Đề bài: Bình luận hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện. Bài làm 1. Một số khái niệm và cơ sở lý luận về hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013 và các Luật về tổ chức bộ máy (Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật kiểm toán nhà nước, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...), Luật năm 2015 đã xác định lại nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như sau:
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI THI MÔN :
XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Bắc Giang, tháng 07 năm 2021
Trang 3Đề bài:
Bình luận hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện
Bài làm
1 Một số khái niệm và cơ sở lý luận về hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013 và các Luật về tổ chức bộ máy (Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật kiểm toán nhà nước, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ), Luật năm 2015 đã xác định lại nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như sau:
- Đối với luật, nghị quyết của Quốc hội: Luật năm 2015 quy định rõ ràng, cụ thể những nội dung Quốc hội phải ban hành luật và những nội dung Quốc hội ban hành nghị quyết (Điều 15) Theo đó, Quốc hội ban hành luật để quy định về tổ chức, bộ máy nhà nước, chính sách cơ bản tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước, chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chính sách đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia….; ban hành nghị quyết để quy định việc thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành; tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn
bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia
- Đối với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 16): so với Luật năm 2008, Luật năm 2015 không quy định “cứng” việc pháp lệnh sau một thời gian thực hiện phải trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật; đồng thời, bổ sung một số nội dung Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết, gồm: Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội; Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
2 Quy trình xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định của pháp luật hiện hành.
Bước 1: Lập Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh;
Trang 4Bước 2: Sọan thảo Lật của Quốc Hội, Pháp Lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bước 3: Thẩm tra dự án Luật, Pháp lệnh;
Bước 4: Ủy Ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến;
Bước 5: Thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự án Luật, Pháp lệnh
Bước 6: Công bố Luật, pháp lệnh
3 Thực trạng hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh hiện nay.
Giai đoạn 2016 - 2020,(1) Chính phủ đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội đã ban hành: 112 văn bản (71 luật, 02 pháp lệnh, 22 nghị quyết của Quốc hội, 17 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội), giảm 08 văn bản so với giai đoạn 2011 - 2015; Chính phủ ban hành 745 nghị định, tăng 24 nghị định so với giai đoạn 2011 - 2015 (721 văn bản), Thủ tướng Chính phủ ban hành 232 quyết định giảm 129 quyết định so với giai đoạn 2011 - 2015 (361 văn bản); các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành 2422 thông tư, 110 thông
tư liên tịch giảm 201 văn bản so với giai đoạn 2011 - 2015 (2733 văn bản); ở địa phương ban hành tổng số 92.799 văn bản gồm: 16.341 văn bản cấp tỉnh tăng 2.552 văn bản so với giai đoạn 2011 - 2015 (13.789 văn bản), 12.427 văn bản cấp huyện giảm 18.320 văn bản so với giai đoạn 2011 - 2015 (30.747 văn bản), 64.031 văn bản cấp xã giảm 131.083 văn bản so với giai đoạn
2011-2015 (195.114 văn bản)
Số liệu trên cho thấy văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giảm so với giai đoạn 2011 - 2015, điều đó thể hiện chuyển dần theo hướng chỉnh tinh hệ thống pháp luật, hoàn thiện và nâng cao chất lượng các luật, pháp lệnh, nghị định đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội Riêng đối với văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tăng so với giai đoạn trước cho thấy trách nhiệm, vai trò của các tư lệnh ngành được đề cao theo sự phân cấp trong quản lý chỉ đạo, điều hành đối với ngành, lĩnh vực Văn bản của chính quyền địa phương giảm, đặc biệt cấp huyện, cấp xã giảm
rõ rệt, các cấp này tập trung vào việc triển khai tổ chức thi hành pháp luật Hệ thống pháp luật hiện đã cơ bản đầy đủ, chất lượng, với vị trí tối cao của Hiến pháp, các đạo luật là trung tâm, thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Ðảng, điều chỉnh có hiệu quả toàn diện các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ,Công tác lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
đã có nhiều đổi mới, chuyển từ việc xây dựng chương trình cả nhiệm kỳ sang chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, bảo đảm tính linh hoạt, tăng cường khả năng thích ứng nhanh của chính sách, pháp luật với các vấn đề
1 Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, trong giai đoạn 2016 – 2020.
2
Trang 5kinh tế - xã hội; đổi mới một cách cơ bản, toàn diện quy trình xây dựng, ban hành văn bản theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh Việc lập đề nghị đưa dự án vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện chặt chẽ, thực chất hơn Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ, các cơ quan đề xuất bảo đảm cơ chế hoạch định chính sách công khai, minh bạch và huy động được trí tuệ của
xã hội tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật; thể hiện rõ thứ tự ưu tiên ban hành luật trên một số lĩnh vực phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn
4 Đánh giá một số tồn tại, bất cập bất cập và nguyên nhân của những tồn tại, bất cập, hạn chế.
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thời gian qua, trong việc lập và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh vẫn còn không ít hạn chế Tính dự báo của chương trình không cao, chủ yếu vẫn chạy theo tiến độ, tính "gối đầu" chuẩn bị cho năm tiếp theo thấp Việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong một số trường hợp là cần thiết nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, yêu cầu hội nhập quốc tế nhưng thực tế việc đề xuất bổ sung dự án diễn ra khá thường xuyên, trong đó có không ít dự án được đề nghị bổ sung vào thời điểm gần sát
kỳ họp Quốc hội, gây khó khăn, bị động cho các cơ quan của Quốc hội Tình trạng xin lùi thời gian trình hoặc rút dự án ra khỏi chương trình do chưa chuẩn
bị kịp hoặc chuẩn bị không đạt yêu cầu vẫn còn Chất lượng một số đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chưa cao, chưa có đầy đủ căn cứ khoa học và thực tiễn, chưa bảo đảm tính khách quan; không ít báo cáo đánh giá tác động, báo cáo tổng kết còn sơ sài, mang tính hình thức, chưa nhận diện và đánh giá đầy
đủ tác động, nhất là các tác động bất lợi của chính sách dự kiến; thiếu đánh giá về nguồn lực thực hiện hoặc dự kiến nguồn lực còn định tính, thiếu định lượng Việc tổ chức lấy ý kiến trong quá trình xây dựng dự án nhiều trường hợp còn hình thức, hiệu quả không cao, đối tượng được lấy ý kiến chưa đầy đủ; việc tham gia ý kiến của không ít cơ quan, tổ chức còn mang tính chiếu lệ
Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế nêu trên chủ yếu là do một số nguyên nhân sau:
- Khâu tổ chức thực hiện chưa tốt, kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật chưa nghiêm Một số cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quy trình xây dựng pháp luật chưa phát huy hết trách nhiệm;
- Chưa quan tâm, đầu tư thỏa đáng cho việc nghiên cứu, đề xuất dự án
và công tác soạn thảo, chưa bám sát yêu cầu của Luật, đánh giá tác động của chính sách cũng như việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan, đối
3
Trang 6tượng chịu sự tác động của chính sách theo quy định Hoạt động của một số ban soạn thảo, tổ biên tập chưa hiệu quả;
Chưa khắc phục triệt để tình trạng đưa vào dự án các quy định nhằm tạo thuận lợi hoặc bảo vệ lợi ích cục bộ của bộ, ngành Công tác phối hợp giữa cơ quan soạn thảo dự án, cơ quan thẩm tra trong một số trường hợp còn chưa chặt chẽ, hiệu quả
- Việc rà soát để nhận diện những quy định pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo nhằm đề xuất sửa đổi, bổ sung ngay trong quá trình soạn thảo trong một số trường hợp chưa được chú trọng dẫn đến nội dung dự án, dự thảo trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật
5 Một số kiến nghị, giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên.
Để tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật trong thời gian tới, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung năm 2020 về trình tự, thủ tục chuẩn bị lập đề nghị, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, trình dự án;
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật Có biện pháp thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, bảo đảm tiến độ soạn thảo, kiên quyết chưa xem xét việc trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội những
dự án không đủ hồ sơ, chưa bảo đảm chất lượng
Xác định rõ trách nhiệm và có biện pháp xử lý đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có dự án được giao không chuẩn bị đúng tiến độ, chất lượng không bảo đảm phải xin lùi, rút khỏi chương trình Ðối với việc điều chỉnh chương trình xây dựng lật, pháp lệnh, đề nghị Chính phủ và các cơ quan khi đề xuất
bổ sung dự án cần cân nhắc kỹ tính cấp thiết và mức độ, thứ tự ưu tiên
Chấp hành, quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn đối với các văn bản quy định chi tiết của các luật, pháp lệnh đã hết hiệu lực nhưng chưa ban hành kịp thời văn bản thay thế, Chính phủ thống nhất tiếp tục áp dụng nếu không trái với tinh thần của luật, pháp lệnh mới được ban hành Đồng thời, yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chỉ đạo tập trung các nguồn lực cần thiết, đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết mà luật, pháp lệnh quy định
- Quy định cụ thể, rõ ràng hơn trình tự, thủ tục xây dựng, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn Ví dụ: trong trường hợp tổ chức lấy ý kiến thì thời hạn lấy ý kiến không quá 20 ngày; việc thẩm định, thẩm tra phải được tiến hành trong thời hạn 05 ngày
4
Trang 7làm việc kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản; quy trình xem xét, thông qua được thực hiện theo trình tự tương ứng với trình tự xem xét, thông qua văn bản đó
- Quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo quy trình rút gọn: Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành
5