1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam - ĐH Phạm Văn Đồng

125 56 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chính của học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam là trang bị cho sinh viên những kỹ năng, phương pháp tiếp cận và những hiểu biết cơ bản về những vấn đề của văn hóa học và văn hóa Việt Nam, giúp sinh viên nhận thức và có thái độ đúng đắn về vai trò, vị trí của văn hóa trong cuộc sống hiện tại, biết cách sử dụng hữu hiệu kiến thức đã học, hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu các môn học liên quan và tham gia một cách có ý thức vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI

-

Bài giảng học phần

CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

Chương trình Đại học ngành Sư phạm Ngữ văn

Người biên soạn: NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN

QUẢNG NGÃI, NĂM 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI

-

Bài giảng học phần

CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

Chương trình Đại học ngành Sư phạm Ngữ văn

Người biên soạn: NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN

QUẢNG NGÃI, NĂM 2021

Trang 3

L ỜI NÓI ĐẦU

Mục tiêu chính của học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam là trang bị cho sinh viên những

kỹ năng, phương pháp tiếp cận và những hiểu biết cơ bản về những vấn đề của văn hóa học và văn hóa Việt Nam, giúp sinh viên nhận thức và có thái độ đúng đắn về vai trò, vị trí của văn hóa trong cuộc sống hiện tại, biết cách sử dụng hữu hiệu kiến thức đã học, hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu các môn học liên quan và tham gia một cách có ý thức vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Theo đó, cấu trúc của bài giảng học phần Cơ sở văn hóa Việt

Nam cũng sẽ được chia làm 4 chương với các nội dung tương ứng:

Chương 1: Cơ sở văn hóa học

Chương 2: Định vị văn hóa Việt Nam

Chương 3: Các lĩnh vực văn hóa

Chương 4: Bản sắc văn hóa Việt Nam và vấn đề bảo tồn, phát huy và xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Bài giảng sử dụng tài liệu tham khảo chính là giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam của

Trần Ngọc Thêm (Nxb Giáo dục, 2000)

Trang 4

Chương 1 CƠ SỞ VĂN HÓA HỌC

1.1 Ngành văn hóa học

Vì văn hóa bao quát một phạm vi quá rộng cho nên trong một thời gian dài, người ta chỉ chú ý đến các khoa học bộ phận như triết học, sử học, địa lý học,… mà không có khoa học nào lấy văn hóa làm đối tượng Văn hóa học với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập thì phải đợi đến thế kỷ XIX mới bắt đầu được ra đời và phát triển

Sự ra đời và phát triển của văn hóa học với tư cách là một môn khoa học độc lập gắn liền với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể

- Đó là quá trình phát hiện ra các vùng đất mới, việc mở rộng thuộc địa của các nước châu Âu dẫn đến những tiếp xúc về kinh tế, hàng hóa, những nhu cầu nghiên cứu văn hóa các dân tộc để khai thác, quản lý

- Sự khảo cứu vấn đề lịch sử và lý luận văn hóa trong công trình của các nhà triết học thời khai sáng (TK XVIII)

- Sự phát triển của nhiều ngành khoa học

Năm 1871, lần đầu tiên văn hóa đã được E.B Tylor định nghĩa trong tác phẩm Văn

hóa nguyên th ủy (Primitive Culture) xuất bản ở London

Nhưng văn hóa như đối tượng của một khoa học độc lập thì phải đến năm 1885 mới

hình thành rõ nét với công trình hai tập mang tên Khoa học chung về văn hóa của Gustav

Kleimm (1802-1867) người Đức, trong đó trình bày sự phát sinh phát triển toàn diện của loài người như một lịch sử văn hóa

Bản thân thuật ngữ Văn hóa học (Culturology) xuất hiện vào năm 1898 tại Đại hội giáo viên sinh ngữ ở Viên (Áo), song mãi đến khi công trình The Science of Culture của Leslie White xuất bản năm 1949 ở Mỹ thì thuật ngữ này mới trở nên phổ biến

Trong sự phát triển của văn hóa học nửa đầu tk XX có sự đóng góp quan trọng của các nhà nhân học văn hóa Mỹ về việc mở rộng đối tượng và quy mô nghiên cứu (những năm

Trang 5

30-40, phong trào nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ của thổ dân Mỹ phát triển khá rầm rộ) và

của C Lévi-Strauss về phương pháp nghiên cứu (cuốn Anthropologie Structutral của ông

xuất bản tại Paris năm 1958 đánh dấu việc đưa phương pháp cấu trúc từ lĩnh vực ngôn ngữ học áp dụng vào việc nghiên cứu văn hóa)

Có thể nói, thế kỷ XX chính là thế kỷ phát triển nở rộ các ngành khoa học về văn hóa

Văn hoá có thể được xem xét từ nhiều hướng, do vậy văn hóa học có thể được nghiên cứu và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau, tạo nên nhiều môn, phân môn

Dưới góc độ thời gian, môn lịch sử văn hóa (văn hóa sử) khảo sát tiến trình văn hóa

của một dân tộc theo từng giai đoạn lịch sử với các tình tiết và sự kiện, mở rộng hiểu biết về văn hóa theo chiều dọc

Dưới góc độ không gian, môn địa lí văn hóa (địa văn hóa) có trách nhiệm khảo sát

văn hóa dân tộc theo chiều ngang, trong mối quan hệ với địa lí quốc gia, tìm hiểu đặc điểm của các vùng văn hóa

Dưới góc độ lí luận khái quát chung, văn hóa học đại cương có trách nhiệm nghiên

cứu các quan niệm, các học thuyết, các cách tiếp cận văn hóa và văn hóa học nói chung

Cơ sở văn hóa là môn học trình bày những đặc trưng cơ bản cùng các quy luật hình

thành và phát triển của một nền văn hóa cụ thể Đối với sinh viên ngành văn hóa, đây là một môn học mang tính chất nhập môn; còn đối với sinh viên các ngành khác, nó trang bị những hiểu biết tối thiểu về một nền văn hóa, một dân tộc để khi bước vào đời, có thể tham gia một cách có ý thức vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc

1.2 Đại cương về văn hóa

1.2.1 Khái niệm văn hóa

Từ “Văn hóa” có rất nhiều nghĩa Nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm

hết sức khác nhau Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa hẹp để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn

Trang 6

minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn),… Theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả,

từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống

Ở phương Đông: văn hóa ≈ “văn”, đối lập với “võ” “Văn hoá” (văn trị giáo hoá) =

“lấy ‘văn’ để giáo hoá thiên hạ”, giống như dạy con trong nhà: nói ngọt không được mới

phải dùng roi Cách nhìn tổng quát rất gần với cái mà nay ta gọi là văn hoá: nho y lý số gắn

liền, văn triết sử bất phân Phương pháp nghiên cứu rất gần với cái mà nay ta gọi là phương

pháp liên ngành

Ở phương Tây: khái niệm cultura, culture xuất phát từ động từ colere trong tiếng

Latinh khởi đầu chỉ có nghĩa là ‘trồng trọt’, ‘chăm sóc’ (cây cối), ‘hoàn thiện’ (Cultura juris

= hoàn thiện quy tắc ứng xử, cultura linguage = hoàn thiện năng lực ngôn ngữ, cultura animi

= hoàn thiện tâm hồn )

Đến tk 18, các ngôn ngữ châu Âu mới bắt đầu dùng cultura với nghĩa là ‘chăm

sóc’/ ‘giáo dục’/ ‘hoàn thiện con người’ (= văn hóa)

Chủ nghĩa tư bản phương Tây ra đời, thúc đẩy sự phát triển của văn minh Tk XIX,

Nhật Bản mở cửa tiếp thu văn minh phương Tây, khái niệm culture đã được dịch thành 文化

(‘văn hóa’, tiếng Nhật đọc là Bunka) Từ Nhật Bản, khái niệm ‘văn hoá’ với cách hiểu mới

đã nhập trở lại vào tiếng Hán

* M ột số định nghĩa văn hóa

- E.B.Tylor (1871): Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội

- Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng

tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn

Trang 7

Phạm Văn Đồng: Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng

lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”

- UNESCO (1994) văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

+ Theo nghĩa rộng: Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về

tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

+ Nghĩa hẹp: Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách

ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng…

Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm năm 1991:

V ăn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng

t ạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên

và xã h ội của mình

1.2.2 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

Định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm cung cấp cho ta chùm bốn đặc trưng cơ

bản của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Đây là bộ công cụ cần và đủ để xác định khái niệm văn hóa Mọi đặc trưng khác đều nằm trong hoặc phái sinh từ bốn đặc trưng cơ bản này

1.2.2.1 Các đặc trưng của văn hóa

a Tính h ệ thống

Hệ thống là một tập hợp các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố đó Mọi hiện tượng,

Trang 8

nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở chỗ coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của những tri thức bộ phận, chẳng hạn định nghĩa của E.B.Tylor

Với tư cách là một khoa học lý luận, VĂN HÓA HỌC có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở tư liệu của những ngành khác (dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học,…) cung cấp với mục đích phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển Nghiên cứu văn hóa không chỉ tìm hiểu “Cái gì?” mà chủ yếu là tìm hiểu “Tại sao?” và “Như thế nào?” Nhờ đi vào bề sâu, tìm những mối liên hệ có tính bản chất giữa các sự kiện, văn hóa học sẽ cho phép ta suy ngẫm và lý giải các tư liệu văn hóa mà

ta bắt gặp

b Tính giá tr ị

Trong từ Văn hóa thì Văn có nghĩa là “vẻ đẹp” (= giá trị), Hóa có nghĩa là “trở thành”,

Văn hóa có nghĩa là “trở thành đẹp”, “thành có giá trị” Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các

giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người

Tuy nhiên, giá trị là một khái niệm có tính tương đối, phụ thuộc vào Không gian, Thời

gian và Ch ủ thể định giá

Chẳng hạn, mắm tôm có giá trị ở Việt Nam nhưng không có giá trị ở phương Tây (không gian); có giá trị vào bữa ăn nhưng không có giá trị vào lúc đang họp hội nghị (thời gian); và chỉ có giá trị đối với người biết ăn (chủ thể)

Cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Muốn kết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” trong chúng Chẳng hạn, nói dối là không trung thực, là lừa dối người khác, nhưng đôi khi nói dối lại mang lại lợi ích cho bản thân mình cũng như tạo niềm vui cho người khác nên có giá trị; ăn trộm tuy mang lại nguồn lợi cho người ăn trộm và gia đình anh ta, nhưng lại làm tổn hại đến quyền lợi của nhiều người khác nên không có giá trị,…

Văn hóa hoặc phi văn hoá hiểu theo nghĩa tuyệt đối là không có Một sự vật/hiện tượng có thể là phi văn hoá trong trong hệ toạ độ này, nhưng lại là văn hóa trong hệ toạ độ

Trang 9

khác Và ngược lại, một sự vật/hiện tượng có thể là giá trị, là văn hóa trong hệ toạ độ này, nhưng lại là phi giá trị, phi văn hoá trong một hệ toạ độ khác

Vì vậy, muốn xác định được giá trị của một sự vật (khái niệm) thì phải xem xét nó trong hệ toạ độ K-C-T (không gian - thời gian - chủ thể) cụ thể, trong mối tương quan giữa

mức độ “giá trị” và “phi giá trị” mà nó có

c Tính nhân sinh

Văn hóa là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên: nó là cái nhân tạo, trong khi tự nhiên là cái thiên tạo Tuy nhiên, văn hóa không phải là sản phẩm của hư vô mà có nguồn gốc tự nhiên Tự nhiên là cái có trước, tự nhiên quy định văn hóa:

Thứ nhất, tự nhiên tạo nên con người; con người tạo nên văn hóa; văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên Thứ hai, trong quá trình sáng tạo văn hóa, con người vẫn phải sử dụng năng lực tự nhiên tiềm tàng của chính mình (bộ não)

Và thứ ba, trong quá trình sáng tạo văn hóa, con người vẫn phải sử dụng các tài nguyên

phong phú c ủa tự nhiên Tóm lại, văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người

Sự tác động của của con người đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (luyện quặng

để chế tạo đồ dùng, dùng gỗ để đẽo tượng,…) hoặc mang tính tinh thần như đặt tên, tạo truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên như Vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu,…

d Tính lịch sử

Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình

và được tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề một chiều sâu và chính

nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị

Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống

(truyền: chuyển giao, thống: nối tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không

gian và thời gian trong cộng đồng

Trang 10

1.2.2.2 Chức năng của văn hóa

a Ch ức năng tổ chức xã hội

Xã hội loài người được tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những làng xã, quốc gia, đô thị, hội đoàn, tổ nhóm, v.v mà giới động vật chưa hề biết tới – đó là nhờ văn hóa Làng xã, quốc gia, đô thị… của mỗi dân tộc mỗi khác nhau Cùng là chủ nghĩa tư bản, nhưng chủ nghĩa tư bản Mỹ khác với chủ nghĩa tư bản châu Âu và khác với chủ nghĩa tư bản Nhật Bản Tất cả những khác biệt đó đều do sự chi phối của văn hóa Chính tính hệ thống của

văn hóa là cơ sở cho chức năng này

b Ch ức năng điều chỉnh xã hội

Mọi sinh vật đều có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh bằng cách tự biến đổi mình sao cho phù hợp với tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên Con người thì hành xử theo một cách thức hoàn toàn khác hẳn: dùng văn hóa để biến đổi tự nhiên phục vụ cho mình bằng cách tạo ra đồ ăn, quần áo, nhà cửa, vũ khí, máy móc, thuốc men…

Chức năng điều chỉnh xã hội hình thành trên cơ sở của tính giá trị và tính biểu trưng

của văn hoá Các giá trị văn hóa không phải là bất biến Tuỳ theo hệ giá trị đã được điều

chỉnh mà mọi ứng xử, hành động sẽ được điều chỉnh một cách tương ứng Nhờ có chức năng điều chỉnh, văn hóa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển trong xã hội loài người

c Ch ức năng giao tiếp

Xã hội không thể hình thành và tồn tại được nếu thiếu sự giao tiếp Văn hóa tạo ra những điều kiện và phương tiện cho sự giao tiếp ấy, văn hóa là môi trường giao tiếp của con người Đến lượt mình, văn hóa cũng là sản phẩm của giao tiếp Tính nhân sinh là cơ sở cho chức năng giao tiếp của văn hóa

Trang 11

con đường di truyền; ở động vật cao cấp, thông tin còn được truyền đạt bằng cách quan sát

và bắt chước hành vi của cha mẹ Trong cả hai trường hợp, từ thế hệ này sang thế hệ khác, lượng thông tin không tăng lên

Nhờ văn hóa, thông tin được mã hóa bằng những hệ thống ký hiệu tạo thành những

sản phẩm nằm ngoài con người Chúng được cố định hóa và khách quan hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận Do vậy mà chúng được chuyển giao qua không gian (tạo nên sự giao lưu văn hóa) và qua thời gian (tạo nên truyền thống văn

hóa) Đó chính là chức năng giáo dục của văn hóa Nhờ chức năng này, thông tin được tích luỹ, được nhân bản và tăng lên nhanh chóng

Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội Văn hóa đưa con người gia nhập vào cộng đồng

xã hội; bởi vậy mà có người gọi chức năng này của văn hóa là chức năng xã hội hóa

Văn hóa bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội Văn hóa vừa là nền tảng tinh

thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội xuyên suốt thời gian và không gian Chức năng thứ năm này là tổng hoà của cả bốn chức năng trên, bao gồm chúng trong mình; bởi vậy, khi đã nói đến bốn chức năng kia thì không nhất thiết phải nói đến chức năng này, và, ngược lại, khi đã nói đến chức năng này thì không nhất thiết phải nói đến bốn chức năng kia

1.2.3 Phân biệt văn hóa và văn minh, văn hiến, văn vật

Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng khái niệm VĂN MINH (civilization) như một từ đồng nghĩa với VĂN HÓA Tuy nhiên, khi nhắc đến văn minh người ta thường nghĩ đến các tiện nghi vật chất Như vậy, văn hóa và văn minh khác nhau trước hết ở tính giá trị: trong khi

văn hóa là một khái niệm bao trùm, chứa cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần thì văn minh thiên về các giá trị vật chất mà thôi

Văn hóa và văn minh khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn có bề dày của

quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, chỉ cho biết trình độ phát triển

của văn hóa Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại Chẳng hạn, nếu như đầu thế kỷ

Trang 12

XIX, chiếc đầu máy hơi nước là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, nó trở thành biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy vi tính,…

Sự khác biệt về giá trị và tính lịch sử của văn hóa và văn minh dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: Văn hóa mang tính dân tộc, bởi lẽ nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử, mà cái tinh thần và cái lịch sử là của riêng của một dân tộc; còn văn minh có tính quốc tế, nó đặc trưng cho cả một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà vật chất thì

dễ lây lan, phổ biến

Về nguồn gốc, văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị Các nền văn hóa cổ đại hình thành nên 2000 năm TCN như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa,… đều là sản phẩm của phương Đông Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là Hy Lạp thì cũng xuất hiện sau các nền văn hóa phương Đông hàng nghìn năm (thế kỷ XI-III TCN) và được hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa phương Đông gần nó nhất là Ai Cập và Lưỡng Hà (hệ thống thần thoại, lịch pháp, chữ viết)

Về vị trí và đặc điểm kinh tế thì các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu

vực các con sông lớn là những nơi sản xuất nông nghiệp Trong ngôn ngữ phương Tây thì văn hóa bắt nguồn từ chữ cultus tiếng Latinh có nghĩa là “trồng trọt”, từ “trồng trọt” phát triển ra

nghĩa “chăm sóc” (cây cối), từ “chăm sóc” (cây cối) dẫn đến “giáo dục” (chăm sóc con người) Trong khi đó thì từ “văn minh” trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ

civitas, tiếng Latinh có nghĩa là “thành phố”

Như vậy, VĂN MINH là khái niệm mang tính quốc tế, có nguồn gốc từ phương Tây đô thị

và chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yếu về phương diện vật chất

* Ở Việt Nam còn có khái niệm văn hiến, văn vật

Văn hiến (văn: văn hóa, hiến: hiền tài): Văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do

những người có tài đức chuyên chở Một nước văn hiến là nước có truyền thống văn hóa lâu đời, có đời sống văn hóa tinh thần phát triển thể hiện ở văn chương, sách vở, phong tục tập quán, điển chương chế độ và nhân tài, anh hùng hào kiệt

Trang 13

Văn vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử

Ta có thể thấy văn hiến và văn vật là hai khái niệm bộ phận của văn hóa Chúng chỉ khác nhau ở mức độ bao quát các giá trị: Văn hiến là văn hóa thiên về “truyền thống lâu đời”,

mà truyền thống lâu đời còn lưu giữ được không bị chiến tranh và thời gian hủy hoại chính là

các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất (nhân tài, di tích, công

Thiên về giá trị vật chất

Thiên về giá trị vật chất – kỹ thuật

triển

Gắn bó nhiều với phương Đông nông nghiệp

Gắn bó nhiều với phương Tây đô thị

1.3 Cấu trúc của văn hóa

1.3.1 Cấu trúc hai thành phần

1.3.1.1 Văn hóa vật chất và tinh thần

Văn hóa vật chất thường được xem là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại…

Văn hóa tinh thần thường được xem là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, phong tục, lễ hội, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…

Sự phân biệt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần này mới nhìn tưởng như khá rõ

Trang 14

ràng và hiển nhiên, song khi đi vào xem xét từng trường hợp cụ thể thì sẽ gặp rất nhiều lúng túng

Sự phức tạp của việc xác định giá trị của một đối tượng là vật chất hay tinh thần

trước hết nằm ở tính thống nhất cao, cũng là tính nước đôi, của các đối tượng văn hóa: Mọi

đối tượng đều được làm ra bằng cả chất liệu vật chất lẫn tinh thần; cái vật chất và cái tinh thần luôn đi đôi với nhau

Các sản phẩm văn hóa vật chất trước khi được làm ra trên thực tế đã phải được làm ra (hình dung) trong óc Do vậy, mọi giá trị văn hoá vật chất đều mang trong mình giá trị tinh thần; nếu giá trị vật chất không có giá trị tinh thần thì chưa trở thành văn hoá

Ngược lại, các giá trị văn hoá tinh thần muốn phát huy được tác dụng thì luôn phải tồn tại trong giá trị văn hoá vật chất; sản phẩm tinh thần mà không vật chất hóa (làm thành pho tượng, quyển sách ) thì không thể nào chuyển giao và phát huy tác dụng được

Sự phức tạp của việc xác định giá trị của một đối tượng là vật chất hay tinh thần còn

do kh ả năng chuyển hoá giữa giá trị vật chất & tinh thần Trong thực tế, giá trị văn hóa vật

chất và tinh thần có thể chuyển hóa cho nhau

1.3.1.2 V ăn hóa vật thể và phi vật thể

Để khắc phục những rắc rối khi dựa vào chất liệu để phân loại các đối tượng thành

văn hoá vật chất và tinh thần, nhất là trong công tác kiểm kê và lưu giữ các giá trị văn hóa, UNESCO đã có sáng kiến thay cặp đối lập “vật chất - tinh thần” bằng cặp đối lập tangible -

intangible (“hữu hình - vô hình” hay “vật thể - phi vật thể”)

Văn hóa vật thể, hay hữu hình (tangible), là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo

và tích lũy bằng hoạt động biến đổi tự nhiên, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có thể nhận biết

bằng các giác quan như đồ vật, nhà cửa, đình chùa, đền miếu, lăng mộ, v.v

Văn hóa phi vật thể, hay vô hình (intangible), là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy không có biểu hiện vật chất, không thể nhận biết bằng các giác quan

Văn hóa phi vật thể bao gồm những loại giá trị như ngôn ngữ, huyền thoại, văn chương truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, nghi thức, phong tục, kinh nghiệm y

Trang 15

dược cổ truyền, bí quyết nấu ăn, bí quyết nghề thủ công truyền thống, v.v… Để lưu giữ, chúng phải được vật chất hoá bằng những kỹ thuật đặc biệt như thu âm, thu hình

1.3 2 Cấu trúc ba thành phần

Trần Ngọc Thêm (1991): Văn hóa nhận thức - tổ chức - ứng xử

Là cách phân loại các giá trị văn hóa theo hoạt động Các giá trị văn hóa được chia làm

ba loại theo cách thức hoạt động là: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử

Văn hóa nhận thức nếu xét về đối tượng nhận thức thì có thể chia tiếp thành văn hóa nhận thức về vũ trụ và văn hóa nhận thức về con người Còn xét về mức độ nhận thức thì văn hóa nhận thức có thể chia thành văn hóa nhận thức cảm tính (như tín ngưỡng, tôn giáo, tri thức dân gian, tri thức đạo học) và văn hóa nhận thức lý tính (khoa học kỹ thuật truyền thống)

Văn hóa tổ chức xét về đối tượng tổ chức thì có thể chia thành văn hóa tổ chức đời

sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân

Văn hóa ứng xử với môi trường xét về đối tượng ứng xử thì có thể chia thành văn hóa

ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Còn xét về cách

thức ứng xử thì có thể chia thành văn hóa tận dụng môi trường và văn hóa đối phó với môi

trường

CÂU HỎI

1 Nêu định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm, các đặc trưng và chức năng của văn hóa rút

ra từ định nghĩa này

2 Phân biệt các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật

3 Trình bày cấu trúc của văn hóa và các bộ phận của nó

Trang 16

Chương 2 ĐỊNH VỊ VĂN HÓA VIỆT NAM

2.1 Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp

Nói đến sự khác biệt văn hóa, lâu nay thường hay nhắc đến sự khác biệt phương Đông và phương Tây

Phương Đông và phương Tây dưới góc độ văn hóa được hình thành trong khu vực cựu lục địa Á-Âu (Eurasia) Phương Đông = Đông Nam; phương Tây = Tây Bắc TÂY BẮC: Lạnh, khô, băng tuyết, địa hình đơn giản ĐÔNG NAM: Nóng, ẩm, sông nước, địa hình phức tạp

Từ sự khác biệt ban đầu này về điều kiện tự nhiên dẫn đến hàng loạt khác biệt về văn hoá (kinh tế, lối sống, tổ chức xã hội )

Môi trường sống của cư dân phương Đông (Đông Nam) là xứ nóng sinh ra mưa nhiều

(ẩm), tạo nên các con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú Còn phương Tây (= Tây

Bắc) là xứ lạnh với khí hậu khô, không thích hợp cho thực vật sinh trưởng, có chăng chỉ là những vùng đồng cỏ mênh mông Hai loại địa hình này khiến cho cư dân hai khu vực phải sinh sống bằng hai nghề khác nhau: trồng trọt và chăn nuôi

Kinh tế trồng trọt bắt buộc người dân phải sống định cư để chờ cho cây cối lớn lên, ra

hoa kết quả Kinh tế chăn nuôi thì khác, tài sản của dân du mục là gia súc, gia súc ăn cỏ và không cố định như cây trồng Ăn hết bãi cỏ này lại đi đến bãi cỏ khác Do đó mà người du

mục phải sống du cư, nay đây mai đó lang thang

PHƯƠNG ĐÔNG

PHƯƠNG TÂY

Đông – Nam Tây – Bắc

Tự nhiên Nóng – nước Lạnh – khô Tự nhiên

Địa hình Phức tạp Thảo nguyên Địa hình

Kinh tế Trồng trọt Chăn nuôi Kinh tế

Trang 17

L ối sống Định cư Du cư Lối sống

TC xã hội Nông thôn Thương nghiệp Kinh tế

Công nghiệp Kinh tế Thành tựu Văn hóa Văn minh Thành tựu

Xét về đặc tính, văn hoá gốc nông nghiệp phương Đông thiên về tính tĩnh (âm tính), văn hoá gốc du mục phương Tây thiên về tính động (dương tính)

*Mỗi loại hình văn hoá này có một chùm đặc trưng điển hình như sau:

a Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải

sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với tự

nhiên Người Việt mở miệng là nói "lạy trời", "nhờ trời", "ơn trời"

Còn dân du mục thì nếu thấy nơi này không thuận tiện thì dễ dàng bỏ đi nơi khác, dẫn đến tâm lý coi thường thiên nhiên Bởi vậy mà các nền văn hóa phương Tây trọng động

luôn mang trong mình tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên

Mỗi thái độ đều có mặt hay dở của nó Tôn trọng thiên nhiên có cái hay là gìn giữ được môi trường sống tự nhiên nhưng có cái dở là khiến con người trở nên rụt rè, e sợ Coi thường thiên thiên có cái hay là khuyến khích con người dũng cảm đối mặt với tự nhiên, khuyến khích khoa học phát triển nhưng có cái dở là hủy hoại môi trường

Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả

mọi hiện tượng thiên nhiên (Trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông

ngày, trông đêm ) cho nên, về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp Tổng hợp

kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ,

mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn

Trang 18

biện chứng là chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng Người Việt tích lũy được một kho

kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa;

Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa

Ngược lại, đối tượng quan tâm của nghề chăn nuôi không tản mạn mà tập trung vào

đàn gia súc, con vật Do đó mà trong lĩnh vực nhận thức thì thiên về tư duy phân tích (theo

lối khách quan, lí tính và thực nghiệm, dẫn đến kết quả là khoa học phương Tây phát triển), đồng thời chú trọng các yếu tố (dẫn đến lối sống thực dụng, thiên về vật chất)

b Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng

tình Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ

sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình Lối sống trọng tình cảm

tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà => coi trọng cái bếp => coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và rõ nét: Phụ nữ Việt Nam là người quản lí

kinh tế, tài chính trong gia đình - người nắm tay hòm chìa khóa Chính bởi vậy mà người

Việt Nam coi Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà ; còn theo kinh nghiệm dân gian thì R uộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng Phụ nữ Việt Nam cũng chính là

người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu, Con dại cái

mang Vì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái với nghĩa là "mẹ" đã mang thêm nghĩa "chính, quan trọng": sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, trống cái, ngón

tay cái, máy cái.

Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp Đông Nam Á này được nhiều học giả phương Tây gọi là "xứ sở Mẫu hệ" (le Pays du Matriarcat) Cho đến tận bây giờ, ở các dân tộc ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Chàm hoặc hoàn toàn không chịu ảnh hưởng như nhiều dân tộc Tây Nguyên (Êđê, Giarai ), vai trò của người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng về ở đằng nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ Cũng không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay, người Khmer vẫn gọi người đứng đầu phum, sóc của họ là mê phum, mê sóc (mê=mẹ), bất kể đó là đàn ông hay đàn bà

Trang 19

Đến với phương Tây thì nguyên tắc tổ chức cộng đồng là trọng sức mạnh, trọng tài,

trọng võ, trọng nam giới Vào thời La Mã cổ đại, phụ nữ không hề có tên riêng Cho đến

nay, nhiều nước châu Âu vẫn giữ tục lệ phụ nữ mang họ và tên chồng trong các văn bản chính thức Truyền thuyết Thiên chúa giáo coi đàn bà chỉ là cái xương sườn của đàn ông mà thôi Trong các ngôn ngữ phương Tây, nhiều danh từ chỉ nghề nghiệp hoặc chức vụ đều

mang giống đực hoặc cấu tạo với từ căn mang nghĩa người đàn ông: Chairman, hedman,

shopman, tradesman, newsman, oilman,

Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp

với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với Bụt mặc

áo cà- sa, đi với ma mặc áo giấy

Sống theo tình cảm, con người còn phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ

với nhau Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân chủ phong kiến phương Đông

và nền dân chủ tư sản phương Tây Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí

coi trọng cộng đồng, tập thể Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có

tập thể đứng sau Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc (giờ cao su), sự thiếu tôn trọng pháp luật Lối sống trọng tình làm cho thói tùy tiện càng trở

nên trầm trọng hơn: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình Nó dẫn đến tệ "đi cửa sau" trong giải quyết công việc: Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế Trọng tình và linh hoạt

làm cho tính tổ chức của người nông nghiệp kém hơn so với cư dân các nền văn hóa gốc du mục

Ngược lại, tư duy phân tích và siêu hình của văn hóa trọng động dẫn đến cách thức tổ chức cộng đồng theo nguyên tắc Cuộc sống du cư của tổ tiên khi xưa đòi hỏi con người

luôn phải sống có tổ chức, phải tuân thủ kỷ luật với tính tổ chức cao Để duy trì được nguyên tắc, kỷ luật, văn hóa trọng động tạo ra cách cư xử là quyền lực nằm tuyệt đối trong tay người cai trị (quân chủ)

Tư duy phân tích, cách tổ chức cộng đồng theo nguyên tắc đã dẫn đến một đặc điểm quan trọng của văn hóa phương Tây là trọng cá nhân

Trang 20

c Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt

còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến

tranh tôn giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo ) đều được tiếp nhận Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng lại chủ động cầu hòa,

"trải chiếu hoa" cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự

Trong khi đó, tinh thần trọng võ, lối sống theo nguyên tắc của văn hóa trọng động dẫn đến lối ứng xử độc tôn trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó

TĨNH (gốc nông nghiệp)

VĂN HÓA TRỌNG ĐỘNG (gốc du mục)

Coi thường, tham vọng chế ngự thiên nhiên

Lối nhận thức, tư

duy

Thiên về tổng hợp, biện chứng (trọng quan hệ);

chủ quan, cảm tính, kinh nghiệm

Thiên về phân tích, siêu hình (trọng yếu tố);

khách quan, lý tính, thực nghiệm

Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ

Trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam

Cách thức tổ

Linh hoạt, dân chủ, trọng cộng đồng

Nguyên tắc, quân chủ, trọng cá nhân

Trang 21

chức CĐ Ứng xử với môi

trường xã hội

Dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó

Độc tôn trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó

Đây là hai loại hình văn hóa cơ bản có tính cách bao trùm Mọi nền văn hóa trên thế giới đều không thoát ra ngoài hai loại hình văn hóa này Tuy nhiên, không nên vận dụng chúng một cách máy móc

- Trong phạm vi của trung tâm loài người phía Đông

- Trong khu vựa hình thành của đại chủng phương Nam

Trong những giai đoạn sau, quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:

a Vào thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước), có một dòng người thuộc đại chủng Mongoloid thiên di từ vùng Tây Tạng tới Đông Nam và dừng lại ở vùng Đông Dương ngày nay Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân Melanésien bản địa dẫn đến sự hình thành chủng Indonésien với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, tầm vóc thấp Từ đây lan tỏa ra, người Indonesien cư trú trên toàn bộ Đông Nam Á cổ đại

b Từ cuối thời đá mới, đầu thời đại đồ đồng (khoảng 5.000 về trước), tại khu vực nay

là Nam Trung Hoa và Bắc Đông Dương (phía nam sông Dương Tử đến phía Bắc sông Hồng Hà), trên cơ sở sự chuyển biến từ loại hình Indonesien bản địa dưới tác động của việc tiếp xúc thường xuyên với đại chủng Mongoloid từ phía Bắc đã hình thành nên một chủng mới là

Trang 22

chủng Nam - Á Với chủng Nam - Á, các nét đặc trưng Mongoloid lại càng nổi trội nên được xếp vào ngành Mongoloid phương Nam

c Sau đó, chủng Nam – Á được chia tách thành một loạt các chủng tộc mà thư tịch cổ Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt: Điền Việt (Vân Nam), Nam Việt (Quảng Đông), Lạc Việt (Quảng Tây và Bắc Bộ Việt Nam), Mân Việt, Đông Việt, Dương Việt, Các cộng đồng cư dân này sinh sống khắp khu vực phía Nam sông Dương Tử cho tới tận Bắc Trung Bộ ngày nay, họp thành những khối dân cư lớn như Môn – Khơme, Việt – Mường, Tày – Thái, Mèo – Dao Quá trình chia tách này tiếp tục diễn tiến, dần dần dẫn đến sự hình thành các dân tộc cụ thể Người Việt đã tách ra khối Việt – Mường vào khoảng cuối thời Bắc thuộc (TK VII – VIII)

Trong khi đó, ở phía Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Indonésien Thời gian đã làm cho họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo Cuộc sống biệt lập khiến cho họ vẫn lưu giữ được những đặc điểm truyền thống của văn hóa các cư dân hải đảo

Đó là tổ tiên của người Chàm, Raglai, Êđê, Giarai, Churu,…

(Xem bảng 3.1, trang 27, Trần Ngọc Thêm (2000): Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo

dục)

Như vậy, có thể khẳng định, tuyệt đại bộ phận các dân tộc Việt Nam đều xuất phát từ một nguồn gốc chung là nhóm loại hình Indonesien Điều đó đã tạo nên tính thống nhất trong

sự đa dạng của con người và văn hóa Việt Nam

2.3 Không gian văn hóa

2.3.1 Khô ng gian địa lý – khí hậu

Ba đặc điểm cơ bản:

- Việt Nam nằm trong xứ nóng => mưa nhiều (lượng mưa trung bình trong năm vào

loại cao nhất thế giới (2000 mm)

- Mưa nhiều => vùng sông nước => vùng nông nghiệp lúa nước Nhiều địa danh có

yếu tố Dak, Nậm, Krông (đều có nghĩa là nước) như Dak Lak, Dak Tô, Nậm U, Nậm Rốm, Krông Ana,… Quốc gia của người Việt cũng chính là Nước

Trang 23

- Đây là nơi giao điểm của các nền văn hóa, văn minh Đây là nơi gặp gỡ của các

luồng giao thông thủy bộ: từ bắc xuống nam, từ lục địa ra biển và ngược lại, là bến cảng ngã

ba đường Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương

2.3 2 Không gian văn hóa

Trong phạm vi hẹp, không gian gốc của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú

của người Bách Việt Có thể hình dung đó là một tam giác với cạnh đáy ở sông Dương Tử và

đỉnh là Bắc Trung Bộ Việt Nam Đây là khu vực mà thời tiết phân biệt rõ bốn mùa xuân – hạ – thu – đông, là cái nôi của nghề nông nghiệp lúa nước, nghệ thuật đúc đồng Đây cũng là đất nước của họ Hồng Bàng theo truyền thuyết

Trong phạm vi rộng, không gian văn hóa của người Việt nằm trong khu vực cư trú của

người Indonesien lục địa Có thể hình dung đó là một tam giác rộng hơn, trùm lên ngoài hình

tam giác thứ nhất với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử là đỉnh là vùng đồng bằng sông Mê Kông ở phía Nam

Tuy sau này, trong quá trình giao lưu với khu vực, văn hóa Việt Nam trở nên gắn bó mật thiết với văn hóa Trung Hoa, tiếp thu khá nhiều từ văn hóa Trung Hoa, nhưng từ trong cội nguồn thì không gian văn hóa Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á

Không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á được hình dung như một hình tròn bao

quát toàn bộ Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo Đây là địa bàn cư trú của người

Indonésien cổ đại nói chung Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của vùng

văn hóa Đông Nam Á Và với vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam là nơi hội tụ đầy đủ nhất mọi

đặc trưng của văn hóa khu vực – một Đông Nam Á thu nhỏ

2.2.3 Vùng văn hóa

6 vùng văn hóa (Trần Quốc Vượng)

a Vùng văn hóa Tây Bắc

b Vùng văn hóa Việt Bắc

Trang 24

c Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

d Vùng văn hóa duyên hải Trung Bộ

e Vùng văn hóa Tây Nguyên

f Vùng văn hóa Nam Bộ

(Xem thêm Trần Ngọc Thêm (2000): Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, trang 31 – 34)

2.4 T hời gian văn hóa

Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể chia thành 6 giai đoạn: Văn hóa thời tiền sử, văn hóa Văn Lang – Âu Lạc (lớp văn hóa bản địa), văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt (lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực), văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại (lớp văn hóa giao lưu với phương Tây)

2.4 1 Lớp văn hóa bản địa

Lớp văn hóa bản địa được tạo nên chủ yếu trong hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa thời tiền sử và giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc Đặc trưng của lớp văn hóa này là sự hình

thành trong cả khu vực Đông Nam Á cổ đại một nền văn hóa đặc sắc với nghề nông nghiệp

lúa nước là chủ đạo Có thể xem thành tựu văn hóa thời kỳ này là thành tựu chung của cả một

khối cư dân lớn sinh sống trên khu vực Đông Nam Á cổ đại

2.4.1.1 Giai đoạn văn hóa thời tiền sử

Thành tựu lớn nhất là sự hình thành nghề nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á là một

trong năm trung tâm xuất hiện cây trồng sớm nhất trên thế giới Đây cũng là trung tâm nông nghiệp cổ xưa nhất bởi lẽ đây là một vùng nhiệt đới với tính đa dạng cao về động thực vật cũng như cảnh quan sinh thái Ở các di chỉ khảo cổ khác nhau của Việt Nam như Sũng Sàm, Tràng Kênh, Gò Bông, Đồng Đậu, Gò Mun,… đã phát hiện được những dấu tích của bào tử phấn lúa, vỏ trấu, gạo cháy, mảnh chõ xôi, đồ nghiền hạt,… có niên đại khoảng vài nghìn năm trước CN

Những thành tựu chủ yếu của Đông Nam Á cổ đại:

Trang 25

- Nghề trồng lúa và các loại cây như khoai sọ, bầu bí, trầu cau,…

- Nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải làm đồ che thân và tục uống chè

- Thuần dưỡng một số gia súc đặc thù như trâu, lợn, gà,…

- Làm nhà sàn để ở

- Dùng các cây thuốc để chữa bệnh

Thần Nông là nhân vật truyền thuyết điển hình Sau đó nhân vật này đã được bổ sung

vào kho tàng văn hóa Trung Hoa (Chú ý trật tự chính – phụ Trung Hoa: Nông Thần)

2.4.1.2 Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc

- Không gian văn hóa: Khu vực cư trú của người Nam Á – Bách Việt: từ Bắc Trung

Bộ đến hồ Động Đình (phía Nam sông Dương Tử - tam giác nhỏ)

- Thời gian: Khoảng năm 2879 trước CN

- Chủ thể văn hóa: Gắn liền với truyền thuyết về người Việt Nam, họ Hồng Bàng

- Thành tựu chính: sau nghề nông nghiệp lúa nước là nghề luyện kim đồng Đồ đồng

Đông Sơn và ảnh hưởng của nó đã được tìm thấy khắp nơi – Nam Trung Hoa, Thái Lan, toàn

bộ Đông Nam Á hải đảo

Chính những thành tựu của thế giới Đông Nam Á cổ đại mà trong đó có phần đóng góp của tổ tiên các dân tộc Việt Nam đã làm nên cái nền vững chắc cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam sau này

2.4.1.3 Chữ viết của lớp văn hóa bản địa

Dựa trên những nhận định mới về quy mô, tầm cỡ của văn hóa phương Nam trong lịch

sử khu vực cộng với những dấu vết chữ viết đã phát hiện được như trên đá ở thung lũng Sapa, trên qua đồng Thanh Hóa, trên lưỡi cày Đông Sơn, trống đồng Lũng Cú, những ghi chép của sử sách Trung Hoa về một thứ chữ “khoa đẩu” (hình con nòng nọc bơi) của người phương Nam, ta có thể nghĩ đến giả thuyết rằng có một hệ thống văn tự trong lớp văn hóa bản địa

Trang 26

2.4.2 Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực

Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực được hình thành qua hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa thời chống Bắc thuộc và giai đoạn văn hóa Đại Việt Đặc trưng của hai giai đoạn văn hóa này là sự song song tồn tại của hai xu hướng trái ngược nhau: Hán hóa và chống Hán hóa về mặt văn hóa

2.4.2.1 Giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc (Từ trước Công nguyên đến khi Ngô

Quyền giành lại độc lập)

- Ý thức đối kháng bất khuất, thường trực đối với nguy cơ xâm lăng từ phong kiến phương Bắc: sự ra đời của quốc hiệu Nam Việt từ trước CN (thời Triệu Đà); khởi nghĩa Hai

Bà Trưng (40 – 43), Triệu Thị Trinh (246), Lí Bôn với nước Vạn Xuân (544 – 548), Triệu Quang Phục (548 – 571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), cha con họ Khúc (906 - 923), Dương Diên Nghệ (931 -937) và đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Ngô Quyền (938)

- Sự suy tàn của văn minh Văn Lang – Âu Lạc: Nguyên nhân:

+ Sự suy thoái tự nhiên có tính quy luật của một nền văn hóa sau khi đã đạt đến đỉnh cao

+ Sự tàn phá của kẻ thù phương Bắc với âm mưu đồng hóa

- Diễn ra quá trình giao lưu - tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, hội nhập vào văn hóa khu vực Tuy nhiên, trong giai đoạn Bắc thuộc, Việt Nam tiếp nhận văn hóa Trung Hoa (Nho

giáo) rất ít mà chủ yếu là tiếp nhận Phật giáo đến trực tiếp từ Ấn Độ (Nam Tông), rồi sau đó mới qua ngả đường Trung Hoa (Bắc Tông) Sở dĩ như vậy là vì Phật giáo đến bằng con đường hòa bình, còn văn hóa Trung Hoa đến bằng vó ngựa xâm lăng, áp đặt Có thể nói, trong giai đoạn này, văn hóa Trung Hoa nói chung và Nho giáo nói riêng vẫn không thể nào bắt rễ được vào làng xã Việt Nam

2.4.2.2 Giai đoạn văn hóa Đại Việt

Những đặc trưng gốc của nền văn hóa bản địa luôn là mạch ngầm trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, để rồi khi bước sang giai đoạn văn hóa Đại Việt, chỉ sau ba triều đại Ngô – Đinh -

Trang 27

Tiền Lê lo việc ổn định gây dựng lại, văn hóa Việt Nam đã khôi phục và thăng hoa nhanh chóng với hai đỉnh cao là thời đại Lý Trần và Lê

Thời đại Lý Trần chính là thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam Với tinh

thần nhân ái bao dung, PG đã mở rộng cửa tiếp nhận Nho giáo, sau đó là Đạo giáo => tam

giáo đồng quy trên cơ sở văn hóa dân tộc

Với tư cách là một học thuyết chính trị - xã hội nhập thế, Nho Giáo đã tỏ ra ưu việt hơn trong việc điều hành quản lý đất nước so với Phật giáo vốn là tôn giáo xuất thế Lúc này, Nho giáo bắt đầu bám rễ và phát triển nhanh chóng trong lòng xã hội Việt Nam với sự kiện

mở đầu là nhà Lý xây Văn miếu thờ Khổng Tử năm 1070, lập Quốc tử giám năm 1076 Đến giữa thời Trần, Nho sĩ trở thành một thành lực lượng đáng kể trong triều đình

Sang đời nhà Lê, Nho giáo được suy tôn là quốc giáo Xu hướng tiếp nhận văn hóa

Trung Hoa trở thành chủ đạo Văn hóa Việt Nam chuyển sang một đỉnh cao khác: văn hóa

Nho giáo

2.4.2.3 Chữ viết của lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực

Sự giao lưu văn hóa với Trung Hoa và khu vực đã dẫn đến việc tiếp nhận chữ Hán và

sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thống, chủ yếu Trên cơ sở của chữ Hán, người Việt lại

sáng tạo thêm chữ Nôm để ghi âm tiếng nói của dân tộc, sáng tác văn chương Chữ Nôm

được manh nha cuối giai đoạn Bắc thuộc, hình thành đầu giai đoạn Đại Việt và được đề cao trong triều đại Hồ và Tây Sơn Tiếc là triều đại ngắn ngủi nên chữ Nôm không được điển chế hóa và xem trọng

2.4.3 Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa phương Tây

2.4.3.1 Giai đoạn văn hóa Đại Nam (1802 – 1945): được chuẩn bị từ thời các chúa

Nguyễn và kéo dài đến hết thời Bắc thuộc Đại Nam là quốc hiệu chủ yếu trong giai đoạn này (Thời Gia Long: quốc hiệu Việt Nam) Đặc điểm chính của giai đoạn này:

- Lần đầu tiên, nước ta thống nhất lãnh thổ từ Đồng Văn đến Cà Mau

- Sau hỗn độn Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn, Nho giáo được phục hồi và suy tàn

Trang 28

- Khởi đầu của sự thâm nhập văn hóa phương Tây, văn hóa Việt Nam bắt đầu hội nhập vào nền văn hóa nhân loại

2.4.3.2 Giai đoạn văn hóa hiện đại (1945 đến nay)

Đây là giai đoạn văn hóa đang định hình Tuy nhiên, có thể phác thảo một số đặc trưng mới của giai đoạn văn hóa này:

- Óc phân tích, khoa học thâm nhập từ cuối giai đoạn Đại Nam cùng với các tư tưởng của triết học duy vật biện chứng Mác - Xít đã bổ sung tương đối nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền thống

- Ý thức về vai trò của con người cá nhân được nâng cao bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống

- Đô thị có vai trò ngày càng cao trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh hơn, sự lớn mạnh của công cuộc CNH, HĐH

2.4.3.3 Chữ viết

Lớp văn hóa giao lưu với phương Tây đem đến một sản phẩm của cuộc giao lưu mới:

chữ Quốc ngữ

I – Lớp văn hóa bản địa

II – Lớp VH giao lưu với Trung Hoa và khu vực

III – Lớp VH giao lưu với phương Tây

Giai đoạn văn

5 Giai đoạn văn hóa Đại Nam

2 Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc

4 Giai đoạn văn hóa Đại Việt

6 Giai đoạn văn hóa hiện đại

Giai đoạn văn tự Văn tự cổ Chữ Hán, chữ

Trang 30

CHƯƠNG III CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA

3.1 Văn hóa nhận thức

3.1.1 Nhận thức về bản chất của vũ trụ

3.1.1.1 Triết lý âm dương: Quá trình hình thành, bản chất và khái niệm

Từ xa xưa, trong cuộc sống, con người luôn va chạm với các cặp đối lập: đực - cái, nóng - lạnh, cao - thấp, đất - trời, mẹ - cha,…Với người phương Tây, bằng óc tư duy triết học,

họ nhanh chóng khái quát thành các phạm trù đối lập trong triết học

Người phương Đông nông nghiệp thì không những thế, còn luôn mong cho mùa màng bội thu và gia đình đông đúc, tức là quan tâm đến sự sinh sôi nảy nở của con người và hoa màu với hai cặp đối lập là Mẹ-Cha và Đất-Trời Ta thấy rằng có hai hình thái sinh sản quan trọng với người phương Đông, đó là Đất Trời giao hợp thì cây cối sinh sôi, Mẹ Cha (tức Đực Cái) giao hợp thì con người sinh sôi Đất được đồng nhất với mẹ, trời được đồng nhất

với cha Việc hợp nhất hai cặp “mẹ cha” và “đất trời” chính là sự khái quát hóa đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lí âm dương trong tư duy người phương Đông

Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp đối lập “mẹ cha” và “đất trời”, người xưa đã dần dần suy ra vô số những cặp đối lập phổ biến khác Đến lượt mình, những cặp này lại trở thành cơ sở để suy ra hàng loạt những cặp mới:

Trang 31

Số chẵn Số lẻ Màu đen Màu đỏ

3.1.1 2 Hai quy luật của triết lý âm dương

a Quy luật về bản chất các thành tố: Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương,

trong âm có dương và trong dương có âm Trong lòng đất lạnh (âm) có cái nóng (dương) nên càng xuống sâu đất càng ấm nóng; trong nắng đã tiềm ẩn cái mưa (hơi nước bốc lên), trong mưa đã tiềm ẩn cái nắng (mây tan); trong người nam có chất nữ và ngược lại; đàn ông tuy khỏe nhưng sức chịu đựng dẻo dai và tuổi thọ không bằng phụ nữ

- Để xác định tính chất âm dương của một vật, trước hết phải xác định đối tượng được

so sánh: cái này là âm so với cái kia nhưng lại là dương so với cái khác Chẳng hạn: Nam so với nữ thì là dương nhưng so với hùm beo lại là âm, màu trắng so với màu đen là dương nhưng so với màu đỏ lại là âm

- Để xác định tính chất âm dương của một vật, phải xác định cơ sở so sánh: Với các cơ

sở so sánh khác nhau sẽ cho ta những kết quả khác nhau Chẳng hạn nữ so với nam xét về giới tính thì là âm nhưng xét về tính cách có thể là dương, nước so với đất nếu xét về độ cứng thì

âm, nhưng về tính động thì lại là dương

b Quy luật quan hệ: âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho

nhau, âm cực sinh dương, dương cực sinh âm

- Hết ngày lại đêm

- Hết mưa thì nắng

- Xứ nóng (dương) phát triển nghề trồng trọt (âm); xứ lạnh (âm) phát triển nghề chăn nuôi (dương)

- Người hiền hay nóng cục

- Trong họa có phúc, trong phúc có họa (Chuyện Tái ông thất mã)

Trang 32

Biểu tượng âm dương hình thành trong Đạo giáo vào đầu CN phản ánh đầy đủ hai quy luật về bản chất hòa quyện và quan hệ chuyển hóa của triết lý âm dương

3.1 1.3 Triết lý âm dương và tính cách người Việt

- Nhờ thấm nhuần sâu sắc tư tưởng triết lý âm dương mà người Việt nắm rất vững hai

quy luật của nó

+ Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam có nhiều câu tục ngữ, ca dao phản ánh

quy luật “trong âm có dương, trong dương có âm”: Trong rủi có may, trong họa có phúc; Mía

có đốt sâu đốt lành; Người có lúc vinh lúc nhục, nước có lúc đục lúc trong; Chim sa cá nhảy chớ mừng, nhện sa, xà đón xin đừng có lo; Kinh đô cũng có người rồ, man di cũng có sinh đồ trạng nguyên,…

+ Quy luật âm dương chuyển hóa: Sướng lắm khổ nhiều; Yêu nhau lắm cắn nhau đau;

Trèo cao ngã đau;Bĩ cực thái lai; Tham thì thâm; Chắc quá hóa lép; Hiền quá hóa ngu, Ghét của nào trời trao của ấy; Hết khôn dồn ra dại,…

- Từ tư duy cho đến cách sống đều thấy bộc lộ dấu vết của tư duy âm dương:

+ Trong khi vật tổ của các dân tộc thường là một loài động vật cụ thể (Chim ưng,

phượng hoàng, chó sói, bò,…) thì vật tổ của người Việt là một cặp trừu tượng Tiên – Rồng

+ Mọi thứ thường đi đôi theo nguyên tắc âm dương hài hòa: ông Đồng - bà Cốt, đồng

Cô đồng Cậu, xin âm dương sấp ngửa, chợ âm dương, ngói âm dương, công cha như núi, nghĩa mẹ như nước Mọi khái niệm vay mượn đơn độc cũng thường được nhân đôi: ông Tơ

hồng ở Trung quốc, vào VN thành ông Tơ bà Nguyệt, Phật Ông - Phật Bà, chùa Ông (thờ Quan Công) – chùa Bà (thờ Thiên Hậu)

+ Tổ quốc đối với người Việt cũng là một khối âm dương: ĐẤT NƯỚC

+ Biểu tượng âm dương của Đạo giáo được dùng phổ biến hiện nay mới được đặt ra từ đầu Công nguyên, còn người Việt vẫn giữ được một biểu tượng âm dương có truyền thống lâu

đời hơn – biểu tượng vuông - tròn Có vuông có tròn tức là có âm có dương; nói vuông tròn là nói đến sự hoàn thiện: Mẹ tròn con vuông, Ba vuông sánh với bảy tròn, đời cha vinh hiển đời

con sang giàu; Lạy trời cho đặng vuông tròn, trăm năm cho trọn lòng son với chàng; Trăm

Trang 33

năm tính cuộc vuông tròn; Biểu tượng trời tròn đất vuông qua chiếc bánh chưng - bánh dày;

Trên rìa mặt trống đồng Yên Bồng (Hòa Bình) có các biểu tượng vuông tròn lồng vào nhau… Tiền đồng Việt Nam qua các thời đại cũng luôn có biểu tượng vuông tròn

- Vì có lối tư duy mang đậm tính âm dương từ trong máu thịt và nắm vững hai quy luật

của triết lý này nên người Việt có được triết lý sống quân bình Trong cuộc sống cố đừng để

mất lòng ai mà giữ sự hài hòa; ăn uống phải giữ sao cho cơ thể được âm dương quân bình, đồ

ăn âm tính phải đi với gia vị âm tính; đồ tùy táng bằng gỗ (dương) thì đặt theo hướng Bắc (âm), đồ tùy táng bằng gốm (âm) được đặt ở phía Nam (dương)

Nhờ triết lý quân bình mà người Việt có khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh (lối sống linh hoạt), dù khó mấy cũng không chán nản, luôn lạc quan Dân tộc Việt Nam là dân tộc sống bằng tương lai (trong khi người phương Tây lại sống bằng hiện tại - lối sống thực

dụng): Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời; Bài ca về mười quả trứng của người miền

Con đường từ âm dương đến tam tài: với lối tư duy tổng hợp và biện chứng vốn có,

người xưa đã sớm nhận ra các cặp tưởng chừng như riêng rẽ như trời – đất, trời – người, đất – người lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một mô hình hệ thống gồm ba thành tố Trong tam tài Trời – Đất – Người thì Trời dương, Đất âm, Người ở giữa

Trang 34

Trên những chiếc rìu lưỡi xéo bằng đồng thời Đông Sơn, ta thấy rõ con đường chuyển tiếp từ con số 2 – âm dương (2 cặp cá sấu – rồng đang giao chân giao tay với nhau) sang tư

duy số 3 – tam tài (3 con hươu, 3 người) Trên trống đồng Đông Sơn: Chim – Hươu – Người

từ ngoài vào trong Ngoài ra ta còn có các bộ ba khác như: Trời – Đất – Nước; Cha – Mẹ –

Co n; Con người – Không gian – Thời gian; Sơn Tinh – Thủy Tinh – Mỵ Nương; Vợ – Chồng –

Em chết đi thành Trầu – Cau – Vôi; Vợ – Chồng cũ – Chồng mới chết đi thành ba ông đầu rau ứng với Thần đất – Thần bếp – Thần chợ búa,

3.1.2.2 Ngũ hành

Đối với dân tộc nào trên thế giới thì đất – nước – lửa cũng là ba yếu tố quan trọng, bởi

ai cũng phải đi trên đất, uống nước và dùng lửa để nấu chín thức ăn và sưởi ấm Do đó 3 yếu

tố này xuất hiện trong quan niệm về sự cấu thành vũ trụ của mọi dân tộc Phương Tây: đất –

nước – lửa – không khí (Empedocle, Aristote), Ấn Độ: đất – nước – lửa – gió; Tây Tạng: đất – nước – lửa – gió – phân; Hán: trời – đất – lửa – nước – núi – đồng – sấm – gió

Đối với cư dân nông nghiệp Đông Nam Á, ngoài 3 yếu tố trên thì họ quan tâm đến cái

cây mà họ cấy trồng và chất lượng của đất: nếu đất tơi xốp thì cây tốt, nếu đất có lẫn đá hoặc

kim loại thì cây cằn cỗi Về sau, đá và kim loại còn là công cụ để chế tạo ra công cụ lao động Câykim loại đều có quan hệ mật thiết tới đất

Kết hợp hai bộ tam tài đất – nước – lửa và cây – đất – kim loại trong đó đất là yếu tố chung, ta được bộ năm với số mối quan hệ đa dạng và phong phú hơn hẳn, trong đó lửa –

nước là hai cặp âm dương rõ rệt nhất, tiếp đến là cặp cây – kim loại và đất ở giữa điều hòa

Dần dần, các dân tộc đều nhận ra rằng đất, nước, lửa và những yếu tố khác đều là sản phẩm chứ không phải là nguyên liệu để cấu tạo nên vũ trụ Do đó, thay vì ý nghĩa vật chất ban đầu, ý nghĩa các thành tố được trừu tượng hóa dần Chẳng hạn, hỏa không chỉ là lửa như ban đầu mà còn bao hàm cả các đặc tính của lửa như màu đỏ, tính nóng Kết quả là thu được ngũ

hành với các thành tố mang nghĩa trừu tượng kim, mộc, thủy, hỏa, thổ

Trang 35

Giữa các hành có quan hệ tương sinh (hành này hỗ trợ, giúp đỡ cho hành kia phát

triển)

- Thủy sinh Mộc (nước giúp cây tươi tốt)

- Mộc sinh Hỏa (gỗ làm nhiên liệu cho lửa

- Thủy khắc Hỏa (nước dập tắt lửa)

- Hỏa khắc Kim (lửa làm nóng chảy kim

loại)

- Kim khắc Mộc (dao chặt cây)

- Mộc khắc Thổ (cây hút chất màu mỡ

của đất)

Ngũ hành tương sinh

Ngũ hành tương sinh tương khắc

Trang 36

- Thổ khắc Thủy (đất đắp đê ngăn nước)

Ứng dụng của Ngũ hành rất rộng, bởi các Hành trong Ngũ hành là những khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, đa nghĩa

1 Số Hà đồ 1 2 3 4 5

2 Hành được sinh Mộc Thổ Hỏa Thủy Kim

3 Hành bị khắc Hỏa Kim Thổ Mộc Thủy

4 Vật chất Nước Lửa Cây Kim loại Đất

5 Phương hướng Bắc Nam Đông Tây Trung ương

9 Màu biểu Đen Đỏ Xanh Trắng Vàng

10 Vật biểu Rùa Chim Rồng Hổ Người

3.1.3 Nhận thức về cấu trúc thời gian của vũ trụ: Lịch âm dương và hệ can chi

3 1.3.1 Lịch âm dương

Nghề nông rất cần biết đến những biến động thời tiết, khí hậu, vòng quay bốn mùa cho nên mọi nền lịch pháp đều là sản phẩm của các vùng văn hóa nông nghiệp Có 3 loại lịch cơ bản: lịch thuần âm, lịch thuần dương và lịch âm dương

Lịch thuần dương phát sinh từ vùng văn hóa Ai Cập vào khoảng 3000 năm TCN dựa

trên chu kỳ chuyển động biểu kiến của mặt trời, mỗi chu kỳ mặt trời (năm) có 365,25 ngày

Trang 37

Lịch thuần âm phát sinh từ vùng văn hóa Lưỡng Hà dựa trên sự tuần hoàn của mặt

trăng Mỗi chu kỳ mặt trăng (tháng) dài 29,53 ngày

Hiện nay, lịch thuần dương được phổ biến trên khắp thế giới, còn lịch thuần âm chỉ còn được dùng ở 1 số quốc gia Hồi giáo

Lịch của cư dân Nam – Á mà ta thường gọi là lịch âm thực chất là lịch âm dương Đây

là sản phẩm của lối tư duy tổng hợp, kết hợp cả chu kỳ mặt trăng lẫn mặt trời

Việc xây dựng lịch này gồm 3 giai đoạn:

- Xác định các ngày trong tháng theo mặt trăng bằng cách xác định 2 ngày sóc – vọng

(mồng một – ngày rằm) Căn cứ vào thời điểm xuất hiện của trăng, hình dáng của trăng mà dân gian đã xác định được kinh nghiệm xem trăng mà xác định chính xác từng ngày

- Định các tháng trong năm theo mặt trời bằng xác định các ngày tiết, trước hết là đông

chí và hạ chí (ngày lạnh nhất và nóng nhất), rồi xuân phân và thu phân (giữa xuân và giữa thu)

được tứ thời, rồi thêm 4 ngày khởi đầu cho 4 mùa (lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông) thành

bát tiết Rồi cứ thế phân nhỏ ra nữa, được tổng cộng 24 tiết, mỗi tháng có 2 ngày tiết Nhân

dân ta định kỳ cúng bái vào các dịp này, dần dần kết hợp với lịch lao động tạo thành những ngày Tết (Tiết => Tết)

- Điều chỉnh lịch theo mặt trăng và mặt trời phù hợp với nhau bằng cách đặt thêm một

tháng nhuận sau mỗi khoảng gần 3 năm (mỗi năm theo mặt trời dài hơn 12 tháng theo mặt trăng là 11 ngày)

Trang 38

Hệ Chi có 12 yếu tố (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) Mỗi tên Chi ứng với 1 con vật, toàn là những con vật sống trên mặt đất, gần gũi với cuộc sống của người nông dân

Hệ Can và hệ Chi có thể được dùng độc lập như những hệ đếm 10 và 12 Hệ Chi phổ biến hơn, dùng để chi 12 giờ trong một ngày và 12 tháng trong một năm

- Giờ Tý (23-1 giờ): Lúc chuột đang hoạt động mạnh

Tháng Tý: tháng mười một, lúc giữa đông, khi dương khí bắt đầu sinh ra1

- Giờ Sửu (1-3 giờ): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày

Tháng Sửu: tháng mười hai, tháng Chạp

- Giờ Dần (3-5 giờ): Lúc hổ hung hãn nhất

Trang 39

Phối hợp các Can Chi với nhau, ta được hệ đếm gồm 60 đơn vị với các tên gọi như

Giáp Tí, Ất Sửu…, Quý Hợi gọi là Hệ Can Chi hay Lục giáp Đây là một hệ đếm 60 đặc biệt,

được tạo ra trên cơ sở triết lý âm dương theo nguyên tắc chỉ ghép các can chi “đồng tính”: dương với dương và âm với âm, bởi lẽ bản thân hệ Can đã là hệ dương, hệ Chi là hệ Âm, nên Can Chi vẫn là sự kết hợp âm Dương Như vậy là có một nửa số kết hợp không dùng đến (như Giáp Sửu, Ất Tý, ):

(10 x 12): 2 = 60

* Cách đổi từ năm Dương lịch sang năm Can Chi

Dựa vào bảng 2.5 (giáo trình, trang 78) ta có công thức đổi từ năm Dương lịch sang năm Can Chi như sau:

C = d [(D – 3): 60]

Trong đó:

- C: Mã số năm Can Chi

- D: Năm dương lịch

- d: số dư của phép chia

Việc trừ đi 3 là nhằm quy hệ Can Chi và hệ Dương lịch về một mối (Hội đầu tiên sau

CN bắt đầu từ năm thứ 4, tức 2 hệ lệch nhau 3)

Kết quả của phép chia chỉ ra số hội đã trôi qua từ sau CN đến năm cần tìm

Trang 40

Số dư của phép chia chỉ ra vị trí của năm cần tìm trong hội chứa nó

Ví dụ: Tìm năm Can Chi của năm 1986, 1922, 1789, 938

+ (1986 – 3): 60 = 33 dư 3 3 là mã số của Bính Dần

+ (1922 – 3): 60 = 31 dư 59 59 là mã số của Nhâm Tuất

+ (1789 – 3): 60 = 29 dư 46 46 là mã số của Kỷ Dậu

+ (938 – 3): 60 = 15 dư 35 35 là mã số của Mậu Tuất

* C ách đổi từ năm Can Chi sang năm Dương lịch

D = C + 3 + (h x 60) Trong đó:

- D: Năm dương lịch

- C: Mã số năm Can Chi

- h: Số hội đã trôi qua Để xác định số hội đã trôi qua, cần xác định một năm bất kỳ cùng hội với năm cần tìm, lấy năm đó chia cho 60 sẽ được h

3 1.4 Nhận thức về con người

3.1 4.1 Con người tự nhiên như một mô hình âm dương ngũ hành

Bởi lẽ cuộc sống của con người nông nghiệp gắn bó mật thiết với thiên nhiên, cho nên con người và vũ trụ được xem là nằm trong một thể thống nhất (thiên địa vạn vật nhất thể), cho nên vũ trụ làm sao, con người làm vậy - con người là một “tiểu vũ trụ”, từ đó suy ra rằng các mô hình nhận thức đúng với vũ trụ cũng sẽ đúng cho lĩnh vực con người

a Trong vũ trụ có âm dương, con người cũng vậy: Theo quan hệ trên dưới, từ ngực trở lên là phần dương, từ bụng trở xuống là phần âm; trán là dương, cằm là âm; mu bàn tay, mu bàn chân là dương; lòng bàn tay, lòng bàn chân là âm Theo quan hệ trước sau, bụng là phần

âm, lưng là phần dương; mặt trước cẳng chân là dương, bụng chân phía sau là âm Cứ như vậy, có thể phân biệt âm dương tới từng bộ phận cơ thể

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w