1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới của bộ luật dân sự 2015 và sự tác động của nó đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

270 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 270
Dung lượng 24,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

212 11 Trách nhiệm bôi thương thiệt hại ngoài hợp đông và vân đê nâng cao ý thức của các chủ thể trong việc tôn trọng quyền dân sự của chủ thể khác 220 12 Qui định mới vê thừa kê đảm bảo

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •

BÁO CÁO KÉT QUẢ

ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HOC CẤP TRƯỜNG

TÊN ĐẺ TÀI:

VÀ s ự TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN s ự PHÁT TRIỂN

KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : TS Nguyễn Minh Tuấn

Trang 3

PHẦN THÚ NHẤT BÁO CÁO TỎNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u CHUYÊN ĐÊ

1 Tính cẩp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tình hìình nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng, mục tiêu nghiên cứu của đề tài .2

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài .3

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài .3

I Bô luât dân sư 2015 đươc ban hành là nhu cầu tất yếu của thời kỳ• • • • * */ d hội nhập 4

II v ề co* cấu của Bô luât dân sư 5• • •

III Những điểm mói của phần quy định chung .6

1 Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự 6

2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự 7

’ 3 Áp dụng Bộ luật dân sự, áp dụng tập quán và áp dụng tương tự pháp luật .7

4 Bảo vệ quyền dân sự 9

5 Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự .10

5.1.Cá nhân 10

5.2 Pháp nhân 13

6 Giao dịch, đại diện, thời hiệu 14

6.1 Giao d ịc h 14

6.2 Đại diện 16

6.3 Thời hiệu 17

IV Quyền sở hữu và các quyền khác đối vói tài sản .18

4.1 Khái quát quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài s ả n 18

4.2 Chiếm hữu 20

Trang 4

4.4 Quyền bề m ặ t 21

V Những điểm mới của phần quy định chung về nghĩa vụ 22

5.1 Thực hiện nghĩa vụ .22

5.2 Bảo đảm thực hiện nghĩa v ụ 24

5.3 Cầm cố tài sản 29

5.4 Thế chấp tài sản .30

5.5 Bảo lưu quyền sở h ữ u 35

5.6 Bảo lãnh 36

5.7 Cầm giữ tài sản 37

5.8.Trách nhiệm dân s ự 38

5.9 Quy định chung về hợp đ ồ n g 39

5.10 Hợp đồng mua bán tài sả n 43

5.11 Hợp đồng vay tài sản 44

5.12 Họp đồng họp tác .44

V I Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng 45

’ VII Thừa kế 46

V in Pháp luật áp dụng có yếu tố nước ngoài 49

Trang 5

CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN c ứ u

1 Nguyên tăc cơ bản của BLDS đảm bảo quyên tự do, bình đăng

của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự

53

2 Điêm mới của BLDS 2015 vê bảo vệ quyên dân sự và áp dụng

pháp luật bảo vệ quyền dân sự

68

3 Quyên nhân thân của cá nhân trong môi tương quan với quyên

con người, quyền công dân theo qui định của Hiến pháp

89

4 Chê định giám hộ và vân đê bảo vệ người yêu thê trong giao

dịch dân sự

107

5 Địa vị pháp lý của pháp nhân trong các quan hệ dân sự 118

6 Tư cách chủ thê của tô hợp tác, hộ gia đình trong quan hệ

pháp luật dân sự

125

7 Những điêm mới của chê định giao dịch dân sự, đại diện và thời

hiệu có ảnh hưởng lớn đén các giao dịch dân sự và thương mại

149

9 Những điểm mới của phần quy định chung về nghĩa vụ, hợp

đồng và ảnh hưởng của nó đến các giao dịch dân sự thương mại

181

10 Những qui định mới về một số họp đồng cụ thể 212

11 Trách nhiệm bôi thương thiệt hại ngoài hợp đông và vân đê

nâng cao ý thức của các chủ thể trong việc tôn trọng quyền

dân sự của chủ thể khác

220

12 Qui định mới vê thừa kê đảm bảo việc khai thác, sử dụng

tài sản của người thừa kế có hiệu quả hơn trong cơ chế thị

trường

236

13 Quy định mới vê áp dụng pháp luật có yêu tô nước ngoài thê

hiện sự cải cách về lập pháp của Nhà nước ta trong thời kỳ hội

nhập

252

Trang 6

STT Ho và tên •

Học hàm, học vị

Cơ quan công tác

Chuyênđe

1 Vương Thanh Thúy f 'P • A

9 Nguyễn Minh Tuấn

r

r p • /\ ~

Trang 7

ĐBQH Đại biểu Quốc hội

Trang 8

ĐÈ TÀI

CỦA NÓ ĐÉN SỤ PHÁT TRIỂN KINH TÉ, XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC

1 TÍNH CẤP THIÉT CỦA ĐÈ TÀI

Bộ luật dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2017 Đây là Bộ luật dân sự của Nhà nước ta được sủa đổi lần thứ hai để phù hợp với nền kinh tế thị trường

và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tể

Bộ luật dân sự năm 2005 đã phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ dân sự trong mười năm qua, tạo cơ cở pháp lý để cá nhân, pháp nhận thực hiên các quyền, nghĩa vụ dân sự của mình khắc phục được những bất cập, mâu thuẫn của hệ thống pháp luật về tài sản và nhân thân, về nghĩa vụ và hợp đồng BLDS 2005 điều chỉnh tương đổi bao quát các quan hệ dân sự (dân sự, thương mại, lao động, HN&GĐ) Tuy nhiên, qua 10 năm thi hành BLDS biểu

lộ những bất cập cần phải sửa đổi để điều chỉnh các quan hệ, nhân thân, sở

• hữu, giao dịch, hợp đồng, bồi thường thiệt hại phù hợp với cơ chế thị trường

và có tính tương thích với pháp luật các nước trong khu vực và trên thế giới

để phục vụ cho việc hội nhập quốc tế

Bộ luật dân sự năm 2015 đã sửa đổi nội dung các chế định theo nguyên tắc là những nội dung nào mà BLDS 2005 còn thiếu, không phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa cụ thể, hiểu theo nhiều nghĩa trong các điều luật, trong các chế định thì được sửa đổi về cơ bản, tất cả các chương, mục của BLDS 2005 đều có sự sửa đổi, do vậy việc nghiên cứu những quy định mới được bổ sung, những nội dung được sửa đổi của BLDS 2015 là rất cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng các quy định mới đó trong thời gian tới Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu trên chúng tôi lựa chon đề tài:

Những điểm mới của BLDS năm 2015 và sự tác động của nó đến sự phát

triển kinh tế- X H của đất nước.

Trang 9

là những bài báo giới thiệu có tính chất khái quát một sổ điểm mới của BLDS năm 2015.

Đầu năm 2016 Bộ Tư pháp phổi hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA tổ chức tọa đảm tại thành phố Hồ Chí Minh (ngày 06/01/2016) và tại Hà Nội (ngày 26/1/2016) Trong các buổi tọa đàm này các chuyên gia là những người biên tập, nhà khoa học đã trình bày trong báo cáo những điểm mới cơ bản của BLDS 2015 để đại biểu tham dư theo dõi và thảo luận

Bộ luật dân sự năm 2015 là Bộ luật của cơ chế thị trường, cho nên các quy định mới được sửa đổi cần phải điều chỉnh các quan hệ, nhân thân, quan

hệ tài sản trong giao lưu dân sự phù hợp với cơ chế thị trường, tạo hành lang pháp lý an toàn cho các giao dịch dân sự, thương mại phát triển, bảo đảm cho các chủ thể cạnh tranh lành mạnh Vì thế đề tài nghiên cứu những quy định mới trong BLDS 2015 Mặt khác đề tài cũng nghiên cứu các điều kiện kinh tế-

xã hội bị ảnh hưởng bỏi những quy định mới của BLDS

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài làm rõ nội dung của các quy định mới của BLDS 2015 để phục vụ nhu cầu nghiên cứu và học tập của người học Thông qua việc nghiên cún, nếu phát hiện những vấn đề bất cập của quy định mới sẽ đưa ra kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và hoàn chỉnh các quy định đó

Trang 10

4 NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u

Trên cơ sở rà soát toàn bộ các Điều luật của BLDS 2005, Bộ luật dân

sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung tương đối toàn diện về cấu trúc các Phần, Chương, Mục và các Điều luật Vì vậy nội dung nghiên cứu của đề tài là toàn

bộ các quy định mới trong BLDS năm 2015

5 PHƯƠNG PHÁP NGH IÊN cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và để làm rõ nội dung của các vấn đề, điều khoản mới của BLDS, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích nội dung quy định Đe làm rõ điểm mới của BLDS 2015, đề tài sử dụng phương pháp so sánh quy định mới trong BLDS 2015 và quy định cũ của BLDS

2005 Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như tổng hợp, lịch sử dự báo

Trang 11

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI

TÁT YÉU CỦA THỜI KỲ HỘI NHẬP

Qua thực tiễn thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) cho thấy BLDS đã phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân của cá nhân, quan hệ tài sản của pháp nhân trong các quan hệ dân sự, quan hệ thương mại, quan hệ lao động và hôn nhân & gia đình như đã được quy định tại Điều 1 BLDS 2005 BLDS 2005 đã bảo vệ được quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và của Nhà nước, lợi ích công cộng, đảm bảo

sự an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong thời gian qua Qua gần 10 năm thực hiện BLDS 2005, cũng là thời gian mà đất nước ta đã phát triển vượt ngưỡng nước có thu nhập thấp và trở thành nước có thu nhập đạt mức trung bình so với tiêu chuẩn của các nước trên thế giới Đất nước ta có nhiều thay đổi và phát triển kinh tế- xã hội theo sự phát triển kinh tế của thế giới và khu vực và trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập

* quốc tế các dân sự, thương m ại cũng có nhiều thay đổi cần phải điều chỉnh phù họp với cơ chế thị trường Để chuẩn bị cho việc sửa đổi BLDS 2005, Ngày 18/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1322/QĐ- TTg phê duyết kế hoạch tổng kết thi hành BLDS Đe chuẩn bị cho việc sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ Tư pháp đã tổ chức tổng kết thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005 ngàỳ 15/7/20131 Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp đã đánh giá tương đối đầy đủ những thành quả đạt được khi áp dụng BLDS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nhà nước và lợi ích công cộng Mặt khác, Báo cáo tổng kết cũng chỉ ra những điểm hạn chế cơ bản của BLDS 2005 mà cần phải sửa đổi để điều chỉnh quan hệ dân sự phù họp với cơ chế thị trường như BLDS và văn bản hướng dẫn thi hành chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền,

1 Bộ Tư pháp-Báo cáo Tồng kết thi hành BLD S 2005

Trang 12

chưa bảo đảm được tính ổn định, tính hệ thống, tính dự báo, tính minh bạch, tính khái quát cho nên chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Mặt khác, BLDS chưa đáp ứng được vai trò nền tảng, là luật chung cho các luật liên quan Ngoài ra BLDS 2015 còn nhiều quy định mà luật riêng đã điều chỉnh như các giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và một số hợp đồng cụ thể khác V ì những bất cập trên mà cần phải sửa đổi BLDS 2005 để Nhà nước

ta có BLDS phù hợp với cơ chế thị trường và có tính hội nhập quốc tế cao

II về cơ cấu của Bô luât dân sư• • •

Cơ cấu các Phần của BLDS có sửa đổi cơ bản như Phần thứ hai ngoài vật quyền chính là quyền sở hữu, Phần này bổ sung các vật quyền khác đổi với tài sản như quyền hưởng dụng, quyền bề mặt Đây là những quyền tài sản phái sinh từ quyền của chủ sở hữu tài sản Tuy nhiên, khi quy định là một vật quyền thì cho phép chủ thể mang quyền thực hiện quyền của mình độc lập tương đối với chủ sở hữu, các chủ thể mang vật quyền có thể khai thác lợi ích của tài sản một cách có hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và trong sinh hoạt tiêu dùng

Phần nghĩa vụ hợp đồng, Bộ luật dân sự bổ sung hai biện pháp bảo đảm

là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu Những quyền này đã được quy định trong BLDS 2005 Tuy nhiên, BLDS 2005 chỉ quy định nội dung của quyền mà chưa quy định trình tự thủ tục thực hiện và bảo vệ các quyền này dẫn đến hiệu quả điều chỉnh chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập

Trong chương XVI Một số hợp đồng thông dụng BLDS 2015 bổ sung hợp đồng hợp tác Đây là một loại hợp đồng đặc thù trong việc liên kết liên doanh cùng sản xuất, kinh doanh của nhiều cá nhân, doanh nghiệp để thực hiện mục đích kinh tế chung

BLDS 2015 loại bỏ một số chương, mục đã được quy định trong luật riêng như hơp đồng mua bán nhà ở, họp đông thuê nhà ở đã quy định trong

Trang 13

Luật nhà ở Phần quy định về quyền sở hữu trí tuệ loại bở hoàn toàn vì các chế định này thuộc Luật sở hữu trí tuệ

Mục 7 chương XVI- Hợp đồng về quyền sử dụng đất Mục này quy định

về những nội dung cơ bản của hợp đồng về quyền sử dụng đất, còn các hợp đồng cụ thể về quyền sử dụng đất đã điều chỉnh trong Luật đất đai

1 Phạm vi điều chính của Bộ luật dân sự và sự công nhận, bảo hộ• • • • • o • 7 quyền dân sự của Nhà nưóc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự là những quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa các chủ thể Bên cạnh đó các luật riêng cũng điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, vì vậy việc xác định phạm vi điều chỉnh của BLDS có ý nghĩa quan trọng Điều 1 BLDS 2015 không quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ dân sự trong các quan hệ lao động, thương mại, hôn nhân&gia đình như Điều 1 BLDS 2005 Điều 1 BLDS 20015 quy định pham

vi điều chỉnh của BLDS là các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và chịu trách nhiệm dân sự Quy định này có tính bao quát và thể hiện là luật nền cho các luật liên quan, nhằm định hướng để các luật riêng khi quy định những quyền và nghĩa vụ dân sự phải phù hợp với các nguyên tắc của BLDS

Ở Việt Nam, các quyền dân sự của cá nhân và pháp nhân được Nhà nước công nhân và bảo hộ dựa trên các quy định của Hiến pháp và các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về nguyên tắc, quyền dân sự không bị hạn chế, tuy nhiên trong một số trường họp và đối với một số chủ thể nhất định thì có thể bị hạn chế vì

lý do an ninh quốc phòng, an toàn xã hội hoặc vì sức khỏe của cộng đồng Đây là những lý do chính đáng trong những trường hợp đặc biệt thì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng phải được đặt trên lợi cá nhân (Điều 2)

Trang 14

Điều 3 BLDS 2015 quy định những nguyên tắc đặc trưng thể hiện bản chất của quan hệ dân sự như Nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc thể hiện tính chất của quan hệ dân sự như Nguyên tắc tự do, tự nguyện, cam kết thỏa thuận; Nguyên tắc thiện chí, trung thực và các nguyên tắc mang tính pháp chế như Nguyên tắc tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích của người khác; Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự Đây là những nguyên thể hiện trong tất cả các chế định pháp luật dân sự Mặt khác, đây là các nguyên tắc chỉ đạo trong việc áp dụng pháp luật dân sự và trong trường hợp không có quy định của pháp luật thì Thẩm phán dựa vào nguyên tắc này để giải quyết tranh chấp Quy định này tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp về nhân thân về tài sản của cá nhân và đặc biệt giải quyết các tranh chấp về thương mại, lao động kịp thời đảm bảo quyền, lợi ích của người lao động, của các chủ thể sản xuất, kinh doanh.

3 Ảp dụng Bộ luật dân sự, áp dụng tập quán và áp dụng tương tự pháp luật

Điều 4 BLDS 2015 khảng định Bộ luât này là luật chung cho các luật Hên quan Đây là một quy định thể hiện bản chất của BLDS là luật nền cho các luật riêng có điều chỉnh quyền và nghĩa vụ dân sự Các luật riêng khi được sửa đổi hoặc xây dựng mới những nội dung có liên quan đến vấn đề dân

sự thì phải phù hợp với các nguyên tắc của BLDS đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật tư trong nhà nước pháp quyền XHCN Ngoài ra, Điều

4 chỉ dẫn việc áp dụng pháp luật dân sự và luật liên quan và áp dụng Điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên

Điều 5 quy định về những tập quán được áp dụng trong quan hệ dân sự

và nguyên tắc áp dụng tập quán là các bên không có thỏa thuận, pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán Như vậy, việc áp dụng pháp luật, tập quán được thực hiện theo thỏa thuận của các bên, áp dụng theo quy định của pháp luật và sau cùng là áp dụng tập quán nếu tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Trang 15

Điều 6 quy định về áp dụng án lệ và lẽ công bằng Án lệ có thể được hiếu là những nguyên tắc, quy phạm được hình thành và áp dụng trong quá trình xét xử và đưa ra phán quyết của Tòa án Xử theo án lệ là việc tòa cấp dưới vận dụng các phán quyết có từ trước của TANDTC để đưa ra một phán quyết mới tương tự trong một vụ việc tương tự, hay nói cach khác án lệ là những bản án có tính chất làm mẫu do TANDTC ban hành được áp dụng trong những trường hợp không có quy định của pháp luật một cách trực tiếp hoặc có quy định nhưng không áp dụng thống nhất giữa các tòa án, để bảo đảm cùng vụ việc tương tự ở các tóa án cần được xét xử như nhau Trình tự thủ tục ban hành án lệ được quy định trong BLTTDS.

v ề lẽ công bằng thì không có khái niệm cụ thể, tuy nhiên căn cứ vào từng trường họp cụ thể, trong điều kiện nhất định mà chủ thể áp dụng pháp luật sẽ đưa ra quyết định của mình và nhận thấy quyết định đó là hợp tình và hợp lý được xã hội đồng tình Trong BLDS 2015 không đưa ra khái niệm về

lẽ công bằng nhưng Điều 45 Bộ luật TTDS 2015 tại khoản 3 có quy định: “Lẽ

công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về

quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó Quy định về lẽ

công bằng trong BLTTDS là phù hợp, bỏi lẽ khi xét xử thì thẩm phán, hội thẩm nhân dân phải tuân theo trình tự thủ tuc tố tụng Khi lẽ công bằng được

áp dụng sẽ thể hiện trình độ vận dụng pháp luật, sự hiểu biết xã hội và sự công bàng của Thẩm phán Lẽ công bằng thể hiện lẽ phải trong cuộc sống được đa số người trong xã hội thừa nhận, ủng hộ, cho nên khi áp dụng lẽ công bằng để bảo vệ quyền và lọi ích của các bên, thì quyết định, bản án của TA có hiệu lực như áp dụng pháp luật

Quy định về án lệ và lẽ công bằng là một quy định hoàn toàn mới bảo

vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự và đảm bảo mọi

vụ việc dân sự đều được giải quyết triệt để, tránh hiên tượng để vụ, việc dân

sự kéo dài hoặc không xét xử làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi

Trang 16

ích của các bên Mặt khác, quy định này phù hợp với phương thức áp dụng pháp luật của các nước trên thế giới thể hiện tinh thần hội nhập của Việt Nam.

Một điểm mới của BLDS 2015 là những quy định có tính chất định hướng cho các chủ thể khi thực hiện và bảo vệ quyền dân sự trong cơ chế thị trường là phải duy trì bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam (Điều 7) Xét về bản chất thì đây không phải là một quy định bắt buộc để áp dụng giải quyết tranh chấp dân sự Tuy nhiên, quan

hệ dân sự là quan hệ giữa mọi người trong xã hội với nhau thông qua các lợi ích vật chất, lợi ích tình thần, cho nên khi xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự, thì Nhà nước khuyến cáo các chủ thể cần phải xem xét mọi việc một cách toàn diện có tình và có lý

4 Bảo vệ quyền dân sự

Nếu như Điều 9 của BLDS 2005 quy định bảo vệ quyền dân sự là một nguyên tắc chung, thì BLDS 2015 đã quy định về việc bảo vệ quyền dân sự

là một phần của chương II Đây là một khẳng định, một tuyên bố của pháp luật chứ không chỉ thừa nhận là một nguyên tắc Bảo vệ quyền dân là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước liên quan đặc biệt của TAND, Tòa án không

• được từ chối giải quyết vụ việc dân sự, vì lý do không có luật áp dụng (khoản

2 Điều 14) Như vậy trong mọi trường hợp quyền dân sự bi vi phạm thì TA bắt buộc phải bảo vệ cho cá nhân, pháp nhân Quy định này thể hiện tính pháp chế trong thủ tục tổ tụng dân sự và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc bảo

vệ quyền dân sự của các chủ thể

Trường hợp quyền dân sự bị tranh chấp thì việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục tố tụng tại TA hoặc trong tài thương mại Trường hợp pháp luật chưa quy định thì Tòa án không được từ chối giải quyết và áp dụng Điều 5, 6 BLDS để giải quyết Đây là một quy định có tính chất rằng buộc trách nhiệm của TA trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, pháp nhân Mặt khác quy này đảm bảo mọi vụ việc dân sự đều phải giải quyết dứt điểm tránh kéo dài nhiều năm gây tổn thất về vật chất và tinh thần cho các đương sự (Điều 14)

Trang 17

5 Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

5.1 Cá nhân

5.1.1 Năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Cá nhân là chủ thể của hầu hết các quan hệ pháp luật nói chung và quan

hệ dân sự nói riêng, vì thế địa vị pháp lý của cá nhân trong quan hệ dân sự cần được quy định cụ thể làm cơ sở để thực hiện và bảo vệ quyền dân sự của cá nhân BLDS 2015 không quy định về các mức độ năng lực hành vi mà quy định người thành niên từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Điều 20) trừ trường người khó khăn về nhận thức làm chủ hành vi và người bị hạn chế NLHVDS và người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Quy định này nhằm tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện tốt quyền dân sự của mình và phù hợp với thực tiễn cuộc sống

Khoản 4 Điều 21 quy định những người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi không trực tiếp tham gia giao dịch có đối tượng là bất động sản và động sản phải đăng ký Đây là một quy định cụ thể về loại giao dịch mà người chưa thành niên không đươc tham gia làm cơ sở xác định hiệu lực của giao dịch

Điều 23 quy định về người có khó khăn về nhận thức, làm chủ hành vi

• nhưng chưa đến mức mất NLHV có thể bị TA tuyên bố về tình trạng pháp lý của người đó để xác lập giám hộ nhàm xác lập, thực hiện giao dịch và bảo vệ quyền dân sự của cá nhân trong tình trạng nhận thức có khó khăn

5.1.2 Quyền nhăn thân của cả nhân.

Trong Tuyên ngôn quyền con người năm 1948 của Liên Hiệp quốc có

nghi nhận : Quyền con người là quyền bẩm sinh vốn có, bình đẳng với tất cả

mọi người Nó không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện bởi bất cứ ai, Nhà nước nào, nó không thế phân chia và hạn chế bất cứ một phần hay toàn bộ các quyền con người nào.

Quyền con người là quyền tự nhiên, khi con người sinh ra đã có các quyền tự nhiên đó như quyền được sống, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc không một cá nhân, tổ chức, Nhà nước nào được phép tước đoạt, hay hạn chế quyền con người Ở Việt Nam, quyền con người được Hiến pháp 2013 ghi

Trang 18

nhận và bảo hộ (Điều 19,20,21) Quyền con người có liên hệ với quyền công dân và quyền dân sư.

Quyền con người là những quyền tự nhiên vốn có của con người nó tồn tại khi con người sinh ra và chấm dứt khi con người chết Quyền công dân cũng là quyền của con người nhưng việc thực hiện các quyền này gắn với trách nhiệm của cá nhân đối với nhà nước và được nhà nước bảo hộ Đẻ thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền công dân, thì các ngành luật quy định và bảo vệ quyền của công dân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật đó Pháp luật dân sự điều chỉnh các quyền nhân thân của cá nhân được thực hiện trong các giao lưu dân sự nhằm xác định tư cách chủ thể, địa

vị pháp lý của cá nhân trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân

Mục quyền nhân thân (của cá nhân) được BLDS 2015 quy định từ Điều

25 đến Điều 39 BLDS 2015 Quyền nhân thân trong quan hệ dân sự là các quyền gắn với cá nhân xác định tư cách chủ thể, nội dung quyền của cá nhân đối với các giá trị tình thần Khi tham gia vào quan hệ dân sự các chủ thể cần được cá thể hóa bằng tên, tuổi, dân tộc hoặc được xác định qua hình ảnh BLDS 2005 quy định nhiều quyền nhân thân thuộc về quyền công dân như

• quyền lao động, học tập BLDS 2015 quy định các quyền nhân thân có tính chất định danh cá nhân Những quyền nhân thân liên quan đến quyền con người, quyền công dân do các luật riêng điều chỉnh

Ngày nay phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh mẽ đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội đã tạo điều kiện cho cá nhân giao lưu, trao đổi thông tín, hình ảnh một cách rễ ràng Nhờ có sự phát triển của báo điện tử, mạng xã hội mà các doanh nghiệp quảng cáo hàng hóa, dịch vụ một cách hiệu quả Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường thì hình ảnh của cá nhân có thể được

sử dụng trong hoạt động thương mại như quảng cáo Để bảo vệ quyền đối với hình ảnh trong thương mại, BLDS bố sung quy định khi sử dụng hình ảnh trong thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh (khoản lĐiều 32) Như vậy, cá nhân có thể cho người khác chụp ảnh, ghi hình của mình trong các tác phẩm báo chí mà không phải trả thù lao Tuy nhiên nếu tác giả, chủ sở

Trang 19

hữu quyền tác giả sử dụng hình ảnh đó trong thương mại thì buộc phả trả thù lao cho người có ảnh Tiền thù lao do các bên thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được TA sẽ quyết định trên cơ sở lẽ công bằng hoặc án lệ.

Trong các quyền nhân thân, BLDS 2015 bổ sung quyền chuyển đổi giới tính (Điều 37) Đây là quyền con người, tuy nhiên BLDS đã công nhận là một quyền dân sự, tạo điều kiện cho cá nhân sổng đúng với nguyện vọng của cá nhân và thực hiện các quyền nhân khác được thuận lợi và phù hợp với thực tế

đã diễn ra ở Việt Nam trong những năm qua Trình tự thủ tục thay đổi giới tính thực hiện theo quy định của pháp luật Đe cá nhân thực hiên quyền thay đổi giới tính thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải ban hành văn bản pháp quy về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc thay đổi giới tính

Một bổ sung quan trong của BLDS 2015 là quyền về đời sống riêng tư (Điều 39) BLDS 2005 quy định về quyền đối với bí mật đời tư (Điều 38 BLDS 2005) Điều 39 BLDS 2015 bổ sung quyền về cuộc sống riêng tư của

cá nhân, bí mật của gia đình Trong thực tiễn cuộc sống riêng tư của cá nhân,

bí mật gia đình của những người nổi tiếng, người có chức quyền trong xã hội, hoặc những người thân trong các vụ án m ạng hay bị giới báo chí nhòm ngó

• để khêu sự tò mò của đọc giả, khán thính giả nhằm mục đích câu khách đã gây ra những hậu quả không tốt cho một số cá nhân, gia đình Vì vậy bảo vệ quyền riêng tư là một nhu cầu cấp thiết trong xã hội mà môi trường kỹ thuật

số phát triển quá nhanh

Quyền riêng tư là quyền của các cá nhân được phép bảo vệ những thông tin, tư liệu, dữ liệu, các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình và các thông tin, sự kiện khác liên quan với cuộc sống riêng tư của cá nhân, của gia đình Không ai được phép công bố những thông tin, sự kiên đó trừ khi cá nhân đó đồng ý hoăc pháp luật có quy định

Bí mật của gia đình là những sự kiện liên quan đến các thành viên gia đình, mà những người trong gia đình dùng các biện pháp cần thiết đề giấu kín, không cho người ngoài gia đình biết Khi bí mật của gia đình bị tiết lộ có thể làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các thành viên hoặc làm tổn thương về tinh

Trang 20

thần thành viên trong gia đình Vì vậy BLDS quy định quyền riêng tư, bí mât

cá nhân, gia đình là quyền nhân thân thuộc về cá nhân và thành viên gia đình, cho nên khi các quyền này bị xâm phạm, cá nhân, thành viên gia đình có quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền dân sự theo quy định tại Điều 11 BLDS 2015 (Đ iều 38)

5.1.3 Giảm hô

Giám hộ là chế định trợ tá nhằm giúp cho người được giám hộ thực hiện tốt các quyền dân sự và bảo vệ quyền và lợi ích của người được giám hộ một cách hiệu quả Người được giám hộ là người chưa hoàn thiện về trí tuệ hoặc không khả năng nhận thức được hành vi của mình BLDS 2015 quy định người có đủ NLHVDS có thể chỉ định người giám hộ trong trường hợp lâm vào tình trạng khó khăn về nhận thức hoặc không thể nhận thức được hành vi Quy định này cho phép người có NLHVDS đầy đủ lựa chọn người phù hợp với nguyên vọng đại diện cho mình trong trường hợp lâm vào tính trạng cần thiết có giám hộ ( Điều 48) Trường hợp không có lựa chọn người giám hộ thì việc xác lập giám hộ theo quy định về giám hộ đương nhiên hoặc cử giám hộ Ngoài ra BLDS quy định về điều kiện pháp nhân là giám hộ, giám hộ của

• người có khó khăn về nhận thức, làm chủ hành vi, quy định về đăng ký giám

hộ làm cơ sở xác định quyền và trách nhiệm của người giám hộ

5.2 Pháp nhân

Pháp nhân là một tổ chức được pháp luật công nhận tư cách chủ thể trong các quan hệ pháp luật và đặc biệt trong quan hệ pháp luật dân sự Xác định tư cách chủ thể của một tổ chức là pháp nhân có tầm quan trọng trong việc xác lập, thực hiện quyền dân sự trong các giao dịch và xác định trách nhiệm về tài sản của pháp nhân Đối với những tổ chức không có tư cách pháp nhân thì có thể cử (ủy quyền) cho một cá nhân đại diện cho các thành viên tham gia vào quan hệ dân sự các thành viên phải chịu trách nhiệm dân sự

về hành vi đại diện đó

Quy định có tính đột phá về pháp nhân đó là đại diện của pháp nhân theo Điều 85 và theo k2 Điều 137 Một pháp nhân có thể có một người hoặc

Trang 21

nhiều người đại diện theo pháp luật Quy định này tạo điều kiện cho pháp nhân có nhiều người đại diện để thực hiện các nhiệm vụ của pháp nhân, tạo điều kiện cho pháp nhân chủ động thực hiện các giao dịch một cách thuận lợi, kịp thời, tiết kiệm chi phí, tận dụng được thời cơ kinh doanh để mang lại hiệu quả kinh tế cao.

M ột điểm mới của BLDS 2015 quy định về tư cách chủ thể của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương (Điều 97 đến 100) Nhà nước khảng định các cơ quan của nhà nước có tư cách pháp nhân độc lập, cho nên Nhà nước không chịu trách nhiệm về tài sản của các cơ quan nhà nước và các

cơ quan của nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước không phải chịu trách nhiệm dân sự thay cho nhau Các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương tự chịu trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của các quy định về pháp nhân (Điều 74 đến Điều 96)

6 Giao dich, đai diên, thòi hỉều.

6.1 Giao dich

Phần giao dịch được sửa đổi phù hợp với tính chất của quan hệ dân sự

là tự do tự nguyện, hạn chế việc cơ quan nhà nước can thiệp vào các giao

• dịch, bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, từ đó khuyến khích và tạo điều kiện cho cá nhân, doanh nghiệp yên tâm xác lập, thực hiện giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, nhu cầu sản xuất, kinh doanh

Khi tham gia vào giao dịch, các chủ thể đều mong muốn mục đích của mình sẽ đạt được Tuy nhiên, vì lý do khách quan hoặc chủ quan mà giao dịch

bị vô hiệu hoặc do một bên có lỗi trong việc xác lập giao dịch, hoặc không thực hiện nghĩa vụ làm cho giao dịch vi phạm quy định của pháp luật có thế

bị vô hiệu Đặc biệt Điều 125 bảo vệ quyền và lợi ích của nhóm người yếu thế xác lập thực hiện giao dịch mà không phù hợp với năng lực hành vi dân sự thể hiện như người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người có khó khăn về nhận thức, làm chủ hành vi khi tham gia vào giao dịch mà không phù hợp với NLHVDS nhưng làm phát sinh ra quyền hoặc làm miễn trừ nghĩa vụ dân sự

Trang 22

vẫn có hiệu lực pháp luật Quy định này bảo vệ người yếu thể trước những người có đủ năng lực hành vi dân sự mà do vô ý hoăc cố ý xác lập giao dịch

có khả năng gây thiệt hại cho người yếu thế

Thông thường, việc tham gia vào giao dịch thể hiện ý chí tự do, tự nguyện của các bên Tuy nhiên, có những trường hợp một hoặc hai bên có sự nhầm lẫn trong việc xác lập giao dịch dẫn đến mục đích tham giao dịch không đạt được, cho nên pháp luật cho phép bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu TA tuyên bố giao dịch vô hiệu (khoản 1 Điều 126) Trường hợp một bên bị nhầm lẫn nhưng mục đích của giao dịch đã đạt được thì giao dịch không vô hiệu, bởi lẽ các lợi ích mà bên bị nhầm lẫn đã được đáp ứng đầy đủ, cho nên không cần thiết phải hủy giao dịch đó (khoản 2 Điều 126)

Đe bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân tham gia giao dịch, các quy định về giao dịch vô hiệu đã đảm bảo an toàn pháp lý cho chủ thể bị vi phạm bằng phương thức công nhận giao dịch vi phạm có hiệu lực (Điều 129) hoặc công nhận giao dịch phái sinh từ giao dịch vô hiệu

có hiệu lực pháp luật (Điều 133) Quy định này bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, pháp phân khi giao dịch vô hiệu không phải do lỗi của của bên bị vi

• phạm Mặt khác, trong thực tiễn có những trường hợp chủ sở hữu bất động sản có hành vi vi phạm trong việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu bất động sản, quyền sử dụng đất hoặc do lỗi của cơ quan nhà nước trong việc cấp giấy tờ sở hữu bất động sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cho giao dịch vô hiệu Trường hợp này, giao dịch với người thứ ba có hiệu lực, người mua bất động sản, người nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền đăng ký tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chủ sở hữu, người có quyền chiếm hữu tài sản có quyền yêu cầu chủ thể có lỗi trong giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại

Trường hợp tài sản phải đăng ký nhung chưa được đăng ký mà đã chuyển giao cho người thứ ba thì giao dịch vô hiệu, vì bên chuyển giao chưa

có quyền sở hữu đối với tài sản cho nên không thể định đoạt được Tuy nhiên, khoản 2 Điều 133 quy định nếu người thứ ba nhận được tài sản thông qua bán

Trang 23

đấu giá hoặc thông quan bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch này có hiệu lực pháp luật Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tế, bởi lẽ người nhận được tài sản tin tưởng vào cơ quan có thẩm quyền để xác lập giao dịch, cho nên nhà nước cần phải bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba ngay tình trong các giao dịch trên.

6.2 Đai diên• •

BLDS 2015 đã sửa đổi một sổ quy định về đại diện để bảo đảm quyền đại diện và quyền được đại diện của cá nhân, pháp nhân trong các giao dịch dân sự bảo đảm tính minh bạch và thuận tiện cho các chủ thể xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trong quan hệ dân sự, thương mại Những nội dung sửa đổi hạn chế rủi ro pháp lý, bảo vệ quyền của người những người yếu thế trong tổ tụng dân sự và người ngay tình trong giao dịch dân sự, tạo điều kiện cho pháp nhân có nhiều đại điện để thực hiện các giao dịch được thuận lợi

Điểm c khoản 1 Điều 137 bổ sung người đại diện theo pháp luật do Tòa

án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án Quy định này phù hợp với thực tiễn trong trường hợp người chưa thành niên, người không có NLHVDS

• không có người đại diện khi tham gia tố tụng thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích cho những người đó

Khoản 2 Điều 137 quy định một pháp nhân có thể có nhiều đại diện theo pháp luật Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể chỉ định nhiều người đại điện trong Điều lệ của mình để thực hiện các giao dịch phù hợp với chuyên môn, trách nhiệm của người đại diện hoặc thực hiện các giao dịch ở nhiều địa phương khác nhau Trường hợp này tiết kiệm được thời gian, chi phí của doanh nghiệp và tạo ra cơ hội kinh doanh nhanh chóng, thuận lợi

Điều 140 quy định về thời hạn đại diện, đây là một quy định mới nhằm xác định giá trị pháp lý của hành vi đại diện Thời hạn đại điện xác định theo văn bản ủy quyền, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều lệ của pháp nhân hay theo pháp luật quy định Trường hợp thời hạn không được

Trang 24

xác định thì thời hạn sẽ xác định theo thời hạn của giao dịch cụ the mà người đại diện tham gia và nếu không xác định giao dịch cụ thể mà người đại diện

sẽ tham gia thì thời hạn đại diện là 1 năm

Ngoài những điểm cơ bản trên được bổ sung trong Chương đại diện, BLDS 2015 bổ sung điểm c khoản 1 Điều 142 Hậu quả của giao dịch dân sự

do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Đối với những giao dịch

do người không có quyền đại diện xác lập thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện Tuy nhiên, nếu người được đại diện có lỗi làm cho người thứ ba xác lập giao dịch với người không có quyền đại diện thì người được đại diện phải chịu trách nhiệm về hành vi đại diện Đây là quy định rằng buộc trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong trường hợp để cá nhân, pháp nhân khác lợi dụng danh nghĩa của mình để trục lợi gây tổn hại cho người thứ ba ngay tình Thực tiễn cho thấy trong cơ chế thị trường có những

cá nhân, doanh nghiệp vì lợi nhuận cho nên đã dùng mọi chiêu trò lợi dụng uy tín, ảnh hưởng của cá nhân, doanh nghiệp để lừa dối khách hàng, vì thế khi tham gia vào quan hệ thương mại đặc biệt giao dịch về bất động sản các chủ thể phải tìm hiểu kỹ đối tác trước khi quyết định ký hợp đồng để tránh rủi ro

• xảy ra

6.3 Thòi hiệu

Các quy định về thời hiệu trong BLDS 2015 kế thừa về thời hiệu của BLDS 2005 Tuy nhiên, cách tiếp cận của BLDS 2015 hoàn toàn mới phù hợp với bản chất của các quan hệ dân sự là tự do, tự nguyện, tự định đoạt BLDS

2005 quy định về thời hiệu là căn cứ Tòa án bác quyền hoặc miễn trừ nghĩa

vụ cho các bên Thay vào đó BLDS 2015 quy định về thời hiệu để các bên có thể dựa các loại thời hiệu để chống lại quyền lợi của bên kia, có nghĩa là nếu quan hệ dân sự đã hết thời hiệu mà các bên không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu thì Tòa án sẽ căn cứ vào nội dung vụ việc để giải quyết tranh chấp Ngược lại, nếu một bên yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc thì TA sẽ căn cứ vào quy định

TF

' - 1 A ^

Trang 25

về thời hiệu để bác quyền yêu cầu của bên kia hoặc đình chỉ vụ việc dân sự ( k2 Điều 149).

Một sự tiến bộ của BLDS 2015 về thời hiệu hưởng quyền dân sự là thể hiện sự bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ dân sự, quyền lợi của cá nhân, pháp nhân, của nhà nước được tôn trong như nhau, vì thế Điều 152 bỏ khoản 2 không áp dụng thời hiệu hưởng quyền dân sự đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước và không áp dụng thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đối với nhà nước hay nói cách khác các chủ thể đều bình đẳng trong việc áp dụng thời hiệu hưởng quyền và miễn trừ nghĩa vụ dân sự

IV Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản ( vật quyền) 4.1 Khái quát quyền sở hữu và các quyền khác đối vói tài sản

Quyền sở hữu là một chế định quan trọng mang tính truyền thống của

hệ thống pháp luật dân sự của các nước Chế định sở hữu điều chỉnh các quan

hệ sở hữu của các chủ thể trong xã hội, là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cá nhân, pháp nhân, của nhà nước và của cộng đồng Tuy nhiên, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội mà pháp luật của mồi nước quy định về đối tượng, nội dung của quyền sở hữu có những

Trang 26

Sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu đặc thù, thể hiện toàn bộ tài sản quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 của toàn dân do Nhà nước đại diện quản

lý Nhà nước thay mặt nhân dân trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật để thực hiện quyền sở hữu của nhân dân

Sở hữu riêng là sở hữu của một chủ the trong quan hệ pháp luật dân sự gồm cá nhân, pháp nhân Tài sản thuộc sở hữu riêng do chính chủ thể sử dụng

và định đoạt Khi hai hay nhiều chủ thể cùng có tài sản do góp vốn, được tặng cho, thừa kế thì xác lập sở hữu chung của các chủ thể đó Các chủ sở hữu chung cùng thỏa thuận hoặc trên cơ sở pháp luật quy định để sử dụng, định đoạt tài sản chung

BLDS 2005 quy định quyền sở hữu là quyền tuyệt đối của chủ sở hữu, chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình, các quyền của những người không phải là chủ sở hữu hoàn toàn phụ thuộc vào chủ sở hữu Quy định này chịu ảnh hưởng của cơ chế bao cấp coi trọng quyền của chủ sở hữu tài sản, còn quyền của những người khác đối với tài sản của chủ sở hữu chưa được tôn trọng, vì thế không khuyến khích chủ thể khác đầu tư vào tài sản của chủ sở hữu hay nói cách khác khi pháp luật tôn trọng tuyệt đối quyền của chủ

• sở hữu, thì sẽ hạn chế việc đầu tư, khai thác tài sản của những người khác, không khuyến khích chủ thể khác đầu tư về kỹ thuật, công nghệ, tài chính để khai thác tài sản một cách hiệu quả mang lại lợi ích cho chủ sở hữu và cho người sử dụng

Trong cơ chế thị trường cá nhân, doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất, kinh doanh thì cần phải có tài sản và có quyền độc lập với tài sản của mình Tài sản có thể thuộc quyền sở hữu hoặc tài sản của người khác nhưng chủ thể kinh doanh phải có quyền định đoạt đổi với tài sản Tính độc lập về tài sản của chủ thể kinh doanh, của pháp nhân cần phải được thế hiện bằng cơ chế pháp lý Cụ thể là thông qua các quy định về quyền đổi với tài sản (vật quyền), cá nhân, pháp nhân căn cứ vào các quy định đó để tự do thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh

Trang 27

Trong sản xuất, kinh doanh thì tài sản phải sinh ra tài sản khác, nói cách khác mọi tài sản đều phải được khai thác một cách có hiệu quả và pháp luật cần tôn trọng quyền của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu nhưng có quyền đối với tài sản của chủ sở hữu, pháp luật cần phải tạo cơ chế

để các chủ thể có quyền đổi với tài sản được bình đẳng, tự quyết định quyền của mình trong các giao dịch dân sự và thương mại Trên tinh thần đó BLDS

2015 đã bổ sung các chế định là chiếm hữu, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt Các chế định này điều chỉnh quyền của người không phải là chủ sở hữu nhưng được khai thác, sử dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản của chủ sở hữu theo thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định

4.2 Chiếm hữu

Trong cơ chế thị trường, để đáp ứng nhu cầu của mọi chủ thể trong xã hội thì tài sản, hàng hóa phải được tự do lưu thông (trừ trường hợp có quy định khác) Đối với tài sản phải đăng ký thì việc chuyển quyền sở hữu phải theo trình tự thủ tục luật định, còn tài sản không đăng ký sẽ tự do lưu thông trên thị trường, vì vậy về nguồn gốc tài sản, hàng hóa không thể kiểm soát được, cho nên trong thực xảy ra nhiều trường hợp mua bán, trao đổi tài sản, tư

• liệu sản xuất, hàng hóa bất hợp pháp (trộm cắp, buôn lậu ) nhưng người mua, người nhận trao đổi không thể biết và tin rằng việc mua bán, trao đổi đó

là hợp pháp Mặt khác, có những trường họp thực tế tài sản do người khác đang nắm giữ là bất hợp pháp nhưng không có căn cứ chứng minh được hành

vi đó là bất hợp pháp Do đó những trường hơp này người đang nắm giữ tài sản được phép chi phối tài sản của mình theo ý chí phù hợp với quy định của pháp luật Vì lẽ đó BLDS 2015 bổ sung chế định chiếm hữu nhằm công nhận

và bảo vệ quyền và lợi ích của những người đang thực tế nắm giữ tài sản khi

có hành vi xâm phạm

Chiếm hữu là một trạng thái thực tế của một chủ thể đang nắm giữ tài sản của mình (chủ sở hữu) hoặc của người khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Người chiếm hữu được phép chi phối tài sản theo ý chí của mình phù họp với quy định của pháp luật Chủ thể thực tế đang chiếm hữu tài sản được

Trang 28

suy đoán là ngay tình (trừ chủ sở hữu), cho nên người chiếm hữu ngay tình có các quyền đối với tài sản Khi việc chiếm hữu bị vi phạm thì người chiếm hữu được bảo vệ ban đầu có nghĩa là có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích của mình đổi với tài sản (Điều 185).

Quyền hưởng dụng là một chế định mới trong BLDS 2015 Tuy nhiên trong thực tiễn thì quyền hưởng dụng đã tồn tại từ lâu trong quan hệ gia đình Những người thân thích, con cháu được hưởng dụng tài sản của ông, bà, cha,

mẹ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng

Trong cơ chế thị trường, quyền hưởng dụng xác lập trong những trường họp cá nhân, doanh nghiệp cùng liên kết, liên doanh khai thác tư liệu sản xuất

có hiệu quả Đặc biệt đối với những trường hợp đầu tư rủi ro (thăm dò khai thác dầu khí trên biển, trên xa mạc, khai thác khoáng sản ) thì việc xác lập quyền hưởng dụng giữa các doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa quan trọng, giúp cho doanh nghiệp cần vốn, công nghệ sẽ khắc phục được hạn chế đó

Trong thời hạn hưởng dụng, thì người hưởng dụng có quyền khai thác tài sản của chủ sở hữu để hưởng hoa lợi, lợi tức trong thời hạn nhất định theo

• thỏa thuận Trường hợp không xác định thời hạn thì thời hạn, thì thời hạn đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên là cá nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân (Điều 260) Người hưởng dụng có quyền đầu tư khai thác tài sản hưởng hoa lợi, lợi tức, có quyền cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản (k3Điều 261) Khi thời hạn hưởng dụng mãn kết thì người hưởng dụng hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu Đối với những khoản đã đầu tư vào tài sản thì chủ sở hữu và người hưởng dụng phải thỏa thuận khi xác lập quyền hưởng dụng hoặc được thanh toán theo luật quy định

4.4 Quyền bề mặt

Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, là tài nguyên quí giá của quốc gia, cho nên cá nhân, pháp nhân cần phải khai thác, sử dụng đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả Trong thời đại công nghiệp hóa thì nhu cầu xây dựng

Trang 29

các công trình giao thông, nhà máy, công trình dân sinh và nhu cầu sinh sống tại các thành phố lớn của nhân dân ngày càng gia tăng, cho nên việc sử dụng đất có hiệu quả là một yêu cầu tất yếu đối với cá nhân, cơ quan và doanh nghiệp.

Để tạo cơ sở pháp lý cho cá nhân, doanh nghiệp thực hiện các quyền dân sự một cách tự do, bình đẳng đồng thời khuyến khích cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đầu tư để kinh doanh các công trình xây dựng BLDS 2015 đã bổ sung chế định quyền bề mặt (Điều 267) Quyền bệ mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, lòng đất mà quyền sử dụng đất thuộc về chủ thể khác Chủ thể có quyền

bề mặt tùy thuộc vào thỏa thuận với người sử dụng đất có quyền khai thác đất

để trồng cây, xây dựng các công trình xây dựng trên mặt đất hoặc trong lòng đất (đường tầu điện ngầm, cầu chui, cầu vượt ) Chủ thể có quyền bề mặt được phép khai thác, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình như bán, cho thuê, thế chấp Thông qua quy định về quyền bề mặt để khảng định là Nhà nước bảo hộ tài sản của các chủ đầu tư trên quyền sử dụng đất của người khác kể cả trên đất của Nhà nước Quy định này nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vốn vào phát triển thị trường bất động sản và phát triển nông, lâm, ngư nghiệp

V Những quy định mới của Phần quy định chung về nghĩa vụ họp đồng

5.1.Thực hiện nghĩa vụ• • o •

Quy định chung về nghĩa vụ và hợp đồng có nhiều sửa đổi về nội dung, kết cấu điều luật hoặc về câu chữ, tuy nhiên những điểm mới được sửa đổi có tính chất cụ thể, rõ ràng và dễ áp dụng hơn Mặt khác các qui định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sửa đổi để tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, pháp nhân trong các giao dịch dân sự, thương mại Đặc biệt bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch bảo đảm và khuyến khích các chủ thể mạnh dạn đầu tư, kinh doanh có hiệu quả Trong Mục thực hiện nghĩa vụ,

Trang 30

BLDS 2015 bổ sung hai nội dung cơ bản nhằm rằng buộc trách nhiệm pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ.

- Điều 355 BLDS 20015 bổ sung vào khoản 2 Điều 288 BLDS 2005 về

chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ như sau: “ Trường hợp tài sản được gửi

giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngav cho bên có quyền ”

Trong cơ chế thị trường dịch vụ nhận giữ tài sản phát triển ở các thành phố lớn và khu công nghiệp, cho nên pháp luật cần điều chỉnh những trường hợp bên nhận hàng hóa chậm tiếp nhận, thì phải có giải pháp phù họp đem lại lợi ích cho các bên Quy định này áp dụng cho các chủ thể vận chuyển, cung ứng hàng hóa, vật tư sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Trường hợp vì lý do nào đó mà bên nhận hàng hóa không thể nhận đúng thời hạn thì bên vận chuyển gửi tài sản cho người thứ ba giữ Bên

có nghĩa vụ giải phóng nghĩa vụ của mình, bên có quyền được bảo đảm tài sản an toàn không bị hư hỏng, mất mát hoặc hạn chế việc bồi thường tổn thất cho bên có nghĩa vụ

Quy định về gửi giữ tài sản khi bên có quyền chậm tiếp nhận nghĩa vụ

có tính chất ràng buộc trách nhiệm của bên có nghĩa vụ khi gửi tài sản của bên có quyền cho người thứ ba giữ thì phải thông báo để bên có quyền biết và yêu cầu người thứ ba giao tài sản Nếu bên có nghĩa vụ không thông báo mà bên có quyền bị thiệt hại do không tìm thấy tài sản thì phải bồi thường

-Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện ,Điều 284 bổ sung khoản 2 như sau:

“ 2 Trường hợp điều kiện không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của

một bên thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật này”.

Quy định này nhằm xác định hậu quả pháp lý của việc một bên cố ý vi phạm thỏa thuận, không thực hiện đúng nguyên tắc trung thực, thiện chí, cho nên phải gánh chịu bất lợi về mình khi điều kiên đó không xảy ra hoặc có xảy

ra theo ý chí của một bên

Trang 31

5.2 Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

- Nghĩa vụ được bảo đảm.

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là công cụ pháp lý, cho phép chủ thể có quyền lựa chọn một biện pháp ngăn ngừa bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ gây thiệt hại cho người có quyền

Trong sản xuất, kinh doanh, để bảo đảm cho việc lưu thông sản phẩm, hàng hóa của các chủ thể kinh doanh diễn ra một cách thông suốt có tính thường xuyên, liên lục thì cơ chế thị trường đã hình thành nhiều phương thức mua bán, đặt hàng, gia công và phương thức thanh toán linh hoạt Đe đáp ứng nhu cầu kinh doanh, các chủ thể kinh doanh có thể xác lập nghĩa vụ hiện tại hoặc nghĩa vụ trong tương lai Nghĩa vụ trong tương lai là nghĩa vụ hình thành sau khi xác lập biện pháp bảo đảm Trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm hình thành trong tương lai, thì cần phải xác định nghĩa vụ đó xác lập trong thời hạn biện pháp bảo đảm có hiệu lực Điều 293 quy định về phạm vi nghĩa

vụ trong tương lai bảo đảm, phải là nghĩa vụ hình thành trong thời hạn bảo đảm do các bên thỏa thuận Những nghĩa vụ hình thành sau khi giao dịch bảo đảm chấm dứt thì không thuộc nghĩa vụ được bảo đảm trừ trường hợp các bên

• có thỏa thuận khác Cho nên nghĩa vụ được bảo đảm hình thành sau khi biện pháp bảo đảm hết thời hạn thì được coi là nghĩa vụ không có biện pháp bảo đảm

Khi xác lập biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ hình thành trong tương lai, các bên có thể thỏa thuận rõ là nghĩa vụ nào, thời hạn hình thành và phạm

vi bảo đảm là toàn bộ hay một phần Trường họp không thỏa thuận cụ thể thì phạm vi bảo đảm là toàn bộ và nghĩa vụ hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm

Khoản 1 Điều 294 quy định về phạm vi và thời hạn bảo đảm, khoản 2 quy định các bên không cần phải xác lập biện pháp bảo đảm, tuy nhiên nếu biện pháp bảo đảm đã đăng ký, thì khi nghĩa vụ tương lai được hình thành các bên cần phải đăng ký bổ sung nghĩa vụ bảo đảm

Trang 32

- Đối tượng bảo đảm

Đổi tượng bảo đảm có thể là tài sản, uy tín, cam kết của một bên Đối tượng bảo đảm là tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (khoản 1 Điều 295) Trường hợp tài sản bảo đảm mà thuộc quyền sở hữu của người khác thì không thể xử lý được khi bên bảo đảm vi phạm nghĩa vụ Nếu đối tượng bảo đảm là quyền tài sản thì quyền tài sản đó thuộc về bên bảo đảm Bên bảo đảm cần phải có căn cứ chứng minh là có quyền tài sản đó và chuyển giao căn cứ đó cho bên nhận bảo đảm

Tài sản bảo đảm có thể là một vật cũng có thể là vật đồng bộ hoặc nhiều tài sản trên đất (BĐS), hàng hóa luân chuyển Trường hợp này các bên có thể mô tả tài sản một cách chung nhưng phải thể hiện được loại tài sản,

số lượng, trị giá tài sản Mục đích của việc xác định tài sản để thực hiện nghĩa

vụ hoàn trả tài sản trong cầm giữ, cầm cố, đặt cọc và khi xử lý tài sản bảo đảm (khoản Điều 295)

Thông thường khi dùng tài sản bảo đảm thì các bên cần phải định giá tài sản để xác định phạm vi bảo đảm Nếu xác định giá trị tài sản không đúng thực chất của tài sản thì khi xử lý tài sản bảo đảm, việc thanh toán nghĩa vụ sẽ gặp khó khăn, thậm chí có thể bị thiệt hại Thông thường giá trị tài sản bảo đảm tương ứng với nghĩa vụ được bảo đảm, tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận về bảo đảm một phần nghĩa vụ, phần còn lại không được bảo đảm

Hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm

Hiệu lực đối kháng là giá trị pháp lý của biện pháp bảo đảm đối với những chủ thể liên quan, đặc biệt đổi với người thứ ba là chủ thể có quyền trực tiếp đối với tài sản bảo đảm Khi tài sản bảo đảm bị xử lý thì người nhận bảo đảm có quyền yêu cầu chủ thể thứ ba chuyển giao tài sản và có quyền ưu tiên thanh toán trước các chủ thể có quyền thanh toán khác

Hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm (bắt buộc hoặc tự nguyện) Trường hợp, luật không qui định bắt buộc đăng ký thì hiệu lực đối kháng phát sinh từ thời điểm nắm giữ

Trang 33

tài sản như biện pháp cầm cổ, đặt cọc, ký cược hoặc từ thời điểm chiếm giữ như kỹ quĩ, cầm cố giấy tờ có giá hoặc từ thời điểm chiếm giữ tài sản trong cầm giữ tài sản BLDS 2015 bổ sung Điều 297 quy định về ba trường họp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba là: đăng ký biện pháp bảo đảm, nắm giữ tài sản (cầm cố) hoặc chiếm giữ tài sản (cầm giữ tài sản) Như vậy đối với các biện pháp bảo đảm mà bên có quyền thực tế kiểm soát tài sản thì

có quyền đối kháng với người thứ ba Quy định này phù hợp với thực tiễn vì các trường hợp này tài sản đang trong tay người có quyền cho nên họ có quyền ưu tiên khi xử lý tài sản

Đăng kỷ biện pháp bảo đảm.

Đăng kỷ biện pháp bảo đảm là một dịch vụ công do cơ quan hành chính

sự nghiệp của Nhà nước thực hiện Đăng ký biện pháp bảo đảm là đăng ký quyền xác lập đổi với tài sản bảo đảm Đăng ký biện pháp bảo đảm theo trình

tự bắt buộc nếu luật có quy định hoặc đăng ký tự nguyện

Đăng ký biện pháp bảo đảm phục vụ cho việc quản lý nhà nước đối với các giao dịch bảo đảm, ngăn ngừa những hành vi lừa đảo trong các giao dịch như mua bán, thế chấp Mặt khác, nhà nước quản lý việc chuyển dịch quyền

• sở hữu tài sản phải đăng ký khi biện pháp bảo đảm bị xử lý Đối với bất động sản phải đăng ký thì việc đăng ký biện pháp bảo đảm là điều kiện có hiệu lực của giao dịch và có hiệu lực đối kháng với người thứ ba Các biện pháp không bắt buộc đăng ký thì việc đăng ký phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ

ba Khoản 3 Điều 298 bổ sung như sau:

“3 Việc đăng kỷ biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm

Luật có quy định cụ thể những loại tài sản bảo đảm nào phải đăng ký, quy định về trình tự thủ tục và cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm

X ử lý tài sản bảo đảm

Thông thường, khi bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ, thì bên nhận bảo đảm sẽ xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ Tuy nhiên, pháp luật cho phép các bên thỏa thuận về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm khi

Trang 34

có vi phạm nghĩa vụ đế thanh toán một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mặc dù nghĩa vụ chưa đến kỳ hạn thực hiện Hoặc luật quy định về các trường hợp bên nhận bảo đảm được phép xử lý tài sản bảo đảm trước thời hạn (Điều 424, 425,426) Trong một số trường hợp luật quy định phải xử lý tài sản bảo đảm trước thời hạn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan Pháp luật quy định về nhiều trường hợp xử lý tài sản, cho phép các bên lựa chọn một trường họp phù hợp để thực hiện bảo đảm quyền lợi ích của bên nhận bảo đảm Điều 299 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm như đến hạn thực hiện nghĩa vụ bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ, khi vi phạm nghĩa

vụ hoặc các trường hợp khác luật quy định

Thông báo về việc x ử lỷ tài sản bảo đảm

Trước khi xử lý tài sản bảo đảm bên nhận bảo đảm thông báo cho bên bảo đảm và những người nhận bảo đảm khác biết về thời gian, phương thức, địa điểm xử lý tài sản (Điều 300) nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể đó chuẩn bị tham gia xử lý tài sản hoặc thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản phù hợp với điều kiện của các chủ thể Tuy nhiên, đổi với những tài sản có nguy cơ hư hỏng hoặc đã bị hư hỏng như hàng hóa là nông sản bị hư hỏng thì

• bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay và thông báo cho các chủ thể liên quan biết việc xử lý đó để kiểm tra quá trình xử lý tài sản có đảm bảo tính khách quan hay không

Trường hợp, bên nhận bảo đảm xử lý tài sản mà không thông báo cho bên bảo đảm hoặc người nhận bảo đảm khác biết mà việc xử lý đó không khách quan, minh bạch gây thiệt hại cho các chủ thế thì những người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, như bán tài sản giá thấp hơn giá thị trường, dẫn đến không đủ tài sản để thanh toán cho những người có quyền khác

- Giao tài sản bảo đảm để x ử lý

Đối với những biện pháp bảo đảm bảo đảm mà bên nhận bảo đảm không trực tiếp giữ tài sản bảo đảm, khi xử lý tài sản thì bên nhận bảo đảm phải yêu cầu bên bảo đảm đang giữ tài sản bảo đảm (người thế chấp ) hoặc

Trang 35

tài sản bảo đảm do người thứ ba giữ, cho nên khi xử lý tài sản thì người giữ tài sản phải chuyển giao cho bên nhận bảo đảm xử lý theo thỏa thuận hoặc do pháp luật qui định (Điều 301) Trường hợp người giữ tài sản không chuyển giao để xử lý tài sản, thì người nhận bảo đảm không được dùng các biện pháp cưỡng chế để thu hồi tài sản mà phải yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Qui định này nhằm ngăn ngừa trường hợp bên nhận bảo đảm cố

ý gây mất trật tự xã hội hoặc cưỡng đoạt tài sản trái pháp luật

Quyền nhận lại tài sản bảo đảm

Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm và thanh toán chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì có quyền nhận lại tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác (Điều 302)

Thông thường, đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên bảo đảm thực hiện xong nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên nhận bảo đảm giao lại tài sản bảo đảm trong tình trạng ban đầu Trường hợp bên bảo đảm không thực hiện được nghĩa vụ mà bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm tự nguyện thanh toán xong nghĩa vụ và các chi phí phát sinh từ

• việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm không được xử lý tài sản bảo đảm và phải giao lại tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm

- Phương thức x ử lỷ tài sản cầm cố, thế chấp

Có hai phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là xử lý theo thỏa thuận và theo luật quy định (Điều 303, 304,305) Các bên có thể thỏa thuận về bán đấu giá tài sản tài sản, Trường hợp này bên bảo đảm sẽ thực hiện giao kết hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đầu giá, hoặc bên bảo đảm ủy quyền cho bên nhận bảo đảm giao kết hợp đồng bán đấu giá tài sản Một phương thức xử lý tài sản đơn giản có hiệu quả là các bên thỏa thuận về bán tài sản cho người thứ ba, phương thức này có thể do bên nhận bảo đảm hoặc bên bảo đảm thực hiện Việc bán tài sản cho người thứ ba phải bảo đảm tính khách quan trong việc xác định giá tài sản Trường họp không thể bán đấu giá hoặc bán cho người thứ ba thì bên nhận bảo đảm có thể nhận tài sản bảo đảm để bù

Trang 36

trừ nghĩa vụ Nếu giá trị của tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải dùng tài sản khác thanh toán Ngược lại, giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm phải giao lại cho bên bảo đảm

số dư đó

Trường họp các bên không thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài sản bảo đảm bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá

- Thanh toán số tiền có được từ việc x ử lý tài sản cầm cố, thế chấp

Theo nguyên tắc đối kháng, khi xử lý tài sản cần cố, thế chấp (Điều 307) thì người nhận bảo đảm có quyền ưu tiên trước các chủ thể có quyền khác không có bảo đảm, có nghĩa là sau khi bán tài sản bảo đảm thì người nhận bảo đảm có quyền đối kháng sẽ được thanh toán trước các chủ nợ khác.Tuy nhiên, trong thời hạn bảo đảm nếu tài sản bị hư hỏng do chất lượng không tốt mà người nhận bảo đảm, người giữ tài sản phải chi phí sửa chữa thì khoản tiền này phải thanh toán trước, vì đây là chi phí cần thiết để duy trì tài sản, nếu không sửa chữa, thì tài sản có thể hư hỏng giảm sút giá trị, thậm chí

có thể không còn giá trị nữa, do vậy khoản chi phí cần thiết phải được thanh toán trước và sau đó thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308

5.3 Cầm cố tài sản

- Hiệu lực của cầm cố tài sản

Đối với các giao dịch bảo đảm thì việc xác định thời điểm có hiệu lực của giao dịch là thời điểm các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo giao dịch đã giao kết Hiệu lực pháp luật của giao dịch khác với hiệu lực đối kháng với người thứ ba Hiệu lực đối kháng với người thứ ba xác lập từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản (Điều 310)

Hợp đồng cầm cố tương tự như các hợp đồng thông dụng khác, cho nên thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cũng được xác định theo Điều 400 và 401 BLDS Các bên có thể thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nếu luật không qui định khác Quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhằm rằng buộc bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố

Trang 37

- Quyền của bên cầm cố

Trong cơ chế thị trường, tài sản đưa vào lun thông sẽ tạo ra lợi nhuận, đặc biệt hàng hóa cần phải được lưu thông để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp, vì vậy pháp luật khuyển khích bên nhận cầm cố cho phép bên cầm cố được định đoạt tài sản cầm cố và thay đổi tài sản cầm cố bằng tài sản khác hoặc thay đổi biện pháp bảo đảm phù hợp với điều kiện của các bên Trong một số trường hợp pháp luật cho phép bên cầm cố bán tài sản cầm cố như bán tài sản để thi hành á n Điều 312 bổ sung khoản 4 như sau:

“ 4 Được bản, thay thế, trao đỏi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên

nhận cầm cổ đồng ỷ hoặc theo quy định của luật.

Đe tránh sự lãng phí trong việc khai công dụng của tài sản cầm cố, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận là bên nhận cầm cố được cho thuê tài sản cầm cố hưởng hoa lợi, lợi tức và giá trị hoa lợi, lợi tức sẽ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên cầm cổ Điều 314 (Quyền của bên nhận cầm cổ) được bổ sung khoản 3 như sau:

“3 Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cổ và

hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cổ, nếu có thoả thuận

5.4 Thế chấp tài sản

r r i > • _ ? Ạ I Á

- Tài sản thê chap

Thông thường tài sản thế chấp là quyền sử đụng đất thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất như nhà ở, công trình xây dựng, cây lâu năm cũng thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, vì vậy khi thế chấp quyền sử dụng đất thì tài sản gắn liền với đất cũng là tài sản thế chấp Quy định này tạo ra sự thống nhất trong việc đăng ký và xừ lý tài sản thế chấp (k3 Điều 318)

Tài sản thế chấp có thể đang được bảo hiểm, cho nên khi tài sản được bảo hiểm mà đem thế chấp thì bên nhận thế chấp cần phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết để thanh toán số tiền bảo hiểm khi xử lý tài sản mà xảy ra rủi ro Luật quy định đây là nghĩa vụ của bên nhận thế chấp vì liên quan trực tiêp đến quyền lợi của bên nhận thế chấp Trường hợp bên nhận thế chấp

Trang 38

không thông báo về việc thế chấp nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm, thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả theo hợp đồng bảo hiểm (k.4 Điều 318)

- Hiệu lực của thế chấp tài sản

Hợp đồng thế chấp là một loại của hợp đồng dân sự, vì vậy hình thức của hợp đồng thế chấp tuân theo hình thức của hợp đồng dân sự, cho nên thời điểm giao kết hợp đồng phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng (Điều 400) Trường hợp BLDS không qui định về hình thức của thế chấp phải bằng văn bản, thì các bên có quyền lựa chọn một hình thức của họp đồng phù hợp theo Điều 119 BLDS Trường hợp luật qui định thế chấp phải công chứng hoặc chứng thực và đăng ký thì thời điểm công chứng, chứng thực là thời điểm giao kết hợp đồng, còn việc đăng ký là thời điểm phát sinh hiệu lực đổi kháng (Đ iều 319)

Đối với những trường hợp luật không quy định bắt buộc phải đăng ký thế chấp thì thế chấp tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký Trường hợp luật không qui định hợp đồng thế chấp phải công chứng hoặc chứng thực mà các bên không đăng ký thì hợp đồng thế chấp chỉ

có hiệu lực đối với các bên Quy định này giúp cho việc xử lý tài sản thế chấp được thuận lợi hơn, tránh những trường hợp bên thế chấp không thiện chí cho

xử lý tài sản thế chấp, có hành vi tẩu tán tài sản gây khó khăn cho bên nhận thế chấp

- Nghĩa vụ của bên thế chấp

Điều 320 sửa đổi các khoản 1,4,5,6 quy định về quyền của bên thế chấp Thông thường tài sản thế chấp có thể có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu như giấy tờ mua bán, cho tặng hoặc tài sản là động sản hoặc bất đông sản có đăng

ký, thì khi thế chấp các bên có thể thỏa thuận bên thế chấp phải giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản để bên thế chấp không định đoạt được trong thời hạn thế chấp (khoản 1) Tuy nhiên, có những loại tài sản khi sử dụng phải

có giấy tờ đăng ký thì không thể giao giấy tờ được như xe ô tô, tầu biển, máy bay, cho nên những loại tài sản này không thể chuyển giao cho bên nhận thế

Trang 39

chấp giữ Trường hợp này bên nhận thế chấp sẽ đăng ký thế chấp để có quyền đối kháng với người thứ ba.

Thông thường, trong thời hạn thế chấp thì tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ và sử dụng, khai thác, tuy nhiên có trường hợp tài sản thế chấp do người thứ ba giữ như cho thuê Trong thời hạn thế chấp tài sản bảo đảm bị hư hỏng thì bên thế chấp phải sửa chữa để bảo toàn giá trị thế chấp Trường hợp

giá trị tương đương (khoản 4)

Giá trị tài sản thế chấp quyết định đến việc xác lập nghĩa vụ được bảo đảm Nấu chất lượng tài sản thế chấp tốt hoặc có giấy tờ đầy đủ chứng minh nguồn gốc tài sản thì khi xử lý tài sản sẽ thuận lợi hơn, vì thế khi xác lập thế chấp bên thé chấp phải cung cấp đầy đủ thông tin về tình trạng pháp lý và thực

tế của tài sản để bên nhận thế chấp biết và đưa ra các quyết định xác lập thế chấp hay khìng (khoản 5)

Trong thời hạn thế chấp, tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ, vì vậy khi

xử lý tài sảr thế chấp thì bên thế chấp phải giao tài sản cho bên nhận thế chấp

xử lý thanh toán nghĩa vụ (khoản 6) Trường họp bên thế chấp vi phạm nghĩa

’ vụ giao tài sản thì bên nhận thế chấp không được dùng các biện pháp cưỡng chế để buộc bên thế chấp giao tài sản mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết

- Quyền của bên thế chấp

Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thì vốn lưu động chủ yéu là nguyên vật liệu và hàng hóa, cho nên doanh nghiệp có thê dùng hàng hóa đang lưu thông hoặc hàng hóa trong kho để thế chấp vay vốn tiếp tục sản xuất kinh doanh Trường hợp bên thế chấp bán hàng hóa thì sổ tiền bán hàrg hoặc tài sản phái sinh từ tiền bán hàng là tài sản thế chấp Quy định này giip cho doanh nghiệp lưu thông sản phẩm thuận lợi và có vốn để tiếp tục đầu ư sản xuất, kinh doanh (khoản 4 Điều 321)

Khi hìng hóa sản xuất xong thì phải đưa vào lưu thông, tuy nhiên có những trườrg hợp hàng hóa đã sản xuất nhưng chưa bán được mà đê trong

Trang 40

kho Trường hợp hàng hóa để trong kho mà chưa đưa vào lưu thông, nếu doanh nghiệp thế chấp kho hàng mà bán sổ hàng hóa đó thì phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết và phải thay thế hàng hóa thế chấp bằng tài sản khác có giá trị tương đương với giá trị hàng hóa thế chấp

- Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp

Xử lý tài sản bảo đảm là việc mà các bên trong giao dịch bảo đảm không mong muốn, cho nên khi xử lý tài sản thì phải bảo đảm tính minh bạch, khách quan và có lợi nhất cho các bên Vì vậy, pháp luật quy định trình tự, thủ tục xử lý tài sản một cách chặt chẽ, buộc các bên phải tuân theo Thủ tục

xử lý tài sản được quy định từ Điều 300 đến Điều 308

- Quyền của bên nhận thế chấp

Đối tượng của thế chấp có thể là động sản hoặc bất động sản Đổi với động sản, luật không bắt buộc phải đăng ký thế chấp, còn bất động sản luật quy định bắt buộc đăng ký thế chấp Khi xác lập thế chấp, nếu đăng ký thế chấp thì người nhận thế chấp có quyền đối kháng với người thứ ba Vì vậy bên nhận thế chấp có quyền tự mình đăng ký thế chấp hoặc yêu cầu bên thế chấp đăng ký thế chấp (khoản 4 Điều 323)

Theo quy định tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, cơ sở pháp lý để chứng minh quyền sở hữu là các giấy tờ liên quan đến tài sản Đối với tài sản đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Khi thế chấp, các bên có thể thỏa thuận giấy tờ chứng minh quyền

sở hữu, quyền sử dụng tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ (khoản 6 Điều 323) Mục đích của việc giữ giấy tờ nhằm ngăn ngừa, hạn chế bên thế chấp định đoạt tài sản Trường hợp, tài sản sử dụng cần phải có giấy tờ đăng

ký, thì pháp luật có quy định không chuyển giao giấy tờ cho bên nhận thế chấp

- Quyền và nghĩa vụ của người thử ba giữ tài sản thế chấp

Điều 324 bổ sung khoản 2, quy định về nghĩa vụ của người thứ ba liên quan đến tài sản thế chấp

Ngày đăng: 28/07/2019, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w