Tiếp cận tác phẩm Truyền kỳ mạn lục ở nhiều góc độ khác nhau, ngoài lớp giá trị gần như lộ thiên, chỉ khéo léo khơi gợi là ta thấy các lớp nghĩa, còn có những giá trị nằm sâu phía trong
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LÊ THỊ THẠO
VĂN HÓA VIỆT TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
CỦA NGUYỄN DỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên, 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS VŨ THANH
Thái Nguyên, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác
Ninh Bình, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Thạo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS TS
Vũ Thanh, ý kiến giúp đỡ của các thầy, cô khoa Sau đại học, khoa Văn học báo chí
và truyền thông, Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên, các thầy giáo,
cô giáo đã trực tiếp giảng dạy trong suốt quá trình học tập, tình cảm động viên và ủng hộ của bạn bè, người thân Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với tất
cả sự giúp đỡ quý báu trên!
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, song do trình độ của người viết còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo, cùng các bạn đồng nghiệp lưu tâm, đóng góp, bổ sung ý kiến để luận văn hoàn thiện hơn!
Ninh Bình, ngày 20 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Thạo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 2: Biểu hiện của văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục 9
NỘI DUNG CHÍNH 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 10
1.1 Quan hệ giữa văn học – văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ văn hóa 10
1.1.1 Giới thuyết khái niệm văn hóa và một số đặc trưng của văn hóa Việt 10
1.1.2 Văn học Việt Nam trung đại trong lòng văn hóa Việt 15
1.1.3 Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa - một hướng tiếp cận khoa học phù hợp 18
1.2 Bối cảnh văn hóa thời đại Nguyễn Dữ 21
1 3 Sơ lược về Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục Vai trò của văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục 25
1.3.1 Sơ lược về Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục 25
1.3.2 Vai trò của văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục 26
Tiểu kết Chương 1 28
CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA VIỆT TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 30
Trang 62.1 Dấu ấn tín ngưỡng dân gian, phong tục, tập quán lễ hội trong Truyền kì mạn lục.30
2.1.1 Dấu ấn tín ngưỡng dân gian 30
2.1.2 Phong tục, tập quán, lễ hội 38
2.2 Dấu ấn văn hóa Việt trong bức tranh thiên nhiên và thời tiết bốn mùa 41
2.2.1 Phong cảnh thiên nhiên 41
2.2.2 Thời tiết bốn mùa trong Truyền kỳ mạn lục 49
2.3 Bức tranh sinh hoạt văn hóa và lối ứng xử 52
2.3.1 Bức tranh sinh hoạt văn hóa 52
2.3.2 Văn hóa ứng xử 62
2.4 Truyền kỳ mạn lục phản ánh những xung đột văn hóa giữa văn hóa truyền thống và những biểu hiện suy thoái 74
Tiểu kết Chương 2 82
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN VĂN HÓA VIỆT 83
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 83
3.1 Khai thác cốt truyện dân gian để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc của truyện 83
3.2 Khắc họa không gian văn hóa dân tộc mang tính điển hình 87
3.2.1 Không gian văn hóa tâm linh và bút pháp kỳ ảo trong việc tạo dựng không gian văn hóa Việt 87
3.2.2 Không gian văn hóa vật chất truyền thống 93
3.3 Xây dựng tính cách và biểu tượng văn hóa Việt 96
3.3.1 Xây dựng tính cách Việt 96
3.3.2 Xây dựng các biểu tượng văn hóa Việt 101
Tiểu kết Chương 3 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 7Tiếp cận tác phẩm Truyền kỳ mạn lục ở nhiều góc độ khác nhau, ngoài lớp giá trị
gần như lộ thiên, chỉ khéo léo khơi gợi là ta thấy các lớp nghĩa, còn có những giá trị nằm sâu phía trong mà Nguyễn Dữ bằng vốn hiểu biết của mình về các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… đã gửi gắm vào trong tác phẩm để từ đó người đọc lật dở từng trang truyện sẽ tìm được hồn cốt dân tộc, tạo dấu ấn văn hóa riêng của người Việt trong từng tác phẩm của ông Có được điều này phải chăng là do ở thời đại của Nguyễn Dữ văn học luôn gắn liền với văn hóa và là bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa Đối với mỗi quốc gia dân tộc, cái quan trong nhất, cao quý nhất
là giá trị văn hóa Văn học là một biểu hiện của văn hóa, sản phẩm của văn hóa, là một dạng văn hóa tinh thần cho mọi thế hệ Từ văn học có thể hiểu sâu sắc thêm về văn hóa Đó là mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa văn học và văn hóa Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu những biểu hiện của văn hóa Việt trong tập
truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Đây là lý do chúng tôi chọn đề tài này
Truyền kỳ mạn lục được Vũ Khâm Lân xem là “Thiên cổ kỳ bút” Ngay từ
khi mới ra đời, được viết bằng chữ Hán, sau đó được dịch ra chữ Nôm, tác phẩm đã nhận được sự đón đợi của nhiều độc giả trong và ngoài nước Đã tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu bởi những khuôn mẫu đạo đức vốn được coi là “khuôn vàng thước ngọc” của xã hội phong kiến được đặt cạnh những luồng tư tưởng mới
mang theo khát vọng bản năng của con người đã tạo cho Truyền kỳ mạn lục một nét
độc đáo riêng Ở đó có sự hòa trộn giữa văn hóa và văn học, tạo ra hướng nghiên cứu: Văn học cần phải được nhìn dưới góc độ văn hóa - Đây là một xu thế mở có nhiều triển vọng trong nghiên cứu văn học hiện nay Chính vì những lý do trên
chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ” với mong muốn góp phần đem đến một cái nhìn mới cho tác phẩm Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ
Trang 81.2 Lý do thực tiễn
Nguyễn Dữ được giảng dạy ở bậc phổ thông với các tác phẩm: Chuyện người
con gái Nam Xương và tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Việc tìm hiểu
các tác phẩm này nói riêng và tập truyện Truyền kỳ mạn lục nói chung là một công
việc cần thiết đối với người dạy và người học nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn chương, đặc biệt là các tác phẩm văn học được soi rọi từ góc nhìn văn hóa, nó đã làm tôn lên bản sắc văn hóa người Việt từ đó góp phần hình thành tình yêu quê hương đất nước trong mỗi con người chúng ta
Thông qua việc tìm hiểu đề tài: “Văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”, chúng tôi mong muốn việc học tập nghiên cứu Truyền kỳ mạn
lục qua đây sẽ trở nên sâu sắc hơn Đồng thời thông qua đề tài này chúng ta còn
thấy được vai trò, vị thế, những đóng góp mới mẻ của Nguyễn Dữ về mặt văn hóa trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Điều này giúp ích cho việc nâng cao năng lực giảng dạy, phân tích tác phẩm, hiểu rõ hơn phương diện văn hóa và những đóng góp nghệ thuật của Nguyễn Dữ - một tác giả lớn được giảng dạy trong nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Văn hóa mang đậm bản sắc của người Việt thường là những tư tưởng tiến bộ được thể hiện trong các tác phẩm văn học ưu tú Nói tới văn hóa là nói tới vẻ đẹp truyền thống mang đậm bản sắc riêng của dân tộc thông qua số phận nhân vật cho
dù họ có số phận khổ đau bất hạnh… nhưng bằng cách ứng xử, hành động có văn hóa của con người thì họ sẽ tìm được lời giải đáp cho số phận của mình thông qua tài nghệ của nhà văn Làm được điều đó có công không nhỏ trong việc vận dụng và phát triển vốn văn hóa truyền thống dân tộc vào trong tác phẩm của các nhà văn mà
Nguyễn Dữ bằng tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đã thể hiện rất rõ nét đẹp văn hóa Việt trong từng thiên truyện của mình Nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục từ trước
đến này có rất nhiều các công trình khác nhau, tuy nhiên tác phẩm này luôn là ẩn số
về con người cũng như tư tưởng của ông trước thời đại Tìm hiểu đề tài: “Văn hóa
Việt trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” là một lối đi tìm cái riêng trong dòng
mạch chung của sự tiếp nối truyền thống và những nét độc đáo khác lạ có phần sáng tạo của Nguyễn Dữ trong việc thể hiện đặc trưng của văn hóa Việt Nam
Trang 92.1 Nghiên cứu các truyện riêng lẻ trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ văn hóa
“Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương” của tác giả Nguyễn
Nam [38], đã đặt ra vấn đề cái bóng của chính mình hay cái bóng của ai đó là sự phân thân và phản thân giống như một thủ pháp nghệ thuật góp phần tô đậm khắc họa rõ nét hơn lòng trung trinh của Vũ Nương trước xã hội nam quyền bấy giờ để từ
đó thấy được vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam hiếu lễ, yêu chồng, thương con
Đó là phẩm chất cao quý tạo nên nét đẹp mang bản sắc riêng mỗi khi nói về người
phụ nữ Việt Nam Để làm sáng rõ hơn điều này tác phẩm“Vũ Nương nhìn nhận và
suy xét” của tác giả Phan Thị Thanh Thủy [64], đã tỏ ra nghi ngờ khi đặt ra câu hỏi:
Vũ Nương có phải là hình tượng lý tưởng trong xã hội phong kiến? và đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này thông qua việc phân tích những chuẩn mực của cái đẹp trong người phụ nữ đó là công, dung, ngôn, hạnh những điều này hội tụ tất cả trong nhân vật Vũ Nương Tuy nhiên cũng trong quá trình phân tích tác giả còn đặt ra một sự cảnh tỉnh trong bi kịch hôn nhân mà nguyên nhân là do ghen tuông tồn tại trong bất
cứ thời đại nào đã làm rạn nứt mối quan hệ vốn tốt đẹp trong gia đình từ đó tác giả giúp người đọc nhìn nhận các vấn đề liên quan đến hạnh phúc gia đình Đây là một trong những khía cạnh làm nên cái riêng cho văn hóa Việt và là vấn đề có sức ảnh hưởng lớn tới tất cả chúng ta trong việc giữ gìn và bảo vệ hạnh phúc gia đình
Nguyễn Đăng Na thông qua các tác phẩm viết về đề tài người phụ nữ để vênh vực họ bằng con mắt của một nhà nghiên cứu ông đã nhìn thấy những bất công, những định kiến… mà người phụ nữ phải gánh chịu Việc Đào Hàn Than
(Chuyện nghiệp oan Đào Thị) có thai lẽ ra là một niềm hạnh phúc lớn của nàng,
nhưng xã hội không chấp nhận cho nàng làm mẹ và phải chết trên giường cữ Tuy nhiên thông qua nhân vật người đọc vẫn thấy được nỗi lòng thổn thức trước những khao khát, những mong muốn có được hạnh phúc, có được tình yêu chân chính, tự
do đó là những ước muốn hoàn toàn chính đáng của con người nhưng trong xã hội phong kiến đương thời với những khắt khe của lễ giáo phong kiến với những định kiến hà khắc thì nhân vật Hàn Than cũng như bao phụ nữ khác tất cả đều phải gồng mình hứng chịu những định kiến của dư luận của xã hội để rồi cuối cùng họ thường
có kết thúc bi kịch và từ đây toát lên tiếng nói của sự đồng cảm với nhân vật của Nguyễn Dữ, sự thương cảm của ông với số phận của những con người bất hạnh
Trang 10Đây vốn là cách ứng xử mang tính nhân văn sâu sắc, một nét đẹp văn hóa biểu hiện bằng tình thương giữa con người với con người
Chuyện tướng Dạ Xoa không chỉ đơn thuần ghi lại những câu chuyện ly kỳ
mà còn thể hiện những suy nghiệm lịch sử một cách chân thành, sâu sắc của Nguyễn Dữ một người dân thường với tầm tư tưởng của một nhà Nho chân chính
Như vậy nghiên cứu các truyện riêng lẻ trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ
văn hóa các nhà nghiên cứu chỉ mới động chạm ít nhiều vào tầng nghĩa văn hóa trong từng tác phẩm mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu cho vấn đề
“Văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” do vậy đề tài này là sự tiếp
nối những nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước đồng thời thể hiện được tiếng nói riêng trong nguồn mạch chung của văn hóa văn học dân tộc
2.2 Nghiên cứu những phương diện khác nhau của văn hóa Việt trong thể loại truyền kỳ và Truyền kỳ mạn lục
Trong một bài nghiên cứu của mình thủ tướng Phạm Văn Đồng có viết: “Văn
học nghệ thuật có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa cao quý” Giá trị văn hóa, tính văn hóa luôn là thước đo giá trị tác phẩm
văn học Xung quanh đề tài luận văn: “Văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ” chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu khác nhau của
văn hóa Việt trong thể loại truyền kỳ và Truyền kỳ mạn lục
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na nhận định: “Văn xuôi tự sự không chỉ là
bộ phận cấu thành của văn học dân tộc mà còn là ảnh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ thuật của nền văn học đã sản sinh ra nó Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam cũng vậy, vừa phản ánh tư duy nghệ thuật của Việt Nam vừa gắn liền với lịch sử văn học dân tộc” [30; 3] Với đôi cánh truyền kỳ của mình, thể loại truyền kỳ đã
nhanh chóng thâm nhập vào đời sống con người và cũng đã mang lại những thành công nhất định cho các nhà văn Đằng sau cái vỏ hình thức kỳ ảo là những vấn đề
có ý nghĩa to lớn thông qua số phận của các nhân vật được đặt trong mối quan hệ với văn hóa Việt
Phương diện thứ nhất: Miêu tả về bức tranh đời sống xã hội trong các tác
phẩm Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục và Lan trì kiến văn lục Vấn đề này
Trang 11được nghiên cứu một cách khiêm tốn hơn so với các thể loại tác giả và tác phẩm
khác Tuy nhiên khi nghiên cứu “Thánh Tông di thảo”, “Truyền kỳ mạn lục” và
“Lan trì kiến văn lục” bên cạnh hướng nghiên cứu là tìm hiểu những đặc sắc, cách
tân trong nghệ thuật sáng tác truyện truyền kỳ, các nhà nghiên cứu dành một phần lớn tâm sức đi sâu khám phá những giá trị nội dung mà tác phẩm phản ánh Ngay từ cuối những năm 1950 tác giả Nguyễn Đổng Chi đã khắc họa giá trị nội dung cơ bản
của Thánh Tông di thảo “đề cao pháp luật, vua chúa, thần quyền nêu gương để
khen trê, cổ vũ thuần phong mỹ tục, chê bai tín ngưỡng, Phật giáo, tôn trong đạo Tiên, đạo Nho” [165] Trong tác phẩm ít nhiều tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề
văn hóa tâm linh của người Việt, tuy nhiên nó còn chưa rõ thiên nhiều về yếu tố kỳ
ảo hoang đường do vậy mà tính hiện thực ít nhiều nhuốm màu sắc huyễn hoặc ảnh
hưởng nhiều của truyện dân gian Tới Truyền kỳ mạn lục và sau này là Lan trì kiến
văn lục tính “hiện thực ít nhiều mang tính thời sự của cuộc sống” các tác giả “mở rộng hạt nhân hiện thực khiến cho chất liệu huyền thoại, thần kỳ dần dần được bóc
đi, mờ nhạt dần và cuộc sống hiện tại cứ khiêm tốn lấn tới chiếm chỗ dần” Đó là
lời khẳng định của nhà nghiên cứu Vũ Thanh trong Những biến đổi về yếu tố kỳ và
thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam [53; 26] hiện thực lúc này không còn bó
hẹp trong không gian của cung vua, liên quan đến cuộc sống của vua, quan và các
vấn đề chính trị trọng đại nữa mà trong tác phẩm Lan trì kiến văn lục nhà nghiên cứu Vũ Thanh khẳng định “lần đầu tiên viết về chuyện làng xóm, bệnh tật, tình cảm
mẹ con, cha con, cả những chuyện buôn bán, trộm cắp, lừa lọc” [76] tức là bức
tranh hiện thực xã hội được các tác giả vẽ bằng rất nhiều gam màu khác nhau để sao cho đúng và giống với cuộc sống hiện thực nhất và để làm được điều này các tác giả của truyền kỳ đã vận dụng thành công một trong những đặc điểm cơ bản của văn học trung đại đó là tả cảnh ngụ tình Mượn không gian ngoài không gian trần thế như không gian cõi âm, không gian cõi trời, không gian thủy phủ mượn bóng ma,
dạ quỷ, tiên, thần… để nói hộ, thổ lộ nỗi niềm, tâm sự của con người trước bộ mặt thối nát, hèn kém của xã hội đương thời Khi địa hạt văn học được mở rộng bởi hiện thực xã hội thì văn hóa cũng nhờ đó được phản ánh, được nhìn nhận thông qua các tác phẩm văn học một cách sâu sắc hơn và góp phần làm tăng giá trị văn hóa, văn học cho nước nhà
Trang 12Phương diện thứ hai: Nhiều tác giả tập trung nghiên cứu thế giới nhân vật
trong các tác phẩm truyền kỳ Ở Thánh Tông di thảo, Lê Thánh Tông là người đầu tiên “lấy con người làm trung tâm phản ánh”[28] Ông đã phát hiện ra “sức mạnh
của con người” [28], đã thần thánh con người và so với giai đoạn trước Thánh Tông
di thảo và có những đột phá về nhân vật giúp cho các nhân vật “gần gũi với cuộc sống trần tục hơn nhưng đó vẫn chưa phải là những con người cụ thể, đại diện cho
số phận của một tầng lớp nhất định”[201] Còn trong Lan trì kiến văn lục, Vũ Trinh
đưa vào tác phẩm của mình “thế giới nhân vật đời thường, bình dị, dân giã như
chính cuộc đời thực… đội ngũ nhân vật của ông mỗi người một vẻ, rất thực và Vũ Trinh giành nhiều ưu ái hơn cả là phụ nữ và trẻ nhỏ” [234-235] Qua đó cũng đã
phần nào đề cập đến văn hóa Việt thông qua cách đối nhân xử thế của các nhân vật thấm đẫm giá trị nhân đạo và bài học về đạo đức làm người mà Vũ Trinh muốn gửi gắm trong các tác phẩm của mình
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm xuất hiện trước Lan trì kiến văn lục của Vũ Trinh song Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng các nhân vật
Trong Truyền kỳ mạn lục các nhân vật được xây dựng một cách sinh động, hấp dẫn
và đặc biệt là ông đã khái quát được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình để từ đó số phận con người đặc biệt là người phụ nữ có số phận bi kịch được Nguyễn Dữ trân quý, thương yêu, đồng cảm, xót thương mặt khác ông còn lên
án, phê phán, vạch trần những tội ác của xã hội phong kiến và chính mặt trái của xã hội ấy đã đẩy những người dân thấp cổ bé họng đến bước đường cùng Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ Hơn thế nữa ông đã đi tìm các giải pháp nhằm mục đích giải thoát cho những số phận bất hạnh của nhân vật thông qua tín ngưỡng, phong tục tập quán, cách sinh hoạt, ứng xử… mang đậm màu sắc văn hóa của con người Việt Nói về điều này nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na
đã đôi chút đề cập đến vấn đề văn hóa Việt khi ông cho rằng: Nguyễn Dữ để cho nhân vật của mình tự do phóng khoáng đặc biệt trong tình yêu thông qua các cuộc
trải nghiệm nếu như trong Chuyện người con gái Nam Xương Vũ Nương hiện lên là
một người phụ nữ tần tảo, hy sinh vì chồng con… nhưng cuối cùng cũng phải tìm đến cái chết để giữ lòng trung trinh của mình thì hình tượng Nhị Khanh trong tác
phẩm Chuyện cây gạo lại có tư tưởng sống thoải mái, vượt vòng cương tỏa nhưng
Trang 13cuối cùng cũng tìm đến cái chết như vậy với cuộc đời, số phận của các nhân vật vũ Nương, Nhị Khanh, hay Hàn Than đều xuất phát từ chữ “tình” để rồi từ đó cuộc đời của họ phải “Bảy nổi ba chìm”, “long đong lật đật”, bất hạnh hết lần này đến lần khác Tuy nhiên với ý chí, nghị lực và sự kiên cường, hình ảnh của những người phụ nữ nói riêng và con người Việt Nam trong văn học nói chung đã tự đi tìm điểm tựa cho tâm hồn mình neo đậu nhằm vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời và ở đây
trong Truyền kỳ mạn lục phải chăng Nguyễn Dữ đã khéo léo đưa quan niệm của đạo Phật “đời là bể khổ, tình là dây oan” để an ủi động viên, chấn an những số phận bất
hạnh trong cuộc đời giúp họ tự tin, lạc quan trong cuộc sống đó là một sự lựa chọn trong cách sống và cũng chính là văn hóa của người Việt
Kế thừa các công trình nghiên cứu của các thế hệ đi trước, luận văn này
chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề “Văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” để thấy được cái hay, cái đẹp của tập truyện Truyền kỳ mạn lục đồng
thời cũng khẳng định cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ Nguyễn Dữ trước sự biến thiên khôn lường của cuộc sống nhưng ông vẫn thắp lên ngọn lửa của tình thương của những tấm lòng thơm thảo trong các mối quan hệ gia đình và xã hội thông qua cách ứng xử trọng tình… nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn học và văn hóa dân tộc Qua đó thấy được sự cách tân mang tính bước ngoặt về tư
tưởng và nghệ thuật trong thể truyền kỳ nói chung và Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ nói riêng trong quá trình tạo nên bản sắc, tiếng nói riêng của dân tộc trong văn học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ chỉ ra những yếu tố văn hóa Việt trong 20 tác phẩm của
tập truyện Truyền kỳ mạn lục từ đó thấy được lòng yêu nước, tinh thần nhân đạo sâu
sắc của tác giả Nguyễn Dữ (trong mối tương quan so sánh ở mức độ nhất định với
Tiễn đăng tân thoại của tác giả Cù Hựu)
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu 20 tác phẩm của tập truyện Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ khi viết về vấn đề văn hóa Việt như: Dấu ấn tín ngưỡng
dân gian, phong tục, tập quán, lễ hội trong Truyền kỳ mạn lục, dấu ấn văn hóa Việt
trong bức tranh cảnh sắc đất nước, sinh hoạt văn hóa và lối ứng xử… được biểu
hiện trên hai phương diện nội dung và hình thức thể hiện
Chúng tôi sử dụng tư liệu từ cuốn sách: Cù Hựu: Tiễn đăng tân thoại,
Nguyễn Dữ: Truyền kỳ mạn lục Bản dịch tác phẩm Cù Hựu của Phạm Tú Châu
Bản dịch tác phẩm Nguyễn Dữ của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lý NXB Văn học, 1999
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các bài báo khoa học, các công trình, giáo trình nghiên cứu về tác giả này của các nhà khoa học trong và nước ngoài
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp liên ngành
Chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hóa, phương pháp lịch sử… nhằm tìm hiểu tư tưởng, kiểu tư duy của các tác giả, quá trình phát triển của chủ đề tác phẩm trong mối quan hệ với các phương diện khác của đời sống xã hội như: chính trị, lịch sử, tư tưởng
5.2 Phương pháp so sánh loại hình
Đây được xem là phương pháp quan trọng và được sử dụng chủ yếu nhằm chỉ ra những nét đặc trưng cơ bản, trong nội dung và nghệ thuật phản ánh từ tập
Trang 15truyện của Nguyễn Dữ
5.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Vận dụng phương pháp này chúng tôi mong muốn tìm ra những nét đặc sắc trong thi pháp nghệ thuật của tác giả, từ đó thấy được sự đóng góp của từng tác giả trong tiến trình lịch sử văn học
Ngoài ra luận văn còn vận dụng kết hợp các thao tác nghiên cứu khác như
thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần nghiên cứu đặc trưng văn hóa Việt được thể hiện trong tác phẩm của Nguyễn Dữ
- Thấy được cố gắng của nhà văn trong việc đem lại cho tác phẩm của mình
màu sắc dân tộc, thoát khỏi ảnh hưởng nhiều mặt của văn học Trung Quốc
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về văn hóa và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Chương 2: Biểu hiện của văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục
Chương 3: Các phương thức thể hiện văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 16NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA
VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
1.1 Quan hệ giữa văn học – văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ văn hóa
1.1.1 Giới thuyết khái niệm văn hóa và một số đặc trưng của văn hóa Việt
1.1.1.1 Giới thuyết khái niệm văn hóa
Văn hóa là gì? Đi tìm câu trả lời cho khái niệm này tưởng như rất quen thuộc nhưng lại vô cùng phong phú và phức tạp Mặc dù văn hóa là những gì gần gũi, thân thương, quen thuộc nhất đối với mỗi con người như cách hành xử, ứng xử… của con người trong đời sống đã tạo ra văn hóa và ngược lại văn hóa lại tái tạo ra bản thân con người Trong quá trình phát triển và tác động qua lại lẫn nhau ấy nó đã vô hình dung tạo ra những khái niệm văn hóa vô cùng độc đáo của các nhà khoa học khi họ nghiên cứu, khám phá đi tìm khía niệm văn hóa bằng cặp mắt chuyên ngành của mình
Học giả Thái Văn Kiểm dẫn trong Kinh thi 2 câu thơ:
Quan thiên văn dĩ sát thời biến Quan nhân văn hóa thành thiên hạ
Có nghĩa là:
Nhìn hiện tượng trên trời để xét lại sự biến thiên của thời tiết
Nhìn hiện tượng của người ta trong xã hội để sửa đổi thiên hạ
Điều này xuất phát từ việc giải thích từ “văn” của người xưa khi họ quan sát cuộc sống thấy vạn vật đều có sự sắp xếp gọn gàng, tinh tú nên gọi là “văn” sau đó
bèn nghĩ ra chữ viết để ghi lại sự tinh tú đó gọi là văn tự Còn “hóa” là giáo hóa và
giảng dạy
Như vậy, ở Trung Quốc thời cổ đại Văn hóa được xem là văn tự và giáo hóa
Ở Phương Tây từ Văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh nghĩa là trồng trọt, nuôi
Trang 17dưỡng, luyện tập, khai khẩn, khai phát
Ở Việt Nam khái niệm văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa
theo những cách khác nhau như nhà nghiên cứu Đào Duy Anh có viết: “Văn hóa là
những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã hội” Với cách tiếp cận này, ông đã đề cập đến phạm
vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả mọi sinh hoạt của con người trong đời sống trong đó có cả những sinh hoạt sáng tạo ra những giá trị văn hóa Trong quan niệm
về văn hóa Đào Duy Anh có sự gặp gỡ với Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích cuộc sống loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loại người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”[9, 431] Theo Trần Quốc Vượng: “Văn hóa theo nghĩa rộng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ, tổng quát của con người về vũ trụ, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [75; 25] Cùng đưa ra khái niệm về định nghĩa văn hóa Trần Ngọc Thêm có
viết: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động
vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[45;10] Năm 2002 UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được coi như là một tập hợp đặc điểm về tâm linh, vật chất, trí tuệ và tình cảm, của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống và phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Như vậy đi tìm câu trả lời cho khái niệm văn hóa chúng tôi đồng tình với các
ý kiến về văn hóa của các nhà nghiên cứu, đồng thời nhận ra rằng: Văn hóa là sự tổng hòa các quan hệ tự nhiên - xã hội - con người Tuy nhiên bản thân nó lại mang những giá trị riêng tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho từng vùng, từng miền, từng
Trang 18quốc gia dân tộc góp phần hình thành và thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt được vun đắp nên qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước,
nó được trao truyền từ đời này qua đời khác, tất nhiên trong quá trình ấy nó được tiếp thu, gạn lọc, bổ sung và phát triển tạo ra tính truyền thống, từ đó tạo nên những đặc trưng cơ bản cho văn hóa Việt Nam
Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, giáo sư Trần Ngọc Thêm cũng có đề
cập đến một cách cụ thể bốn đặc trưng cơ bản của Văn hóa:
- Văn hóa có tính hệ thống: tức là nó bao gồm tổng thể các yếu tố có quan hệ lẫn nhau Nó giống như một cái cây mà ở đó gốc là văn hóa có hai cành cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần và từ hai tiểu văn hóa này đã hình thành vô vàn các cành nhỏ khác, cứ thế sản sinh ra tiếp các bộ phận khác cho cây văn hóa và như vậy tạo nên tính hệ thống cho văn hóa dân tộc
- Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị
Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị (ví dụ: Thiên tai, majia …) nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người, đồng thời nó còn được thể hiện thông qua các giá trị:
Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành: các giá trị phục vụ phục
vụ cho nhu cầu vật chất của con người - giá trị vật chất và phục vụ cho nhu cầu tinh thần - giá trị tinh thần
Các giá trị văn hóa theo ý nghĩa được chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ
Các giá trị văn hóa theo gian được chia thành các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời
- Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh
Vì văn hóa là một hiện tượng xã hội là sản phẩm của hoạt động thực tiễn (bao gồm lao động sản xuất, đấu tranh, nghiên cứu và thực nghiệm khoa học…) của con người Văn hóa đối lập với con người tự nhiên, là tự nhiên đã được biến đổi do
Trang 19tác động của con người Ví dụ: Hồ núi Cốc ở Thái Nguyên Nhìn những ngọn núi vốn tự nhiên sinh ra có hình thù giống chiếc cốc nếu không được con người huyền thoại hóa bằng câu chuyện cổ thì chắc chắn nó không trở thành một hiện tượng văn hóa Do vậy các hiện tượng văn hóa có được là do nhân dân ta đã đặt những tên gọi khác nhau gắn liền với những câu chuyện huyền thoại Chính vì vậy, tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo ra) với các giá trị tự nhiên
- Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử
Vì văn hóa luôn được hình thành trong suốt quá trình lâu dài và được tích lũy qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau tạo thành truyền thống văn hóa Từ những nghiên cứucủa mình, Trần Ngọc Thêm nêu ra những đặc trưng gốc định vị văn hóa Việt
Nam là: “Tính cộng đồng và tính tự trị, lối sống trọng tình nghĩa, lối tư duy tổng
hợp, biện chứng, tính linh hoạt, dung hợp trong tiếp nhận, khuynh hướng ưa hài hòa, tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên”[45; 295]
Giáo sư Trần Ngọc Giàu trong công trình “Giá trị tinh thần của dân tộc Việt
Nam” đã đưa ra 7 giá trị tinh thần truyền thống: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người và vì nghĩa” theo ông giá trị hàng đầu chính là lòng
yêu nước, là sợi chỉ đỏ xuyên xuốt toàn bộ lịch sử, tư tưởng dân tộc [10; 293]
Trong hội thảo khoa học năm 1983 giáo sư Trương Chính nói đến 5 giá trị:“tinh
thần yêu nước, tinh thần dân tộc, cần cù và thông minh, trọng đạo lý tình người, và lạc quan, yêu đời”
Giáo sư Hà Văn Tấn khi viết về sự hình thành bản sắc dân tộc Việt nam cũng
khảng định sự tồn tại của tính dân tộc và tâm lý các dân tộc: “Giá trị tinh thần tính
cách dân tộc Việt Nam mà điển hình là tinh thần yêu nước, kiên cường gắn bó với quê hương xứ sở…ý thức sâu sắc và vững bền về bản ngã, tinh thần cố kết cộng đồng, cần cù chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ, tình nghĩa ứng xử mềm dẻo, linh hoạt, dễ thích nghi hội nhập” [47; 16]
Truyền thống văn hóa với những đặc trưng đặc thù ấy được Nguyễn Đức
Tồn, trong cuốn “Đặc trưng văn hóa dân tộc” đã đúc rút theo những giá trị đặc
trưng đậm đà bản sắc dân tộc Việt như:
Trang 20- Nền văn hóa Việt Nam coi trọng con người, có truyền thống trọng tình nghĩa, nhân ái
- Có ý thức giữ phẩm giá, nhân cách, trọng danh dự, trọng lẽ phải
- Lối sống khoan dung, khoan thứ, trọng quan hệ, lạc quan
- Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc
- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -
Tổ quốc
- Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý
- Đức cần cù sáng tạo trong lao động
- Sự tinh tế trong cư xử, tính giản dị trong lối sống
- Hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo…
Và như thế giáo sư Trần Ngọc Thêm [45; 293] cho rằng những điểm thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về đặc trưng văn hóa Việt Nam chính là cơ sở là tiền
đề để Nghị quyết 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đưa ra những chỉ đạo về văn hóa dựa trên những đặc trưng của văn hóa dân tộc Tuy nhiên văn hóa nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng không phải là phạm trù bất biến, nó luôn vận động và có sự biến đổi để phù hợp với tự nhiên, xã hội và con người thời đại, xong những đặc trưng của văn hóa sẽ luôn là một dòng chảy liên tục không đứt đoạn, tạo nên nét đẹp về truyền thống văn hóa cho nhân loại nói chung và của dân tộc Việt Nam nói riêng
Trong luận văn này chúng ta sẽ quan tâm đến các đặc trưng của văn hóa Việt Nam trên các phương diện như tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống, sinh hoạt văn hóa gia đình, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đạo đức truyền thống Chính những
Trang 21phương diện mang nét đặc trưng tiêu biểu này của văn hóa Việt Nam đã làm nên cái
riêng của một “thiên cổ tùy bút” như Truyền kỳ mạn lục và chứng minh tác phẩm
này không phải dựa hoàn toàn vào “phên dậu” của Tông Cát, đồng thời nó đã đem
đến cho Truyền kỳ mạn lục một cái nhìn mang đậm bản sắc dân tộc của Nguyễn Dữ
1.1.2 Văn học Việt Nam trung đại trong lòng văn hóa Việt
Là một thành tố trong nền văn hóa dân tộc, từ rất sớm văn học Việt Nam đã giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện và bảo tồn các giá trị văn hóa Việt Nói đến văn học là nói đến ngôn từ - Bằng sức mạnh của ngôn từ, văn học đã diễn đạt được khá đầy đủ và trực tiếp lớp vỏ của tư duy và tầng sâu của cảm xúc Ngôn ngữ
là vật liệu, vật chất hàng đầu để làm nên tác phẩm văn học và thông qua ngôn ngữ người nghệ sỹ có thể truyền tải được ý đồ sáng tạo của mình trong mỗi tác phẩm mà
họ sáng tác, do vậy có thể nói tác phẩm văn học là những thực thể tinh thần, mà giá trị tinh thần lại nằm trong hệ thống những đặc trưng cơ bản của văn hóa, thế nên văn học sẽ là một bộ phận của văn hóa Và như vậy chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng Văn học Việt Nam trung đại nằm trong lòng văn hóa Việt
Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Đỗ Thị Minh Thúy chỉ ra rằng:
“Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt này, văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân tố đại diện cho văn hóa” [62; 239] Như vậy giữa văn học và văn hóa giống như khái
niệm tập hợp trong toán học mà ở đó văn học là tập hợp con nằm trong tập hợp mẹ văn hóa, nó chi phối, có tác động đến tập hợp văn hóa mẹ, sự chi phối và tác động này phải chăng xuất phát từ các nhân tố về chính trị và xã hội… mà khởi nguồn của
nó là lòng yêu nước và tự hào dân tộc của con người Việt Nam đã phần nào được phản ánh, soi chiếu thông qua lăng kính văn hóa được các tác giả thể hiện trong các tác phẩm văn học của mình Để từ đó người đọc có thể đọc tác phẩm văn học của từng thời kỳ và hình dung ra được nét văn hóa đặc trưng của thời kỳ đó Ví như đọc
Truyện Kiều của Nguyễn Du chúng ta sẽ thấy được ông đã vẽ ra một xã hội phong
kiến mục ruỗng, thối nát tất cả vì đồng tiền, một xã hội đầy dãy những bất công và nhà chứa… Sự thối nát của xã hội đã xô dạt con người, đã đẩy họ vào tấn bi kịch
Trang 22Nàng Kiều trải qua cuộc đời 15 năm lưu lạc, khoảng thời gian gió bụi ấy tác giả Nguyễn Du đã thương cảm xót xa, đồng cảm cho những hành động của nhân vật để
rồi từ đó hành động vượt rào trong tình yêu : “Xăm xăm băng lối vườn khuya một
mình” của nàng Kiều để đi tìm Kim Trọng Xét về tư tưởng Nho giáo lúc đó là một
hành động nổi loạn, táo bạo không thể xảy ra ở người phụ nữ Cũng chính hành động này, trong hoàn cảnh điển hình thì hành động đó lại mang giá trị nhân đạo sâu sắc nó thể hiện khát vọng tình yêu của con người đặc biệt là người phụ nữ Khát vọng đó là khát vọng chính đáng, là ước mơ, là mục đích của con người trong bất
kỳ thời đại nào Khi ý thức hệ phong kiến trở thành rào cản, thì con người với khả năng bộc lộ bản năng, khát vọng giải phóng cá nhân bỗng trỗi dậy đã dần dần đạp
đổ thành quách cũ lạc hậu của những tư tưởng trong xã hội xưa thay vào đó là những giá trị nhân văn của tác giả Thế là mặc cho sóng gió dập vùi: thanh lâu hai lượt, thanh y mấy lần nhưng với người đọc đọng lại không phải là một nàng Kiều cam chịu, nhẫn nhục, cũng không phải là cô Kiều đê hèn, bỉ ổi, mà là cô gái từ trong tác phẩm văn học đã đi vào văn hóa như một biểu tượng của tình yêu trong sáng Như vậy có thể nói rằng giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ khăng khít, mật thiết với nhau giống như hai mặt của một tờ giấy, chính điều này đã tạo nên cho văn học một tiếng nói mang đậm tính dân tộc
Năm 938 Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc Từ đây chữ Hán có điều kiện du nhập vào nước ta, trở thành thứ chữ vay mượn từ phương Bắc để tạo nên một nền văn học viết bằng chữ Hán rực rỡ mang đậm bản sắc văn hóa Việt
Cùng với sự phản ánh hiện thực, nhằm chuyển tải những tư tưởng tình cảm, thái độ cũng như các phong tục, tập quán… của người Việt, các tác phẩm văn chương Việt Nam thời trung đại đã làm cho các bậc tiền bối chúng ta tự hào khi so
sánh với Trung Quốc Điều Lệ ngôn trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn viết:
“Nước Việt ta gây dựng văn minh không kém gì Trung Quốc” Lê Tiên Hoàng tiễn
sứ Tống bằng một bài từ của Lý Giác “uyển chuyển đẹp tươi có thể vốc được…” Ngô Thì Nhậm trong bài Tựa sách Hoàng công thi tập nói thơ của Hoàng công
“sánh vai cùng Khuất, Tống, ngang hàng với Trần Tạ” Tất cả sự so sánh trên có
thể thấy giá trị của các tác phẩm văn học thời trung đại đã tạo nên niềm tự hào về
Trang 23một nền văn hóa độc đáo, rực rỡ của người Việt, khi các sáng tác của họ đã Hán Việt ngôn ngữ Phương Bắc để tạo ra nét riêng thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc mà có lần Nguyễn Trãi đã từng bày tỏ:
Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến bấy lâu Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác
( Bình Ngô Đại cáo- Nguyễn Trãi)
Sự khác biệt về văn hóa giữa Bắc và Nam là nhờ vào bản sắc dân tộc, bản sắc ấy được thêu dệt, đúc rút từ ngàn năm văn hiến thông qua quá trình lao động, đấu tranh với thiên nhiên với các kẻ thù xâm lược của nhân dân Đại Việt Tất cả tạo nên một truyền thống văn hóa, văn hiến mà trong đó không thể không có sự đóng
góp của các tác phẩm chữ Hán của người Việt như: “Nam Quốc sơn hà” tương truyền của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Bạch Đằng
giang phú” của Trương Hán Siêu… đã làm rạng danh cho nền văn học trung đại
Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Sự ra đời của chữ Nôm đã chính thức xóa bỏ sự độc quyền của chữ Hán, tạo nên hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam Chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp (thế kỷ II) Tuy nhiên thời điểm chữ Nôm ra đời và phát triển thành hệ thống phải đến cuối thế kỷ XI Theo nhiều tài liệu, chữ Nôm đầu tiên xuất hiện trên chuông chùa Vân Bản - Đồ Sơn có niên đại năm 1076, mà thời điểm có văn học Nôm được cho rằng phải đến cuối thế kỷ XIII với tác giả cụ thể là “Hàn Thuyên là người đầu tiên làm thơ tiếng Việt theo luật Đường”, những sáng tác bằng chữ Nôm
ra đời là mốc son trong văn hóa Việt Kể từ đây, dân tộc Việt Nam đã có văn tự cho riêng mình, cho dù đó là một thứ văn tự được cải biến từ chữ Hán Nó cho thấy ý thức dân tộc sâu sắc của con người Việt Nam Chữ Nôm là một văn tự đặc sắc, thể hiện ý thức ngữ âm tiếng Việt, là một cuộc cách mạng trong lịch sử văn hóa Việt
Nam những sáng tác bằng chữ Nôm như: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hay các chùm thơ, bài thơ của Hồ Xuân Hương - Người được Xuân Diệu mệnh danh là
bà chúa thơ Nôm, và có lẽ đặc biệt nhất phải kể đến là tác phẩm “Truyện Kiều” của
Trang 24Nguyễn Du… Tất cả tạo ra những đặc sản cho văn học chữ Nôm và ngày nay nó đã góp phần tạo nên sự rạng danh cho Việt Nam và đã trở thành di sản văn hóa của dân tộc Có được điều đó là nhờ khả năng to lớn của chữ Nôm và sự đóng góp về tư tưởng… của các tác giả thời trung đại Với lòng yêu nước nồng nàn, họ đã đem hồn cốt dân tộc gửi vào trong tác phẩm của mình thông qua việc phản ánh hiện thực và biểu đạt đời sống, tình cảm của con người như: cách sống, đức tin, nề nếp gia phong, tri thức tiếp nhận, cách ứng xử… Đây là những thành tố tạo nên một nền văn hóa Việt đậm đà bản sắc dân tộc cho con cháu nước ta sau này
Điểm lại một cách khái lược tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam, có thể thấy trong hơn mười thế kỷ của văn học trung đại, văn học luôn luôn tồn tại và phát triển song hành cùng với văn hóa Việt; là một thành tố quan trọng của văn hóa Việt Thông qua văn học, thế hệ trẻ có thể chiêm ngưỡng, cảm nhận, tắm mình trong bầu không khí văn hóa của dân tộc và ngày càng tự hào hơn về bề dày lịch sử văn hóa của nước nhà Bề dày đó được xây đắp bởi một phần của văn học trong đó có văn học trung đại Do vậy chúng ta có quyền khẳng định rằng: Văn học trung đại cũng nằm trong lòng văn hóa Việt
1.1.3 Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa - một hướng tiếp cận khoa học phù hợp
Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa là phương pháp đã xuất hiện khá lâu trong nghiên cứu văn học ở trong và ngoài nước Những thành tựu nghiên cứu đạt được từ phương pháp này gần đây mới thực sự được chú ý ở Việt Nam
Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa không đơn thuần là việc dùng văn hóa để giải thích văn học mà quan trọng hơn là việc các nhà nghiên cứu văn học “vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm” và “đặt văn học vào bối cảnh rộng lớn của văn hóa - xã hội, hoặc trong ảnh hưởng qua lại của văn học đối với những hiện tượng văn hóa xã hội khác Từ đó làm nổi bật những sắc thái văn hóa phong phú được thể hiện trong tác phẩm văn học, hoặc giải mã khám phá những phù hiệu, biểu tượng hàm ẩn muôn vàn lớp nghĩa trầm tích của văn hóa trong văn bản văn học cụ thể Trong lịch sử nghiên cứu văn học, có nhiều cách tiếp cận tác phẩm văn học như: tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ lịch sử phát sinh, tiếp cận tác phẩm văn học
Trang 25theo hướng tiếp nhận văn học, hay tiếp cận tác phẩm văn học theo hướng thi pháp học… Tất cả các phương pháp tiếp cận tác phẩm trên đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế của nó Tuy nhiên lựa chọn phương pháp đúng đắn có thể sẽ giúp cho người nghiên cứu có chìa khóa để thành công, mở được cánh của vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Cách tiếp cận văn học đặc biệt là văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, thiết nghĩ là một hướng tiếp cận khoa học phù hợp
Với M Bakhtin – một nhà nghiên cứu người Nga đã nhấn mạnh đến vai trò cũng như khả năng định hướng cho người nghiên cứu, người học về cách tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng tiếp cận mang nhiều nét tích cực và khoa học Ông có lý khi cho rằng: những nhân tố văn hóa, xã hội tác động đến toàn bộ văn hóa nói chung và thông qua văn hóa, khả năng tác động đến văn
học (M Bakhtin, Mỹ học sáng tạo ngôn từ ) Có thể xem, đây là quan điểm đề cao
vai trò của văn hóa trong nghiên cứu văn học Văn học là một thành tố nằm trong văn hóa, là bộ phận của văn hóa Nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa với tư cách là toàn bộ sáng tạo vật chất và tinh thần của nhân loại, thực chất là đặt cái riêng trong cái chung, cái bộ phận trong cái tổng thể Từ đó, giúp ta có cái nhìn toàn diện, hệ thống trong việc khám phá các giá trị cốt lõi của tác phẩm văn học Ở những mức độ khác nhau, các tác phẩm văn học đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và văn hóa truyền thống của một quốc gia, một dân tộc Cùng với hệ thống giá trị văn hóa mang tính nhân loại, mỗi quốc gia, dân tộc có hệ thống mang giá trị riêng Theo đó nó được thể hiện một cách tự giác, hoặc không tự giác trong các sáng tác của các nhà văn Nghiên cứu tác phẩm văn học không thể bỏ qua các phương diện văn hóa của tác phẩm Người đọc không khó để nhận ra những nét văn hóa quen thuộc của người Việt trong thơ Hồ Xuân Hương, ở
đó có những trò chơi dân gian (đánh đu), phong tục tập quán (mời trầu)… hay trong thơ của Nguyễn Khuyến thường in đậm màu sắc của làng cảnh Bắc bộ Việt Nam… Không chỉ thể hiện màu sắc văn hóa Việt ở phương diện nội dung, các tác giả còn thể hiện những quan niệm sống, lối sống thông qua hình thức Điều này được thể thể hiện rõ nhất là khả năng Việt hóa chữ Hán thành chữ Hán Nôm và chữ Nôm – Một đặc sản của tiếng Việt thời trung đại (như đã nói ở phần trên), hoặc thể thơ lục bát được nâng lên đỉnh cao của thể thơ dân tộc với những nhà thơ như Nguyễn Huy
Trang 26Tự, Nguyễn Du Có thể nói, văn hóa lan tỏa trên mọi phương diện của văn học Tiếp xúc với bất kì tác phẩm văn học nào chúng ta cũng nhận ra vô vàn biểu hiện văn hóa thuộc các lĩnh vực đời sống được phản ánh như chính trị, kinh tế, pháp luật, phong tục tập quán, tín ngưỡng và ngay cả tâm hồn, tính cách của nhân vật văn học cũng mang đậm dấu ấn văn hóa qua các thời kì lịch sử Điều này giải thích vì sao lâu nay có rất nhiều công trình khai thác văn hóa qua văn học và ngược lại Hướng tiếp cận hai chiều giữa văn học và văn hóa đã mang lại những đóng góp quan trọng của các nhà nghiên cứu Từ đây ta thấy mối quan hệ mật thiết và khăng khít giữa văn học và văn hóa Trong văn học ta tìm thấy văn hóa và trong văn hóa, chúng ta nhìn thấy vai trò của văn học Tất cả hòa quyện vào nhau, bổ sung, hỗ trợ
nhau đúng như Phan Ngọc từng khẳng định: “Đối với người Việt Nam, văn học gần
như là đồng nghĩa văn hóa” Điều này khẳng định vai trò to lớn góp phần hình
thành nên văn hóa chính là văn học Văn học là một lĩnh vực không thể thiếu khi nghiên cứu về văn hóa của bất cứ dân tộc nào Chính vì vậy, trong nghiên cứu văn học Việt Nam hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học Phan Ngọc, vốn là nhà văn hóa học nên
ông đã dùng yếu tố văn hóa để soi, rọi mọi chiều kích của tác phẩm Truyện Kiều, từ
đó tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du Trong cuốn “Tìm hiểu phong cách Truyện
Kiều của Nguyễn Du”, ông đã chứng minh một cách thuyết phục rằng Truyện Kiều
là sản phẩm sáng tạo độc đáo, mang đậm dấu ấn, tài năng phong cách sáng tạo của Nguyễn Du, trên cơ sở, tư tưởng thẩm mỹ, những quan niệm, lối sống, cách ứng xử… đồng thời chứng minh rằng tác phẩm thể hiện hồn cốt văn hóa Việt mà các nhà nghiên cứu văn học đã khám phá ra dưới góc nhìn văn hóa
Như vậy nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa nói chung và nghiên cứu văn học trung đại dưới góc nhìn văn hóa nói riêng là hướng tiếp cận vừa quen, lại vừa lạ Quen vì đã được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận để tìm ra cái hay, cái mới trong tác phẩm văn học thông qua văn hóa, còn lạ là do khả năng khám phá, đi sâu vào một lĩnh vực nghiên cứu nào đó của tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa để có thể
có cách tiếp cận mang tính khái quát cho cả một giai đoạn văn học chẳng hạn như giai đoạn văn học trung đại Việt Nam Đây cũng chính là cánh cửa còn bỏ ngỏ để các nhà nghiên cứu có thể phát huy tài năng đem những công trình nghiên cứu về
Trang 27văn hóa Việt trong tác phẩm văn học
Tác phẩm là con đẻ tinh thần của người nghệ sĩ, là sản phẩm của một thời đại, ra đời trong một không gian văn hóa Yếu tố văn hóa ảnh hưởng lớn đến sự thành công của tác phẩm Tiếp cận, nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa mở ra khả năng giúp chúng ta tiếp nhận và giải mã một cách sâu sắc giá trị của tác phẩm Từ đó kéo gần hơn khoảng cách giữa văn học và đời sống con người trong mọi thời đại Khi chúng ta nhìn về vốn văn hóa bốn nghìn năm lịch
sử dựng nước và giữ nước của cha ông, thì luôn tự hào rằng trong truyền thống ấy,
có công không nhỏ là các tác phẩm văn học đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, khám phá dưới góc độ văn hóa
1.2 Bối cảnh văn hóa thời đại Nguyễn Dữ
Vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, thời đại hoàng kim của chế độ phong kiến ở nước ta cáo chung Chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng mâu thuẫn nội
bộ giữa các tập đoàn phong kiến đã bộc lộ bước đầu khá sâu sắc Chỉ trong vòng 30 năm từ khi Lê Thánh Tông mất (1497) đến Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527) nước
ta đã có 6 ông vua lên ngôi, trừ vua Lê Hiển Tông hiền lành còn lại đều ăn chơi xa đọa, vô độ, những ông vua đó hoặc bị phế truốt, hoặc bị gọi là “vua lợn”, “vua quỷ”, Các vua Lê lúc này đã đi vào con đường xa hoa, dâm dật, bọn địa chủ quan liêu thì tham ô, nhũng loạn đục khoét nhân dân Không còn những “ vua sáng tôi hiền” của thời Hồng Đức, mà chỉ còn những hôn quân bạo chúa, tranh nhau lên ngai vàng vì lợi ích dòng họ, hưởng lạc cá nhân, những gì Lê Thánh Tông cố công gây dựng đã nhanh chóng sụp đổ
Nguyên nhân chính là do sự tàn bạo và xa đọa của những ông vua, ngôi báu
bị thay đổi liên tục và do sự chuyên quyền nổi loạn của các thế lực chính trị, liên tục xâu xé, tranh giành ảnh hưởng lợi lộc thế nên chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài, đưa đất nước vào tình trạng tồi tệ, đời sống người dân vô cùng cực khổ
Sống trong hoàn cảnh ấy, nhân dân phải chịu bao cảnh lầm tha, bần cùng, chết chóc Kinh tế bị kìm hãm, tàn phá, việc xây dựng đất nước do vậy gặp khó khăn Chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài, đưa đất nước vào tình trạng tồi tệ, đời sống người dân vô cùng cực khổ
Trang 28“Chính sự phiền hà Lòng dân oán hận”
( Bình Ngô Đại Cáo- Nguyễn Trãi)
Tình cảnh đói khổ, chết chóc, ly tán cộng vào đó là những thiên tai triền miên đã đẩy nhân dân vào tình cảnh đã khổ lại càng khổ hơn Đây chính là bối cảnh
xã hội, chính trị đã tác động một cách mạnh mẽ tới nền văn hóa và văn học của dân tộc, tạo cho nó có những chuyển biến rõ rệt và sâu sắc
Giai đoạn này cũng là giai đoạn Nho giáo suy thoái và là điều kiện thuận lợi
để Phật giáo có cơ hội hưng khởi Đứng trước tình trạng đất nước loạn lạc, xã hội phong kiến thối nát, những nhà Nho có tài và có tâm làm sao không thể ngao ngán, chán nản? Trong xã hội nước ta lúc này xuất hiện hiện tượng nhiều nhà Nho đã không ra thi, hoặc thi đỗ nhưng chỉ làm quan trong khoảng thời gian ngắn rồi treo
ấn từ quan về ở ẩn Tuy ở ẩn nhưng họ vẫn quan tâm đến thế sự Bây giờ, họ không chỉ thuần ca ngợi những mặt tốt đẹp của các tập đoàn phong kiến cát cứ vốn là đặc điểm của nền văn học trung đại, mà họ đã gián tiếp mượn chuyện xa xưa, hoang đường, hay những hình ảnh ẩn dụ kín đáo để chì trích tình trạng mục ruỗng của xã
hội đương thời Nguyễn Dữ là một trong những tri thức đó Ông đã dồn vào Truyền
kỳ mạn lục không chỉ tài năng mà quan trọng hơn là những điều mắt thấy, tai nghe,
những điều chướng tai, gai mắt trong xã hội đương thời Với mong muốn khuyến thiện, trừ ác, đồng cảm xót thương cho những kiếp người khốn khổ, oan khuất và thể hiện ước mơ có một đất nước với vua hiền, tôi trung, nhân dân sung túc Nguyễn Dữ đã vẽ nên một thế giới thần tiên, tươi đẹp, nơi đây không hiện hữu cái
ác, chỉ có những điều tốt đẹp, con người có thể sống an nhàn Ông cũng vẽ ra một chốn âm ty địa phủ, với những hình phạt đáng sợ để răn đe, khuyên bảo những người chót làm điều ác vì với ông ở hiền gặp lành, ác giả, ác báo, gieo gió gặp bão… Vì vậy chúng ta có thể thấy đây chính là cơ hội thuận lợi, hay nói cách khác
là mảnh đất màu mỡ giúp các Nho sĩ gieo hạt cho chủ nghĩa nhân văn phát triển
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong những tác phẩm như vậy Nó mang
hơi thở của thời đại, đồng thời đem đến những dấu ấn đậm nét về văn hóa tinh thần cho con người Việt Nam của một nhà Nho chân chính
Trang 29Vĩ nhân người Ấn Độ Mhatma Gandhi từng nói: “Tôi không muốn ngôi nhà
của mình bị vây kín giữa những bức tường và những khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt, tôi muốn văn hóa của mọi miền đất tự do thổi vào ngôi nhà đó Nhưng tôi sẽ không bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn gió nào” Ở Việt Nam “Hòa nhập chứ không
hòa tan” là chiến lược phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên
cách hơn chúng ta hàng thế kỷ Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục đã tiếp thu và
có chọn lọc những tinh hoa văn hóa trong và ngoài nước để tạo sự đa dạng nhưng
vô cùng độc đáo, hấp dẫn về văn hóa giúp nó mang màu sắc, dấu ấn riêng của cá nhân và dân tộc
Trong bước suy thoái của chế độ phong kiến, trước những thăng trầm khôn lường, khó liệu của một xã hội hỗn loạn Các nhà Nho chân chính đã ký thác tâm
sự của mình trong tác phẩm văn học khi họ đối diện với hiện thực rối ren của cuộc sống đương thời Ví như Nguyễn Dữ đã thể hiện tư tưởng văn hóa Việt Nam tuy bị
đè nén, bị kìm kẹp song đó lại là điều kiện, cơ hội thuận lợi cho các tư tưởng về Nho giáo: trung, hiếu, tiết, lễ, nghĩa, công, dung, ngôn, hạnh… được phô bày với cả mặt trái và mặt phải của nó Phật giáo các tư tưởng như từ bi hỷ xả, hay ở hiện gặp lành, vấn đề thiện, ác của con người trong cuộc sống… có cơ hội bùng nổ Sự tiếp
thu chọn lọc, sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ
mạn lục làm giàu có thêm nền văn hóa nước nhà Hãy nghe Dương Thiên Tích nhân
vật trong tác phẩm Chuyện gã trà đồng giáng sinh chất vấn một đạo nhân để thấy rõ hơn điều đó: “Tôi nghe đạo trời công minh như cái cân, cái gương, có thần minh để
gây dấu vết, có tạo hóa để giữ công bằng; gương tất soi suốt mà không riêng, lưới tuy thưa thớt mà không lọt Phép thuật, chí nghiêm mà chí mật, người nên không oán cũng không hờn Cớ sao những sự khuyên răn lại thấy lắm điều lộn xộn Làm
sự lợi vật, chưa nghe thấy được phúc, làm sự hại nhân, chưa nghe thấy mắc nàn Kẻ nghèo có chí cũng thành không, người có muốn gì cũng được nấy Có người chăm chỉ học mà suốt đời không đỗ, có người xa hoa mà lũy thế vẫn giàu Ai bảo rằng trao mận giả quỳnh, thế mà vẫn trồng dưa được đậu Đó là những sự mà tôi rất nghi ngờ không hiểu” Đạo nhân trả lời: “Thiện ác tuy nhỏ cũng rõ rệt, báo ứng dù chậm nhưng lớn lao Âm công khi rõ ràng ra, phải đợi quả thiên được tròn trận, dương phúc khi siêu tan mất, phải chờ các mần ác dã cao dài Có khi sắp duỗi mà
Trang 30tạm co, có khi muộn đè mà thử nống Có bất hạnh mà nghèo, hoặc bởi tội khiên kiếp trước, bất nhân mà khá, hoặc bởi phúc thiện đời xưa Tuy rằng khó biết sâu xa, nhưng thực không sai tơ tóc” Đoạn văn đối đáp trên đây đã phản ánh sự thực xã
hội, lý giải những vấn đề của cuộc sống trong lúc trật tự đảo điên, cương thường đổ nát Nhà văn Nguyễn Dữ đã phải mượn đến những quan niệm nghiệp duyên, quả báo, họa phúc của Phật giáo… để chấn an, động viên con người khi chứng kiến cảnh trái ngược với đạo đức trong đời sống Như vậy đứng trước xã hội dối loạn đương thời, theo Đạo nhân (Người phát ngôn cho Nguyễn Dữ) phải có sự chủ động đón nhận, lạc quan, tin tưởng và hãy hy vọng vào tương lai bởi mọi việc đều có
nguyên do gốc dễ của nó “Cho nên không nên lập luận một bề mà xem trời một
mặt” hãy sống chan hòa, bao dung, độ lượng Đó là thông điệp Nguyễn Dữ muốn
gửi tới chúng ta khi ông đã tiếp thu vẻ đẹp của Phật giáo để làm giàu cho truyền thống văn hóa dân tộc Bên cạnh những thuyết pháp của Đạo giáo, Phật giáo làm nên vẻ đẹp nhân cách con người còn có những những điều mê tín gắn liền với tôn
giáo ấy, những yếu tố phi Nho giáo trong Truyền kỳ mạn lục như: ở hiền không
gặp lành, ác giả, ác không báo… chúng đã ăn sâu vào trong tâm trí của nhân dân Tác phẩm mang sự day dứt trong tâm trạng của nhân dân lao động Làm cho cuộc sống trắng đen lẫn lộn và sau đó tự an ủi, bằng sự lạc quan, tin tưởng và hy vọng vào sự phúc, thiện tuy chậm nhưng lớn lao trong cuộc sống Điều này giúp các tác phẩm của Nguyễn Dữ mang nhiều ý nghĩa về bài học đạo lý làm người Nguyễn
Dữ cũng như các nhà văn, nhà thơ cùng thời đại đã đưa văn hóa của mọi miền đất
tự do thổi vào ngôi nhà văn hóa Việt Điều đặc biệt là văn hóa Việt sẽ không bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn gió mạnh nào Đây chính là sự giữ gìn và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu có thêm cho văn hóa dân tộc nước nhà
Mặt khác nhà nước phong kiến với cách thống trị sử dụng tôn giáo, kết hợp với các tổ chức tôn giáo để khống chế, đàn áp nông dân về tinh thần, tuyên truyền giáo dục hệ tư tưởng phong kiến, thần thánh hóa chế độ phong kiến cũng như quyền lực, địa vị của giai cấp mình Các vua chúa phong kiến thường tự cho mình là “thiên tử” là “cái bóng” của trời thừa hành thiên mệnh, thay trời, trị dân nên buộc mọi người dân phải tin và phải theo tôn giáo Những người có tư tưởng, quan điểm tiến
bộ nhưng trái với quan điểm tôn giáo và lợi ích của giai cấp thống trị thường bị bức
Trang 31hại Vì vậy nảy sinh mâu thuẫn giai cấp rõ dệt Có thể nói rằng: Văn hóa bản địa bị
đè nén lâu nay, tạo cơ hội thuận lợi cho văn hóa dân gian bùng nở và văn học dân gian, cũng như văn hóa dân gian với vai trò là đại diện của người dân lao động đã nói lên tiếng nói của mình thông qua sự phản kháng, lên án, tố cáo xã hội phong kiến mục ruỗng, thối nát, từ đó tác động mạnh mẽ đến đời sống tư tưởng xã hội và văn học
1.3 Sơ lược về Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục Vai trò của văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục
1.3.1 Sơ lược về Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục
Nguyễn Dữ ( ? - ? ) sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, cha
là Nguyễn Trường Phiêu, ở làng Đỗ Tùng huyện Gia Phúc, nay là Đỗ Lâm, Tứ Lộc, Hải Dương đậu tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hông Đức thứ 27 (1497) Lúc còn nhỏ Nguyễn Dữ từng ôm ấp ý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Đem tài đức của mình ra để phục vụ đất nước Nguyễn Dữ từng đi thi đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội Thời
gian này ông miệt mài “ghi chép” để giử gắm tư tưởng của mình vào tập Truyền kỳ
mạn lục trong thời gian ông ở ẩn
Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, được chia thành 4 tập, mỗi tập 5 truyện
Ngay từ khi mới ra đời tác phẩm đã được đón nhận với những lời đánh giá khá cao
và ngày càng khảng định được giá trị Tác phẩm thực sự trở thành một áng “thiên cổ
kì bút”, “thiên cổ kì thư” (Vũ Khâm Lân), “ Lời lẽ thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ
lấy làm ngợi khen” (Phan Huy Chú) Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục giống như một
viên ngọc mà ở đó các nhà nghiên cứu càng mài rũa, càng nghiên cứu thì càng phát hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm này đặc biệt trên phương diện văn hóa Tác phẩm không những là niềm tự hào của dân tộc ta, mà còn thu hút sự khám phá của các chuyên gia nghiên cứu trên thế giới về văn hóa, phong tục, tập quán… của Đất nước và con người Việt Nam thông qua tập truyện này
Về mặt nội dung, hầu hết các chuyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý- Trần,
Hồ thuộc Minh, Lê sơ trên địa bàn Nghệ An trở ra Bắc Thông qua các nhân vật
Trang 32thần tiên, ma quỷ, tinh loài vật, cây cỏ… tác phẩm muốn gửi gắm tư tưởng phê phán nền chính trị rối loạn Không còn kỉ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian thần nịnh hót, bọn quan cao chức trọng thỏa sức vơ vét của cải, nhiễu sách dân lành Xã hội rối ren, tệ nạn nảy sinh đến thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi cũng đắm chìm trong sắc dục Trong xã hội đó Nguyễn Dữ đặc biệt chú trọng hướng ngòi bút của mình đến hai loại nhân vật: người phụ nữ và trí thức (Nho sĩ) Khi phản ánh người phụ nữ với số phận bé nhỏ chịu nhiều đau khổ, những trang viết của ông thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc Khi viết về người trí thức, ông trân trọng, ngợi ca nhân cách thanh cao, cứng cỏi, đề cao đạo đức phong kiến xuất phát từ khuynh hướng “ẩn dật” do không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, song về cơ bản vẫn là sự gắn bó chặt chẽ với cuộc đời
Về nghệ thuật, tác phẩm thuộc thể loại truyền kì được viết bằng văn xuôi
Hán có xen những bài thơ, ca từ, biền văn Cuối truyện (trừ truyện 19 Cuộc nói
chuyện thơ ở Kim Hoa) đều có lời bình thể hiện thái độ, chính kiến và tình cảm của
nhà văn đối với những sự việc và nhân vật trong tác phẩm
Bằng trí tưởng tượng phong phú, bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả Truyền
kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần, vừa
hư, vừa thật Xuyên qua các lớp ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài giỏi ấy vẫn hiện
rõ một thế giới thật của cuộc đời Ở đó nhan nhản những kẻ có quyền thế độc ác, đồi bại Phải chăng đấy chính là hình ảnh của xã hội Nguyễn Dữ đang sống, một xã hội phong kiến lúc suy yếu, mục nát mà ở đó đạo đức xã hội xuống cấp Tuy nhiên,
bên cạnh những điều xấu ấy tác giả Truyền kỳ mạn lục vẫn nhìn thấy những phẩm
cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những tình người, tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đã mô tả nó thật đẹp đẽ, mỹ lệ
Đó chính là những nét đẹp văn hóa đã trở thành truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Việt dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ, ông muốn nhắn nhủ, gửi gắm trong tác phẩm của mình nhằm góp phần hình thành sức sống lâu bền cho tác phẩm
1.3.2 Vai trò của văn hóa Việt trong Truyền kỳ mạn lục
Văn hóa Việt có vai trò vô cùng quan trọng trong Truyền kỳ mạn lục
Nhờ có truyện truyền kỳ nói chung và Truyền kỳ mạn lục nói riêng, văn hóa dân
gian được tiếp nối và phát triển mạnh mẽ tạo nên nét riêng độc đáo của thể truyền
Trang 33kỳ trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc Ví như những câu chuyện được tác
giả Nguyễn Dữ ghi chép trong dân gian chẳng hạn trong Chuyện chức phán sự đền
Tản Viên, đã được Nguyễn Dữ hóa giải thông qua hình ảnh của Ngô Tử Văn - Một
kẻ sĩ ngay thẳng, cương trực, thấy việc gian tà không thể chịu được nên đã châm lửa đốt đền đòi lại công bằng cho thổ thần đất Việt mặc cho mọi người lắc đầu, lè lưỡi khiếp sợ thay cho Ngô Tử Văn Theo quan niệm của dân gian, hành động của Ngô
Tử Văn đã làm kinh thiên động địa đến thánh thần, ma quỷ… rất dễ bị thần thánh trừng phạt Tử Văn đã đi ngược lại quan niệm đó của nhân dân Điều này đã tạo
điểm nhấn khắc sâu trong tâm lý bạn đọc một bài học về đạo lý làm người “cây
ngay không sợ chết đứng” Trong Chuyện cây gạo thông qua linh hồn của Nhị
Khanh và Trình Trung Ngộ, Nguyễn Dữ đã đưa đến một quan niệm mà từ lâu đã ăn
sâu trong tiềm thức của người dân đó là “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”
Có thể nói Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã viết tiếp, tô đậm, khắc họa rõ nét
hơn nét đẹp văn hóa dân gian của dân tộc Việt
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra đời nhằm ghi chép những câu chuyện
tản mạn lưu truyền trong dân gian Cốt truyện có trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn như Đền thờ Vũ Thị Khiết ở Hà Nam, Đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên… Phải chăng, trong những trường hợp nhất định, truyện của Nguyễn Dữ, với tính phổ cập khá rộng lớn đã được đón nhận truyền tụng và diễn Nôm, đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa văn học dân gian - văn học thành văn và tín ngưỡng dân gian Tất cả tạo ra sự kết hợp hài hòa mà ở đó
có công không nhỏ của các yếu tố văn hóa tâm linh, tín ngưỡng - một nét sinh hoạt văn hóa quen thuộc của người Việt xua và nay
Mối quan hệ giữa tập truyện của Nguyễn Dữ với văn học dân gian và đời sống xã hội là mật thiết Đặc biệt bởi ở đây không chỉ có ảnh hưởng một chiều thường thấy giữa văn học dân gian và nhà văn mà còn thể hiện những ảnh hưởng hết sức rộng lớn từ tác phẩm tới cuộc đời và đời sống tâm linh của con người Đây cũng là một biểu hiện chứng tỏ những truyện truyền kỳ mang dấu ấn văn hóa của vị nho sĩ ẩn dật đã chạm đến nhân tâm và tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, lòng
tự hào dân tộc của người Việt Nam Thông qua những yếu tố văn hóa mang đậm bản sắc của con người Việt đã làm cho tác phẩm của ông vượt ra ngoài “phên dậu” của Cù Hựu Một số nhà nghiên cứu sau này như Hà Thiện Hán, Lê Qúy Đôn, Phan
Trang 34Huy Chú đều cho rằng: Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu trong sáng tác Thực tế Nguyễn Dữ có vay mượn, song sự vay mượn rất tinh sảo Tiến sỹ văn học
người Nga K.I Gônnưghina trong cuốn Truyện ngắn Trung Quốc thời trung đại đã
so sánh Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và
cho rằng: Nguyễn Dữ đã phá vỡ những quy luật từ lâu đời về hình thức thể loại và tạo ra những tác phẩm theo kiểu tự do hơn Hơn nữa Nguyễn Dữ không đi theo con đường kể lại chủ đề của truyện Ngay cả trong những truyện có nội dung tương tự
nhau là Chiếc đèn mẫu đơn và Chuyện cây gạo, điểm khác nhau cơ bản giữa
Nguyễn Dữ và Cù Hựu là cảm hứng về tình và sắc Trong truyện của Nguyễn Dữ cảm hứng về tình lấn át cảm hứng về sắc… Điều đó cho thấy nét đặc thù trong đời sống văn hóa tinh thần hai nước và cảm hứng giữa hai nhà văn có những mặt khác nhau Ngoài ra chúng ta còn thấy giữa tác phẩm truyền kỳ của Nguyễn Dữ và Cù Hựu còn khác nhau ở chủ đề Trong tác phẩm của Nguyễn Dữ bên cạnh việc phản ánh chủ đề về tình ái… ẩn sâu trong nó là tư tưởng thể hiện lòng yêu nước, chống ngoại xâm và tinh thần tự hào dân tộc của con người Việt Nam Những tư tưởng đó
đã trở thành truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta
Nguyễn Dữ đã đúc kết được trong bản thân mình những tinh hoa không những của văn học dân tộc mà của cả vùng văn học Đông Á Những thành công về
mặt nghệ thuật và nội dung, tư tưởng của tập truyện Truyền kỳ mạn lục một phần nhờ vào sự khơi gợi từ vai trò của văn hoá Việt trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 35đến sự góp mặt của các tác phẩm văn học của từng thời đại Trong văn học trung đại ngoài các tác giả gạo cội như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… chúng ta phải kể đến Nguyễn Dữ - người được coi là cha đẻ của thể truyền kỳ ở
Việt Nam Với 20 truyện ngắn trong tập Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ đã có một
vị trí nhất định trong lòng văn học dân tộc Những kiến thức về văn hóa mà ông đúc rút từ cuộc sống để rồi đưa vào trong tác phẩm của mình nhằm thể hiện chủ
đề, tư tưởng thông qua hình thức nghệ thuật cũng như nội dung mà tác giả muốn chuyển tải để mọi người biết đến Nguyễn Dữ nhờ sự đồng điệu về tâm hồn giữa tác giả với người đọc Từ đó văn hóa của dân tộc Việt được thấm nhuần và lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Đó là nhờ vào vai trò, sức mạnh của thể
truyền kỳ nói chung và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ nói riêng tạo nên
thương hiệu riêng cho thể truyền kỳ Việt Nam, làm cho nó mang đậm màu sắc văn hóa của con người Việt Nam
Từ những nền tảng nói trên, chúng tôi tiến hành khảo sát 20 truyện truyền kỳ
trong Truyền kỳ mạn lục để từ đó làm rõ biểu hiện của văn hóa Việt cũng như các
phương thức thể hiện văn hóa Việt trong chương 2 và chương 3 của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2
BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA VIỆT TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
Trong cuộc sống của chúng ta văn hóa được biểu hiện rất đa dạng, phong phú Nó thường là thước đo mọi chiều kích về sự phát triển của lịch sử, xã hội và con người Nên nhiều nhà văn lớn đã khai thác những biểu hiện văn hóa để làm chất liệu trong tác phẩm giúp chúng mang những giá trị đặc sắc, tiêu biểu cho hồn cốt
dân tộc Trong Truyền kỳ mạn lục biểu hiện của văn hóa dân gian không chỉ giúp
người đọc nhận ra sự quen thuộc, thân thương của văn hóa trong sinh hoạt thường ngày của mỗi con người mà còn chỉ ra những dấu hiệu nhận biết về văn hóa của dân tộc Nguyễn Dữ dùng chính văn hóa để phản ánh bức tranh đời sống tinh thần của con người Việt Nam đương thời đã được ông khắc họa trên các phương diện: về tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội; bức tranh về cảnh sắc của đất nước; cách sinh hoạt ứng xử của con người trong xã hội Tất cả đều hướng về đạo đức – một biểu hiện cơ bản của văn hóa Đây cũng chính là những nội dung cơ bản của luận văn mà
chúng tôi triển khai ở Chương 2
2.1 Dấu ấn tín ngưỡng dân gian, phong tục, tập quán lễ hội trong Truyền kì mạn lục 2.1.1 Dấu ấn tín ngưỡng dân gian
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp trồng lúa nước Nền văn hóa bản địa phong phú, đa dạng được hình thành từ trong đời sống, sinh hoạt của nhân dân lao động Cho nên không thể không quan tâm đến văn hóa dân gian nói chung cũng như tín ngưỡng dân gian nói riêng vốn là tài sản của nhân dân được lưu truyền và gìn giữ từ nhiều thế hệ Nói đến tín ngưỡng dân gian nhà nghiên cứu Lê Như Hoa có
đưa ra quan niệm của mình “tín ngưỡng dân gian được hiểu là những hình thái tôn
giáo sơ khai, chúng được hình thành trên cơ sở tâm cách nguyên thủy (primitive metality) để nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kỹ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh” [14] Cùng quan điểm này, một học giả
phương Tây, Patrick B Mullen, trong cuốn Folklore - một số thuật ngữ đương đại, lại cho biết tín ngưỡng dân gian có một nội hàm rất phong phú: “Tín ngưỡng dân
gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép, các hiện tượng siêu nhiên, các câu cuả bà nội trợ già, y học dân gian, tôn giáo dân gian, các biểu hiện của thời tiết, cây cỏ, các lời
Trang 37cầu khấn tụng niệm, những người hay vật mang đồ rủi, đồ làm từ rễ cây, những điềm tốt hay điềm xấu, các chuyện yêu ma và những điều cấm kị”
Như vậy Tín ngưỡng dân gian không chỉ giới hạn ở lòng ngưỡng mộ và niềm tin tôn giáo mà còn thể hiện ở phạm vi khá rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân Điều này có được là do sự linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo để phù hợp với cuộc sống thực tế của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc Khi họ tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái những thần thánh, vật thiêng, hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn gán cho những phẩm chất siêu phàm hình thành nên tín ngưỡng Do vậy tín ngưỡng dân gian có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người, tạo nên nét văn hóa riêng đối với các dân tộc
Trong Truyền kì mạn lục, ta có thể thấy dấu ấn của loại hình tín ngưỡng như:
Loại hình tín ngưỡng phồn thực “phồn” nghĩa là nhiều, “thực” biểu hiện cho
sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật Nó mang tính biểu tượng linh thiêng, cầu mong cuộc sống ấm no, người người hạnh phúc Tại Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực phát triển vô cùng đa dạng và phong phú, muôn hình vạn trạng Dấu ấn phồn thực trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đậm chất nhục dục Thông qua các cuộc tình
mang màu sắc tự do của các đôi trai gái giữa người với người, giữa người với ma, giữa người với tiên hoặc giữa tiên với tiên trong tác phẩm Các cuộc tình trong
Truyền kỳ mạn lục mang nhiều cung bậc, sắc thái khác nhau, với nhiều nội dung
khác nhau Tuy nhiên một trong những nội dung Nguyễn Dữ thể hiện rõ nhất là quan niệm về một tình yêu đích thực ở cả góc độ thể xác và tinh thần được thể hiện
từ các đấng thần tiên con người hay ma quỷ Với mục đích tạo ra tiếng nói của con người trong tình yêu, đặc biệt là tình yêu nam nữ Vấn đề mà xưa kia trong xã hội phong kiến luôn luôn bị cấm cản bởi những luật lệ hà khắc của bọn phong kiến, chúa đất, chúng đã mượn những luật lệ đó để cai trị, thống trị người dân, sự tự do của con người bị bó hẹp hơn, nhưng bản năng con người là không thay đổi Do vậy Nguyễn Dữ đã nói hộ tiếng nói của nam nữ trong tình yêu bằng cách thả họ về với thế giới của bốn cõi: cõi trời, cõi nước, cõi âm và cõi dương Cho dù là cõi nào đi chăng nữa, với Nguyễn Dữ tình yêu, hạnh phúc trong mỗi con người luôn là khát vọng, là đích đến trong hành trình cuộc đời mỗi con người Thế nên nàng Nhị
Khanh (Chuyện cây gạo) đã từng tâm sự: “Nghĩ đời người ta, chẳng khác gì giấc
Trang 38chiêm bao Chi bằng trời để sống ngày nào nên tìm thấy những thú vui Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc, ân ái, cũng không thể được nữa”, “nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới hầm khô, khiến cho tía rụng, hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phàn nàn gì nữa” Qua cuộc nói
chuyện trên giữa Nhị Khanh với Trình Trung Ngộ, có thể thấy sự mạnh dạn, táo bạo trong tình yêu của người phụ nữ Nàng như dám bẻ hàng rào của xã hội phong kiến
để tìm về với bản chất tự do, để thỏa mãn niềm khao khát hạnh phúc trần tục của mình Đây là điều hiếm gặp trong xã hội phong kiến đương thời Tình yêu nam - nữ dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ được thể hiện một cách rất bản năng theo nhu cầu sinh lí Bên cạnh việc tình yêu mang đậm sắc thái truyền thống là chung thủy, nó còn thể hiện khía cạnh tín ngưỡng phồn thực mãnh liệt của ông cha ta xưa Không
thẳng thắn mãnh liệt như Nhị Khanh, nhưng hai hồn hoa Đào, Liễu (Chuyện kỳ ngộ
ở trại tây) dù là loài cây cỏ cũng khao khát chủ động tìm đến tình yêu: “Từ ngày quan Thái sư qua đời, chúng em vẫn phòng khóa kín Nay gặp tiết xuân tươi đẹp, chúng em muốn làm những bông hoa hướng dương, để khỏi hoài phí mất xuân quang” Nguyễn Dữ đã mạnh dạn đưa vào trong tác phẩm của mình chuyện nhục
dục, gối chăn… để thỏa mãn lạc thú của con người Tuy nhiên những cái kết thúc con gái ma quỷ đến với chàng trai trần tục để thỏa mãn lạc thú thường thì yêu nữ bị trừng phạt, phải tan biến cùng giấc mộng phong lưu Trong lời bình tác giả nhấn mạnh đó là chuyện gian tà Tuy nhiên với giọng điệu, qua văn phong, cảm xúc có thể thấy sự chia sẻ và cảm thông của Nguyễn Dữ với những con người yêu nhau mà không đến được với nhau Đặc biệt ông thông cảm cho những khao khát chính đáng của con người, nhất là người phụ nữ Ra đời vào thế kỉ XVI khi con người bị đặt trong mối quan hệ luân thường, bị ràng buộc bởi những điều cấm kỵ của Nho giáo Người phụ nữ trong xã hội ấy không những phải tuân theo những quy tắc chặt chẽ của Nho giáo, mà còn bị coi như nguồn gốc của sự cám dỗ, đe dọa đạo đức Những
tư tưởng của Nho giáo đối với người phụ nữ thực chất là sự tước đoạt quyền lợi của
nữ giới để tạo nên một xã hội vận hành theo kiểu nam quyền Vấn đề dục tính được coi là bản năng vốn có, một phần quan trọng trong đời sống con người nhưng lại bị xem như một trong những điều cấm kị Vì vậy, trong các sáng tác thơ văn của những nhà Nho rất ít có hình ảnh người phụ nữ và vấn đề tình dục Nhưng trong tác
Trang 39phẩm của mình, Nguyễn Dữ đã không e ngại khi đề cập đến vấn đề này mặc dù ông vẫn đứng trên lập trường đạo đức của Nho gia để nhìn nhận, đánh giá con người Điểm tiến bộ của Nguyễn Dữ là trong không ít trường hợp, dù là vô thức hay có ý thức ông đã viết nên những dòng ngợi ca vẻ đẹp tình yêu, hạnh phúc cá nhân, đề cao những khát vọng, nhu cầu chính đáng của người phụ nữ Ông đã dùng những ngôn ngữ vừa tinh tế vừa trần tục để miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối mang màu sắc dục nhằm công khai đòi quyền sống, quyền tự do hạnh phúc của người phụ
nữ Bởi lẽ đó mà những câu chuyện tình trong tác phẩm của ông đã làm xôn xao cả cõi trần thế, cả chốn thủy cung, cả nơi tiên giới Ông đã thổi hồn vào tác phẩm giúp
nó mang âm điệu, hồn cốt dân tộc để rồi đến mấy thập kỷ sau chúng ta mới gặp lại hình bóng của Nguyễn Dữ khi tìm hiểu về phồn thực trong các tác phẩm của bà
chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi bà đồng cảm, chia sẻ cho thân phận “Ốc Nhồi”,
“Quả Mít”… của người phụ nữ xưa
Ngoài dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực xuất hiện nhiều trong Truyền kỳ mạn
lục , thì tập truyện còn có dấu ấn tín ngưỡng sùng bái vạn vật hữu linh
Trên hành trình lịch sử văn hóa ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên là hình thức sơ khai nhất Tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên bắt nguồn từ thời nguyên thủy, khi con người lệ thuộc vào thiên nhiên và kinh sợ sức mạnh tự nhiên Ý thức
tôn thờ tự nhiên trong Truyền kỳ mạn lục biểu hiện tản mạn ở nhiều tích truyện, có
thể rõ ràng nhưng có khi chỉ là dấu ấn
Đầu tiên phải kể đến ý thức tôn thờ tứ phủ của người Việt Trong 20 truyện
thuộc tác phẩm, ta thấy có sự hiện hữu của cõi Trời trong Từ thức lấy vợ tiên,
Chuyện Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Chuyện gã trà đồng giáng sinh…; là cõi đất
trong Chuyện Lý tướng quân; là cõi rừng trong Chuyện đối đáp của người tiều phu
núi Na, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên…;
đặc biệt phổ biến là cõi nước trong một loạt chuyện: Người con gái Nam Xương,
Chuyện yêu quái ở Xương Giang… Hình ảnh mỗi phủ đều được miêu tả rõ nét với
những điểm đặc trưng của lầu hồng gác tía, dã quỷ, vạc dầu, sơn thâm thúy cốc hay nước biếc non bồng Đứng đầu mỗi phủ luôn có các vị chức sắc, thần tiên với sức mạnh ly kỳ cai quản Thủy phủ có tần số xuất hiện cao (12/20 truyện ) bởi đặc trưng văn hóa Việt Nam là văn hóa nước
Trang 40Thứ hai, ý thức sợ hãi và kính thờ động thực vật (vật linh giáo) – những loài
được coi là có linh hồn hay luyện khí mà thành tinh cũng thể hiện ở một số tác phẩm Truyện kể về những loài dã mộc trong dinh quan Thái Sư, sau 20 năm kể từ
ngày vắng chủ phải chịu cảnh dìu hiu, lạng lẽo, hoang tàn: “xơ xác tơi bời, lá trút
đầy vườn, tơ vương khắp giậu” Không muốn tan biến cùng thảm cảnh suy tàn ấy,
những loài liễu đã kết thành “u hồn trệ phách”, hoán thân thành nàng Đào, nàng
Liễu, chị ả họ Kim, cô nàng họ Thạch… Ước vọng của những hồn hoa là được một lần tận hưởng tình si trần tục, rồi cam lòng tan biến khi mùa đông tới Dù biết bấy lâu mê mải, đắm đuối cùng hồn hoa song Hà Nhân – người học trò trong chuyện vẫn có hành động đầy ân tình Chàng bán áo, lấy tiền sắm sửa cho cố tình nhân, rồi làm bài văn tế cảm động tiễn biệt Hiện tượng cây cối hữu linh còn được nói tới
trong Chuyện cây gạo Ở đó, linh hồn Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ “nương tựa
vào cây gạo làm yêu quái, hễ ai đụng đến cành lá là dao gãy rìu mẻ, không nào dẵn phạt” Chi tiết này phản ánh đúng quan niệm tín ngưỡng dân gian về “thần cây đa,
ma cây gạo, cú cá cây đề” Theo lối kiêng kỵ lâu đời, người Việt không trồng cây
đa, trồng gạo trong vườn nhà, không tự ý chặt đốn những loài cây cổ thụ được coi là nơi nhiều hồn ma bóng quỷ ẩn trú Tương tự động vật linh thiêng cũng được miêu tả
trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Đó là chú hạc đen kì lạ bay lên từ đám lửa
thiêu đốt người tiều phu núi Na, chú rùa mai xanh (hóa thần của Linh phi – vị nữ
thần sông nước) mà Phan Lang Chuyện người con gái Nam Xương đã cứu Cũng không thể không nhắc đến Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang mà nhân vật chính là
Vượn già và con Cáo thành tinh, biến thành người đàn ông họ Viên, họ Hồ mà đối đáp khôn ngoan với quan quân và vua Trần Phế Linh hồn Hàn Than, Vô Kỳ biến
thành đôi rắn trốn đi, Thần Thuồng Luồng Chuyện đối tụng ở long cung vốn là loài
rắn thành tinh cai trị một vùng sông nước, hoành hành ngang ngược khiến người dân phải lập miếu tôn thờ Sau khi bị Long Vương trừng phạt, miếu Thuồng Luồng
thành nơi “tường xiêu phách đổ, bia gẫy rêu trùm, duy chỉ có cây gạo đương tung
bay bông trắng dưới bóng dương tà xế” Người ta đồn rằng: “ Trước đây một năm, một hôm giữa ban ngày không mây mà mưa, nước sông đầy rẫy, rồi có một con rắn dài mười trượng, vẫy biếc mào đỏ, nổi trên mặt nước mà đi lên mạn Bắc, đằng sau
có hàng trăm con rắn nhỏ đi theo, từ đấy không linh thiêng nữa” Hiện tượng thờ
Thuồng Luồng, Hà Bá, nơi thủy vực hiểm sâu là một trong những sinh hoạt tín