (thụ trái) Bên được đượchưởng lợi ích có thể yêu cầu bên kia thực hiện hoặc không thực hiện mộtcông việc nào đó vì quyền lợi của mình được gọi là người có quyền (trái chủ).

Trong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tàisản, một công việc cụ thể nào đó Những tài sản, công việc này chính là đốitượng của việc thực hiện của việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Tuỳ thuộc vàotính chất, nội dung của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó cóthể là một tài sản, một công việc phải làm hoặc một công việc không được làm

Điều 282 đối tượng của nghĩa vụ dân sự:

1 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản, công việc được thựchiện hoặc không được thực hiện

2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể

3 Chỉ những tài sản có thể giao dịch được, những công việc có thể thựchiện được mà pháp luật không cấm, không trái với đạo đức xã hội mới là đốitượng của nghĩa vụ dân sự

Qua đó chúng ta có thể rút ra được những đặc điểm của đối tượngnghĩa vụ:

- Phải đáp ứng được một lợi ích nào đó cho cho chủ thể có quyền.thông thường, lợi ích mà chủ thể hướng tới là một lợi ích vật chất (vật cụ thể,một khoản tiền…) nhưng cũng có thể là một lợi ích tinh thần

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa

vụ dân sự là một vật cụ thể, thì vật đó phải mang đầy đủ các thuộc tính củamột hàng hoá (giá trị và giá trị sử dụng) Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự

là công việc, thì việc phải làm hoặc không được làm phải hướng tới lợi íchcủa người có quyền

- Phải được xác định cụ thể Khi các bên giao kết hợp đồng để xác địnhnghĩa vụ dân sự đối nhau, phải xác định rõ đối tượng của nghĩa vụ là công

Trang 8

việc hay vật gì Trong trường hợp nghĩa vụ được thiết lập theo quy định củapháp luật, thì đối tượng dã được pháp luật quy định rõ trong nội dung củaquan hệ nghĩa vụ đó Ví dụ: Bồi thường thiệt hại do hành vi gây thiệt hại, thìđối tượng của nghĩa vụ có thể là một vật được xác định cụ thể như loại vật, sốlượng, chất lượng… Nếu đối tượng là vật chưa có vào thời điểm nghĩa vụ dân

sự được xác lập, thì phải là nhưng vật được xác định trong tương lai

Trong trường hợp không xác định rõ đối tượng của nghĩa vụ thì phápluật quy định: “Nếu không có thoả thuận về chất lượng thì phải giao vật đóvới chất lượng trung bình” (Điều 289 BLDS)

- Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, mục đích mà các bên muốn đạt được

là một lợi ích vật chất hoặc lợi ích về tinh thần, do vậy đối tượng của nghĩa vụphải thực hiện được Nếu không thực hiện được sẽ ảnh hưởng đến quyền lợicủa các bên Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ dân sự là một công việc thìcông việc đó phải thực hiện được Những việc mà pháp luật cấm giao dịchhoặc những việc nếu làm sẽ trái với đạo đức xã hội không bao giờ được coi làđối tượng của nghĩa vụ dân sự

Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải là những công việc được xác định

và được thực hiên trong thực tế, hoặc là những vật có thực và được phép giaodịch mà bên có nghĩa vụ phải tạo ra hoặc phải chuyển giao

Trang 9

Chương 2

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA BLDS 2005 Về nghĩa vụ dân sự

-đề xuất, giải pháp

2.1 Những điểm mới của BLDS về nghĩa vụ dân sự

Phần thứ ba BLDS 2005 cú 5 chương (từ chương XVII - XXI) 33 mục,

351 điều, từ điều 630 quy định chung về nghĩa vụ dõn sự; trỏch nhiệm dõn sự;hợp đồng dõn sự; một số hợp đồng dõn sự thụng dụng; thực hiện cụng việckhụng cú uỷ quyền; nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu; sử dụng tài sản; được lợi

về tài sản khụng cú căn cứ phỏp luật; trỏch nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng

Trong đề tài này tụi xin đề cập tới những điểm mới trong nghĩa vụ dõn

sự, bao gồm:

- Nghĩa vụ dõn sự và trỏch nhiệm dõn sự

- Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dõn sự

- Chấm dứt nghĩa vụ dõn sự

2.1.1 Nghĩa vụ dõn sự và trỏch nhiệm dõn sự (từ điều 280 đến điều 317)

Được quy định từ Điều 280 đến Điều 317 BLDS 2005

Nhỡn chung cỏc quy định về nghĩa vụ dõn sự và trỏch nhiệm dõn sự thểhiện quan điểm cơ bản đú là người cú nghĩa vụ phải thực hiện nghiờm tỳcnghĩa vụ của mỡnh, nếu vi phạm thỡ phải chịu trỏch nhiệm, nếu gõy thiệt hạithỡ phải bồi thường so với Bộ luật 1995, Bộ luật dõn sự 2005 cú những điểmmới sau:

2.1.1.1 Nghĩa vụ dõn sự

Chế định nghĩa vụ là chế định xuất hiện sau chế định tài sản Điều nàyxuất phỏt từ lớ do phỏp luật về nghĩa vụ đũi hỏi xó hội phải phỏt triển đến mộtmức độ nhất định Trong giai đoạn đầu của xó hội loài người, tồn tại hỡnh thức

tự cung tự cấp, trong đú nhu cầu của con người được đỏp ứng bằng vật chất

Trang 10

do chính mình tạo ra Sau đó, bắt đầu quá trình trao đổi tài sản tạo ra được,trong khi tiền tệ chưa được xác lập làm phương tiện thanh toán chung Tất cảnhững điều đó tất yếu được thể hiện trong pháp luật Trải qua quá trình hìnhthành và phát triển khái niệm nghĩa vụ dân sự không ngừng được đổi mới vàhoàn thiện Trong BLDS 2005, khái niệm nghĩa vụ dân sự được quy định ởĐiều 280, khái niệm này được quy đinh cụ thể hơn khái niệm khái niệm nghĩa

vụ dân sự so với Bộ luật 1995 Điều 280 BLDS 2005 quy định: “nghĩa vụ dân

sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên cónghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ cógiá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợiích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau dây gọi chung là bên có quyền)”

Khái niệm về nghĩa vụ dân sự được quy định trong BLDS cụ thể hơn sovới bộ luật 1995 Theo quy định của BLDS 2005 thì nghĩa vụ dân sự khôngchỉ là việc phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợiích của một hoặc nhiều chủ thể khác mà còn bao gồm cả việc phải chuyểngiao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá khác Việc bổ sung thêm các quy địnhnày dựa trên cơ sở của việc nghiên cứu sâu các vấn đề lí luận về nghĩa vụ cácloại nghĩa vụ thông thường

Nghĩa vụ chuyển giao vật là nghĩa vụ được thực hiện bởi hành vichuyển giao việc chiếm giữ đối với vật, trong đó có thể đồng thời chuyển giaoquyền sở hữu, đây là loại nghĩa vụ thường phát sinh trong quan hệ tặng cho,mua bán, thuê, bảo quản

Nghĩa vụ chuyển giao quyền: Trước đây quyền của một chủ thể thườngđược hiểu là quan hệ riêng giữa người có quyền và người có nghĩa vụ, dần dầnnghĩa vụ càng trở thành một quyền về tài sản có giá trị nên đặc tính chuyểngiao của nó được pháp luật dân sự thừa nhận, tuy nhiên, cũng cần lưu ý việcchuyển giao quyền thực hiện khi đáp ứng được những yêu câu nhất định

Trang 11

Nghĩa vụ trả tiền là nghĩa vụ được thực hiện bởi hành vi thanh toán mộtkhoản tiền nhất định, hay nói cách khác đây là việc chuyển một khoản tiền cógiá trị xác định Nghĩa vụ trả tiền có đặc điểm là chủ thể có tịch biên tài sảncủa chủ thể có nghĩa vụ để thu hồi khoản tiền là đối tượng của nghĩa vụ, việcthực hiện nghĩa vụ phải tính đến hệ số trượt giá trong trường hợp thị trường

có những biến động về giá cả Đây là loại nghĩa vụ rất phổ biến trên thực tế

và có vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực

 Về thực hiện nghĩa vụ trả tiền Điều 290 quy định: nghĩa vụ trả tiềnphải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoảthuận Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi, tiền nợ gốc, trừ trường hợp cóthoả thuận khác

Việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền phải đảm bảo nguyên tắc chung làtrung thực, hợp tác, đúng cam kết, không trái với pháp luật với dạo đức xãhội Nguyên tắc này chi phối toàn bộ nguyên tắc có liên quan đến thực hiệnnghĩa vụ dân sự trong các giao dịch dân sự, thương mại, quan hệ hôn nhân giađình, lao động Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên được thoảthuận về các nội dung cần thiết trong quá trình thực hiện nghĩa vụ dân sự

Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ trảtiền, theo đó bên có nghĩa vụ trả tiền phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn,đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận

So với Bộ luật dân sự năm 1995, điểm mới của quy định về thực hiệnnghĩa vụ trả tiền tại Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 là khoản 2 của điều này đãkhông quy định bắt buộc trong luật đồng tiền thanh toán phải là đồng tiềnViệt Nam mà để cho các văn bản chuyên ngành khác quy định nhằm bảo đảm

sự linh hoạt trong giao dịch dân sự Việc sửa đổi, bổ sung này xuất phát từ hai

lí do: Thứ nhất với vai trò là luật chung điều chỉnh mọi quan hệ xã hội có tínhbình đẳng thoả thuận, Bộ luật dân sự không nên quy định và không cần thiếtquy định một cách quá cứng nhắc là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền phải là

Trang 12

đồng Việt Nam; thứ hai, việc sửa đổi này nhằm bảo đảm tính phù hợp vớithực tế và một số văn bản pháp luật chuyên ngành.

2.1.1.2 Trách nhiệm dân sự (mục 3, chương 17, từ Điều 302 đến Điều 308)

Trong phần này có sự sửa đổi về cách tính lãi trong trường hợp bên cónghĩa vụ chậm tiền trả (khoản 2 Điều 305 BLDS năm 2005), theo đó bênnày phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàngnhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tiền tại thời điểm thanhtoán, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy địnhkhác, vì hiện nay ngân hàng nhà nước không còn quy định về lãi xuúat nợquá hạn nữa

 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định rõ hơn về trách nhiệm bồithường thiệt hại, bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất vàtrách nhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần Trách nhiệm bù đắp về tổn thất vậtchất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền baogồm tổn thất về tài sản,chi phí hợp lí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhậpthực tế bị mất, bị giảm sút BLDS cũng quy định rõ trách nhiệm của ngườigây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sứckhoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì phải bồi thường một khoảntiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại ngoài viẹc phải chấmdứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai Trên cơ sở quy định tại điều

307 BLDS năm 2005, các điều từ 608 đến điều 612 quy định cụ thể về cáchxác định thiệt hại, mức tối đa cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất và bùđắp tổn thất về tinh thần Đây là những quan điểm mới quan trọng tạo điềukiện cho các toà án vận dụng khi giải quyết cấc yêu cầu về bồi thường thiệthại Trước đây BLDS năm 1995 quy định về bồi thường thiệt hại còn mangtính chất chung chung nên trên thực tế gặp rất nhiều vướng mắc, các cơ quan

Ngày đăng: 26/08/2021, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w