Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu “Nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ” nhằm mục đích đánh giá một cách đúng đắn vị trí của tác giả và tác phẩmtrong nền văn học trun
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TÍNH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Tính, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm HàNội 2 đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ văn, đặc biệt là cácthầy, cô giáo trong Tổ Văn học Việt Nam đã cung cấp kiến thức khoa học vàtạo điều kiện để tôi có thể thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các luận điểm và kết quả nghiên cứu được nêu trong khóa luận chưa từngđược công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào Nếu sai, tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấnđề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu 5
5 Phương pháp nghiêncứu 5
6 Đóng góp của đềtài 5
7 Bố cục của khóaluận 5
NỘI DUNG 6 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Nguyễn Dữ và Truyền kì mạn
lục 6
1.1.1 Tác giả Nguyễn Dữ 61.1.2 Tác phẩm “Truyền kì mạn lục” 6
1.2 Khái niệm nhân vật bình phàm 81.2.1 Khái niệm nhân vật 81.2.2 Khái niệm nhân vật bình phàm 10
Chương 2 NHẬN DIỆN NHÂN VẬT BÌNH PHÀM TRONG TRUYỀN
KÌ MẠN LỤC
122.1 Thống kê nhân vật bìnhphàm 12
2.2 Phân loại nhân vật bình
Trang 62.3 Các đặc điểm của nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn
lục 15
2.3.1 Địa vị xã hội của nhân vật bình phàm 15
2.3.2 Tư tưởng, lối sống của nhân vật bình phàm 16
2.3.3 Số phận của nhân vật bình phàm 25
Trang 7Chương 3 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT
BÌNH PHÀM TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC 31
3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 31
3.2 Các motip phổ biến 34
3.3 Không gian và thời gian nghệ thuật thể hiện nhân vật bình phàm 40
KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 81 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 9Nguyễn Dữ chỉ để lại một tác phẩm duy nhất là Truyền kì mạn lục.
Chỉ với tác phẩm này, Nguyễn Dữ đã đưa thể loại truyền kì lên một tầm caomới Tác phẩm đã chứa đựng nội dung tư tưởng sâu sắc, hình thức thể hiệnđộc đáo, có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Nguyễn Dữ chính
là “cha đẻ của loại hình truyền kì Việt Nam” [12, 213] Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu “Nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ”
nhằm mục đích đánh giá một cách đúng đắn vị trí của tác giả và tác phẩmtrong nền văn học trung đại Việt Nam
Một số tác phẩm trong Truyền kì mạn lục được đưa vào sách giáo khoa,
giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông cho thấy vị trí của
Nguyễn Dữ đối với văn học dân tộc Đó là Chuyện người con gái Nam Xương trong chương trình Ngữ văn lớp 9 và Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
trong chương trình Ngữ văn lớp 10 Hơn nữa, nhân vật bình phàm là cầu nốigiữa văn học trung đại và văn học hiện đại Sau khi học xong phần văn họctrung đại, học sinh được tiếp xúc với các tác phẩm văn học hiện đại có các
nhân vật bình phàm Việc tìm hiểu “Nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn
lục của Nguyễn Dữ” sẽ giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa nhân vật
bình phàm trong văn học trung đại và văn học hiện đại, đồng thời tìm ra điểmkhác biệt, nét riêng của từng bộ phận văn học trong dòng chảy chung của vănhọc nước
nhà
Nhân vật bình phàm là một trong những phương tiện quan trọng tạo
nên sức hấp dẫn, thành công của tác phẩm Truyền kì mạn lục Tuy nhiên, giới
nghiên cứu lại chưa quan tâm tới vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc Vìvậy, với việc tiếp thu, kế thừa các công trình nghiên cứu và thành tựu đitrước,
Trang 10tôi sẽ cố gắng trình bày những suy nghĩ, ý kiến của mình một cách hệ thống,
cụ thể hơn về nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
2 Lịch sử vấn đề
Truyền kì mạn lục là tác phẩm đỉnh cao trong văn học truyền kì trung
đại Việt Nam Từ khi ra đời cho đến nay, tác phẩm đã làm hao tổn biết baotâm trí, giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đó là các tác giả:
Lê Qúy Đôn, Phan Huy Chú, Vũ Khâm Lân, Bùi Văn Nguyên, Đinh GiaKhánh, Bùi Duy Tân, Phạm Hùng…
Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam tập II, Bùi Văn Nguyên đã có những nhận xét tổng quát về nội dung, nghệ thuật của Truyền kì mạn lục
“Truyền kì mạn lục là một tập văn hay, cái hay ở đây không riêng về nội dung phong phú, chi tiết sinh động, nhưng cái hay ở đây còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, phân tích tâm lí, phô diễn ngôn ngữ” [13, 131].
Trong Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Đỗ Thị Mỹ Dung có bài viết “Cái chết oan và bi kịch của người phụ nữ trong
“Truyền kỳ mạn lục” Tác giả cho rằng: “Trong văn học trung đại Việt Nam,
có thể nói Nguyễn Dữ là người đầu tiên đề cập đến cái chết mang màu sắc oan khuất của người phụ nữ Và cũng có thể nói, ông là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề thân phận người phụ nữ - những khao khát bị chà đạp, những nỗi đau khổ, bất hạnh, những bế tắc, mở đầu cho trào lưu văn học viết về người phụ nữ giai đoạn thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX” [3, 49].
Các nhà nghiên cứu Việt Nam còn có những bài viết nói về mối quan hệ
ảnh hưởng giữa Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) với Tiễn đăng tân thoại (Cù
Hựu) Trong “So sánh văn học và văn hóa - Nguyễn Dữ và tiên thoại Trung
Quốc qua truyện Từ Thức lấy vợ tiên”, Trần Đình Sử có viết: “Truyện Từ
Thức chịu ảnh hưởng của Cù Hựu chỉ một phần nhỏ, phần lớn chịu ảnh hưởng của tiên thoại, truyền kì Trung Quốc và chịu tác động của thực tại Việt Nam Chỉ
Trang 11khi nào so sánh văn học cổ Việt Nam trong bối cảnh văn hóa, văn học rộng lớn thì mới nhìn rõ mối quan hệ ảnh hưởng và sáng tạo của nó Nhà văn cổ điển Việt Nam, dù vay mượn của ai, cái gì, thì trên thực tế họ chịu ảnh hưởng của cả nền văn học, văn hóa Trung Quốc” [19, 26].
Nhân vật trong tác phẩm Truyền kì mạn lục cũng được các tác giả
nghiên cứu và tìm hiểu Tuy nhiên, giới nghiên cứu tập trung chủ yếu vào
kiểu nhân vật kì ảo, nhân vật đạo sĩ và dật sĩ Trong Tạp chí khoa học, Trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 14, số 8/2017, tác giả Lê VănTấn và Kim Ki Hyun đã có bài viết “Kiểu nhân vật đạo sĩ và dật sĩ trong
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ” Tác giả cho rằng: “Bằng việc khảo sát, phân tích và luận giải, có thể khẳng định sự thành công của Nguyễn Dữ trên phương diện xây dựng các loại hình nhân vật nói chung, loại hình nhân vật đạo sĩ và dật sĩ nói riêng trong tập truyện Từ tư thế của một nhà nho ẩn dật, với lợi thế thể loại, Nguyễn Dữ đã khá tự do, phóng túng trong việc tạo cho hai kiểu nhân vật này những màu sắc kì ảo song vẫn có những hạt nhân gắn
bó chặt chẽ với hiện thực” [20, 36].
Giáo sư Nguyễn Đăng Na cho rằng: “Với “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn
Dữ đã vượt khỏi những công thức ước lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ
là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực…” [11, 32].
Tác giả Trần Thị Thu Hiền trong Tạp chí Khoa học, số 5, 2010, Đại học
Sư phạm Hà Nội có nghiên cứu “Oan và giải oan trong Truyện nghiệp oan
của Đào thị”: “Có thể nói, với truyện Nghiệp oan của Đào thị, Nguyễn Dữ đã tái hiện bức tranh toàn cảnh về xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ Thần quyền không còn là nơi trông cậy, ngược lại là nơi gieo tai họa cho con người Cường quyền và dư luận có thể vùi dập, dồn đuổi con người đến đường cùng.
Trang 12Sống giữa xã hội ấy, số phận con người nói chung và người phụ nữ nói riêng đều hết sức bấp bênh, bất hạnh Đào Thị tài hoa và nhan sắc nhưng lại khổ vì chính tài hoa và nhan sắc đó Cả cuộc đời Đào Thị là sự bị truy đuổi, tiêu diệt
và trừng trị” [6, 76].
Đặc biệt, tác giả Trần Nho Thìn đã có một bài viết quan trọng mang tính
định hướng cho việc tìm hiểu nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục Đó
là bài viết “Thi pháp truyện ngắn văn học trung đại Việt Nam” Tác giả đã
phân tích “thi pháp của loại truyện về các thánh nhân quân tử” và “thi pháp
của loại truyện về các nhân vật bình phàm”: “Các danh nhân thực ra là thể hiện mẫu hình nhân vật lí tưởng, mẫu người thánh nhân còn các nhân vật trần thế là thể hiện mẫu người tự nhiên, người bình phàm Ứng xử của các hình mẫu này đối với xã hội, tự nhiên và bản thân là khác nhau và các yếu tố thi pháp miêu tả chúng cũng khác nhau” [22].
Tóm lại, tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đã có nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: nội dung,quan điểm nghệ thuật về con người, nhân vật, khuynh hướng sáng tác… Tuynhiên, một số bài viết còn bỏ ngỏ cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo
Dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo được nêu ở trên, tôi xin đi sâu
vào tìm hiểu nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ và
phương thức nghệ thuật thể hiện nhân vật bình phàm trong tác phẩm Qua đó,tác giả khóa luận muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc khẳng định sự thànhcông của Nguyễn Dữ trong xây dựng hình tượng nhân vật
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ” nhằm mục đích thống kê, phân tích kiểu nhân vật chính trong
Truyền kì mạn lục Từ đó, thấy được nội dung, tư tưởng của tác phẩm và sự
đóng góp to lớn của Nguyễn Dữ vào sự phát triển của văn học dân tộc
Trang 13Đồng thời, bản thân tác giả muốn trau dồi kiến thức phục vụ cho việcgiảng dạy và nghiên cứu sau này.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- 20 truyện trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ được in trong cuốn
Cù Hựu, Tiễn đăng tân thoại; Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, Nhà xuất bản
Văn học, năm 1999
- Khi triển khai đề tài, tác giả luận văn có so sánh, đối chiếu với một số
tác phẩm truyền kì trước và sau Truyền kì mạn lục.
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào mục đích và yêu cầu của đề tài này, tôi xin sử dụng một sốphương pháp sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Đóng góp của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu một cách tập trung về nhân vật bình phàm
trong tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Qua đó, ta thấy được
những đóng góp to lớn của Nguyễn Dữ đối với sự phát triển của văn học ViệtNam
7 Bố cục của khóa luận
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nhận diện nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục
Chương 3 Phương thức nghệ thuật thể hiện nhân vật bình phàm trong Truyền
kì mạn lục
Trang 14NỘI DUNGChương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Nguyễn Dữ và Truyền kì mạn lục
1.1.1 Tác giả Nguyễn Dữ
Những tài liệu ghi chép về tác giả Nguyễn Dữ hiện còn rất sơ lược.Nguyễn Dữ hiện chưa rõ năm sinh, năm mất Ông quê ở xã Đường Lâm,huyện Gia Phúc, thuộc Hồng Châu xưa (nay là huyện Thanh Miện, tỉnh HảiDương) Nguyễn Dữ là con trai cả của Nguyễn Tường Phiêu, tiến sĩ khoa BínhThìn, niên hiêu Hồng Đức năm thứ 27 (1486), được trao chức Thừa chánh sứ,sau khi mất được tặng phong Thượng thư Từ đó có thể suy đoán, Nguyễn Dữ
có khả năng sống vào cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI
Từ nhỏ, Nguyễn Dữ đã chăm học, đọc rộng nhớ nhiều, từng ôm ấp lítưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Có thể Nguyễn Dữ đã từng theo học
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) Bởi theo Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề),
Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm Sau khi đỗ hương tiến,Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần và từng giữ chức tri huyện Thanh Tuyền.Nguyễn Dữ ra làm quan được một năm thì cáo quan, lấy lí do phụng dưỡng
mẹ già cho tròn đạo hiếu, từ đó ông không bước đến thị thành
Dù về ẩn dật nhưng Nguyễn Dữ không từ bỏ hoài bão giúp đời Nguyễn
Dữ đã viết Truyền kì mạn lục để kí thác những tâm sự của mình, bày tỏ thái độ trước hiện thực xã hội đương thời Qua tác phẩm Truyền kì mạn lục, cho thấy
ông là một người ưu thời mẫn thế, có tinh thần dân tộc và tư tưởng thân dânsâu sắc
1.1.2 Tác phẩm “Truyền kì mạn lục”
Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện chia thành 4 tập, mỗi tập 5 truyện.
Nguyễn Dữ viết Truyền kì mạn lục bằng văn xuôi và xen lẫn một số văn biền
Trang 15ngẫu, thơ ca Nguyễn Dữ và những người có cùng chí hướng với ông đã viếtnhững lời bình luận ở cuối các truyện Ngoài truyện số 19 (Cuộc nói chuyệnthơ ở Kim Thoa), các truyện khác đều có lời bình Những lời bình trong
Truyền kì mạn lục không bàn về hình thức nghệ thuật mà chủ yếu là bàn về
giá trị nội dung, ý nghĩa của truyện
Khi đặt tên nhan đề tác phẩm Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ mong
muốn biểu lộ thái độ khiêm tốn và nghiêm túc của người cầm bút Song, cũng
bởi nhan đề Truyền kì mạn lục mà đã gây ra khá nhiều tranh cãi về tên tác
phẩm
này
“Mạn lục” là một thể loại sáng tác văn học xuất hiện ở Trung Quốc khá
sớm [14, 210] Nhưng khi du nhập vào Việt Nam, hai chữ “mạn lục” đã bị hiểu lạc đi so với nghĩa gốc của nó Điều đó dẫn đến cách giải thích sai “sao
chép tản mạn các truyện lạ” [21, 202], về sau mới được giải thích lại là “ghi chép tản mạn các truyện truyền kì” [15, 1124] Trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Đăng Na đã nêu ra: “Các cách giải thích chữ
“mạn lục” là ghi chép “tản mạn” có hai điều bất ổn Thứ nhất, “Truyền kì mạn lục” là tác phẩm văn học thuộc loại hình truyện ngắn trung đại Do đó, không thể coi tác phẩm là “ghi chép” Thứ hai, tác phẩm của Nguyễn Dữ không hề tản mạn, dù hai chữ “tản mạn” được dùng theo kiểu tu từ nói khiêm Thực ra, “mạn” là tùy ý, không câu thúc Bởi vậy, trong Hán ngữ có hàng loạt từ chỉ thể loại tác phẩm có thành tố “mạn” như: mạn họa, mạn thư, mạn bút, mạn tả…và tất cả chúng đều dùng để chỉ loại tác phẩm” [11, 212].
Xét về chữ “truyền kì”, bản thân nó là một thể tài của truyện ngắn trung
đại, tức là trong truyện ngắn đó có các yếu tố: nhân vật, tình tiết, kết cấu…là
những yếu tố lạ kì Trong cụm từ “Truyền kì mạn lục”, từ “truyền kì” giữ vai trò làm định ngữ, nó “chỉ tính chất của thể “mạn lục”, đó là một thể tự sự viết
tự do, tùy hứng theo ý đồ sáng tác của tác giả, không bị câu thúc bởi bất cứ lí
do gì cả” [11, 212].
Trang 16Nhan đề Truyền kì mạn lục đã nêu ra được mục đích sáng tác của
Nguyễn Dữ Ông muốn phân bua với độc giả rằng: trước tác của mình khôngphải là cuốn sách có tính chất trang nghiêm như liệt truyện, và cho đây là thứ
“ngoại thư” bao gồm những truyện lạ “truyền kì” vẫn được lưu truyền Công
việc của Nguyễn Dữ là ghi chép lại một cách rộng rãi “mạn lục” những sự
việc ấy
Để phục vụ mục đích sáng tác của mình, Nguyễn Dữ sử dụng yếu tố “lạ
- kì ảo” Ông đã mượn chuyện ma quái để nói việc thực, dựa vào tích cũ để
viết nên những truyện mới Tác phẩm tuy có vẻ “truyền kì” xảy ra từ nhiều
năm về trước, nhưng thực chất tác giả muốn phản ánh những hiện thực của xãhội đương thời Nguyễn Dữ đã lấy chuyện xưa để nói về chuyện ngày nay.Qua tác phẩm văn học của mình, nhà văn bộc lộ quan điểm về những vấn đềlớn của con người, xã hội Tác phẩm đã tái hiện bức tranh cuộc sống conngười với những số phận riêng ở thế giới trần gian, tiên cảnh và âm phủ Bên
cạnh đó, Truyền kì mạn lục còn thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi của
những kiếp
người bé nhỏ trong xã hội Nguyễn Dữ đã lên án mạnh mẽ tầng lớp vua quannhũng nhiễu nhân dân, làm cho nhân dân cơ cực
Bằng ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công giữa
hai yếu tố “thực” và “kì” Nhà văn sử dụng yếu tố “thực” như một chất liệu
nghệ thuật, giúp tác giả phản ánh hiện thực sâu sắc và toàn diện hơn Bên cạnh
đó, Nguyễn Dữ thành công trong việc xây dựng nhân vật với hình tượng nhânvật có tính cách, khí phách và tính luận thuyết, làm cho các câu chuyện giàutính triết lí và quan điểm của tác giả được thể hiện sáng rõ Tài năng của ông
đã được bộc lộ khi ông khéo léo kết hợp sáng tạo ba lối văn: tản văn, biền văn,vận văn
1.2 Khái niệm nhân vật bình phàm
1.2.1 Khái niệm nhân vật
Trang 17Trong các tác phẩm thuộc thể loại tự sự, nhân vật có vai trò quan trọng
và không thể vắng mặt Nhân vật chính là một mắt xích quan trọng để nhà văn
Trang 18xâu chuỗi các biến cố, sự kiện, giúp nhà văn bày tỏ quan điểm, tư tưởng củamình Do đó, xây dựng hình tượng nhân vật trở thành một công việc quantrọng hàng đầu của người nghệ sĩ.
Đã có nhiều khái niệm khác nhau về nhân vật văn học Trong cuốn 150
thuật ngữ văn học có nêu khái niệm về nhân vật: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống con người” [1, 241].
Trong Từ điển thuật ngữ văn học (nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) định nghĩa nhân vật văn học là “con người cụ
thể được miêu tả trong tác phẩm văn học” [5, 235].
Tác giả Hà Minh Đức trong cuốn Lí luận văn học cho rằng “Nhân vật
trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải
là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…Và cần chú ý thêm một điều: thực ra, khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người” [4, 126].
Dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về nhân vật, nhưng các địnhnghĩa đều có một thống nhất chung: nhân vật là đối tượng mà văn học đề cập
và miêu tả Nhân vật có thể có tên riêng: Chí Phèo (Chí Phèo- Nam Cao); Chiến, Việt (Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi)…Nhân vật cũng có thể không có tên riêng: “viên quản ngục” (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân),
“thị” (Vợ
Trang 19nhặt - Kim Lân)…Nhân vật có thể là các sự vật, loài vật ít nhiều mang bóng
dáng, tính cách của con người: Dế Mèn (Dế Mèn phiêu lưu kì - Tô Hoài)
Khái niệm nhân vật văn học nhiều khi được sử dụng như một ẩn dụ Nhân vậtđôi khi không phải là con người, sự vật cụ thể, mà là một hiện tượng về conngười hoặc có liên quan đến con người, được tác giả thể hiện nổi bật trong tác
phẩm Đó là “nhân dân” trong Chiến tranh và hòa bình, “đồng tiền” trong
ƠgiêriGrăngđe của Banzac…
Hình tượng nhân vật được nhà văn sáng tạo đã thể hiện những nhậnthức của tác giả về một cá nhân, một loại người hay một vấn đề nào đó của xã
hội Chính vì vậy,“nhân vật là yếu tố quan trọng nhất trong tác phẩm văn
học, tiêu
điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng của chủ đề và đến lượt mình, nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật do
đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật tác phẩm văn học” [2, 186].
Nhân vật văn học được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới mỗigóc độ, nó được chia thành nhiều loại nhân vật
Xem xét dưới góc độ nội dung tư tưởng có nhân vật chính diện và nhânvật phản diện Ở góc độ kết cấu và cốt truyện: nhân vật chính, nhân vật phụ vànhân vật trung tâm
Như vậy, khi nghiên cứu và tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của tácphẩm nào đó, ta không thể bỏ qua yếu tố nhân vật Nhân vật là một công cụđắc lực giúp tác giả tái hiện hiện thực đời sống, thể hiện quan điểm, chínhkiến của mình về vấn đề được nêu ra Đồng thời, nhân vật văn học làm rútngắn khoảng cách giữa độc giả với tác giả
1.2.2 Khái niệm nhân vật bình phàm
Theo Từ điển Hán Việt:
“Bình: ngay thẳng, bằng phẳng không chênh lệch, bằng đều nhau” [10, 56].
“Phàm: tầm thường, cõi phàm, cõi tục” [10, 544].
Trang 20Bình phàm có nghĩa là bình thường, tầm thường, tầm phào Nhân vậtbình phàm là những con người tự nhiên, không bị tác giả lí tưởng hóa nhưnhân vật kiểu thánh nhân quân tử Ở họ có những nét tính cách và phẩm chấtgiống với con người bình thường trần tục Nhân vật bình phàm thường lànhững kẻ sĩ trong thiên hạ, những tay thương gia buôn bán, những người nôngdân…Bên cạnh đó, còn có khá nhiều các nhân vật lịch sử có thực ngoài đời,
họ có công lớn với đất nước và được lập đền thờ để thờ cúng Tuy nhiên,những nhân vật này được đặt trong mối tương quan với đời sống hàng ngày,được nhà văn miêu tả bằng những yếu tố thi pháp riêng khác xa so với cácnhân vật thánh nhân quân tử
Trang 21Chương 2 NHẬN DIỆN NHÂN VẬT BÌNH PHÀM
Trang 22Thần Thuồng
*Luồng
- Nhân vật bình phàm chiếm số lượng lớn, chủ yếu trong tác phẩm
Truyền kì mạn lục chỉ có một số rất ít là nhân vật thánh nhân, quân tử, kẻ sĩ
thuần túy đức cao vọng trọng, không có những khía cạnh trần tục, đời thường
Trang 23- Nguyễn Dữ đã đưa thể loại truyền kì gần hơn với cuộc sống và những
con người bình thường dung dị Con người trong Truyền kì mạn lục được nhà
văn khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, với những khátkhao rất đỗi bình thường mang tính con người Họ hiện lên với cái nhìn tổngthể, có trách nhiệm với đời, có những khát vọng được yêu thương và mongmuốn được thỏa mãn những nhu cầu bản năng của
2.2 Phân loại nhân vật bình phàm
Có nhiều cách để phân loại nhân vật bình phàm, trong khuôn khổ củakhóa luận, tác giả khóa luận đưa ra cách phân loại nhân vật bình phàm trong
Truyền kì mạn lục dựa vào tính chất của nhân vật bình phàm Ta có thể chia
nhân vật bình phàm thành hai loại:
Nhân vật là dân thường trong xã hội, tức là những nhân vật này là conngười của cuộc sống đời thường, mang những tư tưởng, lối sống, khát vọngtrần tục Đó là những người nông dân, lái buôn, ả ca kĩ, phụ nữ Ví dụ: trong
Chuyện cây gạo nhân vật Trình Trung Ngộ là một “lái buôn, biết ít chữ nghĩa”.
Nhân vật đấng bậc bị bình phàm hóa, được tác giả lí tưởng hóa nhưng
ít nhiều mang những nét phàm tục Loại nhân vật này được chia thành hai loại
nhỏ: Thứ nhất là nhân vật là vua, quan, kẻ sĩ bị bình phàm hóa Ví dụ: Chuyện
kì ngộ ở trại Tây có nhân vật Hà Nhân là kẻ sĩ nhưng “bút nghiên chí nản, son phấn tình nồng”.
Thứ hai là nhân vật là thần, tiên, Phật bị bình phàm hóa Chỉ có ba
truyện trong Truyền kì mạn lục xuất hiện kiểu nhân vật này Đó là truyện
Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên và Chuyện đối tụng ở Long cung.
Qua việc phân loại trên, ta đưa ra được nhân xét chung: nhân vật bình
phàm trong Truyền kì mạn lục đa dạng, phong phú Họ có địa vị xã hội, môi
trường sống khác nhau Nguyễn Dữ đã miêu tả nhân vật bình phàm ở cả bagiới: trần gian, tiên giới và long cung
Trang 242.3 Các đặc điểm của nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục
2.3.1 Địa vị xã hội của nhân vật bình phàm
Địa vị xã hội là vị trí và thứ bậc của một người nào đó trong xã hội Địa
vị xã hội có thể do sự cố gắng của bản thân mà đạt được, cũng có thể nó đượcgán cho dựa vào giới tính, tuổi tác, chủng tộc…
Mỗi truyện trong Truyền kì mạn lục lại đề cập tới các nhân vật bình
phàm
có địa vị xã hội khác nhau
Nhân vật bình phàm là quan lại, họ có quyền thế trong xã hội Đó là cáctruyện:
- Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
- Chuyện yêu quái ở Xương Giang
- Chuyện Lý tướng quân
Có 3/12 truyện nhân vật bình phàm là tầng lớp quan lại trong xã hội.Điều đó cho thấy, giai cấp quan lại được Nguyễn Dữ quan tâm và miêu tả vớinhững nét đời thường Tác giả không để nhân vật trong tác phẩm lí tưởngtheo hình mẫu của Nho giáo, mà họ hiện lên với những nét trần tục nhất: ănuống, khát vọng nhục dục…
Tầng lớp trí thức, nho sĩ xuất hiện khá khiêm tốn trong tác phẩm:
- Chuyện kì ngộ ở trại Tây
- Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào
- Chuyện nàng Thúy Tiêu
Trong Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào, Phạm Tử Hư là một học
trò của xử sĩ Dương Trạm Chàng là một người học trò biết lễ nghĩa, khi thầy
Dương Trạm mất “đã làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về”.
Chàng miệt mài với đèn sách, tới năm 40 tuổi vẫn đi thi, cuối cùng cũng đỗ
được tiến sĩ Trong Chuyện nàng Thúy Tiêu, nhà văn Nguyễn Dữ cũng miêu tả
nhân vật nho sinh Dư Nhuận Chi Nhờ vào những bài thơ và những bài hát hay
Trang 25mà tiếng tăm của chàng nức danh cả kinh kì Trải qua bao sóng gió, Dư NhuậnChi cũng đã về Kinh và thi đỗ tiến sĩ.
Bên cạnh tầng lớp quan lại, nho sinh, Nguyễn Dữ còn đề cập tới tầng lớp
dưới của xã hội Đó là người lái buôn Trình Trung Ngộ trong Chuyện cây gạo,
ả ca kĩ Đào Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị.
Nhận xét: Truyền kì mạn lục là tác phẩm chủ yếu đề cập tới các nhân
vật có địa vị xã hội thấp, ông đã dành sự quan tâm không nhỏ tới những conngười thấp bé trong xã hội đương thời
2.3.2 Tư tưởng, lối sống của nhân vật bình phàm
Tư tưởng là tất cả những gì chúng ta suy nghĩ, định hướng, phân tích,đánh giá, kết luận…thành ý trong đầu chúng ta
Lối sống là những nét điển hình mà con người thường xuyên lặp lại
Sự lặp lại này định hình thành những phong cách và thói quen của cá nhân, xãhội hay dân tộc nào đó Lối sống được cấu thành bởi các yếu tố: phong tục tậpquán, ứng xử xã hội, cách thức sinh hoạt…
Thời trung đại, quan điểm của lễ giáo phong kiến chi phối tới tư tưởng
và lối sống của con người Nguyễn Dữ đã xây dựng hình tượng nhân vật bình
phàm trong Truyền kì mạn lục có tư tưởng, lối sống theo hai hướng: tuân thủ
lễ giáo phong kiến và vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến
2.3.2.1 Tư tưởng, lối sống theo quan điểm của lễ giáo phong kiến
Lễ giáo phong kiến có những yêu cầu hà khắc đối với phụ nữ Người
phụ nữ phải “tam tòng”, “tứ đức” “Tam tòng” bao gồm “tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” “Tứ đức” là bốn đức tính tốt của người phụ
Trang 26Người nghĩa phụ ở Khoái Châu Nàng hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của
Trang 27người phụ nữ, đặc biệt là tấm lòng thủy chung chờ chồng Nhị Khanh đã chờchồng sáu năm trời, mà trong sáu năm ấy, nàng đã phải trải qua biết bao khókhăn, vất vả Khi Lưu thị - bà cô của Nhị Khanh ép nàng lấy tướng quân họ
Bạch, nàng đã bộc bạch rằng “Ta sở dĩ nhịn nhục mà sống là vì nghĩ phu lang
hãy còn; nếu chàng không còn thì ta đã liều mình chứ quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp cho người khác” Điều đó cho thấy Nhị
Khanh là
người phụ nữ có lòng thủy chung son sắt với chồng
Ta bắt gặp nhân vật Vũ Thị Thiết trong Chuyện người con gái Nam, một
người có tình cảm chân thành, tha thiết với chồng con Khi chồng đi lính,nàng
đã ở nhà thay chồng chăm sóc mẹ già và con nhỏ Khi mẹ chồng qua đời, VũThị Thiết đã lo tang ma đầy đủ, làm trọn bổn phận của người dâu con Hình
ảnh “chiếc bóng” xuất hiện trong Chuyện người con gái Nam Xương nói lên
những tình cảm chân thành mà nàng dành cho Trương Sinh Vì nhớ chồng vàthương con mà nàng chỉ chiếc bóng in trên tường và nói rằng đó là “cha Đản”
Nhà văn Nguyễn Dữ đã rất tài tình khi viết về các nhân vật phụ nữ Ôngluôn đặt họ vào những hoàn cảnh, tình huống éo le để từ đó họ bộc lộ những
phẩm chất đáng quý Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương là một nhân vật như
thế Vì những xung đột nội chiến và nạn ngoại xâm mà nàng phải chịu cảnh vợchồng chia li Lệ Nương bị triều đình bắt giam, sau đó lại bị rơi vào tay giặcngoại bang, nhưng nàng vẫn giữ trọn phẩm tiết của mình Lệ Nương từng nóirằng:
Trang 28C h u n g
h ự u
n h ẫ n
cam tâm nhi hàng
lỗ”.
“Trước đã không vẹn tiết để theo chồng, Sau lại nỡ cam tâm mà hàng giặc”.
Trang 29Để bảo toàn danh tiết với chồng, Lệ Nương đã chọn giải pháp “thà chết
rấp ở ngòi lạch, gần gũi quê hương còn hơn là sang làm những cái cô hồn bên xứ Bắc” [8, 412].
Có thể thấy, những nhận vật trên biểu hiện những lối sống cao đẹp quacái khuôn trung, hiếu, tiết, nghĩa Qua đó, Nguyễn Dữ muốn thể hiện nhữngđòi hỏi của nhân dân về đạo lí làm người, truyền thống tốt đẹp của dân tộc baođời nay và mối quan hệ cần thiết phải xây dựng trong gia đình, xã hội
2.3.2.2 Tư tưởng, lối sống phi lễ giáo phong kiến
Tác phẩm Truyền kì mạn lục còn nêu ra những tư tưởng, lối sống phi lễ
giáo phong kiến của một số nhân vật bình phàm Đó là những tư tưởng, lốisống đi ngược lại với đạo lí, luân lí xã hội
Nếu lễ giáo phong kiến đề cao “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” của bậc quân
tử thì nhân vật Lý Hữu Chi trong Chuyện Lí tướng quân lại được Nguyễn Dữ
xây dựng với sự đối lập với quan điểm ấy Nhà văn đã nói về sự cơ hội củanhân vật Lí Hữu Chi:
“Người huyện Đông Thành là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận Quốc công Đặng Tất tiến cử cho Lý được làm chức tướng quân, sai cầm một cánh hương binh đi đánh trận” [8, 392].
Có thể thấy, thực chất Lý Hữu Chi không có tài cán gì, chỉ nhờ vào sứckhỏe, giỏi đánh trận mà được trọng dụng làm chức tướng quân Với quyền lựctrong tay, Lý Hữu Chi giết hại người khác, bóc lột tiền của của nhân dân
“Quyền đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thú, thích sắc đẹp ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vương, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho ruộng đất, đi kiếm những hoa đá lạ từ bên huyện khác đem về Người trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em
đi, chồng về
Trang 30thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng tay rách rất là khổ sở nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút động tâm” [8, 392] Lối sống của hắn không xứng đáng làm
một vị quan cầm cân nảy mực của xã hội Khi xuống âm phủ, tội ác của Lí
Hữu Chi đã được vạch rõ: “ghẹo vợ người, dâm con người”, “chiếm ruộng
đất của người, phá sản của người”, “phá mồ mả của người đời xưa, hủy đạo thường với người ruột thịt”.
Bên cạnh nhân vật quan lại, Nguyễn Dữ còn cho thấy những lối sốngđáng phê phán của nhân vật lái buôn Đó là nhân vật Trọng Qùy trong truyện
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu Trọng Qùy là người ham mê cờ bạc,
thâu đêm suốt sáng trong những canh bạc cùng Đỗ Tam - một lái buôn nhiềutiền Đỗ Tam vì thấy Nhị Khanh xinh đẹp nên muốn chiếm đoạt Bản chất xấu
xa của Đỗ Tam bộc lộ khi hắn chơi bạc cùng Trọng Qùy với âm mưu cướp vợ
bạn Hắn đã lợi dụng điểm yếu của Trọng Qùy: “một hôm sinh cùng bạn bè
họp nhau đánh bạc tứ sắc, Đỗ bỏ ra trăm vạn đồng để đánh và đòi sinh đánh bằng Nhị Khanh Trọng Qùy phen mùi vẫn được luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền đánh bằng Nhị Khanh” Đạo đức làm người của Đỗ Tam là không thể chấp
nhận được, khiến người đọc không khỏi phẫn nộ
Nhà văn Nguyễn Dữ đã đưa ngòi bút của mình tới bọn tu hành giả dối,núp dưới bóng chùa mà làm những điều xằng bậy Đó là tên sư Vô Kỷ trong
Chuyện nghiệp oan của Đào thị, hắn là kẻ thiếu trung thực, làm chuyện dâm ô
nơi nhà chùa Người đọc hẳn chưa quên hình ảnh hai tên Hộ pháp trong
Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều với những hành động bì ổi “vào bếp để khoắng hũ rượu của người ta, vào buồng để ghẹo vợ con người ta”.
Thông thường, khi nói đến thánh, thần là nói đến các bậc tối cao, thiêngliêng và quyền năng Thánh, thần không bao giờ làm những điều trái với phép
tắc, nhất mực giữ mình thanh cao Nhưng khi đọc truyện Chuyện đối tụng ở
Long cung, ta lại thấy tác giả miêu tả nhân vật thần Thuồng Luồng với những
Trang 31nét phàm tục giống con người tự nhiên Thần Thuồng Luồng đã bắt Dươngthị, vợ của quan Thái thú họ Trịnh về làm vợ Trong bức thư Dương thị gửi
cho quan Thái thú có kể rằng: “Nào ngờ biến dậy một đêm, đến nỗi hình rơi
đáy vực Bởi không thể chìm châu đắm ngọc, nên đành cam giãi nguyệt dầu hoa” Thần Thuồng Luồng đã bắt vợ của người khác nhưng khi bị tố cáo thì
chối cãi, cho rằng quan Thái thú đã vu khống Lời chối cãi của thần Thuồng
Luồng cho thấy bản chất gian ngoa, không chịu nhận lỗi về mình: “Kẻ kia ở
trên trần, tiểu thần ở dưới nước, mỗi người một ngả, không có can thiệp gì với nhau Vậy mà hắn buông lời phao vu, để hãm hại người vô tội” Nhưng bằng
lời định tội của Dương thị thì tội ác của thần Thuồng Luồng mới được lộ rõ:
“người áo đỏ là kẻ thù”, “độ trước không may bị cái yêu ấy bắt cướp, trải đã
ba năm trời” Nếu vừa rồi, thần Thuồng Luồng còn chối cãi hành vi của mình
thì đến đây mọi phải trái đã được xác minh Đức vua không khỏi giận dữ mà
nói rằng: “Không ngờ thằng giặc kia lại gian hoạt đến như thế Bên trong thì
làm sự dâm dật, mặt ngoài thì già họng chối cãi Việc ấy nỡ làm thì dù đem
xử tử cũng không đáng tiếc” Có thể thấy, Nguyễn Dữ đã không ngần ngại
vạch trần bản chất xấu xa của thần Thuồng Luồng Đồng thời, tác giả cũng đặt
ra vấn đề là dù là thần, tiên, Phật…thì cũng có những tật xấu, những nét bìnhphàm
Trong tác phẩm, các nhân vật đã phát biểu những tư tưởng sống với
những nhu cầu cá nhân của mình Nhân vật nhà vua đã nói rằng: “Đời người
như khách qua đường, kẻ trước đi qua mà kẻ sau tiếp đến” trong Chuyện đối tụng ở Long cung Thư sinh Hà Nhân trong Chuyện kì ngộ ở trại Tây cũng
khẳng định “Người sinh ở đời như cái hoa trên cây, tươi héo có kì, không thể
gượng lại dù chỉ trong chốc lát” Chính những tư tưởng này khiến các nhân
vật muốn sống cháy bỏng, chớp lấy từng giây phút của tuổi trẻ Họ lao vào lốisống phóng khoáng, tìm kiếm sự thỏa mãn những nhu cầu cá nhân trần thế
Trang 32Người đọc sau khi đọc xong tác phẩm đều có cảm nhận chung là Nguyễn
Dữ đã nói khá nhiều đến chuyện trai gái, chuyện ân ái lứa đôi Trong tổng số
12 truyện viết về nhân vật bình phàm trong Truyền kì mạn lục thì có 7 truyện
viết về những cuộc ái ân mặn nồng của các nhận vật bình phàm Đó là cáctruyện:
- Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu
- Chuyện cây gạo
- Chuyện kì ngộ ở trại Tây
- Chuyện nghiệp oan Đào thị
- Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
- Chuyện yêu quái ở Xương Giang
- Chuyện nàng Túy Tiêu
Ở một số truyện, Nguyễn Dữ không đi sâu vào miêu tả cuộc ái ân của
các nhân vật mà chỉ là kể ngắn gọn Trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái
Châu, tác giả đã kể việc chăn gối của nhân vật Trọng Qùy và Nhị Khanh “Hai người vì xa cách nhau lâu, nên nay tình ái bội phần nồng đượm, sự sung sướng không còn phải nói” [8, 221] Chuyện Yêu quái ở Xương Giang cũng
vậy, Nguyễn Dữ chỉ kể “Đã thành vợ chồng, tình ái rất là thắm thiết” Đó là
tính ái giữa viên quan họ Hoàng với Thị Nghi Có thể thấy, chỉ với những câu
kể ngắn gọn, Nguyễn Dữ đã nói lên được những cuộc ân ái nồng đượm củanhân vật Tác giả đã thể hiện được sự trần tục của con người qua nhu cầu vềnhục dục
Nếu Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu và Chuyện yêu quái ở
Xương Giang tác giả chỉ kể lại ngắn gọn cuộc ân ái của nhân vật bình phàm
thì đến đây, Nguyễn Dữ miêu tả mạnh mẽ và trực tiếp hơn Tác giả đã rất táobạo, phóng túng khi thể hiện mối quan hệ yêu đương không lành mạnh của
nhân vật Hà Nhân với hai nàng Đào, Liễu trong Chuyện kì ngộ ở trại Tây Hà
Nhân, một
Trang 33môn đệ của cửa Khổng sân trình nhưng “bút nghiên chí nản, son phấn tình
nồng”.
“Sinh rủ rê hai ả đến chơi chỗ trọ của mình, chuyện trò đằm thắm Chàng lả lơi cợt ghẹo, hai ả thẹn thò nói rằng:
- Chúng em việc xuân chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉn e mưa gió nặng
nề, hoặc không kham nổi cho những tấm thân hoa yếu mềm.
Sinh khuyên lơn dịu ngọt rồi cùng tắt đèn đi nằm Lửa đượm hương nồng, ân
ái mười phần thỏa nguyện”.
Nguyễn Dữ còn để nhân vật của mình làm thơ ngâm chơi về sự gần gũi
nam nữ “chân gác, má kề” Sau khi được nghe hai nàng Liễu, Đào ngâm thơ:
“Hà Nhân vỗ tay cả cười mà rằng:
- Tình trạng trong chốn buồng xuân, tả đến như thế thì thật là diệu tuyệt, lời hoa ý gấm tôi khó lòng theo kịp hai nàng.
Hà Nhân bèn lại tiếp tục ngâm:
Quyện uyển thư trai khách mộng dung, Ngộ tùy vân vũ đáo Vu Phong.
Giao phi điệp lộng sâm si bạch, Liên đế hoa khai thứ đệ hồng.
Tĩnh túc nhiệm giao oanh thướng há, Phân lưu nhẫn cấm thủy tây đông
Tuyệt liên quan thị phong lưu chủng, Hứng đáo phong lưu tự bất đồng.
Trang 34M
L
Trang 35Một ổ thỏa thuê oanh ấm áp, Đôi dòng san sẻ nước tây hồng Hữu tình cùng giống phong lưu cả, Mỗi vẻ nhưng riêng thú đượm nồng”.
Trong Chuyện cây gạo, lái buôn Trình Trung Ngộ đã gặp Nhị Khanh
trên cầu Liễu Khê trong một đêm tình tứ và thơ mông Trình Trung Ngộ đã bị
Nhị Khanh mê hoặc bởi vẻ đẹp của “một giai nhân tuyệt sắc”, hai người đã
quấn quít bên nhau, miệt mài trong các cuộc trụy hoan về xác thịt Nhị Khanh
đã làm thơ về cuộc hoan lạc giữa hai người:
“Cùng diêm cửu khốn ngọ miên trì,
Tu đố tân lang ngữ biệt ly.
Ngọc duẩn chỉnh tà châu xuyến tử, Hương la thoát hoán tú hài nhi
Mộng tàn bán chẩm mê hồ điệp, Xuân tận tam canh oán tử qui.
Thử khứ vị thù đồng huyệt ước, Hảo tương nhất tử vị tâm tri.”
Trang 36“
M