CDV Tài chính – Ngân hàng là một ngành khá là rộng, liên quan đến tất cả các dịch vụ giao dịch, luân chuyển tiền tệ. Vì vậy có rất nhiều các lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Ngành Tài chính – Ngân hàng chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau: Chuyên ngành Tài chính, chuyên ngành Ngân hàng, chuyên ngành Phân tích tài chính, Quỹ tín dụng…
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY TNHH HOA ANH ĐÀO
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH HOA ANH ĐÀO
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
- Tên công ty: Công ty TNHH Hoa Anh Đào.
- Tên giao dịch: HOA ANH DAO COMPANY LIMITED
- Giấy phép đầu tư số: 411043000357 do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/10/2007.
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH một thành viên.
- Địa chỉ: 3/6B, ấp 2, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngành nghề kinh doanh: sản xuất các loại búp bê và lồng đèn bằng vải truyền thống của Nhật Bản.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông SHIGERU FUJIKI quốc tịch Nhật Bản.
1.1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý
Công ty TNHH Hoa Anh Đào áp dụng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý theo hình thức trực tuyến chức năng, nhằm tối ưu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu đạt hiệu quả cao và tính hợp lý trong tổ chức.
Hình 1: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty.
Tổng giám đốc kiêm chủ tịch
Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc tài chính
1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạng của các phòng ban.
Công ty TNHH Hoa Anh Đào hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đảm bảo tuân thủ các quy định của nhà nước.
- Công ty có quyền tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, đổi mới công nghệ, trang thiết bị của mình.
Công ty được miễn thuế xuất nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 và Nghị định 149/2005/NĐ-CP, nhờ vào đặc điểm kinh doanh hàng gia công.
Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban.
Tổng giám đốc là người đại diện hợp pháp cho công ty tại Việt Nam, chịu trách nhiệm toàn diện về các hoạt động của công ty theo quy định pháp luật Bên cạnh đó, tổng giám đốc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm và giao dịch với khách hàng Nhật Bản, đồng thời chuyển giao các yêu cầu đặt hàng về Việt Nam để đảm bảo tiến độ sản xuất.
Phó giám đốc là người đại diện cho giám đốc tại Việt Nam, có trách nhiệm trực tiếp với Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất của công ty Hiện tại, công ty đang có hai phó giám đốc.
Phó giám đốc chịu trách nhiệm tài chính đảm nhận vai trò quan trọng trong việc quản lý tình hình tài chính của công ty Họ phụ trách các giao dịch với các cơ quan trong nước và đối tác liên quan đến thanh toán, cũng như các hoạt động kế toán, tài chính và xuất nhập khẩu của công ty.
Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật có nhiệm vụ quản lý tình hình sản xuất, đảm bảo tiến độ sản xuất đúng hạn và chỉ đạo kỹ thuật cho các sản phẩm.
Xưởng trưởng chịu trách nhiệm thực hiện chỉ đạo của Phó giám đốc kỹ thuật trong việc liên lạc với đối tác Nhật Bản qua email Đồng thời, xưởng trưởng cũng chuyển các chỉ thị đến bộ phận sản xuất dưới phân xưởng và chỉ đạo văn phòng sản xuất phân phối vải theo đúng catalogue và đơn hàng đã được xác định.
Phòng xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng hóa, đảm bảo trách nhiệm về việc xuất và nhập hàng hóa cho công ty Đồng thời, phòng cũng có nhiệm vụ lập các chứng từ cần thiết liên quan đến quy trình nhập và xuất hàng.
Phòng sản xuất phối hợp với xưởng trưởng để thực hiện các chỉ thị kỹ thuật sản xuất, chuyển giao thông tin xuống bộ phận sản xuất dưới phân xưởng Đồng thời, phòng cũng đảm bảo phân phối nguyên liệu theo đúng chỉ thị và catalogue Kiểm tra vải vóc theo catalogue là một nhiệm vụ quan trọng, cùng với việc phối hợp với các tổ trưởng nhằm đảm bảo tiến độ sản xuất được thực hiện đúng hạn.
Phòng hành chính – nhân sự có nhiệm vụ quản lý nhân viên, theo dõi và chấm công, đồng thời thực hiện các giao dịch hành chính liên quan đến lao động và bảo hiểm với các bộ, cơ quan ban ngành.
Tổ trưởng sản xuất có trách nhiệm tính toán số đo và định mức hàng hóa để xác định điểm sản xuất cho công nhân Bên cạnh đó, họ cũng phân chia hàng hóa và công việc cho các tổ viên trong nhóm nhằm đảm bảo tiến độ xuất hàng đúng hạn.
1.1.2.3 Tổ chức bộ máy sản xuất
Hình 2: Sơ đồ bộ máy sản xuất của công ty
1.1.3 Các hoạt động sản xuất của công ty.
- Loại búp bê này dùng để trưng theo bộ, một bộ đầy đủ gồm: o 1 con Tono. o 1 con Hime. o 3 con Kanjo. o 3 con Jicho.
Tổ Hime chuyên sản xuất búp bê Hime và Jicho, tượng trưng cho Hoàng hậu và công chúa Quy trình sản xuất các loại búp bê này đòi hỏi sự khéo léo và nhiều nguyên liệu phong phú, bao gồm vải kinran, các loại vải Q và lót, cùng với thân gỗ, để tạo nên những chi tiết đẹp và phức tạp.
Tổ Kanjo chuyên sản xuất búp bê Kanjo và Gonin, loại búp bê người hầu với quy trình làm đơn giản hơn so với hai loại búp bê khác Mặc dù thiết kế không cầu kỳ, nhưng từng công đoạn đều yêu cầu sự tỉ mỉ và chính xác cao.
Tổ cắt là bộ phận quan trọng trong quy trình sản xuất búp bê, có nhiệm vụ kiểm tra và cắt các loại vải vóc theo các số đo chính xác đã được tính toán từ trước Tất cả nguyên liệu vải cần thiết cho việc tạo ra búp bê thành phẩm đều phải qua tổ này trước khi được chuyển đến tổ may.
- Tổ may: nhận hàng từ tổ cắt chuyển sang và ráp các chi tiết lại với nhau chuyển qua cho công nhân các tổ làm chi tiết thành phẩm.
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TRUYỀN THỐNG CỦA NHẬT BẢN TẠI CÔNG TY HOA ANH ĐÀO VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA NHẬT BẢN XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY HOA ANH ĐÀO
2.1.1 Tình hình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang Nhật.
2.1.1.1 Nguồn nguyên liệu. Đối với sản phẩm công ty gia công thì vấn đề nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng Sản phẩm gia công của công ty là những con búp bê truyền thống, mặc những trang phục KIMONO của Nhật Bản, do đó chất liệu để làm nên những trang phục này ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn chưa sản xuất được Nguồn nguyên liệu nhập khẩu chiếm khoảng 70% trong sản phẩm và được nhập vào Việt Nam dưới hình thức tạp nhập tái xuất Các nguyên liệu nhập khẩu chính là:
Kasane Sekkitai Koshikake Ashi Wata
Các sản phẩm của công ty có sự đa dạng về tên gọi và hình dạng, nhưng nguyên liệu chính để sản xuất lại giống nhau Sự khác biệt chủ yếu nằm ở một số phụ kiện đi kèm, những phụ kiện này được nhập khẩu từ trong nước.
Công ty thu mua khoảng 30% nguyên liệu từ nguồn trong nước, chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Với lượng nguyên liệu không lớn, công ty không cần đặt hàng trước mà có thể mua trực tiếp khi cần, giúp giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng trong nước Hơn nữa, nguồn cung ổn định, đảm bảo không gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của công ty.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
2.1.1.2 Cơ cấu sản phẩm, số lượng sản xuất từng ngành hàng.
Bảng 1: Cơ cấu sản phẩm và số lượng sản xuất năm 2008 – 2009
Tên sản phẩm Đơn vị 2008 2009 Chênh lệch
Nguồn: phòng xuất nhập khẩu của công ty.
Hình 3: Cơ cấu sản phẩm sản xuất năm 2008.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
Hình 4: Cơ cấu sản phẩm sản xuất năm 2009 Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 - 2009.
2008 2009 Chênh lệch Tốc độ tăng trưởng (%)
Số lượng (đv sản phẩm) 179.386 144.588 -34.798 -19%
Nguồn: phòng xuất nhập khẩu của công ty.
Năm 2009, sản lượng sản xuất giảm 19%, tương đương 34.798 đơn vị, với sản phẩm lồng đèn chiếm hơn 70% tổng sản phẩm, tiếp theo là búp bê trên 20% Số lượng lồng đèn sản xuất giảm 1,19% (26.575 chiếc) và oshie giảm 1,32% (4.024 con), trong khi búp bê tăng 0,83% nhưng giảm 6.538 con về số tuyệt đối, chỉ có lồng treo tăng 1,68% với 2.339 chiếc Sự giảm sút này chủ yếu do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản từ cuối năm 2007.
Năm 2009, nền kinh tế Nhật Bản đối mặt với nhiều khó khăn, dẫn đến việc thu nhập của người dân giảm sút Sự giảm sút này ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là đối với các sản phẩm không thiết yếu, do giá cả tương đối cao Hệ quả là sản lượng giảm, khiến kim ngạch xuất khẩu của công ty sụt giảm 11%, tương đương 73.328.266 USD.
Trong hai năm 2008 và 2009, tỷ giá VND/USD đã có sự biến động mạnh mẽ, thay đổi gần như hàng ngày, điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
2.1.1.3 Tình hình sản xuất từng loại sản phẩm.
2.1.1.3.1 Sản phẩm lồng đèn Hình 5: Quy trình sản xuất lồng đèn tại công ty Hoa Anh Đào.
Quy trình sản xuất lồng đèn gồm 4 khâu chính: lắp khung, căng dây, lên lồng và tháo khung phơi khô Mỗi công đoạn được thực hiện thủ công với sự khéo léo của người công nhân và được kiểm tra nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng sản phẩm Tại công ty, lương của công nhân sản xuất lồng đèn được tính theo thời gian làm việc.
Hình 6: So sánh sản lượng lồng đèn sản xuất (theo quý) năm 2008 – 2009.
Lắpkhung Căng dây Lên lồng Kiểm hàng đóng hàng và xuất
Công nhân Tổ trưởng, bộ phận xuất nhập khẩu
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
Dựa vào biểu đồ, sản lượng lồng đèn sản xuất cao nhất vào quý II và III, chiếm hơn 50% tổng sản lượng cả năm, đặc biệt trong mùa lễ hội tháng 4 và 5 Năm 2008, sản lượng quý II tăng 899,9% so với quý I, với 57.638 chiếc, nhưng sang quý III giảm 40% và quý IV tiếp tục giảm do kết thúc mùa vụ Năm 2009, sản lượng chung giảm so với năm 2008, tuy quý II vẫn cao hơn quý I với 46.696 chiếc, nhưng các quý tiếp theo giảm dần, cụ thể quý III giảm 54,5% và quý IV giảm 56% Mặc dù quý I năm 2009 tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước, nhưng sản lượng quý II giảm 12,8%, quý III giảm 34%, và quý IV giảm mạnh nhất 41,9% Điều này cho thấy mùa vụ sản phẩm tập trung vào giữa năm, trong khi đầu và cuối năm sản lượng thấp Nguyên nhân sụt giảm sản lượng vào quý II và III năm 2009 là do nền kinh tế Nhật Bản vẫn suy giảm, mặc dù cuối năm 2009 có dấu hiệu hồi phục nhưng sản lượng vẫn giảm do đã vào cuối mùa vụ.
Hình 7: Quy trình sản xuất lồng treo.
Quy trình sản xuất lồng treo bao gồm 4 khâu, với mỗi công đoạn đều được thực hiện thủ công, ngoại trừ khâu may sử dụng máy may Sản phẩm lồng treo có nhiều búp bê nhỏ kết nối với nhau, yêu cầu cao về sự khéo léo và kiên nhẫn của công nhân Công nhân sản xuất lồng treo nhận lương theo sản phẩm hoàn thành.
Bảng 4: Sản lượng lồng treo sản xuất (theo quý) năm 2008 – 2009.
Cắt vải, lấy số đo May Lộn, nhồi bông Lên lồng Kiểm hàng, đóng hàng và xuất
Công nhân Tổ trưởng, bộ phận xuất nhập khẩu
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
Hình 8: So sánh sản lượng lồng treo sản xuất (theo quý) năm 2008 – 2009
Trong năm 2009, sản phẩm lồng treo đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể về sản lượng, trở thành ngành hàng duy nhất có sự tăng trưởng này Khác với năm 2008, khi sản lượng sản xuất trong quý I và II đạt 0, năm 2009 đã chứng kiến sự khởi sắc ngay từ quý đầu với các đơn đặt hàng được công ty tiếp nhận Sản lượng lồng treo tiếp tục tăng trưởng ổn định trong các quý tiếp theo của năm 2009.
Vào cuối năm 2009, nền kinh tế Nhật Bản đã có dấu hiệu khởi sắc, với sản lượng tăng mạnh trong quý IV, đạt 1.375 chiếc, tăng 138,3% so với quý III và 577,7% so với cùng kỳ năm 2008 Sự gia tăng này được thúc đẩy bởi tính thời vụ của sản phẩm, khi người dân mua sắm để trang trí nhà cửa cho dịp năm mới Cụ thể, quý II ghi nhận mức tăng 27,7% so với quý II và 136,7% so với cùng kỳ năm 2008, trong khi quý I có lượng tăng 487 chiếc.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
2.1.1.3.3 Sản phẩm búp bê (búp bê, oshie)
Quy trình sản xuất búp bê thường bao gồm nhiều con búp bê được làm từ bộ, với mỗi con đều sở hữu vẻ đẹp và chi tiết tinh xảo Để đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn về nguyên liệu, tiến độ và chất lượng, tổ sản xuất búp bê được tổ chức đông đảo công nhân, chia thành nhiều khâu, mỗi khâu có người phụ trách riêng.
Bảng 5: Sản lượng búp bê sản xuất (theo quý) năm 2008 - 2009
Hình 10: So sánh sản lượng búp bê sản xuất (theo quý) năm 2008 – 2009.
Nhập vải và các công cụ sản xuất
Phân loại theo đơn hàng, chia cho các tổ
Cắt vải theo số đo có sẵn, chuyển sang may ráp
Thực hiện các khâu ủi, lộn, ghép các chi tiết, và lên hàng thành phẩm
Kiểm hàng, đóng và gửi hàng sang Nhật.
Tổ trưởng, bộ phận xuất nhập khẩu.
Bộ phận may. thống kê, kho, các tổ trưởng.
Bộ phận xuất nhập khẩu vật tư.
Sản lượng búp bê trong năm 2009 đã giảm so với năm 2008, với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong quý II nhưng giảm sút ở quý III và IV Cụ thể, quý I năm 2008 sản xuất thấp, trong khi quý II năm 2008 ghi nhận mức tăng 8.619 con, và quý III tăng 81,5% với 7.497 con Đến quý IV năm 2008, sản lượng giảm khoảng 18,3% Năm 2009, sản lượng quý I tăng gần 7 lần so với cùng kỳ năm trước, đạt 3.508 con, nhưng quý II chỉ tăng nhẹ 4% Quý III năm 2009 chứng kiến sự giảm sút gần một nửa với 7.740 con, và quý IV tăng 19% so với quý III nhưng giảm 19% so với cùng kỳ năm 2008, tương ứng với 2.643 con Tổng quan, sản lượng búp bê sản xuất có xu hướng tăng vào cuối năm, nhưng sự chênh lệch giữa các quý không đáng kể.
Bảng 6: Sản lượng oshie sản xuất (theo quý) năm 2008 - 2009
Hình 11: So sánh sản lượng oshie sản xuất (theo quý) năm 2008 – 2009.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
IV Nhưng ở năm 2009, tình hình ngược lại, sản lượng giảm dần ở quý II, III và IV. Nguyên nhân của sự sụt giảm là do lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản giảm Nhìn lại các biểu đồ so sánh sản lượng của từng loại sản phẩm ta thấy, sản lượng của quý I năm 2009 luôn cao hơn so với cùng kỳ năm 2008, sau đó, sản lượng ở các quý tiếp theo của năm 2009 đều giảm so với năm 2008 (trừ sản phẩm lồng treo) Sản phẩm oshie cũng theo quy luật đó, nhưng do sản lượng quý I tăng quá nhiều dẫn đến tiêu thụ không hết nên sản lượng giảm mạnh vào các quý tiếp theo để giảm lượng hàng tồn kho.
Bảng 7: Tổng sản phẩm sản xuất (theo quý) năm 2008 – 2009
Q.I Q.II Q.III Q.IV Q.I Q.II Q.III Q.IV
Nguồn: phòng xuất nhập khẩu công ty Hoa Anh Đào
Hình 12: So sánh tổng sản phẩm (theo quý) năm 2008 – 2009
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
Theo biểu đồ, tổng sản lượng của quý II, III và IV năm 2009 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2008, chỉ có quý I năm 2009 ghi nhận mức tăng hơn 50% Quý II và III chiếm hơn 60% tổng sản lượng cả năm, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nhu cầu thị trường Nhật Bản Là công ty gia công, sản xuất theo đơn đặt hàng và phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu chính, công ty không thể chủ động trong việc sản xuất, dẫn đến việc không thể sản xuất trước và xuất kho theo đơn hàng Sự suy giảm của nền kinh tế Nhật Bản đã tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất của công ty.
2.1.1.4 Phân tích dãy số thời gian và dự báo sản luợng trong thời gian tới
2.1.1.4.1 Phân tích tính xu hướng (T).
Xác định hàm hồi quy y t = b 0 + b 1 t cho từng loại sản phẩm. a Lồng đèn y = 28.700 + 4.776t b Lồng treo y = 424 + 112t c Búp bê y = 9.215 + 1.726t d Oshie y = 2.159 + 326t.
2.1.1.4.2 Xác định chỉ số thời vụ (S).
Bảng 8: Chỉ số thời vụ của từng loại sản phẩm Đơn vị: %
Chỉ số thời vụ S I II III IV
Bảng 9: Chỉ số thời vụ điều chỉnh. Đơn vị: %
Sản phẩm Chỉ số thời vụ trung bình
Chỉ số thời vụ điều chỉnh.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
2.1.1.4.3 Dự báo sản lượng cho từng sản phẩm vào quý III và IV năm 2010 a Lồng đèn.
Bảng 10: Sản lượng lồng đèn dự đoán vào quý III và IV năm 2010
Bảng 11: Sản lượng lồng treo dự đoán vào quý III và IV năm 2010
Bảng 12: Sản lượng búp bê dự đoán vào quý III và IV năm 2010
Bảng 13: Sản lượng oshie dự đoán vào quý III và IV năm 2010
2.1.2 kết quả hoạt động của công ty Hoa Anh Đào.
Bảng 14: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tổng hợp năm 2008 - 2009 Đơn vị: nghìn đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 Chênh lệch Tốc độ tăng
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh trưởng (%)
DT thuần bán hàng và cung cấp DV 10.896.414 10.454.894 -441.520 -4.1% Giá vốn hàng bán 7.584.775 6.822.290 -762.485 -10.1%
DT từ hoạt động TC 239.804 271.412 31.608 13.2%
Chi phí quản lý DN 1.434.547 1.502.631 68.084 4.7%
LN thuần từ hoạt động kinh doanh 1.628.868 2.024.842 395.974 24.3%
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ SANG NHẬT TẠI CÔNG TY HOA ANH ĐÀO
TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
Công ty hiện đang phụ thuộc vào tính thời vụ của sản phẩm, vì các sản phẩm được sản xuất chủ yếu dựa trên đơn đặt hàng.
Vì vậy, vào những thời điểm trái mùa, số lượng sản xuất của công ty thường rất thấp.
Công ty hiện chưa sở hữu đội ngũ chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm và quảng bá sản phẩm Hiện tại, hoạt động chủ yếu của công ty chỉ là gia công theo đơn đặt hàng với số lượng, mẫu mã và kiểu dáng có sẵn Điều này có thể khiến công ty đối mặt với rủi ro nếu các đối tác kinh doanh không còn hiệu quả.
Số lượng nguyên liệu mua từ trong nước hiện còn hạn chế, khiến lợi nhuận của công ty chủ yếu phụ thuộc vào phí gia công Nếu công ty có khả năng tự chủ về nguồn nguyên liệu, sẽ có cơ hội nhận thêm lợi ích từ nhà cung ứng và gia tăng giá trị sản phẩm.
Sản phẩm hiện tại chưa thể sản xuất hàng loạt với số lượng lớn để đáp ứng các đơn đặt hàng lớn, vì quy trình sản xuất vẫn chủ yếu được thực hiện thủ công.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ SANG NHẬT BẢN TẠI CÔNG TY TNHH HOA ANH ĐÀO
Sau khi phân tích thấy được những vấn đề còn tồn tại của công ty, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
3.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tương lai, công ty TNHH Hoa Anh Đào xác định nguồn nhân lực là yếu tố quyết định Công ty sẽ đa dạng hóa hình thức tuyển dụng, thực hiện tuyển dụng theo nhu cầu sản xuất kinh doanh, ưu tiên trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức, đồng thời áp dụng các chế độ đãi ngộ để thu hút nhân tài.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh thần làm việc, tăng sự gắn bó đối với công ty, tránh trường hợp công nhân bỏ việc về quê.
Thực hiện chế độ tiền lương phù hợp với năng suất lao động là điều cần thiết để khuyến khích các nhà quản lý có năng lực và công nhân tay nghề cao Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả làm việc mà còn tạo động lực cho nhân viên phát triển kỹ năng và cống hiến nhiều hơn cho tổ chức.
Nâng cao trình độ quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực điều hành kỹ thuật và các phòng chức năng, là yếu tố quan trọng để cải thiện bộ máy điều hành của công ty.
3.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là yêu cầu hàng đầu của người tiêu dùng Nhật Bản, đặc biệt khi thu nhập và mức sống của họ được cải thiện Nhu cầu về cái đẹp và cái tốt cũng tăng cao, do đó, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm không chỉ đáp ứng mong đợi của khách hàng mà còn nâng cao uy tín của công ty Để nâng cao chất lượng sản phẩm, các công ty cần thực hiện những biện pháp cụ thể và hiệu quả.
- Thường xuyên đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động.
- Quản lý chặc chẽ quy trình sản xuất để kịp thời phát hiện và sửa chữa những lỗi sai khi chưa thành thành phẩm.
- Tìm kiếm những nguồn nguyên liệu mới, có chất lượng phục vụ tốt hơn cho việc sản xuất sản phẩm.
- Nghiên cứu, ứng dụng máy móc vào một số khâu cần thiết.
3.2.3 Mở rộng hoạt động sản xuất, và đa dạng hóa sản phẩm.
Theo xu hướng hiện nay, nhiều công ty đa dạng hóa kinh doanh với mục tiêu tăng lợi nhuận và giảm rủi ro Ngoài gia công, các công ty nên khai thác các lĩnh vực khác mà họ có lợi thế tại Việt Nam Việc tìm kiếm khách hàng mới và nhận gia công thêm sản phẩm phụ sẽ giúp đa dạng hóa sản phẩm, thu hút nhiều khách hàng hơn, tạo thêm việc làm và tăng lợi nhuận Đồng thời, đầu tư vào trang thiết bị sản xuất là cần thiết để nâng cao năng suất lao động.
3.2.4 Chủ động từ đầu vào đến đầu ra.
Công ty chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu từ Nhật Bản theo hình thức tạm nhập tái xuất, do Việt Nam hiện chưa sản xuất được những nguyên liệu này.
Nếu có điều kiện, công ty nên nghiên cứu và chủ động sản xuất nguyên liệu đầu vào Điều này không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm mà còn tạo thêm việc làm và gia tăng giá trị cho sản phẩm.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh, công ty cần chủ động không chỉ trong việc cung ứng nguyên liệu mà còn trong việc phát triển đầu ra Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam còn yếu kém trong nghiên cứu thị trường và xây dựng thương hiệu, dẫn đến thiếu thông tin cần thiết Việc xây dựng thương hiệu uy tín cho công ty gia công là rất quan trọng, giúp thu hút nhiều khách hàng hơn Do đó, công ty nên thành lập bộ phận nghiên cứu thị trường để thu thập thông tin, phát triển chiến lược marketing hiệu quả, và chủ động tìm kiếm khách hàng mới nhằm tăng sản lượng và lợi nhuận.
Bài tiểu luận GVHD: Trần Hoa Quỳnh