Quyền nhân thân của cá nhân đãđược quy định trong nhiều văn bản dưới luật của Nhà nước, được quy định rõtrong các Bộ luật Dân sự, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2005 có vai trò quantrọng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này , em được sự giúp đỡ của các anh chịkhoa luật , các bạn trong lớp , đặc biệt là sự giúp đỡ của cô giáo , thạc sĩ PhạmThị Thúy Liễu đã giúp em hoàn thành đề tài này Em xin gửi lời cảm ơn chânthành nhất tới các anh chị , các bạn và cô giáo thạc sĩ Phạm Thị Thúy Liễu Trong quá trình nghiên cứu do hạn chế về thời gian cũng như hạn chế về kinhnghiệm , tri thức Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn và các thầy côgiáo
Em xin chân thành cảm ơn Sinh viên thực hiện
Trang 22.Tình hình nghiên cứu
Hiện nay việc nghiên cứu về quyền nhân thân không chỉ có nhà nướcquan tâm mà còn được rất nhiều người chú ý Quyền nhân thân của cá nhân đãđược quy định trong nhiều văn bản dưới luật của Nhà nước, được quy định rõtrong các Bộ luật Dân sự, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2005 có vai trò quantrọng trong việc khẳng định và ghi nhận khá đầy đủ về quyền nhân thân của cánhân Đề tài mà tôi nghiên cứu là “Một số điểm mới của Bộ luật Dân sự năm
2005 về quyền nhân thân là một đề tài chưa có những bài viết đi sâu tìm hiểu đềtài này Tuy vậy tôi vẫn muốn tìm hiểu và đi sâu vào nghien cứu đề tài nàynhằm tạo thêm hiểu biết cho bản thân và đóng góp một phần công sức nghiêncứu nhỏ bé của mình vào việc giúp mọi người hiểu rõ hơn về quyền nhân thâncũng như những điểm mới về quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2005
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền nhânthân, và những điểm mới về nhân thân được quy định trong BLDS năm 2005
Trang 33.2 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được ngiên cứu trong giới hạn: quyền nhân thân trong các Bộ luậtDân sự, đặc biệt là quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và nhữngđiểm mới về quyền nhân thân trong BLDS năm 2005 so với các quyền nhânthân trong cấc BLDS trước đó như BLDS năm 1995 Việc bảo vệ quyền nhânthân theo quy định của BLDS năm 2005
4 Nhiệm vụ của đề tài.
Đề tài phải đi sâu nghiên cứu những nét đổi mới về quyền nhân thântrong BLDS năm 2005 so với các bộ luật khác Đề tài phải nghiên cứu đúnghướng có trọng tâm, để đưa ra những nhận xét, đánh giá xác đáng về quyền nhânthân, đặc điểm của quyền nhân thân và những điểm mới trong BLDS năm 2005
về quyền nhân thân giúp mọi người hiểu rõ hơn về sự sửa đổi, bổ sung nhânquyền trong BLDS năm 2005
5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghiãMác-Lênin Các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mớiNhà nước và pháp luật Các nghị quyết, quyết định sửa đổi, bổ sung BLDS
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện đề tài nàylà: phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp với phương pháp so sánh để đánhgiá nhận xét
6 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của đề tài.
Từ sự nghiên cứu phân tích đưa ra những đanh giá xác đáng sâu sắc vềquyền nhân thân và những nét sửa đổi bổ sung về nhân quyền trong BLDS năm
2005 Từ đó thấy được bước tiến của pháp luật Việt Nam trong việc quy địnhcác quyền con người, sự tôn vinh đối với sự tự do và các giá trị của cá nhân thểhiện bản chất của nhà nước Việt Nam của dân, do dân, vì dân
Trang 4B Nội dung Chương I Cơ sở lý luận của quyền nhân thân 1.Quá trình hình thành và phát triển của quyền nhân thân qua các
Trước năm 1986, các quy định mang tính nguyên tắc được đề cập tại cácvăn bản hiến pháp, được cụ thể hóa trong một số văn bản dưới luật
Sau năm 1986, đường lối đổi mới của Đảng đã tạo tiền đề đem lại cho đấtnước ta những thành tựu vô cùng quan trọng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,đời sống của người dân dần ổn định, tình hình trật tự trị an xã hội được đảmbảo Để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới Quốc hội đã quyết định sửa đổihiến pháp năm 1980 Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày15/4/1992 đã kế thừa những quy định của hiến pháp trước đây, trong đó có qyềnnhân thân
Trên cơ sở quy định của hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995,
đã quy định về các quyền nhân thân của cá nhân, bao gồm các quyền được quyđịnh từ điều 26 đến điều 47 Ngoài quy định chung về quyền nhân thân ở điều
Trang 526: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liềnvới mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp phápluật có quy định khác” và bảo vệ quyền nhân thân ở điều 27: “khi quyền nhânthân của một cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người viphạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xinlỗi cải chính công khai; hoặc tự mình cải chính trên các phương tiện thông tinđại chúng; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm phảibồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần”, Bộ luật Dân sự đã quyđịnh các quyền nhân thân cụ thể bao gồm:
- Quyền đối với họ tên ( Điều 28)
- Quyền thay đổi họ tên (Điều 29)
- Quyền xác định dân tộc (Điều 30)
- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31)
- Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe,thân thể (Điều 32)
- Quyền được bảo vệdanh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 33)
- Quyền đối với bí mật đời tư (Điều 34)
- Quyền kết hôn (Điều 35)
- Quyền bình đẳng của vợ chồng (Điều 36)
- Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình(Điều 37)
- Quyền li hôn (Điều 38)
- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ,con (Điều 39)
- Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi ( Điều 40)
- Quyền đối với quốc tịch (Điều 41)
- Quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 42)
- Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo (Điều 43)
- Quyền tự do đi lại cư trú (Điều 44)
- Quyền lao động (Điều 45)
- Quyền tự do kinh doanh (Điều 46)
Trang 6- Quyền tự do sáng tạo (Điều 47)
Cùng với việc quy định các quyền nhân thân, Bộ luật Dân sự năm 1995 cóphương thức bảo hộ quyền cho chủ thể cũng như các biện pháp bảo vệ quyềnkhi có hành vi vi phạm
Bộ luật Dân sự năm 1995 đã phát huy vai trò to lớn trong việc ghi nhận vàbảo vệ các quyền dân sự của chủ thể trong đó có quyền nhân thân Tuy nhiênqua một thời gian áo dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 bên cạnhnhững ưu điểm thì BLDS năm1995 cũng bộc lộ nhiều hạn chế Xuất phát từ lý
do đó, BLDS sửa đổi đã được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 có hiệu lựcthi hành từ ngày 1/6/2006 (BLDS năm 2005) BLDS năm 2005 quy định vềquyền nhân thân từ điều 24 đến điều 50 So với các quy định về quyền nhânthân trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 có những sửa đổi bổ sung chophù hợp với thực tế cuộc sống như quyền khai sinh, khai tử, quyền thay đổi họtên (điều 27), quyền xác định dân tộc (điều 28), quyền của cá nhân đối với hìnhảnh (điều 31) bổ sung một số quyền như quyền hiến bộ phận cơ thể (điều 33),quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (điều 34), quyền nhận bộ phận cơthể người (điều 35), quyền xác định lại giới tính (điều 36)
Với việc ghi nhận các quyền nhân thân trong BLDS năm 2005 có thểthây rằng pháp luật dân sự Việt Nam có những bước tiến đáng kể trong việc ghinhận và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân Đây là sự khẳng định đồng thời là
cơ sở pháp lý quan trọng cho cá nhân thực hiện các quyền của mình
2 Quyền nhân thân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005
2.1.Khái niệm quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một bộ phận của quyền dân sự các cá nhân đều cóquyền nhân thân Và đây là một trong những nội dung cơ bản của quyền conngười được pháp luật ghi nhận và bảo vệ
Tại điều 24 BLDS năm 2005 quy định: Quyền nhân thân được quy địnhtrong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyểngiao cho người khác trừ trường hợp pháp luật cóp quy định khác
Trang 7Theo quy định tại điều 24 BLDS năm 2005 chúng ta có thể hiểu: nhânthân là những yếu tố gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể như tên gọi, hoàn cảnh giađình, hình dáng
Dưới góc độ pháp lý, không phải mọi yếu tố liên quan đến bản thân củamỗi con người đều ảnh hưởng đến việc hưởng quyền nhân thân của họ ( ví dụ:bất cứ cá nhân nào cũng đều có quyền đối với quốc tịch) Tuy nhiên, có nhiềuyếu tố liên quan đến nhân thân của mỗi con người lại ảnh hưởng trực tiép đếnquyền nhân thân của họ chẳng hạn như yếu tố độ tuổi có ảnh hưởng trực tiếptrong việc cá nhân thực hiện các hành vi để hưởng các quyền dân sự của mình
Bộ luật Dân sự cung như các văn bản pháp luật khác chưa có khái niệmchính thức về quyền nhân thân Tuy nhiên, khái niệm quyền nhân thân đã được
đề cập trong một số công trình khoa học mặc dù các khái niệm đưa ra cũng chưaphản ánh được đầy đủ các đặc điểm của quyền nhân thân của cá nhân
Điều 24 BLDS năm 2005 đưa ra những quy định chung nhất về quyềnnhan thân, theo quy định này chúng ta có định nghĩa về quyền nhân thân theohai cách hiểu:
+ Theo nghĩa khách quan: Quyền nhân thân được hiểu là quyền tổng hợpcác quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định
rõ ràng cho các cá nhân có quyền nhân thân gắn với bản thân mình và đây là cơ
sở để cá nhân thực hiện quyền của mình
+ Theo nghĩa chủ quan: quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắnliền với mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho ngườikhác
2 2.Đặc điểm của quyền nhân thân
-Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự và là quyền dân sựđặc biệt
Con người là trung tâm của xã hội và là đối tượng hướng tới của mọi cuộccách mạng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người Dưới góc độ pháp luật dân sựthì cá nhân là chủ thể chủ yếu và thường xuyên quan trọng và phổ biến của
Trang 8quan hệ dân sự Các quyền mà pháp luật quy định cho cấc cá nhân là vì conngười và hướng tới con người trong đó có quyền nhân thân.
Quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt vì quyền này chỉ thuộc về cánhân, trong khi các quyền khác ( quyền tài sản) có thể thuộc về các chủ thể khác( pháp nhân, hộ gia đình)
- Mọi cá nhân đều có sự bình dẳng về quyền nhân thân
Mọi cá nhân đều có quyền nhân thân kể từ khi họ được sinh ra khôngphân biệt giới tính, tôn giáo, giai cấp Quyền nhân thân có một sự khác biệt cănbản với các quyền khác ( quyền tài sản) vì quyền bình đẳng về mặt dân sự khôngquy định tất cả mọi người có khả năng hưởng những quyền như nhau Nguyêntắc bình đẳng về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có những quyền nhưnhau đó không phải là khả năng trừu tượng mà là một thực tế chứ khoong phải
là sự quy định mang tính hình thức
- Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân khong phải là tài sản chỉ có quyền nhân thân hắn với tàisản và quyền nhân thân không gắn với tài sản vì thế quyền nhân thân không trịgiá được bằng tiền
Về mặt pháp lý cần phân định rõ ràng tính chất phi tài sản của quyền nhânthân
- Quyền nhân thân luôn gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giaocho chủ thể khác
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền vớimỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật cóquy dịnh khác, điều 24 BLDS quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong
bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giaocho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nướcquy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế- xã hội nhất định do vậy vềnguyên tắc cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác
Trang 9nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịchdân sự giữa các cá nhân Ví dụ : Người này không thể đổi họ tên cho ngườikhác và ngược lại Hoặc một người không thể ủy quyền cho người khác thựchiện quyền đi lại của mình.
Quyền nhân thân chỉ có bản thân chủ thể hưởng và thực hiện chứ khôngthể chuyển giao cho người khác và cũng không có ai đại diện cho họ để thựchiện quyền nhân thân Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt theo quy địnhcủa pháp luật thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác Ví dụnhư quyền công bố phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyềnnày có thể chuyển giao cho chủ thể khác (người thừa kế của tác giả) Mặc dùvậy có những yếu tố luôn gắn liền với chủ thể mà không thể thay đổi được vídụ: Quyền đứng tên tác giả
- Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định quyền nhân thân làmột quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân Pháp luậtdân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyên bốchính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận
Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khácnhau là dựa vào các điều kiện kinh tế- xã hội Do vậy mỗi giai đoạn khác nhaucủa lịch sử xã hội loài người phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xãhội mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định khác nhau, quyền nhânthân được Nhà nước trang bị cho cá nhân, Nhà nước không cho bất cứ ai làmthay đổi hay chấm dứt quyền đó
2.3.Ý nghĩa của việc quy định quyền nhân thân
Con người là chủ thể của mọi hoạt động, là tâm đểm hướng tới của mọicuộc cách mạng tiến bộ trong xã hội việc quy định các quyền của con ngườitrong đó có quyền nhân thân là một trong yếu tố đánh giá sự tiến bộ của xã hội
Trong bản tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 khai sinh ranước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn một câunói về quyền nhân thân theo bản tuyên ngôn nhân quyền của nước Mĩ, đó là:
Trang 10“Mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ nhưng quyền không ai có thểchối cải được Trong các quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc” Như vậy, có thể hiểu quyền nhân thân thực chất khôngphải do ai ban phát cho chúng ta cả, mà vì chúng ta là con người nên chúng tahiển nhiên được hưởng các quyền đó.Tuy nhiên khi con người không có quyền
tự do về thân thể thì con người không được biết đến quyền đó và đương nhiênkhông thể thực hiện được các quyền lẽ ra mình được hưởng Như vậy con ngườiphải đứng lên đấu tranh để giành lấy, để được hưởng các quyền nhân thân.Quyền nhân thân được quy định trong các văn bản mang tính pháp lý có ý nghĩarất lớn trong việc khẳng định quyền làm người, quyền tự do và quyên thục hiệncác quyền con người của cá nhân
Quyền nhân thân được quy định thể hiện sự khẳng định của pháp luật đốivới quyền bảo vệ cái “danh” của mỗi con người và khẳng định cá nhân có quyềnđối với họ tên của mình, quyền đối với hình ảnh, quyền được bảo vệ danh dự,nhân phẩm, uy tín, quyền được bảo vệ bí mật đời tư Quyền nhân thân cangđược quy định đầy đủ, rõ ràng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệuquả bao nhiêu thì càng chứng tỏ con người ngày càng được tôn trọng, xã hộicàng tiến bộ và nền dân chủ càng được mở rộng bấy nhiêu
Quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt, được thể hiện trong nhiềulĩnh vực đời sống của cá nhân Vì thế việc quy định quyền nhân thân có ý nghĩarất lớn đối với đời sống con ngừơi Đồng thời có tác ngăn chặn các hành vi tráipháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của con người, bảo đảm trật tự pháp
lý xã hội và giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền nhânthân của cá nhân
Quyền nhân thân của cá nhân được quy định và bảo vệ tạo điều kiện thuậnlợi cho các quyền nhân thân được thực hiện trên thực tế, khắc phục những hậuquả của các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt góp phần bảo đảm đời sống tinhthần cho mỗi cá nhân
Trang 11Với việc quy định các quyền nhân thân trong các văn bản, bộ luật và cácvăn bản pháp luật, đặc biệt là các bộ luật dân sự Các quyền nhân thân ngàycàng được quy định đầy đủ, rõ rãng, đặc biệt là trong BLDS năm 2005 cho thấypháp luật Việt Nam ngày càng chú trọng đến quyền con người, tôn trọng cácquyền của cá nhân Đây là sự khẳng định, ghi nhận thể hiện sự tôn vinh củapháp luật đối với cá giá trị đích thực của quyền nhân thân.
Trang 12Chương 2 QUYỀN NHÂN THÂN - NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
1 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền nhân thân
so với Bộ luật Dân sự năm 1995
Bộ luật Dân sự năm 1995 đã phát huy vai trò to lớn trong việc ghi nhận vàbảo vệ các quyền của chủ thể trong dó có quyền nhân thân Tuy nhiên bên cạnhcác ưu điểm thì Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng bộc lộ những hạn chế Do đó Bộluật dân sự sửa đổi đã được quốc hội thông qua nhày 14/6/2005, có hiệu lực từngày 1/1/2006 Đối với nội dung quyền nhân thân- quyền quan trọng và thiếtthân nhất đối với mỗi con người- luật đã có nhiều điều chỉnh và bổ sung mớinhằm phù hợp với thực tế cuộc sống, cụ thể:
- Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền khai sinh ( điều 29) : “cánhân sinh ra có quyền khai sinh” và quyền khai tử ( điều 30) : “ khi có ngườichết thì người thân thích, chủ nhà, hoặc cơ quan, tổ chức phải khai tử cho ngườiđó; trẻ sơ sinh nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử, nếu chếttrước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử”
Sở dĩ Bộ luật Dân sự năm 2005 quy quyền dược khai sinh quyền đượckhai tử là quyền nhân thân ( Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về khai sinh(điều 55) và khai tử (điều 60) thủ tục thực hiện quyền này do pháp luật hànhchính quy định) xuất phát từ quan điểm chỉ đạo sửa đổi Bộ luật Dân sự năm1995: Có những quan hệ dân sự nhưng bản chất là quan hệ hành chính ( đăng ký
hộ tịch) thì không quy định trong Bộ luật Dân sự mà để pháp luật hành chínhquy định Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung các quy định liên quan đến đăng
ký hộ tịch các quy định này do pháp luật hành chính quy định cụ thể ( thủ tụcđăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn ) Tuy nhiên pháp luật Dân sự nên quy địnhkhái quát về quyền liên quan đến đăng ký hộ tịch bởi đây là quyền dân sự -quyền nhân thân của cá nhân
Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định một số quyền hoàn toàn mới lầnđầu tiên được quy định trong luật dân sự như:
Trang 13- Quyền hiến bộ phận cơ thể ( điều 33): “ cá nhân được hiến bộ phận cơthể của mình nhằm mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoahọc việc hiến và sử dụng bộ phận cơ thể được thực hiện theo quy định của phápluật”
- Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (điều 34): “ cá nhân cóquyền hiến xác bộ phận cơ thể của mianhf sau khi chết vì mục đíh chữa bệnhcho người khác hoặc nghiên cứu khoa học, việc hiến và sử dụng xác, bộ phận cơthể của người chết được thực hiện theo quy định của pháp luật”
- Quyền nhận bộ phận cơ thể người ( điều 35): “ cá nhân có quyền nhận
bộ phận cơ thể người khác để chữa bệnh cho mình , nghiêm cấm việc nhận, sửdụng bộ phận của người khác vì mục đích thương mại”
- Quyền xác định lại giới tính ( điều 36): “cá nhân có quyền xác định lạigiới tính Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trườnghợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc hưa định hình chính xác
mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính Việc xác địnhlại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật”
Bộ luật Dân sự quy định quyền này vì xuất phát từ thực tế hiện nay nhucầu về mô, cơ, tạng người là rất lớn Các quốc gia trên thế giới trong đó cóViệt Nam đã có những bước thử nghiệm thành công trong việc ghép các bộ phận
cơ thể người Để duy trì sự sông cho nhiều người bệnh cần phải thay hay ghépmột số bộ phận cơ thể ( như thay thận, ghép gan ) nên Bộ luật Dân sự đã quyđịnh trong điều 33 và điều 34 cho phép cá nhân hiến bộ phận cơ thể mình khicòn sống, hiến xác hiến bộ phận cơ thể mình sau khi đã chết vì mục đích chữabệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Việc Nhà nước thừa nhận hành
vi này và xây dựng cơ chế pháp luật để điều chỉnh nó cũng là một hình thức đấutranh có hiệu quả chống tình trạng sử dụng các bộ phận cơ thể người vì mụcđích thương mại đang manh nha xuất hiện
Song song với điều đó, trong điều Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “
cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình”
Trang 14Tuy nhiên đây không phải là những quyền tự do không có giới hạn Luật đã nêurõ: Việc nhận và sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thươngmại bị nghiêm cấm.
Về quyền xác định lại giới tính: Hiện nay việc chuyển đổi giới tính là vấn
đề mới và rất phức tạp về mặt xã hội, mới chỉ xảy ra ở rất ít trường hợp, chưa cótính phổ biến và chưa phù hợp với tình hình kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay
Do đó cần phải có thời gian để tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thêm kinh nghiệmcác nước khác trên thế giới và khu vực
Tuy nhiên, là trong thời gian gần đây một số nơi ở nước ta có nhiều cuộcphẫu thuật nhằm xác định lại giới tính dẫn đến một yêu cầu bức thiết phải cópháp luật điều chỉnh về vấn đề này Để đap ứng yêu cầu đó, điều 36 BLDS đãquy định về việc xác định lại giới tính: “ cá nhân có quyền xác định lại giớitính Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợpgiới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác màcần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính Việc xác định lạigiới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật” Như vậy Bộ luật Dân sựquy định việc xác định lại giới tính của một người chỉ được thực hiện trongtrường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bâm sinh hoặc chưa định hìnhchính xác cần có sự can thiệp của y học để xác định rõ chứ không quy địnhquyền thay đổi giới tính Quy định này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế
và truyền thống đạo đức của nước ta hiện nay
Ngoài việc bổ sung quy định mới về một số quyền nhân thân, hầu hết cácquyền nhân thân được quy định trong BLDS năm 1995 cũng được sửa đổi bổsung cho phù hợp như quyền thay đổi họ tên(điều 27); quyền xác định dântộc(điều 28); quyền xác định dân tộc(điều 28); quyền của cá nhân đối với hìnhảnh(điều 31); quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng,sức khỏe thân thể (điều32); quyền được bảo vệ danh dự,nhân phẩm, uy tín (điều 37); quyền bí mật đờitư(điều 38); quyền tự do nghiên cứu sáng tạo (điều 51)