1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu tổng quan luật dân sự gồm một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa vụ dân sự, nội dung và đề xuất giải pháp để hoàn thiện BLDS

27 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tổng Quan Luật Dân Sự Gồm Một Số Điểm Mới Của BLDS 2005 Về Nghĩa Vụ Dân Sự, Nội Dung Và Đề Xuất Giải Pháp Để Hoàn Thiện BLDS
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Phạm Thị Thủy Liễu
Trường học Trường Đại Học Luật
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 132 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của nghĩa vụ dân sự Một trong những công việc mang tính quyết định khi xây dựng pháp luậtnói chung và xây dựng BLDS nói riêng, đó là xác định các quan điểm cơ bảncần phải đ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này , em được sự giúp đỡ của các anh chịkhoa luật , các bạn trong lớp , đặc biệt là sự giúp đỡ của cô giáo , thạc sĩ PhạmThị Thúy Liễu đã giúp em hoàn thành đề tài này Em xin gửi lời cảm ơn chânthành nhất tới các anh chị , các bạn và cô giáo thạc sĩ Phạm Thị Thúy Liễu Trong quá trình nghiên cứu do hạn chế về thời gian cũng như hạn chế về kinhnghiệm , tri thức Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn và các thầy côgiáo

Em xin chân thành cảm ơn Sinh viên thực hiện

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng pháttriển nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý chocông cuộc đổi mới đất nước trong đó phải kể đến BLDS năm 1995, có hiệu lựcthi hành ngày 1/7/1996 Thông qua Bộ luật, các quan điểm, chủ trương củaĐảng, Nhà nước đã được thể chế thành các quy phạm pháp luật Đồng thời Bộluật cũng đã cụ thể hoá các quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sựđược cụ thể hoá trong Hiến pháp 1992

Sau gần 10 năm áp dụng BLDS đã cho thấy về cơ bản BLDS đã thật sự đivào đời sống xã hội Bộ luật đã tạo chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cácbên tham gia giao dịch dân sự góp phần đảm bảo công bằng xã hội, an toàn pháp

lý cho các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Qua đó BLDS

đã góp phần ổn định và phát triển KT-XH, góp phần đắc lực cho công cuộc đổimới đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả trên BLDS còn bộc lộnhững hạn chế so với yêu cầu hiện nay Nhiều quy định trong BLDS mâu thuẫn,bất cập với các luật khác Ví dụ như quy định về quyền sử dụng đất của cá nhân,

tổ chức và quyền sử dụng đất trong luật dất đai năm 2003…đặc biệt trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước ta đã ký nhiều hiệp định thương mại vàchuẩn bị gia nhập tổ chức kinh tế thương mại thế giới (WTO) Trước tình hình

đó BLDS 2005 có một số quy định chưa thích ứng với điều kiện quốc tế mà ViệtNam là thành viên Vì vậy việc ban hành BLDS mới là cần thiết nhằm tiếp tụchoàn thiện pháp luật dân sự, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới đấtnước ta và hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó xây dựng nhà nước pháp quyền củadân do dân vì dân

2 Tình hình nghiên cứu

Qua trình nghiên cứu một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa vụ dân

sự được coi là mô hình thu nhỏ của luật nghĩa vụ dân sự đÓ thấy được một cách

Trang 3

tổng quan những tiến bộ và hạn chế của các quy định pháp luật Và sự cần thiết

bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước trong giai đoạn hiệnnay mà trước đây chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu tổng quan luật dân sự gồm một số điểm mới của BLDS

2005 về nghĩa vụ dân sự, nội dung và đề xuất giải pháp để hoàn thiện BLDS

Đề tài tập trung nghiên cứu một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa vụdân sự và trên cơ sở đó đề ra những đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện BLDScho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước

4 Nhiêm vụ của đề tài

Đề tài có nhiệm vụ là tìm ra một số điểm mới và những “lỗ hổng” củangành luật dân sự và nêu ra tính tất yếu phải khắc phục để hoàn thiện hơn nữaBLDS

5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học của đề tài là dựa trên ngành luật dân sự và mô hình thunhỏ của một số điểm mới của BLDS 2005 về nghĩa vụ dân sự

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật, phếp biệnchứng duy vật, phân tích tổng hợp…Trong đó phương pháp phân tích là phươngpháp chủ đạo nhất

6 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của đề tài.

Những nghiên cứu của đề tài có thể trở thành tư liệu giảng dạy để học tập,nghiên cứu và làm tư liệu nghiên cứu cho các cơ quan

Đề tài chỉ ra được những thành tựu to lớn và hạn chế của BLDS 2005 vềnghĩa vụ dân sự Từ đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện tốt BLDS

Trang 4

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ DÂN SỰ

1 Quá trình ban hành và phát triển của nghĩa vụ dân sự qua các bộ luật Dân sự

1.1 Quá trình ban hành BLDS 2005

Xuất phát từ vị trí quan trọng của BLDS trong đời sống xã hội nói chung

và hệ thống pháp luật nói riêng, trong những năm vừa qua ban soạn thảo BLDS(Sửa đổi) đã tích cực chuẩn bị dự thảo BLDS Dự thảo đã được Quốc Hội cho ýkiến tại kỳ họp tháng 10/2004 Uỷ ban thường vụ Quốc Hội đã tổ chức lấy ýkiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo BLDS (Sửa đổi) nhằm phát huyquyền làm chủ và trí tuệ của toàn dân, bảo đảm tính khả thi và hiệu lực thực tếcủa bộ luật sau khi ban hành Thực hiện chương trình xây dựng pháp luật, pháplệnh của Quốc Hội, dự thảo BLDS mới đã được Quốc Hội thông qua ngày14/06/2005 tại kỳ họp thứ 7 Bộ luật này đã được thay thế BLDS 1995 và có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/01/2006

Đây là Bộ luật lớn nhất của nước ta hiện nay với 34 chương, 7 phần và

777 điều

1.2 Sự phát triển của nghĩa vụ dân sự

Một trong những công việc mang tính quyết định khi xây dựng pháp luậtnói chung và xây dựng BLDS nói riêng, đó là xác định các quan điểm cơ bảncần phải được thể hiện trong nội dung của đạo luật BLDS 2005 đã phát triểnnghĩa vụ dân sự như sau :

BLDS đã phát triển và cụ thể hoá các nghị quyết của Đảng trong việc đẩymạnh xây dựng và hoàn thiệ khung pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường vàđổi mới thể chế, thủ tục hành chính tập trung trước hết vào việc tiếp xúc xoá bỏnhững quy định mang nặng tính hành chính, quan liêu, bao cấp, gây phiền hà, sáchnhiễu kìm hãm sự phát triển năng động trong nền kinh tế thị trường, đảm bảocác văn bản pháp luật có nội dung đúng đắn, nhất quán, khả thi

Trang 5

BLDS 2005 đã cụ thể hoá một số quy định của hiến pháp 1992 trong đó

có điều 15 về “Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sảnxuất, kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong

đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng” Điều 16 về “Các thành phầnkinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất,kinh doanh trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm cùng phát triển, hợptác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật”

2 Nghĩa vụ dân sự theo quy định của BLDS năm 2005

2.1 Khái niệm nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ theo cách hiểu thông thường là những gì mà một người phải làmhoặc không được làm đối với người khác Theo cách hiểu này: Nghĩa vụ là mốiliên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiệnnhừng hành vi nhất định

Thuật ngữ “nghĩa vụ” được hiểu đầy đủ xét dưới các phương diện sau: Trong đời sống xã hội, chúng ta thường bắt gặp hai loại nghĩa vụ: loại thứnhất là những xử sự bắt buộc không được đảm bảo bằng pháp luật mà do ngườithực hiện hành động theo quan niệm về bổn phận, lương tâm, đạo đức… Ví dụnhư thờ cúng tổ tiên, cứu giúp người gặp hoạn nạn, khó khăn Loại thứ hai, lànhững nghĩa vụ bắt buộc được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Ví

dụ trong quan hệ mua bán hàng hoá, bên mua phải có nghĩa vụ trả tiền cho bênbán còn bên bán có nghĩa vụ giao hàng, ai gây thiệt hại về tài sản cho ngườikhác thì phải chịu bồi thường

Trong BLDS 2005, nghĩa vụ dân sự được định nghĩa tại điều 280: “Nghĩa

vụ dân sự là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bªn

cã nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ cógiá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợiích của một hay nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)

Trang 6

2.2 Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự

Từ định nghĩa về nghĩa vụ dân sự được pháp luật ghi nhận nổi bật lênnhững đặc điểm cơ bản sau:

- Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự vì nó có đầy đủ cả bayếu tố chủ thể, khách thể và nội dung quan hệ

- Nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng được phát sinh từ một sự kiện mà đã đượcluật dự liệu tới một hậu quả pháp lý nhất định Đó là những sự kiện làm hìnhthành một quan hệ và quan hệ này được sự tác động của pháp luật Trong đóquyền và nghĩa vụ các bên chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thựchiện vì thế mà nghĩa vụ có đầy đủ cả ba yếu tố là chủ thể, khách thể và nội dungquan hệ

- Các bên chủ thể trong nghĩa vụ luôn luôn được xác định cụ thể Nghĩa

vụ dân sự tồn tại ở trạng thái là một quan hệ pháp luật nên bao giờ cũng là mốiquan hệ giữa hai bên chủ thể: Đặc điểm cho thấy nghĩa vụ dân sự hoàn toànkhác với giao dịch dân sự bởi trong nhiều trường hợp giao dịch dân sự khôngphải là một quan hệ pháp luật và trong trường hợp đó, giao dịch dân sự chỉ cómột bên chủ thể

Chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ là những người đã được xác định cụ thể,

có thể họ là người có nghĩa vụ, có thể họ là người có quyền Đặc trưng này chothấy quan hệ nghĩa vụ dân sự khác với quan hệ sở hữu Trong quan hệ sở hữuchỉ xác định được một bên chủ thể

- Trong nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập quyền của bên này sẽ

là nghĩa vụ của bên kia và ngược l¹i Bên này có bao nhiêu quyền thì bên kia cóbấy nhiêu nghĩa vụ tương ứng Thông thường các chủ thể phải thực hiện đúngquyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, có những trường hợp pháp luật quyđịnh người thứ ba phải thực hiện nghĩa vụ đó, ví dụ cha mẹ phải bồi thường thaycho con chưa thành niên gây thiệt hại

Trang 7

Quyền dân sự của các chủ thể là một quyền đối nhân Nếu trong quan hệpháp luật về sở hữu quyền của chủ thể mang quyền (chủ sở hữu) được thực hiệnbằng hành vi của chính mình thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bênnày lại được thực hiện thông qua hành vi của bên kia Mặt khác, nếu việc thựchiện quyền trong quan hệ sở hữu là việc người có quyền tác động trực tiếp đếnvật (vật quyền), thì trong quan hệ nghĩa vụ người mang quyền không tác độngtrực tíêp đến tài sản của người mang nghĩa vụ Khi người mang nghĩa vụ khôngthực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền được sử dụng các phương thức màpháp luật cho phép để tác động và yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ đối vớimình (trái quyền).

Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó một bên chủ thể làmột hoặc nhiều người phải làm hoặc không được làm một hoặc một số việc nhấtđịnh vì lợi ích của chủ thể bên kia.Bên phải làm hoặc không được làm nhữngcông việc được gọi là người có nghĩa vụ (thụ trái) Bên được được hưởng lợi ích

có thể yêu cầu bên kia thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nào đó vìquyền lợi của mình được gọi là người có quyền (trái chủ)

Trong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tàisản, một công việc cụ thể nào đó Những tài sản, công việc này chính là đối tượngcủa việc thực hiện của việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Tuỳ thuộc vào tính chất,nội dung của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó có thể là một tàisản, một công việc phải làm hoặc một công việc không được làm

Điều 282 đối tượng của nghĩa vụ dân sự:

1 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản, công việc được thựchiện hoặc không được thực hiện

2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể

3 Chỉ những tài sản có thể giao dịch được, những công việc có thể thựchiện được mà pháp luật không cấm, không trái với đạo đức xã hội mới là đốitượng của nghĩa vụ dân sự

Trang 8

Qua đó chúng ta có thể rút ra được những đặc điểm của đối tượng nghĩa vụ:

- Phải đáp ứng được một lợi ích nào đó cho cho chủ thể có quyền thôngthường, lợi ích mà chủ thể hướng tới là một lợi ích vật chất (vật cụ thể, mộtkhoản tiền…) nhưng cũng có thể là một lợi ích tinh thần

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa vụdân sự là một vật cụ thể, thì vật đó phải mang đầy đủ các thuộc tính của mộthàng hoá (giá trị và giá trị sử dụng) Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là côngviệc, thì việc phải làm hoặc không được làm phải hướng tới lợi ích của người cóquyền

- Phải được xác định cụ thể Khi các bên giao kết hợp đồng để xác địnhnghĩa vụ dân sự đối nhau, phải xác định rõ đối tượng của nghĩa vụ là công việchay vật gì Trong trường hợp nghĩa vụ được thiết lập theo quy định của phápluật, thì đối tượng dã được pháp luật quy định rõ trong nội dung của quan hệnghĩa vụ đó Ví dụ: Bồi thường thiệt hại do hành vi gây thiệt hại, thì đối tượngcủa nghĩa vụ có thể là một vật được xác định cụ thể như loại vật, số lượng, chấtlượng… Nếu đối tượng là vật chưa có vào thời điểm nghĩa vụ dân sự được xáclập, thì phải là nhưng vật được xác định trong tương lai

Trong trường hợp không xác định rõ đối tượng của nghĩa vụ thì pháp luậtquy định: “Nếu không có thoả thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chấtlượng trung bình” (Điều 289 BLDS)

- Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, mục đích mà các bên muốn đạt được làmột lợi ích vật chất hoặc lợi ích về tinh thần, do vậy đối tượng của nghĩa vụ phảithực hiện được Nếu không thực hiện được sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của cácbên Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ dân sự là một công việc thì công việc

đó phải thực hiện được Những việc mà pháp luật cấm giao dịch hoặc nhữngviệc nếu làm sẽ trái với đạo đức xã hội không bao giờ được coi là đối tượng củanghĩa vụ dân sự

Trang 9

Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải là những công việc được xác định vàđược thực hiên trong thực tế, hoặc là những vật có thực và được phép giao dịch

mà bên có nghĩa vụ phải tạo ra hoặc phải chuyển giao

2.3 Ý nghĩa của việc quy định nghĩa vụ dân sự

Việc quy định nghĩa vụ dân sự mới nhằm xây dựng Bộ luật chung điềuchỉnh các quan hệ xã hội được xác lập theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tựthoả thuận và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể Theo đó, BLDS quy định địa

vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thểkhác, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan

hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

BLDS 2005 được ban hành là thực hiện một bước quan trọng phát triểnhoá pháp luật dân sự, khắc phục tình trạng không đầy đủ, tản mạn của pháp luậttrong lĩnh vực dân sự, các quan hệ dân sự, tạo cơ sở thuận lợi cho việc áp dụngthi hành pháp luật

BLDS 2005 cũng là sự kế thừa và phát triển của pháp luật dân sự của ôngcha ta BLDS 1995 và những tinh hoa của pháp luật dân sự trên thÕ giới vậndụng vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG 2: NGHĨA VỤ DÂN SỰ - NHỮNG ĐIỂM MỚI

1 Nh÷ng ®iÓm míi cña BLDS năm 2005 về nghĩa vụ d©n sự so với BLDS năm 1995

Phần thứ ba BLDS 2005 có 5 chương (từ chương XVII - XXI) 33 mục,

351 điều, từ điều 630 quy định chung về nghĩa vụ dân sự; trách nhiệm dân sự;hợp đồng dân sự; một số hợp đồng dân sự thông dụng; thực hiện công việckhông có uỷ quyền; nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu; sử dụng tài sản; được lợi

về tài sản không có căn cứ pháp luật; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng

Trong đề tài này tôi xin đề cập tới những điểm mới trong nghĩa vụ dân sự,bao gồm:

- Nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự

- Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

- Chấm dứt nghĩa vụ dân sự

1.1 Nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự (từ điều 280 đến điều 317)

Được quy định từ Điều 280 đến Điều 317 BLDS 2005

Nhìn chung các quy định về nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự thểhiện quan điểm cơ bản đó là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghiêm túc nghĩa

vụ của mình, nếu vi phạm thì phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phảibồi thường so với Bộ luật 1995, Bộ luật dân sự 2005 có những điểm mới sau:

1.1.1 Nghĩa vụ dân sự

Chế định nghĩa vụ là chế định xuất hiện sau chế định tài sản Điều nàyxuất phát từ lí do pháp luật về nghĩa vụ đòi hỏi xã hội phải phát triển đến mộtmức độ nhất định Trong giai ®oạn đầu của xã hội loài người, tồn tại hình thức

tự cung tự cấp, trong đó nhu cầu của con người được đáp ứng bằng vật chất dochính mình tạo ra Sau đó, bắt đầu quá trình trao đổi tài sản tạo ra được, trong

Trang 11

khi tiền tệ chưa được xác lập làm phương tiện thanh toán chung Tất cả nhữngđiều đó tất yếu được thể hiện trong pháp luật Trải qua quá trình hình thành vàphát triển khái niệm nghĩa vụ dân sự không ngừng được đổi mới và hoàn thiện.Trong BLDS 2005, khái niệm nghĩa vụ dân sự được quy định ở Điều 280, kháiniệm này được quy đinh cụ thể hơn khái niệm khái niệm nghĩa vụ dân sự so với

Bộ luật 1995 Điều 280 BLDS 2005 quy định: “nghĩa vụ dân sự là việc mà theo

đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyểngiao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việckhác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiềuchủ thể khác (sau dây gọi chung là bên có quyền)”

Khái niệm về nghĩa vụ dân sự được quy định trong BLDS cụ thể hơn sovới bộ luật 1995 Theo quy định của BLDS 2005 thì nghĩa vụ dân sự không chỉ

là việc phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi íchcủa một hoặc nhiều chủ thể khác mà còn bao gồm cả việc phải chuyển giaoquyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá khác Việc bổ sung thêm các quy định nàydựa trên cơ sở của việc nghiên cứu sâu các vấn đề lí luận về nghĩa vụ các loạinghĩa vụ thông thường

Nghĩa vụ chuyển giao vật là nghĩa vụ được thực hiện bởi hành vi chuyểngiao việc chiếm giữ đối với vật, trong đó có thể đồng thời chuyển giao quyền sởhữu, đây là loại nghĩa vụ thường phát sinh trong quan hệ tặng cho, mua bán,thuê, bảo quản

Nghĩa vụ chuyển giao quyền: Trước đây quyền của một chủ thể thườngđược hiểu là quan hệ riêng giữa người có quyền và người có nghĩa vụ, dần dầnnghĩa vụ càng trở thành một quyền về tài sản có giá trị nên đặc tính chuyển giaocủa nó được pháp luật dân sự thừa nhận, tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chuyểngiao quyền thực hiện khi đáp ứng được những yêu câu nhất định

Nghĩa vụ trả tiền là nghĩa vụ được thực hiện bởi hành vi thanh toán mộtkhoản tiền nhất định, hay nói cách khác đây là việc chuyển một khoản tiền có

Trang 12

giá trị xác định Nghĩa vụ trả tiền có đặc điểm là chủ thể có tịch biên tài sản củachủ thể có nghĩa vụ để thu hồi khoản tiền là đối tượng của nghĩa vụ, việc thựchiện nghĩa vụ phải tính đến hệ số trượt giá trong trường hợp thị trường có nhữngbiến động về giá cả Đây là loại nghĩa vụ rất phổ biến trên thực tế và có vị tríquan trọng trong mọi lĩnh vực.

 Về thực hiện nghĩa vụ trả tiền Điều 290 quy định: nghĩa vụ trả tiềnphải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoảthuận Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi, tiền nợ gốc, trừ trường hợp có thoảthuận khác

Việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền phải đảm bảo nguyên tắc chung là trungthực, hợp tác, đúng cam kết, không trái với pháp luật với dạo đức xã hội.Nguyên tắc này chi phối toàn bộ nguyên tắc có liên quan đến thực hiện nghĩa vụdân sự trong các giao dịch dân sự, thương mại, quan hệ hôn nhân gia đình, laođộng Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên được thoả thuận về cácnội dung cần thiết trong quá trình thực hiện nghĩa vụ dân sự

Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ trảtiền, theo đó bên có nghĩa vụ trả tiền phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúngđịa điểm và phương thức đã thoả thuận

So với Bộ luật dân sự năm 1995, điểm mới của quy định về thực hiệnnghĩa vụ trả tiền tại Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 là khoản 2 của điều này đãkhông quy định bắt buộc trong luật đồng tiền thanh toán phải là đồng tiền ViệtNam mà để cho các văn bản chuyên ngành khác quy định nhằm bảo đảm sự linhhoạt trong giao dịch dân sự Việc sửa đổi, bổ sung này xuất phát từ hai lí do:Thứ nhất với vai trò là luật chung điều chỉnh mọi quan hệ xã hội có tính bìnhđẳng thoả thuận, Bộ luật dân sự không nên quy định và không cần thiết quy địnhmột cách quá cứng nhắc là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền phải là đồng ViệtNam; thứ hai, việc sửa đổi này nhằm bảo đảm tính phù hợp với thực tế và một

số văn bản pháp luật chuyên ngành

Trang 13

1.1.2 Trách nhiệm dân sự (mục 3, chương 17, từ Điều 302 đến Điều

308)

Trong phần này có sự sửa đổi về cách tính lãi trong trường hợp bên cónghĩa vụ chậm tiền trả (khoản 2 Điều 305 BLDS năm 2005), theo đó bên nàyphải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàng nhànước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tiền tại thời điểm thanh toán,trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, vìhiện nay ngân hàng nhà nước không còn quy định về lãi xuúat nợ quá hạn nữa

 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định rõ hơn về trách nhiệm bồithường thiệt hại, bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và tráchnhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần Trách nhiệm bù đắp về tổn thất vật chất làtrách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền bao gồm tổnthất về tài sản,chi phí hợp lí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bịmất, bị giảm sút BLDS cũng quy định rõ trách nhiệm của người gây thiệt hại vềtinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhânphẩm, uy tín của người đó thì phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất vềtinh thần cho người bị thiệt hại ngoài viẹc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xinlỗi, cải chính công khai Trên cơ sở quy định tại điều 307 BLDS năm 2005, cácđiều từ 608 đến điều 612 quy định cụ thể về cách xác định thiệt hại, mức tối đacho việc bồi thường thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn thất về tinh thần Đây lànhững quan điểm mới quan trọng tạo điều kiện cho các toà án vận dụng khi giảiquyết cấc yêu cầu về bồi thường thiệt hại Trước đây BLDS năm 1995 quy định

về bồi thường thiệt hại còn mang tính chất chung chung nên trên thực tế gặp rấtnhiều vướng mắc, các cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại lại lúngtúng, không biết những thiệt hại nào chi phí nào có thể được tính để bồi thường

bù đắp tổn thất về tinh thần gồm những gì có thể được tính thành tiền haykhông

Ngày đăng: 25/08/2021, 20:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w