1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Kiểu nhân vật chính diện trong truyền kỳ mạn lục

85 213 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đọc Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, độc giả đều bất ngờ, bởi xuất hiện từ thế kỷ XVI nhưng tập truyện đã xây dựng được một thế giới nhân vật khá phong phú, đại diện cho nhiều loại ngườ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với hoạt động nghệ thuật thuần túy, mỗi tác phẩm văn chương luôn là đứa con tinh thần quan trọng mà nhà văn đã ấp ủ, kỳ công đẽo gọt Đó có thể

là nơi để họ gửi gắm, kí thác bao tâm sự, tư tưởng nhân sinh của mình dường

như không thể chia sẻ cùng ai Với vai trò truyền tải to lớn ấy, Truyền kỳ mạn

lục đã giúp Nguyễn Dữ thể hiện nhận thức, bộc lộ tâm tư, bày tỏ quan điểm

về những vấn đề xã hội, trong bối cảnh chế độ phong kiến bắt đầu bước vào giai đoạn thoái trào Tác Phẩm không chỉ dựng lên được bức tranh hiện thực đương thời đa dạng, sinh động mà còn thấm đẫm tư tưởng nhân đạo, giá trị nhân văn cũng như những thành công vượt bậc về mặt nghệ thuật so với truyện dân gian, kể cả những tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán thời trung đại, xứng đáng là một “thiên cổ kỳ bút” (Vũ Khâm Lân), khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong tiến trình văn học Việt Nam Xét riêng về thể loại truyền kỳ thì “Truyền kỳ mạn lục là một trong những mẫu mực của thể truyện ngày xưa Thành tựu và kinh nghiệm của Nguyễn Dữ được nhiều nhà văn thời sau tiếp thu khi viết truyền kỳ, hoặc viết những tập sách có tính chất truyền kỳ” [21, tr 526]

Đọc Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, độc giả đều bất ngờ, bởi xuất

hiện từ thế kỷ XVI nhưng tập truyện đã xây dựng được một thế giới nhân vật khá phong phú, đại diện cho nhiều loại người trong xã hội phong kiến đương thời, như: vua chúa, quan lại, nho sĩ, thương buôn, nhà sư, phụ nữ, trẻ em và

cả những nhân vật tồn tại trong thế giới tinh thần con người: ma quỷ, thần tiên,… Nói như nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn: “Đây cũng là lần đầu tiên có một tác phẩm văn học Việt Nam xây dựng được nhiều kiểu loại nhân vật đến như vậy” [47, tr 219] Và ở mỗi kiểu loại nhân vật đều có những nét đặc sắc

Trang 2

riêng, như tác giả Bùi Duy Tân bước đầu đã nhận định: “Trong nhiều truyện của Truyền kỳ mạn lục, đối lập với những nhân vật phản diện, tiêu cực, đại biểu cho cái xấu, Nguyễn Dữ đã xây dựng những nhân vật chính diện có nhiều mặt tích cực” [21, tr 517]

Nghiên cứu văn học theo hướng loại hình có thể triển khai trên nhiều cấp độ, bình diện, và sẽ rất phù hợp đối với những tác phẩm văn xuôi tự sự có thế giới nhân vật phong phú cùng với chủ ý rõ ràng của tác giả trong việc xây

dựng nhân vật thành những hệ thống, kiểu loại khác nhau như trong Truyền kỳ

mạn lục của Nguyễn Dữ Dù đã được nhiều độc giả, học giả nồng nhiệt tiếp

nhận, nghiên cứu từ rất lâu nhưng cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ vẫn còn ẩn tàng nhiều giá trị và sự hấp dẫn đối với bạn đọc Vận dụng hướng nghiên cứu loại hình riêng với kiểu nhân vật chính diện trong tác phẩm sẽ hứa hẹn một cái nhìn đối sánh rõ ràng trong hệ thống nhân vật, từ đó

sẽ giúp ta hiểu rõ hơn tư tưởng của nhà văn, thông điệp của tác giả gửi gắm trong từng hình tượng nhân vật, góp phần tiếp tục khẳng định giá trị của tập truyện cũng như giảng dạy một số tác phẩm trong tập truyện này trong chương trình Ngữ văn ở bậc phổ thông một cách tốt hơn

Trên đây là một số lý do cơ bản, cấp thiết để chúng tôi chọn “Kiểu

nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” làm đề tài

nghiên cứu của luận văn thạc sĩ này

2 Lịch sử vấn đề

đón nhận, bình đàm Theo Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp kí thì Hà

Thiện Hán là người viết lời tựa, còn Nguyễn Thế Nghi là người đã dịch ra văn Nôm tác phẩm này Về sau, nhiều học giả tên tuổi đều ghi chép về Nguyễn Dữ và đánh giá cao tác phẩm này của ông Lê Quý Đôn, trong

Kiến văn tiểu lục, ca ngợi Truyền kỳ mạn lục có “văn từ thanh lệ”; còn

Trang 3

Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí, đã coi đây thật sự là

“áng văn hay của bậc đại gia” [21, tr 526]

Đến thế kỷ XX – XXI, Truyền kỳ mạn lục vẫn là một nguồn cảm hứng lớn thu hút nhiều học giả nghiên cứu Trước hết, nghiên cứu về Truyền kỳ

mạn lục, nhiều tác giả đã thể hiện sự băn khoăn về cách gọi đúng tên tác giả,

về thời gian sống và sáng tác của Nguyễn Dữ Những băn khoăn đó được thể hiện chủ yếu qua một số bài nghiên cứu của Nguyễn Quang Hồng (“Vấn đề

tên tác giả Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí Hán Nôm, Số 1 – 2002), Nguyễn Nam (“Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự?”, Tạp chí Hán Nôm, Số 6 – 2002), Lại

Văn Hùng (“Bàn thêm tên tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí

Văn học, Số 10 – 2002); Nguyễn Phạm Hùng (“Đoán định lại thân thế

Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí Nghiên cứu

văn học, Số 1 – 2006), Phạm Luận (“Bàn thêm về cách gọi tên tác giả và tác

phẩm Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 3 – 2006) Qua những bài nghiên trên, các tác giả đã đi đến nhận định về tên tác giả Truyền

kỳ mạn lục là Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự, Nguyễn Dư Theo các học giả thì

“Dư” hay “Dữ” chính là do xem chữ Hán nhưng chỉ thông qua việc chú ý vào

bộ phận biểu âm mà trên thực tế từ này đọc theo ba dấu: Dữ, Dự, Dư Đồng thời, các tác giả cũng gọi tên theo nhiều cách khác nhau như: Nguyễn Dữ, Nguyễn Dự, Nguyễn Tự Bên cạnh đó, một số công trình khi đoán định về thân thế, thời đại sống của Nguyễn Dữ đã cho rằng: Nguyễn Dữ sinh vào khoảng thế kỉ XV và mất vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI

Về số lượng tác phẩm của Truyền kỳ mạn lục cũng có những công trình nghiên cứu như: Nguyễn Đăng Na (2007), Con đường giải mã văn học trung

đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội có bài viết “Truyền kỳ mạn lục có 20

hay 22 truyện?” Với bài nghiên cứu này, Nguyễn Đăng Na cho rằng: “Xét về phương diện chủ đề cũng như những đặc trưng xã hội – thẩm mĩ, hai truyện

Trang 4

Bổ và Phụ Truyền kỳ có nhiều nét gần gũi với Truyền kỳ mạn lục Từ đó, có

thể nghĩ rằng, chúng chính là hai truyện được tăng bổ trong Truyền kỳ mạn

lục chăng? Vậy con số 21 hoặc 22 mà các bản trong Lịch triều hiến chương loại chí ghi nhận kia có ý nghĩa riêng của nó Tuy nhiên, để đi đến khẳng định

rằng, truyện Bổ và Phụ Truyền kỳ chắc chắn của Truyền kỳ mạn lục thì cần

phải thêm tư liệu và nghiên cứu một cách tỉ mỉ hơn” [28, tr 203]

Về giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục đã có rất nhiều

công trình nghiên cứu trên nhiều phương diện, như: Bùi Văn Nguyên (1971),

Lịch sử văn học Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Phạm Hùng

(1987), “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ”, Tạp chí Văn học, Số 2; Vũ Thanh (1994), “Những biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam”, Tạp chí Văn học,

Số 6; Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội; Nguyễn Đăng Na (1999), Văn xuôi tự sự Việt

Nam thời trung đại (Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội; Bùi Duy Tân (2002),

“Truyền kỳ mạn lục, một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ

Hán”, sách Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục, Hà Nội; Bùi Duy Tân (chủ biên, 2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế

giới, Hà Nội; Nguyễn Đăng Na (2005), “Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ so

sánh văn học”, Tạp chí Hán Nôm, Số 6; Đinh Gia Khánh (2007), “Truyền kỳ mạn lục và những thành tựu của văn xuôi Việt Nam” trích trong Tuyển tập

(Tập 2), Nxb, Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Phong Nam (2011), “Nghệ thuật

trần thuật truyện truyền kỳ Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Số 7,

Đại học Đà Nẵng; … Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này, dù xuất hiện với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính hay đối tượng so sánh, dẫn chứng,

minh họa thì Truyền kỳ mạn lục đã được tiếp cận một cách đa dạng với những

kiến giải sâu sắc, thuyết phục Hầu hết, các tác giả đều đánh giá cao những giá

Trang 5

trị của Truyền kỳ mạn lục cũng như khẳng định vị trí quan trọng của tác phẩm

này trong tiến trình vận động, phát triển của thể loại truyền kỳ nói riêng, văn

xuôi trung đại Việt Nam nói chung Ví như, nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân đã

khẳng định: “Truyền kỳ mạn lục là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật Nó vượt xa những truyện

ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, […], tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian” [20, tr 125] Qua một số nghiên cứu tiêu biểu nêu trên

đã cho thấy Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm đạt đến đỉnh cao của thể loại

truyện truyền kỳ nói riêng và thể loại văn học tự sự trung đại Việt Nam nói chung trên nhiều phương diện Những thành tựu về nội dung và nghệ thuật của tập truyện qua nhiều cách kiến giải khác nhau một lần nữa tiếp tục khẳng định giá trị, vị trí của tập truyện được đánh giá là “Thiên cổ kỳ bút” này trong nền văn học dân tộc

Nghiên cứu riêng về hình tượng nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục cũng

đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, trong đó tập trung chủ yếu là các

đề tài luận văn, khóa luận, nghiên cứu khoa học sinh viên, tiêu biểu như:

Nguyễn Thị Thơm (2011), Nhân vật yêu ma trong Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ” (Khóa luận tốt nghiệp đại học, chuyên ngành Văn học Việt

Nam), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; Nông Phương Thanh (2011), Hệ

thống nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Luận văn thạc sĩ,

chuyên ngành Văn học Việt Nam), Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên;

Trang 6

Trương Thị Hoa (2011), Loại hình các nhân vật trong truyện truyền kỳ Việt

Nam qua ba tác phẩm tiêu biểu: Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Lan Trì kiến văn lục (Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt Nam), Trường

Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh; Phạm Phước Duyên (2013), Thế giới nhân

vật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (Khóa luận tốt nghiệp đại học,

chuyên ngành Ngữ văn), Trường Đại học Cần Thơ; Lê Thị Dung (2016), Hình

tượng người phụ nữ trong Truyện kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Khóa luận tốt

nghiệp đại học, chuyên ngành Ngữ văn), Trường Đại học Quy Nhơn; Nguyễn

Hùng Vĩ (2017), Hình tượng nhân vật nho sĩ trong Truyền kỳ mạn lục (Đề tài

nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Trường), Trường Đại học Quy nhơn,… Ở

những công trình nghiên cứu tiêu biểu về hình tượng nhân vật trong Truyền kỳ

mạn lục này, có công trình nghiên cứu tổng thể về thế giới nhân vật nói

chung, có công trình lại đi vào nghiên cứu chuyên sâu một kiểu loại nhân vật

cụ thể (nhân vật yêu ma, nhân vật nho sĩ), hay tiếp cận nhân vật theo giới (hình tượng người phụ nữ),… Qua những hướng nghiên cứu cụ thể này đã cho

thấy được thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục vô cùng phong phú, đa

dạng, mở ra nhiều hướng tiếp cận cho các học giả Đồng thời qua đó cho phép chúng ta nhận diện được giá trị to lớn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cũng như tài năng và đóng góp vượt trội của Nguyễn Dữ trong dòng chảy văn học dân tộc

Như vậy, có thể thấy, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm được quan tâm

nghiên cứu từ khá sớm Lịch sử nghiên cứu tác phẩm này vì thế cũng đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy vậy, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng biệt về nhân vật

chính diện trong Truyền kỳ mạn lục một cách hệ thống, chuyên sâu Trên cơ

sở tham khảo, kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước, đề tài

Kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục sẽ phân loại, phân tích đặc

Trang 7

điểm của các kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục cùng với nghệ

thuật xây dựng kiểu nhân vật này để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về giá trị của tác phẩm cũng như vị thế của tác giả

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các kiểu nhân vật chính diện

trong Truyền kỳ mạn lục

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là 20 truyện trong tác phẩm Truyền kỳ

mạn lục của Nguyễn Dữ Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng

tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, do Trúc Khê Ngô Văn Triện

dịch, Nxb Hội Nhà văn ấn hành năm 2018 làm văn bản khảo sát, nghiên cứu Bên cạnh đó, để tạo tính chính xác và khoa học, trong quá trình thực hiện đề

tài, chúng tôi còn tham khảo và đối chiếu với một số văn bản khác

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp loại hình: Đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng để giải quyết các vấn đề chính yếu của đề tài luận văn Theo đó, dựa vào tính cộng đồng, đặc điểm chung của các hình tượng nhân vật chính diện trong tập

Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi tiếp tục tiến hành nhóm họp, phân chia kiểu

nhân vật này thành những tiểu loại khác nhau Đặc biệt trong chương 2, sử dụng phương pháp loại hình, người viết đã gia tăng thao tác so sánh giữa kiểu nhân vật chính diện với nhân vật phản diện, cũng như so sánh giữa các kiểu nhân vật chính diện với nhau nhằm làm rõ đặc điểm, đặc sắc của hệ thống kiểu nhân vật này trong tác phẩm

- Phương pháp khảo sát văn bản: Đây là phương pháp cơ sở, ban đầu,

cho phép người nghiên cứu tiếp cận trực tiếp với văn bản tác phẩm Truyền kỳ

mạn lục Với phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 20 truyện

Trang 8

trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Từ đó mới có thể nhóm họp,

phân loại kiểu nhân vật chính diện trong toàn bộ tập truyện để làm sáng rõ đặc điểm của từng kiểu nhân vật cũng như tư tưởng, quan điểm, thông điệp mà tác giả đã gửi gắm Khảo sát tác phẩm còn giúp người viết biết lựa chọn những ngữ liệu tác phẩm tiêu biểu để phân tích, làm minh chứng cho những luận điểm trong chương 2 và chương 3 của đề tài

- Phương pháp văn học sử: Sử dụng phương pháp này, người nghiên

cứu đã đặt tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ trong sự vận động

của thể loại truyền kỳ Việt Nam thời trung đại nói riêng cũng như trong tiến trình vận động, phát triển của lịch sử văn học dân tộc nói chung Từ đó cho phép người viết thấy được sự kế thừa, tiếp biến trong đặc điểm từng kiểu nhân vật chính diện cũng như một số phương thức nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng

để xây dựng kiểu nhân vật này

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích nhằm làm rõ những biểu hiện đặc điểm, đặc trưng cụ thể của các kiểu nhân vật chính diện

trong Truyền kỳ mạn lục Từ đó, tổng hợp, khái quát hóa lại vấn đề đã phân

tích để có cái nhìn toàn diện về kiểu nhân vật này trong việc góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm cũng như vị thế của tác giả

- Phương pháp liên ngành: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra đời

trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, chính trị, tôn giáo thời trung đại có nhiều đặc

thù và giao thoa, biến động phức tạp Do đó, nghiên cứu Kiểu nhân vật chính

diện trong Truyền kỳ mạn lục cần được soi chiếu trong tương quan với những

lĩnh vực trên mới có thể nhận diện một cách sâu sắc hơn về kiểu nhân vật chính diện trong tác phẩm

Những phương pháp nghiên cứu trên đây không phải được sử dụng một cách độc lập, riêng lẻ Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã kết hợp

Trang 9

các phương pháp nghiên cứu này để có thể đạt được hiệu quả nghiên cứu một cách tốt nhất

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung làm rõ 3 vấn đề:

- Một là, định hình khái niệm thể loại truyền kỳ và khảo sát, phân loại

các kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục

- Hai là, tập trung phân tích đặc điểm của từng kiểu nhân vật chính diện

trong Truyền kỳ mạn lục

- Ba là, làm sáng rõ vai trò, đặc sắc của một số phương thức nghệ thuật trong việc xây dựng kiểu nhân vật chính diện của tác phẩm Từ việc thực hiện

3 nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn đã góp phần minh định giá trị của tác

phẩm Truyền kỳ mạn lục cùng với tài năng, vị trí của Nguyễn Dữ trong tiến

trình vận động, phát triển của thể loại truyền kỳ nói riêng và văn xuôi trung đại Việt Nam nói chung

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh

viên, học viên, các học giả trong việc nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm Truyền kỳ

mạn lục nói riêng cũng như thể loại truyền kỳ trung đại Việt Nam nói chung

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc thành 03 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Thể loại truyền kỳ và nhân vật chính diện trong Truyền kỳ

Trang 10

Chương 1 THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ VÀ NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN

Với tư cách là một thuật ngữ khoa học, truyện truyền kỳ được giới sáng tác và nghiên cứu hiểu rất khác nhau Có khi, người ta quan niệm đây là một thể loại, cũng có khi được coi là một thể tài, cũng có người coi đây là một

“hiện tượng văn hóa – văn học” với tính chất hỗn dung đặc thù và được hình thành bởi phương thức riêng Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu hiện đại về truyện truyền kỳ, tình trạng khá phổ biến là cùng một hiện tượng (tác phẩm) nhưng chúng lại được sắp xếp vào những thể loại rất khác nhau Một tác phẩm với người này là truyện truyền kỳ, với người khác lại gọi là truyện ngắn, đến người khác nữa lại gọi là truyện ký, … Vậy truyện truyền kỳ là gì?

Có người cho rằng, các tác phẩm được gọi là truyền kỳ, nếu đứng riêng thì thực ra đó là một thể tài của truyện ngắn trung đại Do các nhân vật, tình tiết, kết cấu… của truyện phần lớn là lạ kì đặc biệt, nên người ta gọi chúng là truyền kỳ Quan niệm này cho thấy tác giả đã xuất phát từ quan điểm hệ thống, coi truyện truyền kỳ là một thể tài trong tập hợp truyện ngắn trung đại

Có người sau khi đối chiếu truyện truyền kỳ với các truyện chí quái, chí dị thì thấy giữa chúng có sự khác biệt quan trọng về kỹ thuật, chất văn, cụ thể rằng: truyền kì là sáng tác văn học của một tác giả, có dấu ấn cá nhân rất rõ, chú

Trang 11

trọng ở văn chương, rất gần với tiểu thuyết sau này Có người lại chú ý nhiều đến sự vận động của thể loại truyện truyền kì trên phương diện thi pháp và cho rằng: “Truyền kỳ vốn bắt nguồn từ chí quái, nhưng được tô điểm thêm, đưa vào nhiều chi tiết hơn, gây thêm sóng gió, vì thế mà thành tựu của nó đặc biệt khác thường”[30, tr 36] Có nhà nghiên cứu chú trọng trước tiên đến tính chất kỳ lạ, khác thường (của sự vật, sự việc – những điểm thuộc về đối tượng, nội dung truyện), coi đấy là tiêu chí cốt yếu của thể loại Theo đó, truyện truyền kỳ là những tác phẩm có yếu tố kỳ ảo, ma quái, siêu thực

“Định nghĩa về truyện truyền kỳ, Trung Hoa văn hóa đại từ hải cho rằng: “Vì tình tiết có nhiều kì lạ, thần dị mà có tên ấy” Sách Từ điển văn học

bộ mới (Nxb Thế giới, năm 2004) lại nhấn mạnh: loại truyện này chú ý trước

hết đến những “motif kì quái, hoang đường” [47, tr 185 - 186] Sách Từ điển

văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục, năm 1999)

định nghĩa một cách khái quát: “Truyền kỳ là một thể loại văn xuôi tự sự viết bằng chữ Hán ở văn học trung đại” [2, tr 634]…

Tuy nhiên, không phải cứ tác phẩm nào viết về cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra trong hiện thực cuộc sống thì đều có thể coi là truyện truyền

kỳ Các loại truyện như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích thần kì,… thuộc loại hình văn học dân gian hoặc những truyện chỉ thuần túy ghi chép những điều hoang đường, quái đản,… cũng không thể xếp vào truyện truyền

kì “Yếu tố kì ảo ở đây phải được đặt trong mối quan hệ mật thiết với yếu tố hiện thực và là sản phẩm sáng tạo mang phong cách nhà văn có ý thức rõ rệt trong việc sử dụng bút pháp đó để phản ánh hiện thực” [47, tr 186]

Như vậy, truyện truyền kỳ là thể loại văn xuôi độc đáo, phản ánh hiện thực qua cái kì ảo, kết cấu mỗi truyện có sự thống nhất bởi hai hạt nhân cơ bản: kì và thực Vai trò của mỗi yếu tố có sự tác động qua lại và biến thiên qua từng chặng đường lịch sử xã hội theo xu hướng ngày càng giàu giá trị

Trang 12

nghệ thuật Nhìn đại thể, quan niệm truyện truyền kỳ của các nhà nghiên cứu hiện nay tuy có chỗ thống nhất nhưng cũng còn tồn tại khá nhiều dị biệt Đó

là nét đặc thù của một kiểu tác phẩm thuộc phạm trù văn chương trung đại mà cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất

1.1.2 Vị trí của truyền kỳ trong dòng chảy văn xuôi trung đại Việt Nam

Văn học viết Việt Nam được định hình rõ nét từ khoảng thế kỉ X đến nay Trong đó, loại hình văn học trung đại trải dài khoảng 10 thế kỷ, gắn liền với mô hình nhà nước quân chủ, suốt thời kỳ phong kiến Việt Nam (thế kỉ X – XIX) Mười thế kỉ tồn tại và phát triển, văn học trung đại đã góp vào nền văn học dân tộc đầy đủ các thể loại với những tác phẩm giàu giá trị của nhiều tác giả có tên tuổi Bên cạnh những thể loại văn học khác, bộ phận văn học tự

sự, mặc dù xuất hiện sau hơn so với thơ ca, từ, phú,… nhưng đã có những đóng góp to lớn cho văn học Việt Nam trung đại Nguyễn Đăng Na đã nhận định: “Văn xuôi tự sự không chỉ là một bộ phận cấu thành văn học dân tộc mà còn là ảnh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ thuật của nền văn học đã sản sinh ra nó Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại cũng vậy, vừa phản ánh tư duy nghệ thuật Việt Nam vừa gắn liền với lịch sử văn học dân tộc” [27, tr 9]

Và trong các thể loại văn xuôi Việt Nam thời trung đại, truyền kỳ là một trong những thể loại góp phần tạo dựng được vị thế của văn xuôi trong dòng chảy văn học dân tộc

Truyện truyền kỳ Việt Nam vốn có nguồn gốc từ truyện truyền kỳ Trung Quốc Thế nhưng trong quá trình hình thành và phát triển, truyện truyền kỳ ở Việt Nam đã gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là văn hóa, văn học dân gian và văn xuôi lịch sử Và chính nền văn hóa dân tộc mà đặc biệt là văn hóa, văn học dân gian đã giúp cho thể loại truyện này khác với truyện ngắn các nước trong cùng khu vực Đồng thời, trong suốt

Trang 13

quá trình phát triển thể loại, truyện truyền kỳ vẫn tiếp tục giao lưu với văn học Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á [54, tr.737]

“Truyện truyền kỳ là một thể loại có quá trình hình thành và phát triển

lâu dài, bắt đầu manh nha từ thế kỉ XIII với tác phẩm Ứng Minh trì dị sự (Chuyện lạ ở ao Ứng Minh) của Vũ Cao, được ghi lại trong Việt sử lược [54,

tr.739] Đây là một tác phẩm được xây dựng trên cơ sở hư cấu nghệ thuật, với

mô típ phổ biến trong văn học dân gian: người trần xuống thủy phủ Vì ít ỏi

về số lượng của truyện kỳ ảo cùng với danh tính tầm thường của tác giả đầu tiên nên truyện truyền kỳ lúc bấy giờ đã bị các tác giả của văn học chính

thống coi thường Tuy nhiên Chuyện lạ ở ao Ứng Minh của Vũ Cao được xem

là tác phẩm đánh dấu mốc mở đầu cho thể loại truyện kỳ ảo trung đại Việt Nam [54, tr 740] Đầu thế kỷ XIV, Lý Tế Xuyên đã biên soạn, viết lại những

chuyện lưu truyền về các vị thần ở nước ta thành tập truyện Việt điện u linh Đến cuối thế kỉ XIV, Trần Thế Pháp hoàn thành xong Lĩnh Nam chích quái

lục, là tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam đầu tiên được tác giả dùng thuật ngữ

“truyện” đặt cho mỗi thiên Cả hai tập truyện này đều sử dụng nhiều yếu tố hoang đường, kỳ ảo Ra đời ở thế kỉ XVI, mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng của văn học dân gian, vẫn tuân thủ những quy định của thể loại khi sáng tác thế nhưng

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã đưa truyện kỳ ảo Việt Nam trung đại,

về cơ bản, đã thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động một chiều của văn xuôi lịch sử và những hình tượng, những sự kiện mang tính nghệ thuật Nguyễn Dữ: “Chú trọng đến việc phản ánh những xung đột bình thường trong cuộc sống gia đình, cũng như việc đi sâu khắc họa nội tâm nhân vật, đã xác định được vị trí người mở đường cho loại truyện ngắn thế sự trong lịch sử văn học dân tộc của Nguyễn Dữ và khiến cho truyện của ông trở nên gần gũi với văn xuôi hiện đại” [54, tr 754] Điều này thể hiện sự trưởng thành và khẳng định

vị thế độc lập của một thể loại văn học

Trang 14

Con đường của thể loại truyện kỳ ảo Việt Nam trung đại từ Lý Tế Xuyên, qua Trần Thế Pháp, đến Thánh Tông và Nguyễn Dữ là những bước tiến liên tục, nhảy vọt: “Từ chỗ đóng vai trò là người sưu tập, hiệu đính, ghi chép, mặc dù là ghi chép có sáng tạo đến chỗ có khả năng sáng tác; từ chỗ chỉ phản ánh những hành trạng, sự hiển linh của các vị thánh, vua chúa, các anh hùng dân tộc lấy trong các thần tích đền chùa hoặc từ dân gian đến những tác phẩm phản ánh sâu sắc những xung đột xã hội, thân phận con người, gần gũi với cuộc sống con người thường dân là cả một quá trình không hề đơn giản trong việc hình thành tư cách của nhà văn, cũng như trong cả tiến trình phát triển của văn xuôi tự sự dân tộc” [47, tr 189] Từ cuối thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, với những cuộc cải cách của Nho học và văn thể, các nhà văn, nhà thơ đã hướng văn chương đến những giá trị hiện thực đời sống Trong cuộc cách tân này, thể loại truyện truyền kỳ cũng có nhiều tác giả với những tác

phẩm giàu giá trị như: Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm với Truyền kỳ tân phả;

Vũ Phương Đề với Công dư tiệp kí ; Vũ Trinh với Lan Trì kiến văn lục; Phạm Đình Hổ với Vũ trung tùy bút; Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án với Tang

thương ngẫu lục… Mặc dù các nhà nghiên cứu coi đây là thời kỳ “xuống

dốc” của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam thế nhưng đây vẫn là một giai đoạn truyện truyền kỳ đạt được những thành tựu trên nhiều phương diện như: tính hiện thực, mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm và những liên hệ với cuộc sống, khả năng tiếp cận hiện thực,… Với xu hướng đề cao hiện thực, đưa văn chương tiến gần hơn với cuộc sống, đòi hỏi văn chương phải có giá

trị hiện thực Chính vì vậy, cái thực trở thành mục đích thiết yếu của sáng tác

Và cái kì lúc này chính là kết quả của sự ghi chép Văn phong chép chuyện

cũng trở nên khúc chiết, mạch lạc, ngắn gọn Cốt truyện liền mạch, số lượng tình tiết vừa đủ, diễn biến truyện nhanh, rất ít tình tiết xa đề và lời bình luận ngoại đề dài dòng Bên cạnh đó, cũng ít truyện có “Lời bàn”, “Lời bình” ở

Trang 15

cuối truyện Đấy là một trong những đặc điểm nổi bật của truyện truyền kỳ giai đoạn này

Truyền kì là một trong những thể loại có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, bắt đầu từ thế kỉ XIII và kết thúc vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIX Quá trình đó được đánh dấu bằng sự xuất hiện của hàng loạt những nhân

tố mới, tiến tới hoàn thiện những quy chuẩn thể loại Đó cũng là quá trình xuất hiện trong lịch sử văn học dân tộc những nhà viết truyện thực sự có phong cách, có khả năng phản ánh nhiều vấn đề trọng yếu của đời sống hiện thực trong tác phẩm của mình, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền văn học dân tộc

Theo Hà Thiện Hán, tác giả bài “Tựa” cuốn Truyền kỳ mạn lục (1547)

thì Nguyễn Dữ lúc nhỏ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Sau khi đậu Hương tiến, từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài “ghi chép” để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm

“thiên cổ kỳ bút” Truyền kỳ mạn lục

Trang 16

Nguyễn Dữ có một điều rất đặc biệt so với các bậc nho sĩ thời trung đại

Đó là khi về ở ẩn, ông không chọn quê hương Hải Dương của mình làm nơi

ẩn dật Nguyễn Dữ đã tìm đến chốn núi rừng Thanh Hóa xa xôi, yên tĩnh Điều này đặt ra câu hỏi: Phải chăng lúc này đất Hải Dương đang là chiến trường của nhiều cuộc giao tranh, cũng là đất “phên dậu” của nhà Mạc? Hay núi rừng Thanh Hóa chính là quê ngoại của ông để ông có cơ hội phụng dưỡng mẹ già? Bằng tình yêu và tài năng văn chương của mình, Nguyễn Dữ

đã thể hiện sự gắn bó và am hiểu chốn lâm tuyền này qua nhiều truyện trong

tập Truyền kỳ mạn lục

1.2.2 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

Truyền kì mạn lục là tác phẩm văn xuôi tự sự, được viết bằng chữ

Hán, sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI, gồm 20 chuyện Trong truyện có xen lẫn những bài thơ, ca, từ, biền văn Cuối mỗi truyện đều có

lời bình, trừ truyện số 19: Kim hoa thi thoại kí (Cuộc nói chuyện ở Kim

Hoa) thể hiện chính kiến của tác giả Trong phần lời bình này, nhà văn

không chú trọng bình về nghệ thuật văn chương, mà chủ yếu bàn về nội dung, ý nghĩa đạo đức của truyện

Hầu hết các truyện trong Truyền kỳ mạn lục đều lấy bối cảnh ở các thời

Lý, Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê Sơ và trên các địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc Cốt truyện chủ yếu có nguồn gốc từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, cũng có nhiều truyện do tác giả sáng tác hoặc hư cấu, vay mượn từ

truyền kỳ đời Đường của Trung Quốc Tuy vậy, đọc Truyền kỳ mạn lục, ta

vẫn thấy được hiện thực xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI Đây

là giai đoạn lịch sử, xã hội có nhiều biến động, ánh hào quang thời thái bình thịnh trị của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1491) đã vụt tắt, mà là thời đại trị vì của những “vua quỷ” (Uy Mục) và “ vua lợn” (Tương Dực Đế) … là thời đại đồi bại về đạo đức xã hội, đạo đức Nho phong, vốn là nền tảng, rường cột của

Trang 17

toàn xã hội Tầng lớp nho sĩ nhiều kẻ hư hỏng, ăn chơi hưởng lạc, việc học hành thi cử cũng trở nên chán nản, tiêu cực, Thiền viện mất sự trang nghiêm, tôn kính, thậm chí trở thành nơi hoan lạc của kẻ gian dâm, sư sãi, sa đọa, biến chất,…Chính hiện thực đó, khiến cho các nhà nho có tài, có tâm với nước với dân dâng trào niềm quan hoài vạn cổ, tiếc nuối Văn học giai đoạn này cũng không còn ca tụng chế độ, đề cao ngôi chí tôn nữa, mà đi vào phản ánh hiện thực xấu xa, suy đồi, loạn lạc qua đó gửi gắm niềm mong ước về một triều đại vua sáng, tôi hiền Nằm trong mạch nguồn tư tưởng ấy, Nguyễn Dữ đã viết

Truyền kỳ mạn lục Nội dung chủ đề của tác phẩm khá phong phú: Có truyện

đả kích hôn quân bạo chúa, quan tham lại nhũng; có truyện thể hiện chí khí của kẻ sĩ, quan niệm sống lánh đục về trong của các sĩ phu ẩn dật; có truyện lại viết về tình yêu ma nữ, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng; có truyện thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ khi đối tượng phê phán là bọn xâm lược ngoại bang; Với tài năng sáng tạo của mình, Nguyễn Dữ đã khẳng định giá trị, vị trí trên cả phương diện nội dung, tư tưởng và hình thức nghệ thuật của

tập Truyền kỳ mạn lục, không chỉ cho sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật

Việt Nam mà cho cả sự phát triển của thể loại truyện truyền kỳ khu vực Đông

Á Truyền kỳ mạn lục được đánh giá là tuyệt tác của thể loại truyền kỳ

1.3 Nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

1.3.1 Nhân vật chính diện trong văn học

Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều, Kim Trọng, anh Pha, chị Dậu,…; thậm

chí là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện

Kiều, những kẻ đưa tin lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch Đó còn là

những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái

Trang 18

vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau

Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng Các nhân vật thành công thường là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên, trong các nhân vật, xét về mặt nội dung, cấu trúc, chức năng có thể thấy nhiều hiện tượng lặp lại, tạo thành các loại nhân vật

Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng, các nhân vật có thể chia ra làm nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực) Sự phân biệt nhân vật chính diện và phản diện gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp và quan điểm tư tưởng

Nhân vật chính diện và phản diện là những phạm trù lịch sử Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại Đó là người mà tác phẩm khẳng định và đề cao như những tấm gương về phẩm chất cao đẹp của con người một thời Trái lại, nhân vật phản diện mang những phẩm chất xấu xa trái với đạo lí và lí tưởng, đáng lên án và phủ định Như vậy, hai loại nhân vật này luôn luôn đối kháng nhau như nước với lửa

1.3.2 Khảo sát, phân loại kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

“Lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh nghệ thuật, Nguyễn

Dữ đã phát hiện ra được sức mạnh của con người Khắp thế gian này, dù thượng đế hay địa phủ, cõi tiên hay thủy cung … con người đều có thể đặt chân lên được Điều quan trọng là con người đặt chân đến đâu thì ở đấy “môi trường” được trong sạch, công lý được vãn hồi, kỷ cương được lặp lại Không chỉ phát hiện ra con người có sức mạnh làm chúa tể muôn loài, Nguyễn Dữ còn dành khá nhiều tâm huyết viết về những kiếp người bị áp

Trang 19

bức, đặc biệt là những người phụ nữ sống trong xã hội trước đây Bằng tài năng của mình, ông đã thổi vào nhân vật sức sống lạ kỳ; mỗi nhân vật là một

số phận, một vận mệnh riêng với tư cách là một “con người cá nhân” chịu trách nhiệm trước việc mình làm” [27, tr 25] Trong tập truyện, Nguyễn Dữ

đã xây dựng hệ thống nhân vật với đủ kiểu loại Tuy nhiên theo chúng tôi, có

thể phân kiểu loại nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục thành hai tuyến: kiểu

nhân vật chính diện và kiểu nhân vật phản diện Trong công trình luận văn này, chúng tôi đi sâu vào khảo sát, đánh giá về sự xuất hiện và ý nghĩa của

kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục

Qua khảo sát tập Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi nhận thấy có 19/20 truyện xuất hiện kiểu nhân vật chính diện (trừ tác phẩm Chuyện kỳ ngộ ở trại

Tây) Số lượng tác phẩm xuất hiện kiểu nhân vật chính diện như vậy có thể

nói là chiếm đại đa số trong toàn bộ tập truyện Đồng thời, kiểu nhân vật

chính diện trong Truyền kỳ mạn lục cũng rất đa dạng, phong phú Đó là,

những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch trong tình yêu mà thiệt

thòi, thường là người phụ nữ, như: Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở

Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), Lệ Nương

(Chuyện Lệ Nương),… Hay là những nho sinh dũng cảm, giàu nghĩa tình,

dám đứng lên giệt trừ kẻ ác đem lại cuộc sống bình an cho dân lành, như: Ngô

Tử Văn (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên), Dư Nhuận Chi (Chuyện nàng

Túy Tiêu), Phật Sinh (Chuyện Lệ Ngương), Phạm Tử Hư (Chuyện Phạm Tử

Hư lên chơi Thiên tào) Và còn là những nho sĩ quan lại chính trực, biết chăm

lo, thương yêu nhân dân, như: Dương Đức Công (Chuyện gã Trà đồng giáng

sinh), Văn Tư Lập (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Trào) Là kiểu

nhân vật con người có phép thuật, hay kiểu nhân vật là đấng siêu nhiên phù

trợ, luôn sẵn sàng trừ yêu, diệt tà, giúp đỡ dân lành, như: đạo nhân (Chuyện

cây gạo), người ẩn sĩ tiều phu núi Na (Câu chuyện đối đáp của người tiều phu

Trang 20

núi Na), Long hầu (Chuyện đối tụng ở Long cung), sư cụ Pháp Vân (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), … Thông qua kiểu nhân vật chính diện trong Truyền

kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ vừa ca ngợi, khẳng định những phẩm chất, những

mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội Đồng thời qua đó, tác giả cũng cho thấy nhiều mặt trái trong xã hội đương thời, và có lẽ nhức nhối nhất vẫn là sự suy thoái về đạo đức của bộ phận quan lại

Tiểu kết chương 1

Như vậy, ở chương 1 này, chúng tôi tập trung vào những vấn đề cơ bản mang tính giới thuyết những vấn đề cơ bản về thể loại truyền kỳ và vị trí của truyền kỳ trong dòng chảy văn xuôi trung đại Việt Nam Đồng thời tóm lược

vài nét khái quát về tác giả Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục Qua những vấn

đề nghiên cứu này, một lần nữa đã khẳng định được vị trí của thể loại truyện

truyền kỳ nói chung và Truyền kỳ mạn lục nói riêng trong dòng chảy văn xuôi

tự sự trung đại Việt Nam Đặc biệt thông qua việc khảo sát, phân loại kiểu

nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ sẽ giúp chúng

tôi có những cơ sở vững chắc để đi vào làm rõ đặc điểm kiểu nhân vật chính diện trong tập truyện Đây là một đối tượng nghiên cứu quan trọng, tích cực góp phần khẳng định vai trò, vị trí của tác phẩm được mệnh danh là “thiên cổ

kỳ bút” này của văn học Việt Nam Đồng thời qua đó, thấy được tư tưởng, tài năng của tác giả Nguyễn Dữ

Trang 21

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KIỂU NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN

TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

2.1 Kiểu nhân vật phụ nữ

Viết về người phụ nữ là một đề tài khá quen thuộc trong văn học dân

tộc Với Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã dành nhiều ưu ái cho nhân vật phụ

nữ Khảo sát tập Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi nhận thấy có 11/20 truyện viết

về phụ nữ Số lượng tác phẩm xuất hiện kiểu nhân vật phụ nữ như vậy có thể gọi là nhiều Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ có xây dựng hình tượng những nhân vật phụ nữ phản diện như: nàng Liễu, nàng Đào (Chuyện kỳ ngộ

ở trại Tây), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương Giang), Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Đào Thị Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị) Họ đều vì số

phận đưa đẩy, đều vì nghiệp oan mà trở thành ma quỷ Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng thật đáng thương Tuy nhiên tác giả dành nhiều tình cảm, sự ưu ái cho những nhân vật phụ nữ chính diện Đó đều là những người phụ nữ xinh đẹp, chuyên chính, tảo tần, tiết liệt, giàu lòng vị tha,… nhưng luôn phải chịu

số phận bi thảm như: Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu),

Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), nàng Dương Thị (Chuyện

đối tụng ở Long cung); Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu) Sự chú ý đến số

phận con người, đặc biệt là số phận người phụ nữ, đánh dấu sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam mà Nguyễn Dữ được xem là một trong những người khởi đầu

Trong luận văn này, với kiểu nhân vật phụ nữ chính diện, chúng tôi chia thành hai loại: nhân vật phụ nữ tiết liệt và nhân vật phụ nữ tài hoa

2.1.1 Nhân vật phụ nữ tiết liệt

Mỗi thời đại sẽ có những quy chuẩn đạo đức do con người quan niệm,

Trang 22

đặt ra Có quan niệm đạo đức mang tính cá nhân, có quan niệm đạo đức được

cả cộng đồng đề cao, trở thành lý tưởng Những quan niệm đạo đức ấy có khi được mọi người ngầm hiểu với nhau, tự nguyện tuân thủ như luật bất thành văn; lại có những quan niệm đạo đức được chính quyền nhà nước cụ thể hóa thành luật, bắt buộc mọi người phải tuân thủ Đó là cơ sở nền tảng, thước đo

để đánh giá về một con người tốt – xấu, khinh – trọng, thanh cao – thấp hèn, Trong suốt tiến trình lịch sử thời trung đại, vấn đề trinh tiết của nữ giới rất được chú trọng, thậm chí trở thành vấn đề sống còn đối với người phụ nữ

Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, liệt nữ (烈女) – người con gái

cứng cỏi chết vì tiết nghĩa, không chịu nhục thân [3, tr 347] Từ đó, có thể hiểu: người phụ nữ tiết liệt là những người phụ nữ (kể cả đã có chồng hoặc chưa có chồng) biết kiên trinh giữ tiết, không chịu để kẻ xấu làm nhơ Theo

đó, nổi bật là hai mẫu hình: “Tiết phụ quyên sinh” (người phụ nữ sau khi chồng chết đã quyên sinh theo cho vẹn tiết) và “Trinh nữ” (người con gái chưa lấy chồng, biết kiên trinh giữ tiết, không chịu để kẻ xấu làm nhơ) Từ

quan niệm về người phụ nữ tiết liệt nêu trên, chúng tôi xác định Truyền kỳ

mạn lục của Nguyễn Dữ có các nhân vật phụ nữ tiết liệt như: nàng Nhị Khanh

trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Vũ Nương – Vũ Thị Thiết trong Chuyện người con gái Nam Xương, Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương, Dương Thị trong Chuyện đối tụng ở Long cung

Trước hết, nhân vật Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái

Châu được tác giả xây dựng theo kiểu mẫu một “nghĩa phụ” với quan niệm có

phần bảo thủ Nhị Khanh kết nghĩa vợ chồng với Trọng Quỳ không lâu thì chàng phải theo cha đi trấn thủ ở nơi xa Thấy Quỳ bịn rịn, quyến luyến trước

lúc ra đi, nàng khuyên chồng: “Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị

người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu… chả nhẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách

Trang 23

trở trong vùng rừng núi, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo Thiếp dám đâu đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo…”

Chồng ra đi, nàng ở lại thấm thoát được sáu năm, người chồng ở xa, “tin tức

không thông, mất còn chẳng rõ” Nhiều kẻ mang vàng bạc đến cầu thân,

khuyên nàng nên “bạn lành kén lựa, duyên mới vương xe” để “lấp những lời

giăng gió cợt trêu, tránh phải khi ong cuồng bướm dại” Nghe những lời ấy,

nàng “sợ hãi, quên ăn mất ngủ”, quyết không “mặc áo xiêm của chồng để đi

làm đẹp với người khác” Không thể ngồi chờ một cuộc hôn phối ép buộc,

nàng đã chủ động nhờ người lặn lội đường xa, dò hỏi tin chồng Đây được xem như màn thử thách đầu tiên về phẩm chất tiết liệt của Nhị Khanh Không chỉ dừng lại ở đó, phẩm chất tiết liệt của Nhị Khanh càng được khắc họa đậm nét khi chồng đã trở về, gia đình được đoàn tụ Tưởng đâu sóng gió thử thách qua đi để nàng được hưởng trọn hành phúc Thế nhưng, quen tính chơi bời lêu lổng, Trọng Quỳ thường cờ bạc với Đỗ Tam - một tên lái buôn hiếu sắc Nhị

Khanh thường khuyên chồng: “Những người lái buôn phần nhiều là giảo

quyệt, đừng nên chơi thân với họ” Nhưng Trọng Quỳ không nghe Sau vì

thua bạc, y đã bán nàng cho Đỗ Tam Liệu cơ không thoát khỏi, nàng giả vờ

về nhà tạm biệt các con rồi tự vẫn Hành động này đã minh chứng thuyết phục cho phẩm chất tiết liệt của Nhị Khanh

Trong truyện này, nhân vật Nhị Khanh tìm đến cái chết khi chồng vẫn còn sống và bản thân cũng chưa bị kẻ xấu làm nhục Điều này cho thấy đóng góp riêng của Nguyễn Dữ về quan niệm tiết liệt của nữ giới trong xã hội trung đại lúc bấy giờ Với ông, phụ nữ tiết liệt không chỉ là những người thủy chung, son sắt với chồng mà cái chính là họ biết giữ gìn phẩm giá của mình Sau này, khi người chồng biết hối cải, nàng đã trở về với tình thương hết sức cảm động của người vợ hiền hậu, dịu dàng, rộng lượng, tha thứ cho chồng, hướng chí cho con Với chi tiết kỳ ảo cuối truyện là sự trở về của Nhị Khanh,

Trang 24

Nguyễn Dữ một mặt khẳng định, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ:

lo lắng cho chồng con không chỉ lúc sống mà ngay cả khi chết Mặt khác, tác giả cũng khẳng định: chính sự tiết hạnh của người phụ nữ đã làm thức tỉnh cho đức ông chồng Bởi sau khi Nhị Khanh chết thì Trọng Quỳ đã hối cải, nuôi dạy các con theo đuổi chí hướng như lời tiên báo của Nhị Khanh Có thể nói, Nhị Khanh đã trở thành hình mẫu lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất tiết liệt của người phụ nữ thời trung đại

Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương là người con gái

nết na và có tư dung tốt đẹp, đây cũng là đại diện cho vẻ đẹp mẫu mực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Chồng nàng là Trương Sinh, vì mến

mộ mà xin mẹ hỏi cưới nàng về làm vợ Trong cuộc sống hôn nhân với chồng, Vũ Nương hiện lên là người rất mực thủy chung lại khéo léo, đảm đang Trương Sinh rất yêu thương vợ nhưng có tính đa nghi Biết thói chồng

hay ghen, nàng luôn cư xử “khuôn phép”, luôn biết nhường nhịn để giữ gìn

hạnh phúc gia đình Như vậy, Vũ Nương là người rất có ý thức gìn giữ phẩm hạnh Cuộc sống hôn nhân chưa được bao lâu, Trương Sinh phải đi lính để lại

vợ trẻ và mẹ già Mặc dù rất buồn lòng khi chồng phải đi chinh chiến nhưng khi rót rượu đưa tiễn chồng, Vũ Nương đã thể hiện khát vọng thanh cao của

người phụ nữ: không màng vinh hoa, danh lợi “chẳng đám mong đeo được

ấn hầu trở về” mà “chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên về nhà”

để sống cuộc sống gia đình sum họp, hạnh phúc

Trong ba năm chồng đi lính, tiết hạnh của Vũ Nương được thể hiện

trước hết là đối với người chồng, nàng luôn giữ gìn một tiết, không màng “tô

son điểm phấn” Trong cuộc sống đối với mẹ chồng, Vũ Nương là một nàng

dâu ngoan, rất mực hiếu thảo Khi mẹ chồng đổ bệnh vì nhớ con thì nàng hết lòng khuyên lơn, chạy chữa thuốc thang đến nơi đến chốn lại còn lễ bái cầu thần Đến khi mẹ chồng qua đời, Vũ Nương lo mai táng chu đáo như đối với

Trang 25

cha mẹ ruột của mình Tấm lòng này của người con dâu đã được mẹ chồng ghi nhận Trước lúc ra đi, mẹ Trương Sinh có nói với nàng rằng: sau này rồi nàng sẽ được ban phúc, trời sẽ không phụ nàng cũng như tấm lòng của nàng

đã không phụ bà Chẳng những là người vợ hiền, dâu thảo, nàng còn là người

mẹ yêu thương, chăm lo cho con cái Khi chồng đi lính, nàng đã mang thai Sau khi tương biệt mươi ngày nàng sinh hạ được một bé trai, đặt tên là Đản Thương con, sợ con không có tình cảm của cha nên mỗi khi đêm đến, nàng lại

tự chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói rằng đó là cha của Đản Đối với con, Vũ Nương vừa nuôi dạy làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, vừa gánh nghĩa vụ của một người cha Nàng kể với Đản những điều tốt đẹp về cha

để cậu bé ghi tạc hình dáng của cha, để sau này cha về sẽ không thấy xa lạ Như vậy, Vũ Nương là một người phụ nữ có vẻ đẹp phẩm chất vẹn toàn theo quan niệm đạo đức phong kiến: người vợ thủy chung, người con dâu hiếu thảo, người mẹ hiền đầy tình yêu thương

Một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nương lẽ ra phải xứng đáng được hưởng hạnh phúc Thế nhưng, thay vì nhận được những gì mình xứng đáng được hưởng thì Vũ Nương đã vướng vào một bi kịch khiến nàng phải lấy cái chết để rửa nỗi oan ức và chứng minh sự trong sạch, khẳng định phẩm chất tiết liệt của mình Câu chuyện về cái bóng chính là nguyên nhân trực tiếp gây

ra mọi bi kịch trong cuộc đời Vũ Nương Khi chồng đi lính về, những tưởng gia đình đoàn tụ, chấm dứt cảnh chia cách thì bé Đản lại không nhận cha và nói những lời ngây thơ của một đứa trẻ đang tập nói Đản kể lại với Trương Sinh rằng, tối nào cha Đản cũng đến, mẹ đi đâu thì người đàn ông đó cũng đi theo nhưng chưa từng bế Đản Vốn có tính hay ghen, nghe được những lời nói này, Trương Sinh đã một mực khẳng định Vũ Nương đã thất tiết Vũ Nương

đã một mạch phân trần, giải thích nhưng chàng không nghe Ngay cả họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch thế nhưng vẫn không sao lay chuyển được sự

Trang 26

nghi ngờ của Trương Sinh với Vũ Nương Sau cùng, Vũ Nương đã “gieo

mình xuống sông mà chết” Hành động quyết liệt này thể hiện mong muốn gìn

giữ nhân phẩm, tiết hạnh và danh dự của người phụ nữ Nàng có thể hi sinh tất cả, chịu nhường nhịn vì chồng vì con, thà chết không mang nỗi nhục này Nàng chết đi để lương tâm thanh thản, để bản thân trong sạch, để không phải

hổ thẹn với lòng, với người Thế nhưng, đó chỉ là nguyên nhân trước mắt Vậy nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của Vũ Nương là gì? Phải chăng là

sự hà khắc, thối nát trong xã hội phong kiến? Cái xã hội quá bất công với người phụ nữ Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã dung túng cho những kẻ được gọi là chồng, là cha cái quyền độc đoán; cho phép họ coi mình là trên hết, không trân trọng người phụ nữ để rồi Trương Sinh ghen tuông trong mù

quáng, đẩy vợ mình tới cái chết “Chuyện người con gái Nam Xương” chỉ có

một Trương Sinh, cũng chỉ có một Vũ Nương tự tử nhưng có lẽ xã hội phong kiến bấy giờ còn tồn tại rất nhiều Trương Sinh khác và cũng có rất nhiều người phụ nữ phải chịu bất hạnh, bị dồn vào đường cùng như Vũ Nương Kết thúc câu chuyện là hình ảnh Vũ Nương hiện về với sự giúp đỡ của Linh Phi

và Trương Sinh đã nhận ra được sự thật Đây là một yếu tố kì ảo được Nguyễn Dữ sử dụng để lái cái kết theo một chiều hướng khác Yếu tố này giúp hoàn thiện thêm nhân cách của Vũ Nương, một lần nữa khẳng định, tô đậm phẩm tiết trong trắng của nàng Đồng thời, tác giả muốn thực hiện ước

mơ của con người về sự bất tử của cái thiện, ông đứng về phía cái thiện và luôn tin rằng vẻ đẹp của cái thiện sẽ luôn chiến thắng cái ác, lấy lại công bằng cho những người phụ nữ bấy giờ

Lý Phật Sinh Lệ Nương là một cô gái thuộc dòng họ ngoại của Trần Khát Chân, Phật Sinh là chàng trai quê ở Cẩm Giàng Họ là con của hai gia đình buôn bán ở ngoại thành Tây Đô (Thanh Hóa) Hai gia đình vốn có hẹn ước

Trang 27

với nhau từ khi hai bà mẹ còn chưa mang thai Vì vậy, họ cũng đi lại với nhau suồng sã, thường cùng nhau xướng họa thơ từ Tuy kì cưới chưa định, nhưng hai người đã gắn bó, chẳng khác chi vợ chồng Khi xảy ra vụ Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly không thành, Lệ Nương vì là thân tộc của họ Trần nên cũng bị Quý Ly bắt Trước khi bị bắt đi, Lệ Nương cũng đã kịp viết thư gửi lại đôi lời với Phật Sinh:

“Nguyền xưa tan nát nghĩ mà đau,

Kiếp ấy lỡ làng sinh cũng uổng

Ước liễu thị mong gì hảo hội

Duyên Ngọc Tiêu đâu chắc tái sinh

Xin chàng trân trọng lấy mình,

Liệu kết nhân duyên chốn khác

Đừng vì tình một buổi,

Để lỡ kế trăm năm.”

Qua thư cho thấy Lệ Nương là cô gái rất sâu sắc Mặc dù đau khổ tột cùng khi không được ở bên người chồng hẹn ước thế nhưng nàng không cố níu kéo hay mong chàng chờ đợi Ngược lại, Lệ Nương lại dặn dò Phật Sinh hãy thực thi

trọn đạo làm người hợp với lẽ tự nhiên: “Người có chồng vợ, đạo người mới

thành” và mong chàng “Liệu kết nhân duyên chốn khác/ Đừng vì tình một buổi/ Để lỡ kế trăm năm” Điều này cho thấy Lệ Nương là một cô gái có tấm

lòng bao dung, vị tha, luôn mong muốn người mình yêu được hạnh phúc Và khi quân giặc phương Bắc bắt nàng về nước, để giữ phẩm tiết, nàng đã rủ hai

phu nhân họ Chu, họ Trịnh rằng: “Bọn chúng ta vóc mềm tựa liễu, mệnh bạc

như vôi, nước vỡ nhà tan lưu ly đến đó Nay nếu lại theo họ qua cửa ải tức là đến nước non quê người Chẳng thà chết rấp ở ngoài lạch, gần gũi quê hương, còn hơn là sang làm những cái cô hồn ở bên đất Bắc Thế rồi mấy người cùng nhau tự tận Tướng Tàu thương là có tiết tháo, dùng lễ mà táng ở

Trang 28

trên núi” Điều này cho thấy, Lệ Nương không chỉ là người phụ nữ tiết liệt mà

còn có ý thức cao về tinh thần dân tộc Nguyễn Dữ đã thể hiện quan hệ biện chứng giữa số phận con người với hoàn cảnh lịch sử Tình yêu của cô gái Lệ Nương và chàng trai Phật Sinh đã đã gắn liền với số phận bi thương của dân tộc Phẩm chất tiết liệt của Lệ Nương vì thế càng được nâng tầm, trở nên sáng ngời hơn

Như vậy, qua kiểu nhân vật phụ nữ tiết liệt trong Truyền kỳ mạn lục,

chúng tôi nhận thấy: Nhị Khanh và Vũ Nương, để khẳng định phẩm chất tiết liệt của mình, họ đều tìm đến cái chết Tuy nhiên, họ chết khi chồng vẫn còn sống và cũng không bị ai làm nhục Cái chết của họ đã phản ánh, phê phán chế độ trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến đương thời Chính cái xã hội đó đã không cho phép người phụ nữ có quyền được hưởng hạnh phúc, cho

dù họ là người có hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp Với nhân vật Lệ Nương, phẩm chất tiết liệt không chỉ được đặt trong quan hệ cá nhân gắn liền với tình yêu đôi lứa mà còn được đặt trong mối quan hệ lớn hơn là vận mệnh dân tộc; không chỉ tồn tại trong không gian chật hẹp quanh lũy tre làng mà đi

xa hơn ra mãi tận biên giới xa xôi của đất nước

2.1.2 Nhân vật phụ nữ tài hoa

Cái tài của người phụ nữ trong sáng tác thành văn của văn học viết trung đại không nằm ngoài quan niệm, lý tưởng thẩm mỹ Nho giáo, phong kiến Theo đó, nếu đấng nam nhi được nhấn mạnh ở tài văn võ song toàn, kinh bang tế thế thì nữ nhi lại được đề cao ở tài cầm, kỳ, thi, họa Đây vốn được xem là những thú vui tao nhã của tầng lớp thượng lưu hay những bậc tài

tử, giai nhân Điều đáng nói là, ngay từ thế kỷ XVI, trong sáng tác của Nguyễn Dữ, hình ảnh người phụ nữ nói chung, người phụ nữ tài hoa nói riêng (kể cả người có xuất thân bình dân, thấp hèn) không chỉ xuất hiện nhiều mà còn trở thành hình tượng trung tâm Điều mà độc giả thường ít thấy trong

Trang 29

sáng tác ở những thế kỷ trước Đây cũng là một trong những dấu hiệu báo hiệu cho sự bùng nổ của tư tưởng, trào lưu nhân văn trong sáng tác văn học ở giai đoạn tiếp theo

Với kiểu nhân vật chính diện trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ

cũng đã dành tình cảm đặc biệt cho người phụ nữ tài hoa Nhà văn đề cao tài năng của người phụ nữ, thậm chí là những người phụ nữ có thân phận hèn

kém trong xã hội như Túy Tiêu trong Chuyện nàng Túy Tiêu Túy Tiêu, một

con hát, thực chất là nô lệ trong dinh thự một vị quan nhà Trần (Nguyễn Trung Ngạn) Thế nhưng Túy Tiêu vốn có khiếu thông tuệ, mỗi khi Dư Nhuận Chi đọc sách, nàng cũng đọc thầm mà thuộc được Được Dư Nhuận Chi đem những quyển sách nói về thơ từ dạy, chưa đầy một năm, nàng đã làm được thơ từ ngang với chàng Không những vậy, Túy Tiêu còn là người phụ

nữ rất mực chung tình Mặc dù ở trong nhà quan Trụ quốc, được hắn nuông

chiều, thế nhưng lúc nào nàng cũng nhớ tới Dư Nhuận Chi đến nỗi “buồn rầu

sinh ốm”, “tình sâu gắn bó, hờn nặng chia lìa, lời thề chung sống chưa phai, điều hẹn cùng già đã phụ… nói rồi nàng toan lấy chiếc khăn là thắt cổ tự tử”

khiến Trụ quốc buộc phải vời Dư đến ở trong nhà Và ngay khi Dư đến ở nhà quan Trụ quốc nhưng vẫn không được gặp nhau, Túy tiêu đã tìm mọi cách để thông tin với Dư để rồi được sự giúp đỡ của người đầy tớ già, hai người đã trốn thoát Dư thi cử đỗ đạt, hai vợ chồng sống hạnh phúc đến già Qua câu chuyện cho thấy cuộc đấu tranh để giành giật hạnh phúc, khẳng định tình yêu đôi lứa giữa Túy Tiêu, Dư Nhuận Chi và tên Trụ quốc họ Thân cũng không kém phần quyết liệt Tình yêu giữa Túy Tiêu, một người con gái có thân phận thấp hèn, làm con hát, nô bộc trong nhà một vị quý tộc và chàng nho sinh hay thơ nổi tiếng khắp kinh kì Dư Nhuận Chi là một tình yêu vượt qua ranh giới đẳng cấp xã hội Điều này cũng cho thấy tư tưởng tiến bộ, mới

mẻ của Nguyễn Dữ, vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong

Trang 30

kiến Tuy nhiên, trong phần lời bình ở cuối truyện, Nguyễn Dữ lại thể hiện sự mâu thuẩn trong quan điểm tư tưởng của mình khi đưa ra lời phán quyết:

“chàng Nhuận Chi thực là một người ngu vậy” Nhưng dù sao với Chuyện

nàng Túy Tiêu, Nguyễn Dữ đã dành tình cảm đặc biệt cho người phụ nữ tài

hoa để kết thúc truyện nhân vật có được hạnh phúc trọn vẹn Đây là nhân vật

người phụ nữ hiếm có trong toàn bộ tập truyện Truyền kỳ mạn lục có được kết

thúc có hậu

Ngô Chi Lan trong truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa cũng là kiểu

nhân vật phụ nữ tài hoa được Nguyễn Dữ tập trung bút lực khắc họa đậm nét Ngay từ mở đầu truyện, nàng đã được giới thiệu vốn là bậc nội trợ hiền của vị

tiên sinh họ Phù Thế nhưng nàng “chữ tốt, văn hay, nhất là thơ ca càng giỏi

lắm Đức Thuần hoàng đế (Thánh Tông) triều Lê yêu tài văn mặc, vời nàng vào cung, giao cho việc dạy các cung nữ Mỗi khi yến tiệc, nàng thường ôm quyển đứng chầu hầu vua, hễ vua phán làm thơ, chỉ thoát chốc đã làm xong ngay, không cần phải sửa chữa gì cả” Và để minh chứng cho tài năng thơ ca

của Ngô Chi Lan, Nguyễn Dữ đã đưa người đọc vào câu chuyện thần kỳ trong chuyến trở về thăm quê của Mao Tử Biên Trong đêm mưa gió xin được trú nhờ, tình cờ Mao Tử Biên nghe trộm được cuộc nói chuyện thơ của vợ chồng Ngô Chi Lan và người khách Tài thơ ca của Ngô Chi Lan được thể hiện trước hết qua bốn bài từ bốn mùa đề vào bốn bức bình bằng văn mẫu, khách đọc

xong than rằng: “Năm châu nếu không có tôi, biết đâu phu nhân chẳng là tay

tuyệt xướng, mà tôi nếu không có phu nhân, biết đâu chẳng là tay kiệt xuất trong một thời Thế mới biết lời đồn quả không ngoa thật” Lời than cho thấy,

vị khách đã khẳng định, đề cao tài năng của Ngô Chi Lan sánh ngang mình

Để từ đó, Ngô Chi Lan tự bộc lộ tài thơ ca của mình qua những lần được chầu hầu nghiên bút bên tiên triều, như lần đi chơi núi Vệ Linh có đề bài thơ rằng:

“Vệ Linh mây trắng tỏa cây xuân,

Trang 31

Hồng tía muôn hoa đẹp cảnh trần

Ngựa sắt về trời, danh ở sử,

Oai thanh còn dậy khắp xa gần.”

Bài thơ ra đời chỉ vài tháng sau được truyền khắp trong cung, đức Hoàng thượng rất khen ngợi, ban cho một áo Hay lần Hoàng thượng ngự ở cửa Thanh Dương, sai quan Thị Thư họ Nguyễn làm bài từ khúc uyên ương

nhưng ngài không ưng ý, ngoảnh bảo Chi Lan: “Văn nàng cũng hay lắm, hãy

thử đem tài hoa gấm cho trẫm xem nào” Chi Lan vâng mệnh, cầm bút làm

xong ngay Bài thơ được “Hoàng thượng khen ngợi hồi lâu, ban cho 5 chỉnh

vàng, lại được gọi là “Phù gia nữ học sĩ” Từ đó nức tiếng đương thời, được làng văn mặc coi trọng”

Có thể nói, trong toàn bộ những truyện viết về kiểu nhân vật phụ nữ nói

chung, kiểu loại nhân vật phụ nữ tài hoa nói riêng trong Truyền kỳ mạn lục, truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa là một truyện đặc biệt Bởi tài năng thơ ca của những nhân vật nữ khác như nàng Túy Tiêu trong Chuyện Nàng

Túy Tiêu; hay nét tài hoa của nhân vật phản diện nàng Liễu, nàng Đào trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây đều được bộc lộ gắn với cảm xúc của tình yêu đôi

lứa Đó là cảm xúc mà con người ta dễ thăng hoa để xuất khẩu thành thơ Với Ngô Chi Lan, tác giả đề cao, khẳng định tài năng thơ ca bằng sự nhạy bén, tinh thông của những con người xuất thần Vậy nên dù chỉ là nữ nhi, là bậc nội trợ trong gia đình nhưng vì có tài, có đức nên nàng đã được triều đình trọng dụng Qua tài năng của Ngô Chi Lan trong truyện, Nguyễn Dữ còn gián tiếp ca ngợi Đức Thuần hoàng đế (Thánh Tông) triều Lê Đó là vị vua anh minh sáng suốt, biết trọng dụng người hiền tài để họ ra sức nỗ lực cống hiến cho nước, cho dân Đây cũng chính là niềm hoài vọng, mong ngóng của Nguyễn Dữ về thời đại mà ông đang sống

Trang 32

Với kiểu nhân vật chính diện là người phụ nữ tài hoa trong Truyền kỳ

mạn lục, Nguyễn Dữ mặc dù chỉ đề cập đến một mặt tài hoa: thi ca Thế

nhưng tài hoa thi ca đã đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp người chắp bút Danh tiếng không chỉ ở nhân gian mà còn được hoàng thượng khen ngợi, ban thưởng Qua đó cho thấy thái độ yêu quý, trân trọng của tác giả đối với người phụ nữ nói chung, với người phụ nữ tài hoa nói riêng

Qua các nhân vật nữ chính diện trong Truyền kỳ mạn lục, dù là nhân vật

phụ nữ tiết liệt hay nhân vật tài hoa thì tất cả họ đều thống nhất ở một phẩm chất như một mẫu số chung, đó là những người phụ nữ rất mực chung tình Nhị Khanh vì chung tình mà thủ tiết chờ chồng suốt 6 năm xa cách, quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi với người khác Vũ Nương với chồng cách biệt ba năm nhưng vẫn giữ gìn một tiết Lệ Nương không những chung tình trong tình yêu với Phật Sinh mà còn khẳng định tinh thần dân tộc của một công dân đối với đất nước Túy Tiêu vì chung tình mà ngày đêm mong nhớ

Dư Nhuận Chi đến mức buồn rầu, sinh ốm Riêng nhân vật Dương Thị, phẩm chất chung tình được thể hiện rõ qua sự việc bị thần Thuồng Luồng bắt xuống long cung làm vợ Dù bị cưỡng hôn, có con với thần Thuồng Luồng thế nhưng lúc nào Dương thị cũng khôn nhớ Trịnh Thái Thú và chờ thời cơ để tố giác tội danh của thần Thuồng luồng Vì vậy, khi Trịnh Thái Thú được Long Hầu giúp xuống long cung tìm nàng thì nàng đã sẵn sàng tố giác trọng tội của Thuồng Luồng để được theo chồng trở về dương gian sống cuộc sống hạnh phúc

Với Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ bằng tài năng và tấm lòng yêu

mến, trân quý đã cho thấy chính các thế lực xã hội, cả thần quyền và cường quyền là thủ phạm đã cướp đi cuộc sống hạnh phúc gia đình, chia lìa tình yêu đôi lứa chân chính của bao người phụ nữ đương thời Những vấn đề xã hội đặt

ra cấp thiết trong Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện người nghĩa

Trang 33

phụ ở Khoái Châu, Chuyện nàng túy Tiêu, Chuyện Lệ Nương,… có lúc chúng

được thể hiện thành những kẻ như thần Thuồng luồng, những Trụ Quốc họ Thân, những tướng quân họ Lý, có khi được thể hiện một cách vô hình thành một thói hư tật xấu vô trách nhiệm như tính cách ăn chơi quá đà của Trọng Quỳ, hay tính ghen tuông cố chấp của Trương Sinh… Trong các tác phẩm giàu tính nhân văn của mình, Nguyễn Dữ đã bỏ công đi tìm những giải pháp

xã hội cho vấn đề người phụ nữ thế nhưng ông luôn rơi vào bế tắc Các nhân vật phụ nữ yêu quý của ông, có người được giải oan sau khi chết, được gặp lại chồng con trong chốc lát như Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh, có người được trở về với gia đình sau khi bị kẻ xấu bắt cóc làm vợ như Dương Thị, Túy Tiêu, nhưng cũng có những người phải bỏ thây xác nơi biên cương xa xôi hẻo lánh như nàng Lệ Nương,… Trong quá trình đi tìm con đường giải thoát cho nhân vật của mình, Nguyễn Dữ đã không chỉ một lần thể hiện mâu thuẫn trong tư tưởng, trong quan niệm về cuộc đời, bộc lộ thành mâu thuẫn giữa các hình tượng khách quan như những bản cáo trạng đối với xã hội và hình tượng nhân vật ca ngợi tình yêu tự do với lời giáo huấn cứng nhắc trong “Lời bàn” cuối truyện Có lẽ, đó cũng chính là những hạn chế, mâu thuẫn tất yếu ở giai đoạn đầu và cũng là ở người mở đầu của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học dân tộc Số phận con người và đặc biệt là số phận của người phụ nữ đã được quan tâm và trở thành hình tượng nhân vật trung tâm trong tác phẩm văn học

2.2 Kiểu nhân vật nho sĩ

Nho sĩ là những người theo học đạo Nho, đọc sách vở thánh hiền, là tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến Mục đích, lý tưởng của họ là dùi mài kinh sử, thi cử đỗ đạt ra làm quan phục vụ cho triều đình phong kiến

Hình tượng nhân vật nho sĩ có vị trí rất quan trọng trong Truyền kỳ mạn lục,

trong đó vừa có nho sĩ là nhân vật chính diện, vừa có nho sĩ là nhân vật phản diện Mỗi loại nhân vật được tác giả xây dựng có những đặc điểm riêng về

Trang 34

phẩm chất, tư tưởng, tình cảm,… Qua đó, Nguyễn Dữ đã thể hiện rõ quan điểm chính trị, quan điểm đạo đức của mình đối với tầng lớp nho sĩ đương thời cũng như đối với xã hội nói chung

Nhân vật nho sĩ chính diện là những nho sĩ có tư tưởng, đạo đức, hành động ứng xử của một nhà nho chân chính, những nhà nho có khát vọng lập thân, lập danh; có khí phách cứng cỏi, dám đấu tranh chống lại gian tà, bạo ngược, giàu lòng nhân hậu, đức hi sinh theo đạo lí thánh hiền đã dạy Khảo

sát kiểu nhân vật nho sĩ chính diện trong Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi thấy

nổi bật với hai tiểu loại: nho sinh và quan lại

2.2.1 Nhân vật nho sinh cứng cỏi, dũng cảm, nhân nghĩa

Đó là những nho sĩ đang theo học sách vở thánh hiền để chuẩn bị thi cử hoặc là những người từng đi thi nhưng chưa đỗ đạt, chưa ra làm quan Tuy nhiên bằng tài năng, đức độ của người theo học đạo Nho, họ đã thể hiện nhiều phẩm chất tốt đẹp của bậc nho sinh trong những cảnh huống cụ thể

hình tượng một con người “xã thân thủ nghĩa” với tính cách ngay thẳng, cứng

cỏi, đó là Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang

“Chàng vốn tính khảng khái nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu

được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương phương” Truyện mở

đầu bằng việc giới thiệu Ngô Tử Văn theo phương pháp truyền thống trong văn học cổ: tên tuổi, quê quán, tính tình Và chỉ bằng vài nét chấm phá nhưng tác giả đã tập trung ánh sáng làm rõ được tinh thần cương trực, nghĩa khí của

nhân vật: “Trong làng có một tòa đền vẫn linh ứng lắm Cuối đời họ Hồ, quân

Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường Bộ tướng của Mộc Thạnh có viên tướng Bách Hộ họ Thôi tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong nhân gian Tử Văn rất là tức giận, một hôm tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đốt đền Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, họ lo sợ thay

Trang 35

cho Tử Văn, nhưng Tử Văn vung tay không cần gì cả” Chỉ với một đoạn văn

ngắn giới thiệu về nhân vật mở đầu cho thiên truyện, Nguyễn Dữ vừa nói rõ được họ tên, quê quán, vừa miêu tả được tính cách và gợi được đầu mối câu chuyện Đốt đền cũng đồng nghĩa là đốt nhà tên tướng giặc, không cho hắn

có chỗ trú ẩn, không cho hắn có chỗ để làm yêu làm quái sách nhiễu nhân dân, không dung tha một kẻ gian tà, trừ khử cho dân một mối họa Đó là một hành động cương trực đầy nghĩa khí, thấy việc bất bình nhất định không tha Hành động đốt đền của Tử Văn là có căn cứ vững chắc và thái độ thích hợp Trong quan niệm người xưa, người ta chỉ công nhận là thần với những người giúp nước hộ dân, còn trái lại là hung thần, dâm thần,… thì sẽ bị dân xa lánh, thậm chí đã có miếu đền thờ rồi có khi cũng phải phá đi Viên tướng Bách Hộ

họ Thôi, lúc sống là một tên giặc cướp nước, phạm tội với dân, đến khi chết

đi còn làm yêu làm quái hại dân Quả thực là trời không dung đất không tha

Tử Văn đốt đền miếu là hợp lý Là một kẻ sĩ, Tử Văn hiểu rõ việc mình làm

Vì vậy trước khi đốt đền, chàng đã “tắm gội chay sạch rồi khấn trời” để lấy

con người và tấm lòng trong sạch của mình mong trời đất thông cảm, thấu hiểu, phù hộ, chứng giám cho lòng chân thành vì nghĩa của mình, nhất trí với mình trong hành động phi thường này Đây chính là nền tảng để Tử Văn thấy

mình có sức mạnh và vững tâm hơn khi đối diện với địch thủ “Trong khi sốt,

chàng thấy một người khôi ngô dõng dạc, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng, quần áo rất giống như người Tàu, tự xưng là cư sĩ đến đòi làm trả lại tòa đền như cũ” Viên Bách Hộ họ Thôi lại trách mắng Tử Văn bằng nguyên lý đạo

Nho: “Nhà ngươi theo nghiệp Nho, đọc sách vở của thánh hiền, há lại không

biết cái đức của quỷ thần ra sao, cớ gì dám lăng miệt hủy tượng đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi hiển hiện Vậy bảo làm sao bây giờ?” Nghĩa là hắn coi mình tiêu biểu cho đạo

Nho, do đó đối với các bậc thần thánh thì phải được tôn kính mà tránh xa,

Trang 36

chứ đâu có như Tử Văn Buộc tội như vậy xong, viên Bách Hộ họ Thôi mới bắt dựng trả tòa đền như cũ, nếu không thì khó lòng tránh khỏi tai vạ Vậy là tên giặc thì diễn biến đủ mặt, ra oai thị uy mà Tử Văn thì vẫn không hề biến

chuyển: “mặc kệ, cứ ngồi ngất ngưởng, tự nhiên” Tình thế tiếp tục ngày càng

nguy hiểm cho Tử Văn Một diễn biến mới, Tử Văn lên cơn sốt li bì, bị quỷ

sứ bắt đi rất gấp Tử Văn bị lôi đi hết cửa này đến cửa khác Mỗi cửa còn xua đuổi, còn vu cáo, đe dọa, uy hiếp, sỉ nhục Phải chăng là để uy hiếp tinh thần,

bẻ gãy bản lĩnh cương trực của Tử Văn Đến nổi Tử Văn phải la lên: “Ngô

Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội gì xin bảo cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng” Tử Văn bị giải vào điện Diêm Vương

Theo nguyên tắc, Diêm Vương sẽ hoàn tất việc bảo vệ tên tướng kia và lên án

Tử Văn một cách lạnh lùng, quyết liệt: “Kẻ kia là một người cư sĩ, trung

thuần khích liệt, có công với tiền triều, nên Hoàng Thiên cho được huyết thực

ở một tòa đền để đền công khó nhọc Mày là một kẻ hàn sĩ, sao dám hỗn láo! Tội nghiệp tự mình làm ra, còn trốn đi đằng nào?” Ban đầu, trong mắt của

Diêm Vương, viên Bách Hộ được đề cao còn Tử Văn lại bị xem thường Hắn

là cư sĩ, lo cho nước cho dân, hắn có công với triều đại trước, cái miếu ấy là phần thưởng cho hắn Còn Tử Văn chỉ là một tên học trò mạt, chỉ là một đứa hỗn láo, đốt miếu là tự mình gây tội Tử Văn bị đẩy tới chân tường Trước cảnh huống này, Tử Văn không thể giữ mình im lặng, không thể tâm tình, thông cảm hay cởi mở thân mật được Giờ quyết định đã điểm Phải chiến đấu Từ tình thế bất lợi nhất, từ chỗ thấp mọn nhất, Tử Văn trở lại bản lĩnh cương trực, nghĩa khí không dung kẻ gian tà Tử Văn đưa ra đòn phán quyết

với tên giặc bằng việc sử dụng bảo bối thổ thần cho: “Tử Văn bèn tâu trình

đầu đuôi như lời ông già đã nói, lời rất cương chính, không chịu chùn nhụt chút nào … Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin đưa giấy đến đền Tản Viên để hỏi thực hư; không có sự thực như thế, tôi xin chịu thêm cái tội nói càn”

Trang 37

Trước những lời lẽ cứng cỏi của Tử Văn, Diêm Vương phải cho đi điều tra Đến đây, người bị cáo trở thành người tố cáo Kẻ vu cáo đành câm miệng trở thành tội nhân Bao nhiêu oan khuất trong sự tình bắt đầu được cởi mở Cuộc xung đột đi đến hồi kết, việc phán xử nhanh gọn, đơn giản Kết quả thỏa mãn mọi tấm lòng Thổ thần được khôi phục miếu cũ Tử Văn được sống lại và ân hưởng một phần lễ thờ tự của thổ thần Còn tên giặc kia bị trừng phạt thích đáng Trải qua bao nhiêu gian khổ, cuối cùng tính cương trực, lòng dũng cảm của Tử Văn đã chiến thắng “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ca ngợi khí phách và lòng yêu nước của chàng Nho sinh Ngô Tử Văn trong việc truy nã vong hồn tên tướng giặc Minh Câu chuyện đậm chất kỳ ảo đã thể hiện tinh thần yêu nước quật cường của kẻ sĩ đất Việt ngay cả trước quỷ thần” [47, tr 212]

Phạm Tử Hư trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào được tác giả giới thiệu: “là một người tuấn sảng hào mại, không sợ kiểm thúc Theo

học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tan đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ Một buổi sớm trong ánh sương mù, Tử Hư thấy có một đám kiệu ngọc bay lên trên không Tử Hư nhìn trộm thì thấy người ngồi trong xe chính thầy học mình là Dương Trạm Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói: Giữa đường không phải chỗ để nói chuyện; tối mai nên đến đền Trấn Vũ ở cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên một hôm” Trong cuộc hội ngộ, biết Dương

Trạm hiện được giữ việc trông coi văn chương thi cử, khoa danh cao thấp của học trò trong thiên hạ Tử Hư mừng hỏi về tiền trình của mình Dương Trạm

đã cho Tử Hư biết: “Cứ như văn chương tài nghệ của anh, đương đời này

không ai bì kịp, huống anh lại còn có tính trung hậu, nết thành thực Chỉ phải cái hồi còn niên thiếu, anh thường lấy văn tài mà kiêu ngạo với người khác,

Trang 38

cho nên trời mới bắt phải đỗ muộn để phải chùn nhụt cái nết ngông ngáo đi… Cho nên xưa nay người ta bàn về kẻ sĩ, tất xét đến đức hạnh là vì thế ” Khẳng

định cái tài của Tử Hư hiện tại không ai sánh bằng Thế nhưng vì sự kiêu ngạo ở thời tuổi trẻ, Đức Đế quân còn thử thách để bớt cái tính ngông ngáo

Từ đó, câu chuyện của hai thầy trò chuyển sang bàn luận về nhân quả báo ứng

luân hồi Trạm cho rằng: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu Lưới

trời thênh thang, thưa nhưng chẳng lọt Chỉ có thời gian chưa đến mà thôi Nay ta bảo rõ anh nghe: trong khoảng trời đất báo ứng luân hồi, chỉ có hai loài thiện ác Người chăm làm thiện, tuy hãy còn sống, tên đã ghi ở Đế đình, người hay làm ác, không đợi đến chết, án đã thành ở địa phủ” Rồi khuyên

Tử Hư nên cố gắng, đừng gieo cái nghiệp báo ở kiếp này Nói có sách, mách

có chứng, Dương Trạm không chỉ kể cho Tử Hư nghe những thú vui ở trên Thiên tào hơn ở cõi trần nhiều lắm mà còn cho Tử Hư theo xe bay lên trời tận mắt chứng kiến cuộc sống tiên cảnh Qua nhân vật Tử Hư, Nguyễn Dữ đã ca ngợi những người học trò ăn ở trung hậu với thầy Đó là những bài học làm người tốt đẹp, sống có nhân có nghĩa nhất định sẽ được hưởng phúc

Dư Nhuận Chi trong Chuyện nàng Túy Tiêu, là người nổi tiếng hay thơ,

nhất là về những bài hát, lại càng nức danh ở Kinh kỳ, mỗi bài làm ra, phường hát bội đem tiền tặng biếu rất hậu để xin lấy Vì thế, Dư càng nổi tiếng ở chốn tao đàn Trong một lần có việc vào yết kiến quan Trấn soái Lạng Giang là Nguyễn Trung Ngạn, Dư được ông Nguyễn đặt tiệc thết đãi, lại được tặng cho con hát là nàng Túy Tiêu Túy Tiêu là người con gái rất xinh đẹp, cũng là một người phong lưu lại có khiếu thông tuệ Năm Mậu Tuất (1358), nhân gặp khoa thi, sinh sắm sửa hành trang lên Kinh, không nỡ rời xa Túy Tiêu, bèn đem theo cả nàng đi cùng Gặp ngày mồng một đầu năm, Túy Tiêu đi lễ chùa cùng mấy bạn Bấy giờ có quan Trụ quốc họ Thân ngầm đi dạo phố, trông thấy Túy Tiêu đẹp, bắt cướp đem về làm của mình Sinh đơn kiện tận triều

Trang 39

đình, nhưng vì họ Thân uy thế rất lớn, các tòa các sở đều tránh kẻ quyền hào, không dám xét xử Từ đó, sinh đau buồn, bèn chẳng thiết gì thi cử nữa Sau nhờ sự giúp đỡ của người đầy tớ già, chàng đã giải cứu được Túy tiêu Vì sợ Trụ quốc biết, đuổi theo bắt nên hai người bí mật đưa nhau xuống hạt Thiên Trường ở nhà một người bạn họ Hà Khi Trụ quốc vì cớ xa xỉ mà phải tội, Sinh mới về Kinh thi và đỗ tiến sĩ Từ đó, vợ chồng ăn ở với nhau hạnh phúc đến già

Với chàng nho sinh Dư Nhuận Chi trong Truyện nàng Túy Tiêu,

Nguyễn Dữ đã miêu tả mối tình thủy chung giữa Nhuận Chi và Túy Tiêu Đó

là mối tình giữa trai tài gái sắc, giữa những người tri âm tri kỉ với nhau Một tình yêu tự do, tự nguyện của đôi trai gái Mặc dù Nguyễn Dữ vẫn đứng trên quan điểm đạo Nho của lễ giáo phong kiến khắt khe xếp Túy Tiêu vào phường ca xướng, chẳng phải là người phụ nữ chính chuyên, vậy mà Nhuận

Chi đã: “khinh sự đi sự đến, nhẫn nhục tới ở với người, sờ đầu cọp, vuốt râu

cọp, suýt nữa thì không thoát miệng cọp” Để rồi đi đến kết luận: “Như chàng Nhuận Chi, thực là một người ngu vậy” Thế nhưng cái kết của câu chuyện lại

cho thấy Nguyễn Dữ đã dành tình cảm đặc biệt cho mối tình đó Không những thế, khi quan Trụ quốc bị trừng phạt về tội xa xỉ thì cũng chính là lúc Nhuận Chi được chắp cánh cho tài năng của mình: thi đỗ tiến sĩ Vì thế, trải qua bao thử thách, sóng gió, cuối cùng Nhuận Chi và nàng Túy Tiêu cũng được hạnh phúc lâu bền bên nhau

Nho sinh Phật Sinh trong Truyện Lệ Nương được miêu tả gắn liền với

mối tình đẹp cùng với Lệ Nương Họ yêu nhau say đắm, thường cùng nhau xướng họa thơ từ Tuy cưới xin chưa định nhưng hai tình gắn bó, chẳng khác chi vợ chồng Khi xảy ra vụ Trần Khát Chân sát hại Hồ Quý Ly không thành,

Lệ Nương là thân tộc của họ Trần nên cũng bị Quý Ly bắt Sinh đau thương

Trang 40

bỏ cả ăn ngủ Mặc dù trước khi đi, Lệ Nương có gửi thư từ biệt với Phật Sinh, thế nhưng chàng vì nặng tình với nàng nên vẫn chưa nỡ lấy ai

Đến khi giặc Minh xâm lược, nghe tin tướng giặc Lã Nghị bắt cướp mấy trăm phụ nữ, trong đó có Lệ Nương, Sinh bèn theo Giản Định, muốn nhờ thế quân vua đánh úp, cướp lại Lệ Nương Chàng đến trước trại quân dâng một bài sách kể tội giặc và đề ra phương kế bình Ngô, mong đuổi theo giặc nước, giải thoát cho người yêu Từ khi hướng theo cờ nghĩa, chàng lập được nhiều công nhưng không tìm được Lệ Nương Về sau, tình cờ chàng được biết

rằng khi Lệ Nương bị bắt, đã quyết không làm “cái cô hồn ở bên đất Bắc” và

đã quyên sinh cùng mấy bạn, mộ được an táng bên rừng Phật Sinnh đau đớn đến bên mộ người yêu, cải táng cho nàng và hai người đàn bà cùng số phận

Từ đó, chàng ở vậy nuôi chí căm thù Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa thì đem quân ra giúp, báo nợ nước, trả thù nhà Đó là một mối tình bi tráng, xúc động,

để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc

Tác giả đã theo dõi một cách có thiện cảm về nhân vật trong truyện, khi đất nước đầy bóng giặc Ngay trong lời bình vốn dĩ rất khắt khe, Nguyễn Dữ

cũng không giấu được cảm tình với cuộc tình duyên lỡ dở đó: “vì mối tình,

giữ bền ước cũ, lưu ly hoạn nạn, vốn chẳng quên lời, tình thật đáng thương”

Nhưng theo tác giả, đó cũng chỉ là mối tình đáng thương thôi, chứ về “lẽ phải

thì chưa được ổn” Bởi vì, như tác giả lý giải: “Cảm tình mà đi tìm thì nên, liều chết mà đi tìm thì không nên, huống hồ lại thôi lấy vợ, để dứt dòng giống của tiền nhân phỏng có nên không?” Qua đó cho thấy “Quan điểm bảo thủ

trong lý lẽ mâu thuẫn với ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật Mâu thuẫn này phản ánh trong tư tưởng và tình cảm của tác giả Và mâu thuẫn trong tư tưởng và tình cảm tức là trong thế giới quan của Nguyễn Dữ đã phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp nho sĩ” [21, tr 520]

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (2017), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2017
[2] Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (1999), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[4] Nguyễn Dữ (1998), Truyền kỳ mạn lục, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguyễn Dữ
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1998
[5] Nguyễn Dữ (1999), Truyền kỳ mạn lục, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguyễn Dữ
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1999
[6] Nguyễn Dữ (2018), Truyền kỳ mạn lục (Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguyễn Dữ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2018
[7] Biện Minh Điền (2015), Loại hình văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2015
[8] Lê Quý Đôn (1994), Kiến văn tiểu lục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
[9] Dương Quảng Hàm (1996), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1996
[10] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[11] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên, 2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Nhà XB: Nxb Thế giới
[12] Phan Thị Thu Hiền (chủ biên, 2017), Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á, Nxb Văn hóa - văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện tình ma nữ trong truyền kỳ Đông Á
Nhà XB: Nxb Văn hóa - văn nghệ
[13] Nguyễn Phạm Hùng (2003) “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”, sách Văn học trung đại những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”, sách "Văn học trung đại những công trình nghiên cứu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[14] Nguyễn Phạm Hùng (2006), “Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 1, tr.123-134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2006
[15] Nguyễn Phạm Hùng (2011), Văn học cổ Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cổ Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
[16] Phạm Văn Hưng (2016), Tự sự của trinh tiết: nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thể kỉ X – XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự của trinh tiết: nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại thể kỉ X – XIX
Tác giả: Phạm Văn Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
[17] Cù Hựu, Nguyễn Dữ (1999), Tiễn Đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn Đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Cù Hựu, Nguyễn Dữ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
[18] Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
[19] Trần Trọng Kim (2012), Nho giáo, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2012
[20] Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1998), Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[21] Đinh Gia Khánh (chủ biên, 2000), Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII)
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w