1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài giảng Lịch sử tư tưởng phương đông và Việt Nam - ĐH Phạm Văn Đồng

69 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 800,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Lịch sử tư tưởng phương đông và Việt Nam cung cấp cho người học những kiến thức như: Lịch sử tư tưởng Trung Quốc; Lịch sử tư tưởng Ấn Độ; hồi giáo; Khái quát Lịch sử Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến năm 1945; Những tư tưởng chính trị; Các tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI

Bài giảng học phần

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG

Chương trình đại học ngành Sư phạm Ngữ văn

Giảng viên: Võ Hồng Thủy Khoa: Sư phạm Xã hội

Quảng Ngãi, tháng 5/2021

Trang 2

PHẦN A: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG Chương 1: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC 1.1 Khái quát về Trung Quốc

1.1.1 Địa lý tự nhiên

Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời, là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Là một nước lớn ở châu Á và thế giới nằm ở Đông Bắc Á Ngoài đại lục, còn có nhiều đảo, trong đó có đảo Hải Nam là đảo lớn nhất

Diện tích: khoảng 9.600.000km2, phía đông giáp biển; đường biên giới đất liền dài hơn 20.000km từ Đông Bắc đến phía Nam, tiếp giáp với Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Cadăcxtan, Ấn Độ, Lào, Việt Nam…

Có hai con sông lớn bắt nguồn từ phía tây chảy ra Biển Đông là Hoàng Hà ở phía Bắc dài 5.464km và Trường Giang (Dương Tử) ở phía Nam dài 6.300km

Tại nơi tiếp giáp giữa biên giới Tây Nam TQ và Nêpan có ngọn núi Chômôlungma (Everest) cao nhất thế giới (8.848m)

Về khí hậu: khí hậu Trung Quốc phức tạp và đa dạng, đại bộ phận thuộc khí hậu ôn đới và á nhiệt đới, miền nam khí hậu nhiệt đới, miền đông là vùng gió mùa, ẩm ướt, mưa nhiều, miền tây nhiều núi, khí hậu khô hanh

Khi mới thành lập Trung Quốc chỉ là một vùng đất nhỏ ở lưu vực sông Hoàng

Hà Từ TK III TCN, Trung Quốc trở thành một nước phong kiến, không ngừng đẩy

mạnh các cuộc chiến tranh xâm lược để mở rộng lãnh thổ Đến thế kỷ XVIII, lãnh thổ

Trung Quốc về cơ bản được xác định như hiện nay

1.1.2 Dân cư

Trung Quốc là một trong những chiếc nôi của loài người Năm 1929, ở Chu Khẩu Điếm (Tây Nam Bắc Kinh) giới khảo cổ học Trung Quốc đã phát hiện được xương hóa thạch của một loại người vượn sống cách đây khoảng 400.000 năm Những xương hóa thạch của người vượn được phát hiện sau đó trên lãnh thổ Trung Quốc đã cung cấp những niên đại xưa hơn, đặc biệt người vượn Nguyên Mưu (Vân Nam) phát hiện năm 1977 có niên đại đến 1.700.000 năm

Về mặt chủng tộc, cư dân ở lưu vực Hoàng Hà thuộc giống Mông Cổ, đến thời Xuân Thu được gọi là Hoa Hạ, nói tắt là Hoa hoặc Hạ Đó là tiền thân của Hán tộc sau này Còn cư dân ở phía Nam Trường Giang thì khác hẳn cư dân vùng Hoàng Hà về ngôn ngữ và phong tục tập quán, tục cắt tóc, xăm mình, đi chân đất Đến thời Xuân Thu các tộc người này cũng bị Hoa Hạ đồng hóa

Trung Quốc là quốc gia nhiều dân tộc, tổng cộng có 56 dân tộc, người Hán chiếm 93,3%, 55 dân tộc còn lại chỉ chiếm 6,7% Người Choang đông nhất (13 triệu người) Người Hán định cư ở các lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang, Chu Giang

Trang 3

có trình độ phát triển về mọi mặt cao hơn các dân tộc khác, có ngôn ngữ và chữ viết riêng, chữ Hán trở thành chữ viết thống nhất của quốc gia

1.1.3 Đại cương lịch sử Trung Quốc

Niên biểu Trung Quốc:

* Thời tiền sử: Người vượn Bắc Kinh: 50 - 60 vạn năm

Người Hà Sáo: 20 vạn năm Người Sơn Đỉnh Động: 10 vạn năm Đồ đá mới: Phục Hy – Thần Nông – Hoàng đế Văn hóa đồ đồng: 1 vạn năm

Văn hóa Long Sơn: 5000 năm

* Thời cổ đại: Nhà Hạ: Khoảng TK XXI đến XVI TCN

Nhà Thương: TK XVI – XII TCN Nhà Chu: TK XI – III TCN

* Thời phong kiến: Tần: 221 – 206 TCN

Tây Hán: 206 TCN – 8 TCN Tân: 9 – 23

Đông Hán: 25 – 220 Tam Quốc: Ngụy, Thục, Ngô: 220 – 280 Tấn: 265 – 420

Nam – Bắc triều: 420 – 581 Tùy: 581 – 618 Đường: 618 – 907 Ngũ đại thập quốc: 907 – 960 Tống: 960 – 1279 Nguyên: 1271 – 1368 Minh: 1368 – 1644 Thanh: 1644 – 1911 Từ thời cổ đại cho đến đầu thế kỷ XX, Trung Quốc vẫn giữ được khá nguyên vẹn nền văn hóa văn minh của mình nhờ vào số lượng đông đảo của dân cư Hán có trình độ phát triển cao hơn các dân tộc xung quanh Tuy có lúc bị chinh phục bằng vũ lực nhưng họ lại chinh phục trở lại bằng một nền văn hóa cao hơn

Trong lịch sử 4000 năm, có 2 thời kỳ văn minh Trung Quốc tiếp xúc với những nền văn minh khá cao: Thời kì thứ nhất là tiếp xúc với nền văn minh Ấn Độ từ thế kỷ XVI đến hết đời Đường Hệ quả tiêu biểu là sự du nhập và phát triển thịnh đạt của Phật giáo Thời kỳ thứ hai là tiếp xúc với văn minh phương Tây từ thế kỷ XVI đến hết thời Cận đại, đặc biệt là từ năm 1911, với sự du nhập của Thiên Chúa giáo, lịch pháp,

Trang 4

toán học, thiên văn Những kết quả đó đã góp phần làm phong phú thêm học thuật, tư tưởng Trung Quốc

1.2 Tư tưởng Trung Quốc thời cổ đại

1.2.1 Các học thuyết: Âm dương, Bát quái, Ngũ hành

Âm dương, ngũ hành, bát quái là những thuyết mà người Trung Quốc nêu ra từ thời cổ đại nhằm giải thích nguồn gốc của vạn vật

Từ những nhận thức rút ra được trong cuộc sống thực tế, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, trong vũ trụ có hai yếu tố cơ bản là âm và dương Dương có tính chất như: giống đực, ánh sáng, nóng, hoạt động Âm thì có tính chất ngược lại như: giống cái, bóng tối, lạnh, thụ động Âm và dương tác động vào nhau tạo thành tất cả mọi vật trong vũ trụ Mọi tai dị trong thiên nhiên sở dĩ xảy ra là do sự không điều hòa của hai lực lượng ấy Âm dương được gọi là lưỡng nghi

Bát quái là tám quẻ: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài Các quẻ trong Bát quái được dùng những vạch liền (biểu tượng dương) và vạch đứt (biểu tượng của âm) sắp xếp với nhau tạo thành từng bộ ba để biểu thị

Bát quái tượng trưng cho 8 yếu tố vật chất tạo thành thế giới: Càn: trời, Khôn: đất, Chấn: sấm, Tốn: gió, Khảm: nước, Ly: lửa, Cấn: núi, Đoài: hồ Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất

Bát quái còn tượng trưng cho quan hệ gia đình như: Càn: cha, Khôn: mẹ, Chấn: con trai cả, Tốn: con trai giữa, Khảm: con trai út, Ly: con gái cả, Cấn: con gái giữa, Đoài: con gái út

Tám quẻ Càn, Khôn mỗi quẻ có 3 vạch, gọi là những quẻ đơn Tám quẻ đơn ấy lại phối hợp với nhau thành 64 quẻ kép Sự phối hợp bằng cách chồng 2 quẻ đơn với nhau ấy, nếu tạo ra được sự giao cảm giữa hai quẻ trên dưới thì thành quẻ tốt (cát), nếu không tạo ra được sự giao cảm thì thành quẻ xấu

Với quan niệm 8 yếu tố vật chất như nước, lửa, núi, hồ tạo nên vũ trụ, đồng thời chú ý đến sự phát triển của sự vật, thuyết bát quái là một tư tưởng triết học mang tính chất duy vật và biện chứng, nhưng những yếu tố tích cực ấy rất hạn chế

Ngũ hành là 5 yếu tố tạo nên sự vật, gồm: Mộc (gỗ), Hỏa (lửa), Thổ (đất), Kim (kim loại), Thủy (nước)

Âm dương gia là trường phái tư tưởng ra đời vào thời Chiến Quốc Trường phái này dựa trên thuyết Âm dương Ngũ hành để giải thích sự biến hóa trong giới tự nhiên

và sự phát triển của xã hội

Để giải thích sự biến đổi của sự vật, phái âm dương gia nêu ra quy luật về mối quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ hành Tương sinh là sinh ra nhau, cụ thể là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc Tương

Trang 5

khắc là chống nhau, cụ thể là: Mộc thắng Thổ, Thổ thắng Thủy, Thủy thắng Hỏa, Hỏa thắng Kim, Kim thắng Mộc

Ngũ hành lại ứng với nhiều thứ khác như bốn mùa, bốn phương, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng, ngũ âm

Ngũ

hành Sự vật Phương

hướng Mùa

Màu sắc Ngũ vị

Ngũ quan Thập can

Hỏa Lửa Nam Hạ Đỏ Đắng Lưỡi Bính Đinh

Thổ Đất Trung tâm Tháng

cuối năm

Vàng Ngọt Miệng Mậu Kỷ

Mộc Gỗ Đông Xuân Xanh Chua Mắt Giáp Ất

Kim k.khí Tây Thu Trắng Cay Mũi Canh Tân Nhân vật tiêu biểu của phái Âm dương gia là Trâu Diễn người nước Tề Nội

dung chủ yếu của tư tưởng Trâu Diễn là thuyết “Ngũ đức chuyển dịch”

Đến thời Tây Hán, thuyết Âm dương Ngũ hành còn được Đổng Trọng Thư bổ sung, do đó càng có ảnh hưởng lâu dài trong tư tưởng triết học Trung Quốc và kể cả Việt Nam

1.2.2 Nho giáo

Theo nguồn gốc chữ Hán, chữ Nho là do chữ nhân (người) ghép với chữ nhu có

nghĩa là người trong đời cần phải có Sách cổ Trung Quốc có ghi “Thông thiên địa

nhân viết Nho” nghĩa là người hiểu rõ thiên văn, địa lý, chuyện đời người gọi là Nho

Nho gia hay nhà nho là người theo học thuyết của Khổng Tử, chỉ người đã đọc sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để giảng dạy luân thường đạo lý Nho sĩ thường để chỉ học giả, người có trí thức thời quân chủ

Tư tưởng Nho giáo có vị trí quan trọng trong tư tưởng Trung Quốc Nho giáo thời tiên Tần gọi là Nho giáo thời nguyên thủy, có 3 tác giả tiêu biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử

1.2 2.1 Khổng Tử

Khổng Tử (551 – 479 TCN) là người sáng lập học thuyết Nho gia Ông tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) vốn có dòng dõi ở nước Tống Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc sa sút, mồ côi cha khi lên 3 tuổi, trải qua tuổi trẻ trong nghèo khó, năm 19 tuổi ông lập gia đình Tuy vậy ông là người ham học và học nhiều, hiểu biết rộng Tuổi trung niên tập hợp các học trò mở trường

tư dạy học lần đầu tiên ở Trung Quốc Ông được mời ra làm quan trong một thời gian ngắn, chức quan lớn nhất là Đại Tư Khấu Được 4 năm thì chán ngán việc chính trị vì

tư tưởng và phương thức cải cách của ông xa rời thực tế nên không được dùng Ông về quê dẫn học trò đi chu du thiên hạ, 14 năm trời thuyết phục các vương hầu, khanh

Trang 6

tướng ở các nước Vệ, Tần, thực hiện các lý thuyết của mình nhưng không thành công, có lần bị bỏ đói (ở nước Vệ, nước Tần) Thất vọng ông quay về nước Lỗ, chuyên

tâm chỉnh lý sách vở và dạy học Tổng kết đời mình ông nói: “Ta mười lăm tuổi chỉ

vào việc học, 30 tuổi đã vững vàng, 40 tuổi không nghi hoặc, 50 tuổi biết mệnh trời,

60 không nghe điều trái tai, 70 tuổi làm theo ý muốn”

Ông là người chỉnh lý bộ kinh: Dịch, Thi, Thư, Lễ và Xuân Thu Sách Luận Ngữ là do học trò ghi lại lời giảng của ông với học trò, thể hiện tập trung nhất tư tưởng

và phương pháp của Khổng Tử

Ông có đến hàng ngàn học trò, trong đó có 72 người có tài như Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Tử Cống

Những tư tưởng cơ bản của Khổng Tử:

- Về mặt triết học: Khổng Tử ít quan tâm đến vấn đề nguồn gốc vũ trụ, do đó

ông thể hiện thái độ không rõ về trời đất, quỷ thần, ông cho rằng trời đất chỉ là tự nhiên, có bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng; mặt khác ông cũng cho rằng trời đất cũng có thể chi phối số phận con người → con người phải sợ mệnh trời

Ông tỏ thái độ hoài nghi quỷ thần, nhưng lại xem trọng việc cúng lễ, tang ma…

- Về đạo đức: Hạt nhân cơ bản trong tư tưởng của Khổng Tử là Nhân, Lễ,

Chính danh

Nhân: trong Luận ngữ có 105 chỗ nói đến nhân, nhưng không chỗ nào giống chỗ nào Có thể hiểu nhân là khái niệm đạo đức, sau đó trở thành nền tảng của quan điểm chính trị của ông Nội dung chính của nhân là lòng yêu thương con người (nhân giả ái nhân), giúp người khác thành đạt như mình, tránh cho người khác những điều mình không muốn, phải chế ngự bản thân theo điều lễ Chữ Nhân của Khổng Tử nhấn mạnh đến trách nhiệm con người (phương Tây nghiêng về quyền lợi con người)

Lễ: là lễ nghi và các quy tắc đạo đức trong quan hệ giữa con người với con

người Lễ thể hiện trong mọi lĩnh vực: hành vi, ngôn ngữ, trang phục, nhà cửa, đi đứng của những con người trong một xã hội, ai ở chức phận nào thì dùng lễ ấy Mục đích của lễ là khôi phục lễ nghi của nhà Chu, cũng là để thi hành đạo nhân nên nhân là nội dung, lễ là hình thức, lễ và nhân gắn bó chặt chẽ với nhau Lễ mà Khổng Tử đề xướng được mọi người thực hiện một cách tự giác nên những quy ước của lễ chưa mang tính chất của luật pháp

Chính danh: là làm chính đáng danh phận Mỗi người trong xã hội có một chỗ đứng, vị thế và danh phận riêng Ông khuyên con người hãy suy nghĩ và hành động đúng với danh phận của mình, không nên xâm phạm đến danh phận của người khác Ông nói “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” Đối với cha mẹ, con phải thành kính

Trang 7

và phụng dưỡng, quân có nhân thì thần mới trung, phụ có nhân thì con mới hiền Phải hành động phù hợp giữa danh và thực

Khổng Tử chủ trương chia xã hội thành 2 loại người: quân tử và tiểu nhân Người quân tử phải đạt được 9 điều: khi nhìn phải nhìn cho minh bạch, khi nghe phải nghe cho rõ ràng, sắc mặt phải ôn hòa, tướng mạo phải nghiêm trang, nói năng phải trung thực, làm việc phải trọng sự kính nể, điều còn nghi hoặc phải hỏi han, khi tức giận phải nghĩ đến hậu họa, khi thấy lợi phải nhớ đến điều nghĩa

Người quân tử phải biết tu thân, phải có đủ nhân, lễ, chính danh Đó là mẫu người lý tưởng; người cầm quyền phải có đủ các phẩm chất của người quân tử

Kẻ tiểu nhân không có được những phẩm chất của người quân tử, chỉ nghĩ đến điều lợi không nghĩ đến điều nghĩa; không đủ các đức nhân, lễ, chính danh; khi gặp hoàn cảnh khó khăn thì nhụt chí, không cố gắng và làm điều xằng bậy Những người ít học thường là tiểu nhân và dễ sai khiến thuộc tầng cấp bị trị

- Về đường lối trị nước: Khổng Tử chủ trương “Đức trị” Nội dung của đức trị gồm 3 điều: Làm cho dân cư đông đúc; làm cho dân được sống yên ổn, kinh tế phát triển; làm cho dân được học hành

Ông ví việc chính trị như ngôi sao Bắc Đẩu, người cầm quyền phải là người quân tử, phải gương mẫu, lấy cái đức của mình mà cảm hóa dân chúng, muốn vậy phải sửa mình, giữ đức và tu thân Ông phản đối pháp chế, hình phạt, ông cho rằng pháp chế chỉ làm cho dân sợ chứ không phải biết xấu hổ mà không phạm tội Lập trường

chính trị của ông là “tôn Chu” (đề cao nhà Chu), ít nhiều có tính chất bảo thủ

- Về giáo dục: Khổng Tử có những tư tưởng giáo dục xuất sắc, ông được tôn là

“vạn thế sư biểu” (thầy của muôn đời) Ông là người đầu tiên sáng lập chế độ giáo dục

tư thục ở Trung Quốc

+ Mục đích giáo dục là uốn nắn nhân cách, bồi dưỡng nhân tài (đức và tài) Ông quan niệm con người ai cũng có thể qua học tập mà trở thành người tốt Ông nói bản tính người là gần giống nhau, do thói quen mà dần khác xa nhau (tính tương cận, tập tương viễn) Muốn có ích thì phải học Học là quyền lợi và niềm vui của mọi người (học giả, lộc tại kỳ trung – học đó là bổng lộc rồi)

+ Phương châm giáo dục: phải học lễ trước khi học kiến thức; tiếp đến là học phải đi đôi với hành, học để vận dụng vào thực tiễn, (học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ- học mà thường ôn tập, chả phải vui lắm thay)

+ Phương pháp giảng dạy: tùy từng trình độ, tính cách học trò để có phương pháp dạy tương ứng, phù hợp; chú ý việc dẫn dắt, gợi mở để học trò tự suy nghĩ, rút ra kết luận

+ Khuyên nhủ học trò: luôn cần cù, chăm chỉ, khiêm tốn; phải biết tranh thủ mọi điều kiện để học hỏi; phải trung thực, biết tự đánh giá khả năng của bản thân

Trang 8

Tóm lại, điểm xuất phát của tư tưởng Không Tử là mong muốn cứu đời, phục hồi trật tự cũ của nhà Chu Ông ít bàn đến những vấn đề trừu tượng như quỷ thần, trời

mà hướng đến những phạm trù chính trị - xã hội, đạo đức – luân lý và để lại cho đời sau nhiều quan niệm giàu tính nhân văn Nhưng có thể thấy rằng tư tưởng của ông mang tính bảo thủ và duy tâm triết học Ông có thừa nhiệt thành với dân, với đời nhưng không thành công Toàn bộ học thuyết của ông gọi là Khổng giáo hay Nho giáo nguyên thủy Các học giả đời sau phát triển học thuyết này thành 8 dòng phái khác nhau, trong đó có 2 phái mạnh nhất là Mạnh Tử và Tuân Tử

1.2.2.2 Mạnh Tử

Mạnh Tử (371-289 TCN) là người nước Trâu (ở Sơn Đông ngày nay) là học trò của Tử Tư cháu nội của Khổng Tử Ông là người kế thừa và phát triển học thuyết Nho gia thêm một bước

Về triết học: Ông tin vào mệnh trời, mọi việc ở đời đều do trời quyết định Tuy vậy, những bậc quân tử nhờ tu dưỡng đã đạt đến mức cực thiện cực mỹ cũng có thể cảm hóa được ngoại giới

Về đạo đức học: tư tưởng Mạnh Tử có hai điểm mới:

+ Ông cho rằng: đạo đức là yếu tố bẩm sinh gọi là tính thiện Tính thiện ấy có sẵn từ khi con người mới sinh ra và được biểu hiện ở bốn mặt: nhân, nghĩa, lễ, trí Trên

cơ sở đó, nếu được giáo dục tốt con người trở nên cực thiện, nếu giáo dục không tốt sẽ mất đi cái bản chất tốt và tiêm nhiễm tính xấu

+ Trong bốn biểu hiện đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, Mạnh Tử coi trọng nhất là nhân nghĩa, do đó không chú ý đến lợi

Về chính trị: Mạnh Tử nhấn mạnh hai vấn đề là nhân chính và thống nhất Quan điểm của ông là dùng đạo đức để trị nước

Đặc điểm nổi bật trong đường lối nhân chính là tư tưởng quý dân Ông nói

“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” - dân quý nhất, đất nước thứ hai, vua thì

coi nhẹ Ông nói vua nào chiếm được lòng dân thì sẽ được thiên hạ

Ông chủ trương đường lối chính trị thống nhất, mục đích của chủ trương này là muốn chấm dứt chiến tranh giữa các nước để toàn Trung Quốc được thái bình, biện pháp để thực hiện việc thống nhất không phải là chiến tranh mà là nhân chính

Về giáo dục: Chủ trương mở rộng giáo dục đến nông thôn, giáo dục cho học sinh cái nghĩa, hiếu lễ

Như vậy, trong đường lối trị nước của Mạnh Tử có những đề xuất rất đáng trân trọng, nhưng thời Chiến Quốc là thời kì đang diễn ra cuộc chiến tranh để thôn tính lẫn nhau nên chủ trương của Mạnh Tử bị coi là viễn vông không sát thực tế nên cũng không được các vua chấp nhận

1.2.3 Đạo gia, Đạo giáo

Trang 9

Xuất hiện đồng thời với Nho gia và cùng có ảnh hưởng trong tâm thức văn hóa Trung Quốc như Nho gia Người sáng lập Đạo gia là Lão Tử với hạt nhân tư tưởng là phạm trù Đạo và tác phẩm Đạo đức kinh nên gọi là Đạo gia, sau đó được Trang Tử phát triển thêm nên gọi là tư tưởng Lão Trang Tư tưởng Đạo gia phản ánh tâm lý của một bộ phận ẩn sĩ bi quan trước thời cuộc và muốn giữ riêng cho mình được trong sạch thời bấy giờ Tư tưởng của Đạo gia được đánh giá cao, đặc biệt là ở phương Tây 1.2.3.1 Lão Tử

Người ta ít biết về Lão Tử do cuộc sống ẩn dật, xa lánh cuộc đời của ông Chỉ biết ông sống cùng thời với Khổng Tử Có thuyết cho tên là Lý Nhĩ, tên tự là Đam, người nước Sở Ông từng làm quan, coi thư viện của nhà Chu, sau bỏ đi ẩn dật

Về mặt triết học: Lão Tử cho rằng nguồn gốc vũ trụ là “đạo” Đạo sinh ra một,

một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật Sau khi sự vật được tạo ra thì phải có

quy luật để duy trì sự tồn tại của nó, quy luật ấy gọi là “đức” Như vậy đạo đức ở đây

là một phạm trù thuộc về triết học, khác với đạo đức của Nho gia là thuộc về phạm trù luân lý

Đồng thời, Lão Tử đã nhận thức được các mặt đối lập trong thế giới khách quan như phúc và họa, cứng và mềm, dài và ngắn cùng so sánh, cao và thấp Theo ông, sự vật tự nó vận động, phát triển cho đến chỗ tận cùng rồi quay ngược lại (thường gọi là luật phản phục) và tiếp tục chuyển hóa như thế: tỉnh khắc động, nhu thắng cương, họa

là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ ẩn nấp của họa, trong dương có âm, âm cực sinh dương Luật phản phục có nghĩa là các mặt đối lập chuyển hóa cho nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn, kế tiếp nhịp nhàng Nếu một mặt nào đó phát triển đến tận cùng thì sẽ quay trở về trạng thái đối lập với nó

Như vậy, tư tưởng triết học của Lão Tử vừa có yếu tố duy vật vừa có yếu tố biện chứng thô sơ

Về chính trị: Ông chủ trương vô vi Vô vi có nghĩa là không áp đặt, không can thiệp, thuận theo tự nhiên Ông cho rằng cách tốt nhất làm cho xã hội thái bình là giai cấp thống trị không can thiệp đến đời sống của nhân dân, không thu thuế quá nhiều, không sống xa hoa Đồng thời nên quay lại thời kỳ vừa thoát thai khỏi xã hội nguyên thủy, không cần chữ viết, không cần vũ khí, thuyền xe Còn đối với nhân dân thì chỉ

cần làm cho “tâm hồn họ trống rỗng nhưng bụng họ thì no, chi của họ yếu nhưng

xương cốt của họ mạnh” Như vậy họ sẽ không biết gì và không có ham muốn

1.2.3.2 Trang Tử (369 – 286TCN)

Ông tên là Trang Chu, người nước Tống, sống vào thời Chiến Quốc Ông xuất thân từ tầng lớp bần hàn, ghét danh lợi, sống thanh bạch, giao du với nhiều trí thức đương thời Ông là người tiêu biểu cho Đạo gia cuối thời Chiến Quốc, tác phẩm của ông là Nam Hỏa kinh

Trang 10

Về tư tưởng: kế thừa tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử cũng cho rằng đạo là nguồn gốc của sự vật, trời đất, thần thánh Đồng thời từ chỗ cho vạn vật đều do đạo

sinh ra, ông đã đi đến phủ nhận tồn tại khách quan, cho rằng “trời đất và ta cùng sinh

ra vạn vật với ta là một” mà “đã cho là một rồi thì còn nói cái này cái kia làm gì nữa”

Về chính trị: cũng chủ trương vô vi và tiến xa hơn Lão Tử, chủ trương đưa xã hội trở lại thời kỳ nguyên thủy, để nhân dân ở chung với chim muông, sống chung cùng vạn vật, như vậy nhân dân sẽ chất phác mà chất phác thì bản tính của nhân dân còn nguyên vẹn

Chủ trương chính trị của Lão Tử và Trang Tử đều trái với tiến trình lịch sử nên không được giai cấp thống trị đương thời tiếp nhận, nhưng tư tưởng của họ đã đặt cơ sở cho việc hình thành Đạo Giáo ở Trung Quốc sau này

1.2.4 Pháp gia

Pháp gia là trường phái chủ trương dùng pháp luật để trị nước, xuất hiện từ thời Xuân Thu, người khởi xướng là Quản Trọng

Quản Trọng (725 TCN – 645 TCN) là Tướng quốc của vua Hoàn Công nước

Tề Ông đã đề ra một số chính sách cải cách làm cho nước Tề trở nên hùng mạnh và được làm bá chủ một thời

Tiếp đó, trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, thuộc về phái Pháp gia còn có nhiều người khác, trong đó tiêu biểu nhất là Thương Ưởng và Hàn Phi

Thương Ưởng là người đã giúp cho Tần Hiếu Công cải cách làm cho nước Tần trở thành nước giàu mạnh nhất ở Trung Quốc thời Chiến Quốc, trên cơ sở đó hơn một thế kỷ sau đã đánh bại các nước khác, thống nhất toàn Trung Quốc

Hàn Phi (280 - 233TCN) là đại biểu xuất sắc nhất của phái Pháp gia, nhưng ông có tật nói lắp không biện luận được nên đã tập trung sức lực của mình để viết tác phẩm trình bày các luận thuyết của mình Khi Tần đánh Hàn, vua Hàn sai Hàn Phi đi sứ nước Tần Lúc đầu Hàn Phi được vua Tần Thủy Hoàng tiếp đãi tử tế nhưng sau bị bạn cùng học là Lý Tư gièm pha nên bị hạ nhục và phải uống thuốc độc tự tử

Kế thừa và phát triển tư tưởng của các nhà Pháp gia đời trước, Hàn Phi cho rằng muốn trị nước tốt thì phải có sức mạnh về kinh tế và quân sự Muốn có sức mạnh thì phải tập trung quyền lực vào một ông vua, tức là phải dùng luật pháp để cai trị Nội dung pháp trị gồm 3 yếu tố: pháp, thế, thuật

+ Pháp: chỉ pháp luật Ông chủ trương dùng pháp luật, mệnh lệnh, hình phạt để cai trị là phương pháp có hiệu lực nhất là vì dân vốn coi thường lòng thương mà chỉ vâng theo uy lực

+ Thế: là quyền thế, uy thế, địa vị của người cầm quyền Muốn pháp thi hành được thì vua phải có thế, tức phải có đầy đủ uy quyền Pháp gia chủ trương quyền thế

Trang 11

vạn năng Kẻ thống trị phải nắm lấy quyền giết hại, khen thưởng Vua phải biết “gia

ơn” và “ra uy” đúng lúc thì mới nâng cao được thế, hiệu quả thi hành pháp mới cao

Để nâng cao thế thì mọi thứ phải nhất nhất theo pháp lệnh của nhà vua

+ Thuật: là phương pháp điều hành, là có trí ngầm, thủ đoạn, mưu lược của nhà vua, là quyền mưu không lộ ra mặt để điều khiển bề tôi Thuật gồm ba mặt: bổ nhiệm, khảo hạch, thưởng phạt Thuật bổ nhiệm là phương pháp chọn quan lại: chỉ căn cứ vào tài năng, không cần đức hạnh dòng dõi Thuật khảo hạch và thưởng phạt là căn cứ theo trách nhiệm để kiểm tra hiệu quả công tác, làm tốt thì thưởng rất hậu, làm không tốt thì phạt rất nặng

Còn văn hóa giáo dục thì không những không cần thiết, không đem lại lợi ích thiết thực mà còn có hại cho xã hội

Phải thừa nhận rằng phái Pháp gia chủ trương dùng pháp luật để trị nước là đúng đắn Nhờ vậy, nước Tần đã trở nên hùng mạnh và thống nhất được Trung Quốc Nhưng mặt khác phái này quá nhấn mạnh biện pháp trừng phạt nặng nề, phủ nhận đạo đức, tình cảm, thủ tiêu văn hóa giáo dục là đi ngược lại với sự phát triển của văn minh

và làm cho mâu thuẫn xã hội vô cùng gay gắt Chính vì thế, sau khi thống nhất Trung Quốc, nhà Tần tiếp tục thi hành đường lối này nên chỉ tồn tại được 15 năm thì sụp đổ

Từ Hán về sau, tuy học thuyết Pháp gia không được chính thức công nhận, nhưng thực tế thì nhiều yếu tố của phái này vẫn được vận dụng để kết hợp với Nho gia trong việc trị nước

1.2.5 Mặc gia

Người sáng lập Mặc gia là Mặc Tử (khoảng 468 – 376 TCN), người nước Lỗ

Cuốn “Mặc Tử” do môn đệ chép lời dạy của ông có 53 thiên, trong đó có 10 thiên

chính Thượng hiền là quý trọng người hiền tài, không phân biệt quý, tiện, phản đối sự phân chia quân tử - tiểu nhân của Khổng Thượng đồng là thuận theo, phục tùng mệnh lệnh của cấp trên, là sự thống nhất, tán đồng từ dưới lên trên Tiết dụng là tiết kiệm tiêu dùng Tiết táng là tiết kiệm tang ma Phi nhạc là không nghe loại nhạc xa hoa vô dụng Phi mệnh là phản đối mệnh trời Thiên chí là trời có ý chí, ý chí của trời là thương yêu tất cả Minh quỉ là có quỉ thần Kiêm ái là thương yêu tất cả mọi người Phi công là phản đối chiến tranh Trong đó, có một số điều mâu thuẫn nhau (Phi mệnh và Thiên chí, Minh quỉ)

Trong 10 điều trên, tiêu biểu nhất là thuyết kiêm ái và phi công Kiêm ái là yêu thương nhau, làm lợi cho nhau Thiên hạ hỗn loạn, dân khốn khổ là do người ta đối xử xấu với nhau Chỉ cần người đối xử tốt với nhau, thương yêu lẫn nhau, thiên hạ khắc thái bình Kiêm ái khác chữ nhân của Nho gia Nhân của Nho gia có phân biệt đẳng

cấp Mục đích của kiêm ái là “hưng thiên hạ chi lợi, trừ thiên hạ chi hại”, hoàn toàn

khác với nhân nhằm duy trì xã hội lễ trị đời Chu của Nho Từ kiêm ái ông chủ trương

Trang 12

phi công tức phản đối chiến tranh Ông phản đối việc xâm lược lẫn nhau, đó là việc bất nghĩa Đồng thời ông cũng biểu dương sự phòng thủ để bảo vệ chính nghĩa, đánh dẹp bọn vô lại

Về mặt nhận thức luận: Ông đề ra thuyết Tam biểu Ông nói lời nói muốn chính xác phải có 3 điều: Có cái gốc của nó, có cái nguyên của nó, có cái ứng của nó Gốc tức là có căn cứ, nguyên tức là phải được chứng minh, ứng tức là được ứng dụng

Trong việc tổ chức bộ máy nhà nước, ông chủ trương đề cao người tài đức Hễ bất cứ ai, kể cả nông dân và thợ thủ công, nếu có tài năng thì có thể đưa lên giữ chức vị cao, nếu ai ngu đần thì hạ xuống, dù là dòng họ quý tộc, cho nên quan không phải cứ sang trọng mãi, dân không phải hèn hạ suốt đời

Tóm lại, tư tưởng của Mặc Tử có mặt phản ánh nguyện vọng của nhân dân lao động, nhưng thuyết kiêm ái của ông rõ ràng là mang tính không tưởng, vì vậy không được giai cấp thống thị áp dụng Sau khi Mặc Tử chết, phái chính thống của Mặc gia phát triển thành phái hiệp khách chuyên phục vụ cho một số vua chúa quý tộc

1.3 Tư tưởng Trung Quốc thời trung đại

1.3 1 Tư tưởng Trung Quốc từ Tần đến Đường

Năm 221 TCN nhà Tần tiêu diệt 6 nước Yên, Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Sở kết thúc cục diện Chiến quốc thống nhất Trung Quốc Tần Thủy Hoàng muốn thống nhất tư

tưởng, coi trọng pháp gia gây nên tình trạng “đốt sách chôn nho”, có đến 460 nho sĩ bị

chôn hoặc bị đày Đạo giáo đời Tần thiên về thuật tu tiên luyện đan Mặc gia và các trường phái khác đều suy yếu

Nhà Hán thay thế nhà Tần vẫn còn tôn sùng Pháp nhưng Nho gia dần dần lấn át các trường phái khác trở thành quốc giáo Đổng Trọng Thư thời Hán là người chủ

trương “độc tôn Nho thuật bãi truất bách gia”, đồng thời dung hòa Nho giáo với Âm

dương ngũ hành dẫn đến thần bí hóa Nho giáo Thế lực của Lão gia và Âm dương gia vẫn còn khá mạnh

Thời Tam quốc, Nam Bắc triều, Đạo gia phát triển thêm một bước, đi sâu vào

sự huyền bí sâu xa của vũ trụ nên gọi phong trào “Huyền học”, đồng thời cũng mang

nhiều yếu tố dị đoan ma thuật nên phát triển thành Đạo giáo Phật giáo du nhập từ trước bây giờ có cơ hội phát triển và có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc

Thời Tùy Đường, Phật học thịnh đạt với nhiều tông phái ra đời Các nhà Nho tiêu biểu như Hàn Vũ, Lý Cao, Liễu Tông chủ trương phục hưng Nho giáo, mở đường phong trào đạo học thời kỳ sau đó

1.3.1.1 Đổng Trọng Thư và Nho giáo thời Hán

Học thuyết của Khổng Tử không được các vua chúa Trung Quốc cổ đại sử dụng Nhưng từ thời Hán các triều đại phong kiến đều thờ ông như một vị thánh và Nho giáo trở thành quốc giáo

Trang 13

* Đổng Trọng Thư

Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Hán Ông là nhà triết học duy tâm tôn giáo nổi tiếng người vùng Quảng Xuyên, lúc nhỏ chuyên chú tâm về kinh Xuân Thu và trọng lễ, sau đó dạy học trò, ít giao du với mọi

người Tác phẩm của ông gồm có “Thiên nhân tam sách” và “Xuân thu phồn lộ”

Ông là người có công đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn thời Hán Ông không phải là nhà tư tưởng xuất sắc nhưng chế độ phong kiến Trung Quốc tôn sùng ông vì ông có công chính thống hóa Nho giáo, biến nó trở thành công cụ sắc bén của giai cấp phong kiến Tư tưởng Nho gia của Không Tử, Mạnh Tử ít nhiều mang tính chất nhân bản, còn tư tưởng của Đổng Trọng Thư bị thần hóa nặng nề Ông có công sát nhập thuyết âm dương ngũ hành của âm dương gia với nho gia của Khổng, Mạnh, Tuân, chủ

trương “độc tôn Nho thuật bãi truất bách gia” Khổng Mạnh ít nói đến trời mà nói

nhiều về người, tránh đi sâu vào các vấn đề chủ thể của vũ trụ mà chuyên chú vào các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội Đến thời phong kiến, đứng trước nhu cầu củng cố quyền lực của nhà Hán, Đổng Trọng Thư ra sức thần bí hóa nguồn gốc của vương

triều Ông đề cao thuyết “thiên nhân tương cảm”, vận dụng thuyết âm dương ngũ

hành vào xã hội một cách cực đoan, cho đó là biểu hiện ý chí của trời

Về triết học: Ông nhận thức sự tác động qua lại giữa trời và người, “thiên nhân

cảm ứng”, ông cho rằng: Trời là một vị thần có ý chí, có nhân cách, đứng trên cả vũ

trụ, có ý thức và có cả đạo đức, mọi trật tự trong xã hội đều do trời quy định tạo ra, trời thông qua vua (Thiên tử) để thi hành mệnh lệnh, ý chí của trời đối với con người Con người là sự sáng tạo đặc biệt của trời, vượt lên trên vạn vật, tương ứng với trời (Thiên nhân hợp nhất)

Ông vận dụng thuyết âm dương ngũ hành vào trong xã hội, cho rằng quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ đều lấy ở đạo âm dương

Về đạo đức: nêu ra các phạm trù Tam cương, ngũ thường và lục kỷ

+ Tam cương là ba mối quan hệ: vua tôi, cha con, chồng vợ Trong ba quan hệ ấy, bề tôi, con, vợ phải phục tùng vua, cha, chồng

+ Ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, ông đã ghép thành một hệ thống và coi đó là 5 tiêu chuẩn đạo đức thông thường nhất của người quân tử

+ Lục kỉ là 6 mối quan hệ với những người ngang hàng với cha, ngang hàng với

mẹ, với anh em, họ hàng, thầy giáo và bạn bè

Về chính trị: ông cụ thể hóa tư tưởng Khổng Tử, chủ trương hạn chế giàu nghèo, chiếm đoạt ruộng đất và nạn giết người, bỏ nô tỳ, lao dịch, chú trọng giáo dục

Như vậy, với những ý kiến bổ sung của Đổng Trọng Thư, các tư tưởng triết học, đạo đức, chính trị của Nho gia đã được hoàn chỉnh Đến thời kỳ này, tư tưởng

Trang 14

Nho gia rất được đề cao và thường được coi là Nho giáo Đồng thời Khổng Tử được tôn làm giáo chủ của đạo Học

1.3.1.2 Sự phát triển của Đạo giáo

Lão Tử có nhiều cống hiến về mặt triết học nhưng thái độ chính trị của ông có những ảnh hưởng tiêu cực Trang Tử đã đưa tư tưởng của ông vào lĩnh vực văn chương, tạo ra một không khí tự do tư tưởng Đến thời loạn lạc trong các thế kỷ thứ III đến thế kỷ IV tư tưởng phóng túng này phát triển mạnh hơn nữa Một đội ngũ những người tri thức xa lánh cuộc đời, tập hợp lại uống rượu, ngâm thơ, đàm luận về những vấn đề sâu xa huyền diệu của Lão Trang và Kinh dịch gọi là phong trào Huyền học Họ phản đối lễ giáo, cho lễ của Khổng Tử chỉ dạy cho người dân thường Họ dùng tư tưởng Lão Trang để giải thích Kinh Dịch Những người nổi tiếng là Hà Án, Vương Bật, Kê Khang Thực chất đó là một phong trào lãng mạn trong tư tưởng Trung Quốc

Thời Tần Hán, do độc tôn Pháp, Nho nên tư tưởng của đạo gia ngày càng biến tướng Xu hướng triết học ngày càng giảm thay vào đó là mê tín dị đoan ngày càng phát triển, đặc biệt trong thời kỳ loạn lạc sau đó trong điều kiện dân chúng ngày càng lầm than đói khổ Họ làm cho mọi người hiểu lầm là có trường sinh Từ đó người ta tìm trong âm dương gia những phương cách để điều hòa âm dương, tìm cách luyện đan, tu tiên, luyện tinh khí thần để được bất tử, tạo ra một tầng lớp người chuyên làm công việc cúng bái, chế luyện Đạo gia biến tướng thành một tôn giáo gọi là Đạo giáo 1.3.1.3 Phật giáo du nhập vào Trung Quốc và cực thịnh thời Đường

Phật giáo ra đời ở Nêpan vào thế kỷ thứ VI TCN do Phật Thích ca sáng lập Phật giáo du nhập vào Trung Quốc vào buổi đầu công nguyên Đến thời Nam Bắc triều, phật giáo bắt đầu phát triển mạnh ở Trung Quốc do không khí tự do tư tưởng của phong trào Huyền học và những tư tưởng mới lạ của Phật giáo so với tư tưởng Trung Quốc

Khi mới du nhập vào Trung Quốc, Phật giáo đã phải chống đỡ với Nho giáo trong một cuộc đấu tranh không kém phần gay gắt Nhưng giữa Đạo giáo và Phật giáo có nhiều điểm tương đồng nên nhanh chóng bổ sung cho nhau và có xu hướng dùng tư tưởng Lão Trang để giải thích Phật giáo Nho giáo đã kích Phật giáo qua những biểu hiện về mặt xã hội mà không đề cập đến giáo lý nên Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển

Xu hướng dung hòa giữa Nho, Phật, Đạo dẫn đến mở đường cho tam giáo đồng nguyên ở thời Đường

Đến thời Đường, Lão Tử được đề cao Nho giáo dần dần được phục hồi, đi sâu vào các lĩnh vực văn chương và thi cử Khổng Tử được tôn là Tiên thánh, Nhan Hồi là tiên sư Cuối Đường có một số nhà Nho nổi tiếng (Hàn Dũ, Lý Cao) bắt đầu phê phán Phật giáo về mặt giáo lý, mở đường cho sự phục hưng Nho giáo Đối với Phật giáo,

Trang 15

các vua Đường cũng sùng đạo Phật, khuyến khích việc thỉnh kinh, tạo điều kiện cho Phật giáo thịnh đạt Phật giáo lúc này xuất hiện nhiều tu sĩ tài cao học rộng, dịch nhiều

bộ kinh Phật, đóng góp cho kho tàng tư tưởng Trung Quốc nhiều khái niệm, phạm trù mới, xuất hiện nhiều tông phái Phật giáo

Sự hoạt động truyền bá của các tông phái Phật giáo làm cho tư tưởng Trung Quốc thêm phong phú với nhiều phạm trù, khái niệm về triết học và tôn giáo mới

Giữa 3 tôn giáo có sự kết hợp và bổ sung cho nhau hình thành “tam giáo đồng

nguyên ” thời Đường

1.3 2 Tư tưởng Trung Quốc từ Tống đến Thanh

Sang thời Tống, Nho giáo trở lại vị trí dân tộc trên cơ sở phục hưng cuối thời Đường Nho giáo của thời Tống không phải là Nho giáo của thời Hán Đường, cũng không phải là Nho giáo của Khổng Mạnh mà nó chính là sự tiếp thu khá sâu sắc nhiều yếu tố tư tưởng của Đạo giáo và Phật giáo về vũ trụ luận và đạo lý sống Nhiều phạm trù vũ trụ luận được đi sâu như thiên, địa, vạn vật nhất thể làm giàu thêm tư tưởng Nho giáo, trong đó phạm trù Đạo là phạm trù trung tâm nên còn gọi là phong trào đạo học Thời này Tứ thư trong kinh điển Nho gia được đề cao

Phong trào Đạo học có thể chia làm 3 thời kỳ:

1 Buổi đầu các nhà tư tưởng chưa có khuynh hướng riêng và xuất hiện nhiều danh Nho: Chu Đôn Di, Trình Hạo, Triệu Ung, Trương Tái Chỉ có Trương Tái chủ trương khí là bản căn của vạn vật, mở đường cho phái duy khí có ảnh hưởng lớn đến đời Thanh

2 Cuối đời Tống với chủ trương lý học của Chu Hy, xu hướng lý là bản nguyên của vũ trụ được nhiều người hưởng ứng hình thành thời kỳ lý học

3 Đời Minh, nhiều người đề cập đến phạm trù Tâm nên gọi là thời kỳ Tâm học, tiêu biểu là Lục Cửu Uyên và Dương Vương Minh

1.3 3 Tư tưởng Trung Quốc thời cận đại 1840 -1849

1.3.3.1 Bối cảnh lịch sử và sự du nhập tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây

Trên con đường bành trướng sang phương Đông để tìm nhiên liệu, thị trường, nhân công, CNTB đã nhòm ngó Trung Quốc từ rất sớm Lúc này, chế độ phong kiến Mãn Thanh đi vào con đường suy yếu, kinh tế trì trệ, trong nước đã xuất hiện một số yếu tố kinh tế TBCN trong khai mỏ, dệt giai cấp tư sản hình thành đi đối với nó là giai cấp công nhân Chiến tranh Nha phiến đã dẫn đến Hiệp ước Nam Kinh 1842, mở đường cho thực dân Anh sau đó là các đế quốc khác xâu xé và chia rẽ vùng ảnh hưởng Cuộc chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895) và sự thất bại của triều đình Mãn Thanh đã dấu sự hoàn thành quá trình biến Trung Quốc thành nửa thuộc địa của các

cường quốc Phong trào “nông dân thái bình thiên quốc” do Hồng Tú Toàn lãnh đạo

(1850 – 1865) là một cuộc vận động mang màu sắc tôn giáo chống lại nhà Thanh và đế

Trang 16

quốc, nhưng cuối cùng thất bại Phong trào Duy Tân do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu khởi xướng làm nên cuộc biến pháp 1898 của vua Quang Tự chống lại chế độ bảo thủ của triều đình Mãn Thanh cũng thất bại Phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn đưa đến sự đầu hàng của triều đình Mãn Thanh, hiệp ước Tân Sửu 1901 chính thức giao Trung Quốc cho 8 nước đế quốc

Tôn Trung Sơn, đại diện cho giai cấp tư sản dân tộc thành lập Trung Quốc Đồng Minh hội (1905), lãnh đạo 10 cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình Mãn Thanh nhưng thất bại Năm 1911, Đồng Minh hội tiến hành cách mạng Tân Hợi thành công, thiết lập được nền cộng hòa, Tôn Trung Sơn được bầu làm Đại Tổng thống của chính phủ lâm thời Một số phần tử Đồng Minh hội tìm cách thỏa hiệp với giai cấp phong kiến, Tôn Trung Sơn buộc phải từ chức (1913) Thế lực quân phiệt phong kiến nắm quyền do Viên Thế Khải, một đại thần của triều đình Mãn Thanh lên làm Tổng thống

Ngày 4/5/1919, phong trào Ngũ tứ bùng nổ, tập hợp học sinh sinh viên, công nhân biểu tình bãi công chống các thế lực phong kiến, Đảng Cộng Sản Trung Quốc được thành lập 1921 có sự hợp tác Quốc Dân Đảng (1925 – 1927) nhằm đánh đổ bọn quân phiệt và đế quốc, lập mặt trận chống Nhật xâm lược (1937) Cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc thắng lợi, lại xảy ra nội chiến giữa lực lượng của Quốc Dân Đảng

và Đảng Cộng sản (1946) Năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của giai cấp thống trị của Quốc Dân Đảng trên lục địa Trung Quốc

1.3.3.2 Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu

Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu là những nhà tư tưởng tiêu biểu đại diện cho phong trào duy tân cuối thế kỷ XIX

Khang Hữu Vi (1858 – 1927) buổi đầu theo tư tưởng của Lục Cửu Uyên, sau đó

do đọc được nhiều sách của phương Tây, đi khắp Trung Quốc rồi về Quảng Đông dạy học, là người đề xướng phong trào Duy Tân Ông được vua Quang Tự mời vào cung

cố vấn cho chính biến 1898 Chính biến thất bại, ông cùng Lương Khải Siêu trốn thoát

và sự nghiệp chính trị của ông cũng kết thúc sau sự kiện này

Lập trường chính trị của Khang Hữu Vi là chủ trương mở đường cho tư bản dân tộc phát triển, việc sản xuất bằng máy móc được áp dụng một cách rộng rãi, bảo đảm nền độc lập cho dân tộc Trung Quốc thực hiện chế độ quân chủ lập hiến, cho giai cấp

tư sản mới ra đời tham gia chính quyền

Các tác phẩm nổi tiếng của ông là “Đại đồng thư”, “Tân học ngụy tinh khảo”

Ông nghiên cứu tự nhiên và xã hội, cả Trung Quốc lẫn phương Tây Tân thư của ông mang nội dung cụ thể là học phương Tây trên cơ sở truyền thống Trung Quốc để cải cách

Trang 17

“Tân học ngụy tinh khảo” và “Khổng Tử cải chế khảo” tuy là những sách

chuyên khảo về kinh điển của Trung Quốc nhưng chủ đích của nó là phê phán tư tưởng phong kiến, tấn công thể chế phong kiến, tuyên truyền tư tưởng mới, thực hiện

duy tân đất nước Tác phẩm “Đại đồng thư” là một tác phẩm lớn gồm 30 cuốn Nội

dung của nó chống lại chế độ phong kiến, đề cao lòng nhân đạo Ông phê phán sự chuyên chế, độc tôn, coi trọng phát triển sản xuất theo hướng cơ khí hóa, coi trọng giáo dục, đã phá quan hệ tông pháp gia tộc giáo lý cương thường trói buộc con người, kêu gọi nhân quyền, tự do, bình đẳng, đề cao giá trị con người Khang Hữu Vi đã phơi bày sự giả dối, tính tàn nhẫn của chế độ phong kiến, kế thừa và phát triển quan niệm

“nhân” của Khổng, quan niệm bình đẳng bác ái của Phật Như vậy, tư tưởng trong

“Đại đồng thư” là sự tổng hợp của tư tưởng Khổng giáo, Phật giáo và tư tưởng xã hội

dân chủ tư sản Ngoài ra, ông còn có quan điểm “mỹ học” khi đề cao nó, coi nó là yếu

tố quan trọng trong đời sống, có cái đẹp tự nhiên và cái đẹp nhân tạo trong nghệ thuật Hoàn cảnh địa lý có ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật

Lương Khải Siêu (1873 – 1929) là học trò của Khang Hữu Vi nên ông tìm cách phát huy tư tưởng của mình Ông là nhà văn, là nhà báo, nhà tư tưởng đề cao tư tưởng duy tân và hành động để thực hiện việc biến nước Trung Quốc thành một nước Trung Quốc mới

Ông kêu gọi hướng tới các giá trị của người phương Tây, thi hành tân chính, tân dân, xây dựng mô hình chế độ quân chủ lập hiến Ông nhìn thấy bản chất phản động của chế độ phong kiến, chỉ ra cội nguồn những tệ nạn xã hội là do quan lại tham nhũng gây nên “những người như thế mà giao cho trị quốc thì chẳng khác gì dựng nên các tượng gỗ rồi bắt nó cai trị thiên hạ”; ông phê phán quan niệm “trọng quan khinh dân ”, coi thường khoa học kĩ thuật Ông coi trọng vai trò của người dân, chủ trương

“dân mới” Đó là người dân có công đức, có chí tiến thủ, có đủ tư cách để tự trị Dân

phải được đổi mới để tự cường, chủ động tiếp thu tư tưởng mới

Lương Khải Siêu cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo: tín ngưỡng là tri tín chứ không phải mê tín, kiểm thiện chứ không phải độc thiện, nhập thế cứ không phải yếu thế, bàn cái vô hạn chứ không bàn cái hữu hạn, giảng cái bình đẳng chứ không phải cách biệt, nặng về tự lực chứ không phải do người khác Ông vận dụng tiến hóa luận và phương pháp luận của phương Tây để nghiên cứu lịch sử nhưng chỉ chủ trương biến đổi từ từ mà không thừa nhận sự thay đổi mạnh mẽ mang tính cách mạng 1.3.3.3 Tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn

Phong trào cải lương của Trung Quốc thất bại với chính biến 1898 thì phong trào cách mạng xuất hiện và bùng nổ năm Tân Hợi (1911) Cách mạng Tân Hợi lật đổ chế độ phong kiến ngự trị lâu dài ở Trung Quốc Linh hồn của cách mạng là lãnh tụ Tôn Trung Sơn với chủ nghĩa Tam Dân nổi tiếng

Trang 18

Ông được xem là người đầu tiên đề xướng tư tưởng dân chủ ở Trung Quốc Từ

chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân chủ ông đã xây dựng học thuyết tam dân “dân tộc

độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”, chủ nghĩa tam dân đã trở thành tư

tưởng chủ đạo cho những người cách mạng Trung Quốc, là ngọn cờ dẫn dắt họ tới cách mạng Tân Hợi

Đầu tiên là “dân tộc độc lập”, ông chủ trương lật đổ triều đình Mãn Thanh để xây dựng “dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” Đó là chủ nghĩa yêu nước theo đặc trưng nổi bật Một là yêu “nước Trung Hoa” chứ không yêu “nước Đại Thanh”, hai là

yêu nước thì phải làm cách mạng để cứu nước

Về quan điểm dân chủ hóa Tôn Trung Sơn có tư duy riêng của người Trung Quốc Từ sự tiếp thu học thuyết “tam quyền phân lập” của phương Tây (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) Tôn Trung Sơn bổ sung thêm hai điều mới nữa là sự khảo thí và tuyển dụng Đây là một sự vận dụng sáng tạo phù hợp với truyền thống văn hóa phương Đông Đẳng cấp đóng vai trò quan trọng trong chế độ quan chức phương Tây thì ở phương Đông khoa cử đóng vai trò hàng đầu, dù xuất thân từ tầng lớp nào khi đỗ đạt thì có thể được ra làm quan Ông chủ trương dân chủ hóa theo 3 bước: Quân chính, huấn chính, hiến chính Trước hết phải dùng biện pháp chuyên chính để điều hành chính quyền, sau đó phải giáo dục để nâng cao dân trí và cuối cùng là thực hiện nhà

nước pháp quyền, thực hiện dân chủ bằng luật pháp, ông được tôn là “quốc phụ”, tức

là người cha của Trung Hoa dân quốc, người cha của nền cộng hòa

Tôn Trung Sơn phủ nhận quan điểm đề cao vai trò cá nhân trong sự tiến hóa

của lịch sử Ông nói: “Washington, Napoléon dù tài cao, chỉ huy giỏi đến đâu, nếu

không có quần chúng nhân dân hiệp đồng hưởng ứng và ủng hộ thì cũng bó tay” Ông

xác định rằng cách mạng Trung Quốc muốn thành công phải liên Nga thân cộng, phò trợ công nông

1.3.3.4 Sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Trung Quốc

Cách mạng tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn đến tình hình Trung Quốc Chính quyền Xô Viết tuyên bố hủy bỏ mọi điều ước bất bình đẳng của đế quốc Nga đã

kí kết với triều đình Mãn Thanh Do ảnh hưởng của cách mạng trong tư tưởng Trung Quốc xuất hiện khuynh hướng XHCN Một số nhà trí thức của Trung Quốc đã bắt đầu tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và đi theo cách mạng Nga Những người Trung Quốc đầu tiên tiếp nhận học thuyết Mác – Lênin là Lý Đại Chiêu, Sái Hoài Sâm từ những năm 1919 – 1920

Lý Đại Chiêu đã giới thiệu với người Trung Quốc một cách có hệ thống về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, về việc vận dụng quan điểm Mác – Lênin vào việc nghiên cứu sử học

Trang 19

Từ năm 1918, Lý Đại Chiêu trong các bài viết của mình đã ca ngợi cách mạng

tháng Mười Nga, lập báo “bình luận hàng tuần”, viết bài cho tạp chí “Thanh niên

mới” – một tập có tuyên truyền chủ nghĩa Mác và có ảnh hưởng lớn nhất bấy giờ

Cũng trong thời gian này hai quyển Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Chủ

nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng đến khoa học đã được dịch và xuất bản ở Trung

Quốc Sự truyền bá của chủ nghĩa Mác – Lênin đã làm cho cách mạng Trung Quốc có bước phát triển mới rất quan trọng, đưa đến sự thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) Sau đó là quá trình tồn tại và đấu tranh tư tưởng giữa tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản trong cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc, đưa đến sự thắng lợi hoàn toàn của tư tưởng vô sản năm 1947

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày các tư tưởng Trung Quốc thời cổ đại

2 Trình bày các tư tưởng Trung Quốc thời trung đại

3 Trình bày các tư tưởng Trung Quốc thời cận đại

4 Phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng Trung Quốc đối với Việt Nam và một số nước

châu Á

5 Rút ra đặc điểm chung của tư tưởng Trung Quốc

Trang 20

Chương 2: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ

2.1 Khái quát về Ấn Độ

2.1.1 Địa lý tự nhiên và cư dân

Ấn Độ là một bán đảo lớn ở miền Nam Á gần như hình tam giác; phía Tây Nam và Đông Nam giáp Ấn Độ Dương; dài khoảng 3.000km, rộng 2.100km, phía Bắc là dãy núi Hymalaya án ngữ theo vòng cung dài 2.600km, là biên giới tự nhiên ngăn cách giữa Ấn Độ với Trung Quốc

Dãy núi Vindia cũng là biên giới tự nhiên đã chia Ấn Độ ra làm hai miền

Nam-Bắc

+ Miền Bắc có hai con sông lớn chảy qua: sông Ấn và Sông Hằng

Sông Ấn là (Inđus), tên nước Ấn Độ đặt theo tên của dòng sông này

Sông Hằng được coi là dòng sông thiêng, nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo

Hai con sông đã bồi đắp cho Ấn Độ những vùng đất phù sa rất màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nên người Ấn Độ sớm xây dựng cho mình nền văn minh rực rỡ

+ Miền Nam Ấn Độ là cao nguyên Đêcan rộng lớn, tạo điều kiện cho khai thác

khoáng sản và phát triển chăn nuôi

Ấn Độ có địa thế rộng lớn, địa hình đa dạng nên có nhiều vùng khí hậu khác nhau

Tính 2 mặt của tự nhiên có ảnh hưởng quyết định đến đời sống văn hóa Ấn

Độ vốn vừa khổ hạnh trầm tư, vừa hồn nhiên, phóng khoáng thấm đượm màu sắc tâm linh, luôn coi trọng các giá trị tinh thần

Nền văn minh ở lưu vực sông Indus (3.000-1.800 T.C.N.) đã thấm đượm những

tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc tiêu biểu cho Ấn

Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có tộc người Aria-da trắng (thuộc đại chủng tộc Ấn - Âu) tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo Ấn

Trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung

Nô, Ả Rập Saudi, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ

2.1.2 Hoàn cảnh lịch sử

* Thời kỳ Vêđa: (giữa thiên niên kỷ II đến giữa thiên niên kỷ I TCN)

Trang 21

Trong giai đoạn từ giữa thiên niên kỷ II đến thiên niên kỷ I TCN, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tác phẩm văn học, trong đó quan trọng nhất là các tập Vêđa

mà về sau gọi là Kinh Vêđa, vì vậy thời kỳ này được gọi là thời Vêđa Vêđa vốn nghĩa

là “hiểu biết” Kinh Vêđa có 4 tập: Rích Vêđa, Xama Vêđa, Yagiua Vêđa và Áctava Vêđa

Chủ nhân của nền văn hóa Vêđa là người Arya nghĩa là người cao quý di cư từ Trung Á vào Ấn Độ Địa bàn sinh sống của họ chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng Trong giai đoạn đầu của thời Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thủy đến khoảng cuối thiên niên kỷ II TCN, họ mới tiến vào xã hội có nhà nước Chính trong thời kỳ này, ở Ấn Độ đã xuất hiện hai vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội nước này, đó là chế độ đẳng cấp (varna) và đạo Bàlamôn Người Aryan di cư từ Trung Á vào Ấn Độ, chinh phục người Đravêđa sống ở lưu vực sông Hằng bắt người dân bản xứ làm nô lệ → hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên

* Ấn Độ từ TK VI TCN – TK XII

Các quốc gia ở miền Bắc Ấn Độ và sự xâm lược của Alêchxăngđrơ Makêđônia

Từ TK VI TCN, bắt đầu có sử sách ghi chép về tình hình chính trị của đất nước mình Lúc bấy giờ ở miền Bắc Ấn Độ có 16 nước (mạnh nhất là Magađa) Năm 327 TCN quân đội Makêđônia do Alêchxăngđrơ chỉ huy tấn công Ấn Độ Quân đội của nước họ chiến đấu rất dũng cảm nhưng cuối cùng bị thất bại Alêchxăngđrơ định tiến sang phía Đông tấn công nước Magađa nhưng quân sĩ đã quá mệt mỏi sau một cuộc trường chinh nhiều năm nên phải rút lui, chỉ để lại một lực lượng như chiếm đóng ở hai cứ điểm đã chiếm được mà thôi

Vương triều Môrya (321 – 187 TCN)

Ngay sau khi Alêchxăngđrơ rút lui, ở Ấn Độ đã dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia Thủ lĩnh của phong trào này

là Sanđrugupta, biệt hiệu là Môrya (chim công) Quân đội Makêđônia bị đuổi khỏi Ấn

Độ, Sanđrugupta làm chủ cả vùng Pungiáp Tiếp đó ông tiến quân về phía Đông giành được ngôi của ở Magađa, lập nên một triều đại mới gọi là vương triều Môrya, triều đại

huy hoàng nhất lịch sử Ấn Độ cổ đại

Đến thời vua Axôca (273- 236TCN), vương triều Môrya đạt giai đoạn cường thịnh nhất Đạo Phật ra đời vào khoảng thế kỷ V TCN, đến thời này đã phát triển nhanh chóng và trở thành quốc giáo Sau khi Axôca mất, vương triều Môrya suy sụp nhanh chóng và đến năm 28 TCN bị diệt vong

Nước Cusan

Trong khi tình hình chia cắt ở Ấn Độ đang diễn ra trầm trọng thì vào thế kỷ I, tộc Cusan từ Trung Á tràn vào chiếm miền Tây Bắc lập ra nhà nước mới Vua Cusan

Trang 22

lúc bấy giờ rất tôn sùng đạo Phật nên thời kỳ này Phật giáo cũng rất hưng thịnh Sau khi Canixca chết, nước Cusan ngày càng suy yếu, lãnh thổ chỉ còn lại vùng Pungiáp và tồn tại đến thế kỷ V bị diệt vong

Vương triều Gupta và Hacsa

Trong thế kỷ III, Ấn Độ lại bị chia cắt trầm trọng Năm 320, vương triều Gúpta được thành lập, miền Bắc và một phần miền Trung Ấn Độ tạm thời thống nhất một thời gian Từ năm 500 – 528, phần lớn miền Bắc Ấn Độ bị người Eptalil xâm chiếm và thống trị, đến năm 535 triều Gúpta diệt vong

Năm 606, vua Hacsa lại dựng lên một vương triều tương đối hùng mạnh ở miền Bắc Ấn Độ Chính trong thời kỳ này, nhà sư Huyền Trang của Trung Quốc đã sang Ấn

Độ để tìm kinh Phật Năm 648, Hacsa chết, quốc gia hùng mạnh do ông dựng lên cũng tan rã

Từ đó đến thế kỷ XII, Ấn Độ bị chia cắt càng trầm trọng và nhiều lần bị ngoại tộc xâm nhập Đặc biệt từ đầu thế kỷ XI, Ấn Độ thường xuyên bị các vương triều Hồi giáo ở Ápganixtan tấn công và đến năm 1200, toàn bộ miền Bắc Ấn Độ bị xâm nhập vào Ápganixtan

* Ấn Độ từ TK XIII đến TK XIX

Thời kỳ Xuntan Đêli (1206- 1526)

Năm 1206, viên Tổng đốc của Ápganixtan ở miền Bắc Ấn Độ đã tách miền Bắc Ấn Độ thành một nước riêng tự mình làm Xuntan (vua), đóng đô ở Đêli, gọi là nước Xuntan Đêli Từ đó đến năm 1526, ở miền Bắc Ấn Độ đã thay đổi đến 5 vương triều, nhưng đều do người ngoại tộc theo đạo Hồi thành lập, cai trị

Thời kỳ Môgôn (1526- 1857):

Người Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn thành lập năm 1206 Sau khi Thành Cát

Tư Hãn chết (1227), đế quốc Mông Cổ chia thành nhiều nước Dòng dõi của người Mông Cổ ở Trung Á đều Tuốc hóa và đều theo đạo Hồi Từ thế kỷ XIII, người Mông Cổ ở Trung Á nhiều lần tấn công Ấn Độ Năm 1526, họ chiếm được Đêli, thành lập vương triều mới gọi là vương triều Môgôn

Đến khoảng TK XVIII, thực dân Anh bắt đầu xâm chiếm Ấn Độ, năm 1849 Ấn

Độ trở thành thuộc địa của Anh, năm 1857 vương triều Môgôn hoàn toàn bị diệt vong

2.2 Tư tưởng, tôn giáo Ấn Độ

2.2.1 Đạo Bàlamôn

Giữa thiên niên kỷ I TCN, đạo Bàlamôn được hình thành với một hệ thống giáo

lý tương đối hoàn chỉnh Đạo Bàlamôn được hình thành từ trên cơ sở phát triển của xã hội, từ sự không bình đẳng về giai cấp, và từ tín ngưỡng trong dân gian

Trong xã hội Ấn Độ cư dân được chia làm 4 đẳng cấp:

+ Brama: tầng lớp tăng lữ, tôn giáo

Trang 23

+ Ksatơrya: đẳng cấp của các chiến sỹ

+ Vaisya: đẳng cấp của tầng lớp bình dân

+ Suđra: đẳng cấp của những người cùng khổ (hầu hết là con cháu của những người bại trận)

Đây là một tôn giáo đa thần, không có người sáng lập, trong đó cao nhất là thần Brama - vị thần sáng tạo ra thế giới Theo giáo lý của đạo Bàlamôn, trên thế giới chỉ có Brama là có thật mà thôi Brama là linh hồn của thế giới, là sức mạnh thần kỳ không hình không bóng, chí công vô tư, còn tất cả mọi hiện tượng trên thế giới đều là ảo tưởng Linh hồn của con người cũng là một bộ phận của Brama, nên con người tuy

có sống có chết nhưng linh hồn thì còn mãi trong nhiều kiếp sinh vật khác nhau

Tuy nhiên, đối tượng sùng bái vẫn chưa xác định được rõ ràng và thống nhất

Có nơi lại cho thần Siva: Đấng hủy diệt- là vị thần huỷ diệt cao nhất, có nơi lại cho thần Visnu: Đấng bảo tồn- là vị thần phù hộ cao nhất Ngoài ra, nhiều động vật như

voi, khỉ và nhất là bò cũng là những đối tượng sùng bái của đạo Bàlamôn

Về sau, đến những thế kỷ đầu công nguyên, những người chủ trương thờ thần Siva và thờ thần Visnu đã thành lập hai phái của đạo Bàlamôn Để thống nhất các phái đó, đạo Bàlamôn đặt ra quan niệm thần sáng tạo thế giới Brama, thần Siva, thần Visnu tuy là ba nhưng vẫn là một

Đạo Bàlamôn đặt ra một loạt nghi thức tôn giáo rất phiền phức Đồng thời sách Vêđa vốn là tác phẩm văn học đã được sửa chữa cho thích hợp với giáo lý đạo Bàlamôn và trở thành kinh thánh của tôn giáo này Kinh Vêđa viết bằng tiếng Phạn, khi tiếng nói của nhân dân không ngừng phát triển thì tiếng Phạn vẫn giữ nguyên không thay đổi Muốn nắm vững những nghi thức tôn giáo đó và muốn đọc được kinh Vêđa thì cần phải học tập nhiều năm, do đó nghề thầy cúng trở thành một nghề chuyên môn Tình hình ấy làm cho địa vị tầng lớp tu sĩ càng cao, đẳng cấp Bàlamôn trở thành một lực lượng càng có nhiều đặc quyền

Triết lý Bàlamôn quan trọng là thuyết luân hồi (kiếp sau) Đời người có 4 mục đích:

+ Dharma: hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp và tôn giáo

+ Artha: mưu sinh và thành đạt trong xã hội

+ Kama: thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ

+ Moksa: giải thoát khỏi vòng luân hồi, bằng cách giải trừ hết các nghiệp

Khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế trần gian - tức là luân hồi

Đời người phải trải qua 4 giai đoạn: học tập; lập gia đình, tạo sự nghiệp; hướng

về tâm linh; thoát ly xã hội để tu hành

Luân lý: con người phải chịu 3 trọng ơn: Ơn trời; Ơn thầy; Ơn tổ tiên

Trang 24

Con người giữ 10 giới răn:

+ Không giết chóc

+ Không nói dối

+ Không trộm cắp

+ Không tham lam

+ Không buông thả theo ham muốn

+ Phải sạch sẽ, tinh khiết

+ Biết bằng lòng

+ Kỷ luật với bản thân

+ Phải học tập

+ Vâng phụng mệnh trời

→ Bàlamôn là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ Bàlamôn tồn tại ở Ấn Độ nhiều thế kỷ, khi Phật giáo ra đời thì Bàlamôn đi vào suy yếu

Sau một thời gian hưng thịnh, đến thế kỷ VII, khi Phật giáo suy yếu Nhân tình hình đó, đạo Bàlamôn dần dần phục hưng, đến khoảng thế kỷ VIII, IX đạo Bàlamôn bổ sung thêm nhiều yếu tố mới như đối tượng sùng bái và sửa đổi lại những lễ nghi, từ

đó Bàlamôn được gọi là đạo Hinđu, trước đây người ta gọi là Ấn Độ giáo

Đối tượng sùng bái của Hinđu vẫn là 3 vị thần chính: Brama, Siva, Visnu

Thần Brama được thể hiện bằng một hình tượng có 4 đầu để chứng tỏ thần có thể nhìn thấu mọi nơi Bốn tập kinh Vêđa chính là được phát ra từ 4 cái miệng của thần Brama

Thần Siva được thể hiện thành hình tượng có mắt thứ ba ở trên trán, luôn cầm một cái đinh ba, Siva thường cưỡi bò hoặc ngồi trên tấm da hổ, có những con rắn hổ mang quấn quanh cổ

Thần Visnu được quan niệm là đã giáng trần 9 lần Trong sáu lần đầu, thần xuất hiện dưới dạng các động vật như cá, lợn rừng… Đến lần xuất hiện thứ 7, thần Visnu chính là Rama Lần thứ 8, thần Visnu giáng thế thành thần Krisna – thường bênh vực

kẻ nghèo, chữa bệnh cho người mù, người điếc và làm cho người chết sống lại Lần thứ 9, thần Visnu biến thành Phật Thích ca Đến kiếp thứ 10 tức là lần giáng sinh cuối cùng, thần Visnu sẽ biến thành thần Kali Đó là vị thần sẽ hủy diệt thế giới cũ tội lỗi, tạo dựng thế giới mới với đạo đức trong sáng

Ngoài các vị thần nói trên, Hinđu thờ nhiều loại động vật, trong đó khỉ và bò là hai loại động vật đựơc sùng bái nhất

Triết lý vẫn coi trọng thuyết luân hồi (kiếp sau), cho rằng con người sau khi chết, linh hồn sẽ đầu thai nhiều lần Mỗi lần đầu thai như vậy con người sẽ sung sướng

Trang 25

hơn hay cực khổ hơn kiếp trước là tùy thuộc vào những việc làm của kiếp trước tức là quả báo

Kinh thánh của đạo Hinđu, ngoài các tập Vêđa và Upanisát còn có Mahabharata, Ramayana…

Sau khi phục hưng, đạo Hinđu được các vương công Ấn Độ hết sức ủng hộ, do đó đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa nguy nga và ban cấp cho rất nhiều ruộng đất

Đạo Hinđu vẫn coi trọng chế độ đẳng cấp Đến thời kỳ này, do sự phát triển của các ngành nghề, trên cơ sở 4 đẳng cấp cũ đã xuất hiện rất nhiều đẳng cấp nhỏ mới gọi là Jati Những đẳng cấp nhỏ này cũng có sự phân biệt về địa vị xã hội rất khắt khe, đóng kín mọi mặt và đời đời cha truyền con nối

Đạo Hinđu còn duy trì lâu dài nhiều tục lệ lạc hậu như tảo hôn, vợ góa phải hỏa táng theo chồng Nếu không tuẫn tiết thì phải cạo trọc đầu và ở vậy suốt đời, không được tái giá Ngày nay các tục lệ đó đều đã bãi bỏ

Ngày nay có trên 84% dân số Ấn Độ đi theo đạo Hinđu và Hinđu đã truyền bá sang nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á

2.2.3 Đạo Phật

2.2.3.1 Truyền thuyết về Phật Thích Ca

Vào giữa thiên niên kỷ I TCN, đạo Phật xuất hiện Theo truyền thuyết, người sáng lập Phật giáo là Tất Đạt Đa (Siddharatha), họ là Gôtama (Gautama), thường gọi

là Phật Thích Ca Mâu Ni, sinh năm 624 TCN, (có một số ý kiến khác thì cho Phật sinh năm 563)

Cha của Tất Đạt Đa là Vua Tưđồđàna, mẹ là Hoàng hậu Ma Da Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm 624 TCN,hoàng hậu Ma Da (Maha Maya) hạ sinh thái tử Tất Đạt

Đa tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) Khi sinh ra, ngài đã đi bảy bước, mỗi bước nở ra

một đóa sen Một tay Ngài chỉ trời, một tay chỉ đất và nói rằng: “Thiên thượng, thiên

hạ Duy ngã độc tôn” Sau khi sinh ngài được bảy ngày thì hoàng hậu Ma Da qua đời

Thái tử được giao cho người dì là Ma Ha Ba Xà Bà Đề nuôi dưỡng

Sau khi giành chiến thắng trong cuộc thi tuyển chọn phò mã, Ngài đã kết hôn với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara) lúc ngài được 16 tuổi

Theo những điển tích cổ, Tất Đạt Đa hầu như bị tù túng trong cung cấm Cha chàng là Tịnh Phạn Tịnh Vương đã tìm cách che dấu những cảnh đau khổ của những người xung quanh đối với một hoàng tử nhạy cảm và giàu suy tư Nhưng rồi Tất Đạt

Đa cùng người đánh xe đã thoát ra khỏi cung điện Ngài gặp cảnh khổ đau, chết chóc, bệnh tật – động lực thúc đẩy Tất Đạt Đa theo đuổi cuộc sống tu hành đã trở thành khởi điểm cho toàn bộ phật giáo là ước vọng thiết tha vượt qua được những khổ đau

Năm 29 tuổi xuất gia đi tu, Ngài đã theo đuổi cuộc sống tu hành khổ hạnh trong

6 năm liền Các phép tu luyện khổ hạnh ở đây đã được xếp thành 4 loại: kiềm chế tâm

Trang 26

trí, nín thở, nhịn ăn và kiêng khem Sau khi đã tu luyện những phép khổ hạnh nhất mà vẫn không đạt được chính đạo Tất Đạt Đa quyết tâm từ bỏ các phép tu ấy

Dưới bóng cây đại thụ Đức Thích Ca đã ngồi thiền và đạt chính quả người ta gọi đó là cây Bồ Đề hay cây Đại giác Năm 35 tuổi thì tìm thấy nguồn gốc của sự đau khổ và con đường cứu vớt

Từ đó, Đức Thích Ca đi các nơi ở vùng hạ lưu sông Hằng, cho đến miền Trung Ấn Độ để truyền bá đạo của mình Tôn giáo mới gắn liền với tên tuổi của Thích ca Mâu Ni được gọi là đạo Phật, dần dần lan rộng ra nhiều vùng Ấn Độ đương thời Sinh thời, Phật Thích ca không viết sách, Người chỉ bàn luận với học trò bằng những lời nói của mình, về sau các đệ tử thuộc nhiều thế hệ khác nhau đã biên tập thành những Kinh, luật, luận truyền bá cho đời sau

Lúc 80 tuổi, sức khỏe của Đức Thích ca đã suy kiệt, Phật tịch năm 483 TCN (có

ý kiến mất năm 544 TCN)

2.2.3.2 Học thuyết Phật giáo

Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật giáo là “lý giải và nêu ra cái chân lý về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ” – Lời nói của Thích Ca Mâu Ni

Nội dung chủ yếu tập trung vào tứ diệu đế:

+ Khổ đế: chân lý nói về nỗi khổ (sinh, lão, bệnh, tử)

+ Tập đế: chân lý nói về nguồn gốc nỗi khổ

+ Diệt đế: Chân lý nói đến sự chấm dứt nỗi khổ

+ Đạo đế: Con đường diệt khổ bằng cách đi tu

Con đường diệt khổ (Bát chính đạo):

1 Chính kiến: quan điểm tu hành đúng đắn

2 Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn

3 Chính ngữ: nói năng đúng đắn

4 Chính nghiệp: hành động đúng đắn

5 Chính mệnh: sống đúng đắn

6 Chính tịnh tiến: mơ tưởng những cái đúng đắn

7 Chính niệm: tưởng nhớ những cái đúng đắn

8 Chính định: tập trung tư tưởng, ngẫm nghĩ đúng đắn

Về giới luật: tín đồ Phật giáo phải kiêng 5 thứ (ngũ giới): Không sát sinh, không

trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu

Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết duyên khởi

Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật của trương “vô tạo hóa”

tức là không có vị thần linh tối cao tạo ra vũ trụ Đây là nội dung cơ bản mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Bàlamôn và là sự khác biệt quan trọng với các tôn giáo khác

Trang 27

Về mặt xã hội, đạo Phật không chủ trương xoá bỏ chế độ đẳng cấp, nhưng tuyên truyền sự bình đẳng, mở đường giải thoát về tinh thần Không tán thành bạo lực, chủ trương dùng thiện để cảm hoá ác, nên bị giai cấp thống trị lợi dụng

* Sự phát triển của đạo Phật

Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn Độ Từ thế kỷ V TCN đến năm 100 sau công nguyên, trải qua bốn lần đại hội, soạn thảo về qui chế, chấn chỉnh về tổ chức, đạo Phật phát triển rộng rãi ở Ấn Độ và trên thế giới

Sau lần đại hội thứ 4, cải cách giáo lý, đạo Phật được hình thành 2 giáo phái đó là:

+ Đại Thừa: theo người Ấn Độ, đây là cỗ xe lớn, con đường cứu vớt rộng, chỉ

cần những người có lòng tin hướng về Phật là được cứu vớt, không cần phải tu hành khổ hạnh, Phật Thích Ca là Phật cao nhất nhưng ngoài ra còn có nhiều Phật khác như Phật Di Lặc, A Di Đà , Niết Bàn là thế giới của Phật – thiên đường, ngoài ra còn có địa ngục

+ Tiểu Thừa, cỗ xe nhỏ, con đường cứu vớt hẹp, phải tu hành khổ hạnh mới

được cứu vớt, cho rằng chỉ Phật Thích Ca là duy nhất, Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não đau khổ

Sau đại hội lần thứ tư, đạo Phật được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc Những thế kỷ tiếp sau, đạo Phật suy yếu dần ở Ấn Độ nhưng lại phát triển ở Châu Á và trở thành quốc giáo của nhiều nước

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Chứng minh Ấn Độ là quê hương của rất nhiều tôn giáo

2 Lý giải tại sao Phật giáo ra đời ở Ấn Độ nhưng không phát triển và tồn tại lâu dài ở đây?

Trang 28

Chương 3: HỒI GIÁO 3.1 Tình hình lịch sử - xã hội trên bán đảo Arập

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Arập là bán đảo lớn nhất ở Tây Á, diện tích lớn hơn ¼ Châu Âu Tuy nhiên, chỉ

có vùng Yêmen ở phía Tây Nam có nguồn nước phong phú, đất đai có thể trồng trọt được Hơn nữa, nhờ nằm trên con đường buôn bán giữa Tây Á và Bắc Phi, nên Yêmen có điều kiện phát triển thương nghiệp Vì vậy từ thế kỉ X-VI TCN, ở đây đã thành lập nhiều nhà nước cổ đại

Vùng Hê-gia- dơ nằm dọc ven bờ biển Đỏ rất thuận lợi phát triển về thương mại

(buôn bán) Vì vậy, ở đây từ sớm đã hình thành nên hai thành phố quan trọng

Ya-tơ-ríp, Méc-ca

Ngoài hai vùng đất trên, các vùng đất còn lại khô cằn, ít nước không có khả năng phát triển kinh tế

3.1.2 Sự thành lập và diệt vong của nhà nước ARẬP

Nhà nước Arập ra đời vào thế kỉ VII Quá trình thành lập nhà nước ra đời gắn liền với quá trình thành lập đạo Hồi do Môhamét là người sáng lập và truyền bá

Môhamét xuất thân từ một bộ lạc có thế lực ở Mecca Năm 610, ông bắt đầu truyền giáo Năm 622, bị tầng lớp quý tộc Mecca phản đối và hãm hại, ông cùng tín đồ của mình phải chạy lên thành phố Yatơríp ở phía Bắc (cách Mecca 400km) Năm xảy

ra sự kiện này (622) được coi là năm thứ nhất của kỷ nguyên Hồi giáo Môhamét tự xưng là tiên tri, nên thành phố Yatơríp đổi tên thành Mêdina nghĩa là “thành phố của tiên tri” Tại đây, Môhamét dần dần thành lập được một lực lượng chính trị kết hợp với tôn giáo do ông cầm đầu Để duy trì lực lượng, Môhamét thường xuyên tập kích các đội buôn của Mecca, do đó chiến tranh giữa Mêđina và Mecca đã diễn ra nhiều lần Năm 628, Môhamét ký hòa ước ngừng chiến 10 năm với Mecca Năm 629, Môhamét dẫn 2000 tín đồ ở Mêdina đến Mecca và đến thăm đền Kaaba Nhiều người ở Mecca

và vùng xung quanh cũng theo đạo Hồi

Năm 630, nhận thấy mình đã đủ thế lực để chiếm Mecca, ông dẫn một đoàn hơn 10.000 tín đồ đánh chiếm thánh địa Mécca Mecca không dám chống cự, từ đó ông trở thành người đứng đầu nhà nước Arập và Mécca trở thành thánh địa của Hồi Giáo

Năm 632, Môhamét chết Từ đó, người đứng đầu nhà nước và tôn giáo ở Arập gọi là Calipha (nghĩa là người kế thừa của tiên tri)

Sau khi Môhamét chết, từ năm 632 đến 661, các Calipha đều do giới quý tộc bầu ra Năm 661, Calipha Ali vốn là em con chú và là con rể của Môhamét bị giết chết, viên tổng đốc ở Xiri thuộc họ Ômayat đã được lập lên làm Calipha Từ đó ngôi Calipha trở thành cha truyền con nối

Trang 29

Để mở rộng truyền bá đạo Hồi, Arập đã thi hành chính sách xâm lược và chinh

phục được: Xi-ri, Pa-letx-tin, Ai Cập …

Đến thế kỉ VIII, A rập trở thành một đế quốc rộng lớn, phần đất bao gồm cả ba châu lục: Á, Âu, Phi

Thế kỉ X, đế quốc Arập không duy trì được sự thống nhất nữa, thế lực ngày càng suy yếu Năm 1258, bị Mông Cổ chiếm đóng, đế quốc Arập đi vào diệt vong

3.2 Đạo Hồi

Trước khi đạo Hồi ra đời, người Arập theo đa thần, họ thờ các Thần mặt trăng, mặt trời, cây cỏ, đá…, nhưng khi đất nước Arập thống nhất, tôn giáo cũng thống nhất

Đạo Hồi tiếng Arập gọi là Ixlam nghĩa là “phục tùng”, về sau dân tộc Hồi ở

Trung Quốc theo tôn giáo này nên ta quen gọi là đạo Hồi

Đạo Hồi là một tôn giáo nhất thần tuyệt đối Tín đồ Hồi giáo tin rằng ngoài thánh Ala không có vị thần nào khác Ala tạo vũ trụ, tạo ra con người Môhamét tự cho rằng mình là nhà tiên tri của thánh Ala duy nhất, có sứ mệnh truyền đạo

Đạo Hồi có một giáo lý riêng của mình, mặt khác cũng tiếp thu nhiều quan niệm của các tôn giáo khác, nhất là đạo Do Thái

Bởi tin rằng thánh Ala vô hình vô ảnh, tỏa khắp mọi nơi nên đạo Hồi tuyệt đối không thờ ảnh tượng, trong thánh thất Hồi giáo chỉ trang trí bằng chữ Arập, chỉ riêng trong đền Caaba ở Mecca có thờ một phiến đá đen từ xưa để lại

Cương lĩnh của đạo Hồi thệ hiện qua lục tín :

 Tin chân thánh, tin thánh Ala là duy nhất

 Tin thiên sứ: có rất nhiều thiên sứ và mỗi người đảm nhận một việc

 Tin sứ giả: đạo Hồi tin rằng có 350 sứ giả nhận sứ mệnh Ala ủy thác trong đó Mô-ha-mét là sứ giả quyền uy nhất

 Tin tiền định gắn với thuyết định mệnh

 Tin kinh điển: kinh Cô-ran là kỳ tích có một không hai, là hiến pháp vĩnh cửu của đạo Hồi, là bộ lịch sử vĩ đại của các dân tộc A-rập

 Tin kiếp sau, tức tin vào luân hồi

Tín đồ Hồi giáo có 5 bổn phận chính:

 Tuyệt đối tin vào thánh Ala là duy nhất, còn Mô-ha-mét là sứ giả của Ala, luôn tôn kính Ala và Môhamét

 Tín đồ Hồi giáo phải cầu nguyện 5 lần vào sáng, trưa, chiều, tối và đêm Thứ 6 hàng tuần phải đến thánh thất làm lễ

 Trong tháng Ramadan phải thực hiện trai giới, đó là thời điểm quan trọng nhất với tín đồ Hồi giáo để thể hiện niềm tin tuyệt đối của mình

 Nộp thuế và bố thí cho người nghèo là bổn phận của Hồi giáo vừa để xây cất thánh thất vừa gieo mầm thiện cho kiếp sau

Trang 30

 Hành hương đến Caaba là nghi lễ quan trọng nhất của tín đồ Hồi giáo, chỉ diễn

Về quan hệ gia đình, đạo Hồi thừa nhận chế độ đa thê nhưng chỉ cho lấy nhiều nhất là 4 vợ Đàn ông Hồi giáo cũng có thể lấy người theo đạo Do Thái hoặc đạo Kitô làm vợ nhưng không được cưới người theo đa thần giáo Tuy cho lấy nhiều vợ nhưng đạo Hồi lại cấm việc lấy nàng hầu Riêng Môhamét thì ngoại lệ, ông có 10 vợ và 2 nàng hầu

Thời Môhamét, đạo Hồi mới chỉ truyền bá ở bán đảo Arập Sau đó cùng với quá trình chinh phục của Arập, đạo Hồi đã truyền bá khắp Tây Á, Trung Á, Bắc Phi và Tây Ban Nha

Đạo Hồi là tôn giáo trẻ, ra đời vào thế kỷ thứ VII khi thế giới đã có đạo Phật, đạo Ki-tô, nhưng sự phổ biến của tôn giáo này rất rộng rãi, hiện nay nó có mặt ở hàng trăm quốc gia, thành quốc giáo của nhiều nước như Indonexia, Libi, Angieri, Ma-rốc…

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Quá trình ra đời và phát triển của đạo Hồi ở A Rập

2 Trình bày những nội dung cơ bản của học thuyết đạo Hồi

Trang 31

PHẦN B: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM Chương 1: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THỜI KỲ DỰNG NƯỚC

ĐẾN NĂM 1945 1.1 Nước Văn Lang và Âu Lạc

1.1.1 Nhà nước Văn Lang

Vào thời kỳ Đông Sơn, do những yêu cầu về thủy lợi và tự vệ chống ngoại xâm, các bộ lạc sống rải rác ở vùng Bắc Bộ và Trung Bộ đã tự nguyện liên minh với nhau

Bộ lạc Lạc Việt là hạt nhân của liên minh đó Phạm vi phân bố của văn hóa Đông Sơn cũng phù hợp với cương vực của nước Văn Lang thời Hùng Vương Trong phạm vi cương vực đó có 15 bộ lạc có mối quan hệ chặt chẽ do quá trình cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử, một nhu cầu để tồn tại và phát triển, đã dần dần tạo nên cho cả cộng đồng cư dân một lối sống, phong hóa chung Và như vậy, từ các đơn vị cộng

cư của một xã hội nguyên thủy bộ lạc đã hình thành các đơn vị (bộ) của một quốc gia

sơ khai cùng với sự hình thành lãnh thổ chung và một tổ chức chung để quản lý và điều hành xã hội

Thư tịch cổ chép lại các truyền thuyết về nước Văn Lang là nhà nước sơ khai ở nước ta, đứng đầu là vua, gọi là Hùng Vương Hùng Vương là người chỉ huy quân sự đồng thời chủ trì các nghi lễ tôn giáo Dưới Hùng Vương có các lạc hầu, lạc tướng

Lạc tướng còn trực tiếp cai quản công việc của các “bộ” Nước Văn Lang có 15 bộ

(Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang) Lạc tướng (trước đó là tù trưởng) còn gọi là phụ đạo, bộ tướng Dưới bộ là các công xã nông thôn (bấy giờ có tên gọi là kẻ, chạ, chiềng) Đứng đầu kẻ, chạ, chiềng là các bồ chính Bên cạnh bồ chính có lẽ còn có một nhóm người hình thành một tổ chức có chức năng như một hội đồng công xã để tham gia điều hành công việc của công xã nông thôn, mỗi công xã có nơi trung tâm hội họp, sinh hoạt cộng đồng, thường là một ngôi nhà công cộng

Căn cứ vào lời tâu của Mã Viện lên vua nhà Hán về tình hình Âu Lạc trước khi nhà Hán xâm lược và đô hộ nước ta, có thể nói, bấy giờ nhà nước Văn Lang đã có

pháp luật để điều chỉnh xã hội Sách “Hậu Hán thư” viết: “Luật của người Việt so

sánh với luật Hán hơn mười điều” Cũng có thể “luật Việt” mà sách Hậu Hán thư ghi

theo lời tâu của Mã Viện là một thứ luật tục (tập quán pháp chứ chưa phải là luật pháp thành văn) Sách thường ghi cư dân nước ta bấy giờ là người Lạc Việt và quốc hiệu là Văn Lang do vua Hùng đặt

Sách Đại Việt Sử lược ghi rằng: Đời Trang Vương nhà Chu (696 – 682TCN) ở

bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang Việt Vương Câu Tiễn (505 –

Trang 32

462TCN) cho người đến dụ hàng nhưng Hùng Vương không theo Dựa vào các tài liệu

và những thành tựu nghiên cứu về thời đại Hùng Vương hiện nay, có thể nói thời điểm

ra đời của nước Văn Lang với tính chất là một nhà nước sơ khai là vào khoảng thế kỷ VII – VI TCN (vào giai đoạn đầu Đông Sơn, là kết quả của một quá trình hình thành, chuẩn bị các điều kiện ra đời của nhà nước về các mặt)

Sự ra đời của nước Văn Lang dù còn ở hình thức sơ khai và có phần sớm với sự phân hóa xã hội chưa sâu sắc nhưng đã đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa thời đại của lịch sử VN – mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước của dân tộc

1.1.2 Nhà nước Âu Lạc

Trên phạm vi lãnh thổ của nước Văn Lang có nhiều bộ lạc chung sống, trong đó có người Tây Âu (Âu Việt) sống ở vùng rừng núi và trung du phía Bắc nước Văn Lang

mà trung tâm là Cao Bằng

Người Lạc Việt với người Tây Âu vốn từ lâu đã có mối quan hệ kinh tế - văn hóa gần gũi Thủ lĩnh của nhóm người Tây Âu sống trên đất nước Văn Lang là Thục Phán Liên minh bộ lạc Tây Âu ngày càng mạnh lên

Vào cuối thời Hùng Vương, giữa vua Hùng và Thục đã xảy ra cuộc xung đột kéo dài chưa phân thắng bại (có một số truyền thuyết và dấu tích lịch sử phản ánh về cuộc xung đột này, song đây là vấn đề còn đang tranh luận) Trong bối cảnh đó, quân Tần ồ ạt kéo vào xâm lược đất nước ta Trước nguy cơ mất nước, cần phải thống nhất lực lượng, lãnh đạo nhân dân cả nước chống ngoại xâm Cuộc xung đột đã kết thúc bằng việc Thục Phán lên ngôi thay Hùng Vương lãnh đạo cuộc kháng chiến, đặt tên nước là Âu Lạc (khoảng đầu thế kỷ III TCN)

Nước Âu Lạc là bước kế tục và phát triển cao hơn nước Văn Lang Đứng đầu nhà nước là Thục Phán An Dương Vương Trong triều vẫn có các lạc hầu giúp vua cai quản đất nước Ở các địa phương (bộ) vẫn do các lạc tướng đứng đầu quản lý

Mặc dù nước Âu Lạc tồn tại không lâu, chỉ trong khoảng từ năm 208 đến năm 179TCN, nhưng đã phát triển trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được thời Văn Lang, nhất là trên lĩnh vực quân sự

Theo tài liệu khảo cổ thì An Dương Vương xây dựng được một đạo quân khá mạnh, sử dụng thành thạo cung tên Các loại vũ khí phong phú đa dạng, hố tên đồng chứa hơn vạn mũi tên đào được ở chân thành Cổ Loa đã chứng tỏ điều đó Âu Lạc còn có thủy quân và được luyện tập khá thường xuyên Sau khi nước Âu Lạc ra đời, Thục Phán An Dương Vương đã chọn Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) làm kinh đô và cho xây dựng thành Cổ Loa kiên cố, trở thành trung tâm của nước Âu Lạc Thành Cổ Loa còn

là một căn cứ quân sự vững chắc, lợi hại

Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng chết, con là Tần Nhị Thế lên thay, đế chế Tần suy sụp dần Những quận mới chiếm được ở phía Nam Trung Quốc trên thực tế ngày

Trang 33

càng thoát khỏi sự kiểm soát của chính quyền nhà Tần Lợi dụng thời cơ đó, Nhâm Ngao và Triệu Đà âm mưu chiếm Nam Hải, xây dựng thành một vương quốc riêng, chống lại nhà Tần

Nhâm Ngao chết, Triệu Đà thay thế đã thực hiện mưu đồ cát cứ mà Nhâm Ngao còn bỏ dở

Triệu Đà người Hán, quê ở Hà Bắc (Trung Quốc), sai khi Nhâm Ngao chết, đã chiếm lấy quận Nam Hải, diệt trừ các quan lại nhà Tần Năm 206 TCN, nhà Tần bị lật đổ, Triệu Đà liền đánh chiếm các quận Quế Lâm, quận Tượng, thành lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, quận Tượng (phía Nam TQ), nằm ở phía Bắc và giáp liền nước

Âu Lạc

Nhà Hán thay thế nhà Tần thống trị TQ, buổi đầu phải chấp nhận nước Nam Việt cát cứ của nhà Triệu Dưới thời Cao Hậu (187 – 180TCN), Triệu Đà cắt đứt quan hệ thần phục nhà Hán, tự xưng là Nam Việt Vũ đế, mặt khác, đẩy mạnh các cuộc xâm lược vũ trang về phía Nam để mở rộng phạm vi lãnh thổ Nam Việt, trong đó nước Âu Lạc là mục tiêu chủ yếu

Sau nhiều lần xâm lược bằng vũ trang thất bại do nước Âu Lạc có lực lượng mạnh, có tinh thần quyết chiến, lại có thành Cổ Loa kiên cố, Triệu Đà đã thay đổi thủ đoạn xâm lược, thực hiện kế giảng hòa với Âu Lạc, xin cầu hôn con gái vua Thục Phán An Dương Vương là công chúa Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy

Trọng Thủy sau khi kết hôn với Mỵ Châu đã xin ở rể tại Âu Lạc, trong thành Cổ Loa để có cơ hội điều tra tình hình bố phòng và các bí mật quân sự của Âu Lạc Mặt khác, Trọng Thủy còn dùng tiền của để mua chuộc, ly gián nội bộ chính quyền Âu Lạc, làm lung lay ý chí chiến đấu của triều đình nhà Thục, làm vua Thục mất cảnh giác

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trọng Thủy trở về Nam Việt Nắm chắc tình hình, lợi dụng thời cơ, Triệu Đà đã bất ngờ tổ chức tấn công vũ trang, đánh thẳng vào kinh đô Cổ Loa

Thục Phán An Dương Vương mất cảnh giác, thiếu phòng bị, đã bị động đối phó nên cuộc kháng chiến của Âu Lạc nhanh chóng bị thất bại vào năm 179 TCN Từ đó, mở đầu thời kỳ đất nước Âu Lạc bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ kéo dài hơn một nghìn năm (từ năm 179 TCN đến năm 938) trải qua các triều Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường

1.2 Thời kỳ Bắc thuộc (từ 179 TCN đến 938)

1.2.1 Tổ chức cai trị

Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà chia Âu Lạc thành hai quận: Giao Chỉ (vùng Bắc Bộ ngày nay) và Cửu Chân (từ Thanh Hóa đến Nghệ An, Hà Tĩnh), sáp

Trang 34

nhập vào nước Nam Việt Dưới quận, các liên minh bộ lạc vẫn giữ nguyên, đứng đầu

các bộ vẫn là các lạc tướng Đứng đầu mỗi quận có chức Điển sứ cai trị và một chức

Tả tướng để chỉ huy quân đội chiếm đóng

Năm 111 TCN, nhà Hán diệt nước Nam Việt Từ đó, Âu Lạc bị nhà Hán độ hộ Chiếm xong Nam Việt (bao gồm cả Âu Lạc), nhà Hán đã chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm theo chế độ quận huyện của chính quốc, biến Âu Lạc thành đất đai của nhà Hán Nước Âu Lạc bị chia làm 3 quận nằm trong bộ Giao Chỉ cùng với 6 quận thuộc đất TQ

Đứng đầu bộ Giao Chỉ có một viên Thứ sử, đứng đầu các quận có một viên

Thái thú, chuyên trông coi việc hành chính và thu phú cống trong quận Bên cạnh thái thú có viên Đô úy phụ trách việc quân sự, chỉ huy quân lính đồn trú

Ở các huyện nhà Tây Hán vẫn duy trì phương thức cai trị của nhà Triệu, dùng người Việt trị người Việt, các lạc tướng vẫn được cai quản địa phương mình với danh

hiệu Huyện lệnh

Năm 43, sau khi lật đổ chính quyền tự chủ của Hai Bà Trưng, nhà Hán thiết lập lại chính quyền đô hộ ở nước ta càng chặt chẽ hơn, loại bỏ dần những tổ chức cũ của chính quyền bản xứ ở cấp huyện, tiến thêm một bước trong việc tổ chức cai trị trực tiếp bằng quan lại người Hán trên đất Âu Lạc đến tận cấp huyện Các chức Thứ sử, Thái thú vẫn được duy trì như trước Chức Lạc tướng thế tập của quý tộc bản địa bị bãi

Năm 618, nhà Tùy đổ, nhà Đường thành lập ở TQ, thái thú Khâu Hòa (của nhà Tùy) giữ Giao Châu xin thần phục nhà Đường Từ đó cho đến năm 904, Giao Châu bị nhà Đường đô hộ Nhà Đường đổi các quận thành châu Năm 622 nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam tổng quản phủ và đặt An Nam đô hộ phủ để cai trị nước ta

Đứng đầu phủ có chức quan đô hộ, lúc đầu được gọi là Đại tổng quản, sau gọi

Đô đốc, Đô hộ, Kinh lược sứ Về sau, nhà Đường đổi gọi là Tiết độ sứ nhằm tăng

thêm quyền lực cho chức vụ đó

Chính quyền đô hộ nhà Đường muốn tiến thêm một bước trong việc đô hộ của chúng đến tận hương, xã, nhằm trực tiếp khống chế các xóm làng người Việt Nhưng, trên thực tế chúng chỉ mới nắm được tới cấp châu, huyện và chưa bao giờ can thiệp được vào cơ cấu xóm làng của xã hội nước ta

1.2 2 Vơ vét, bóc lột tàn bạo, triệt để nhân dân bản xứ

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê một số phong trào đấu tranh vũ trang tiêu biểu của nhân dân ta - Bài giảng Lịch sử tư tưởng phương đông và Việt Nam - ĐH Phạm Văn Đồng
Bảng th ống kê một số phong trào đấu tranh vũ trang tiêu biểu của nhân dân ta (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w