Vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu văn học dân gian đề cập đến, song các công trình nghiên cứu chuyên biệt,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài: “Nhân vật Thần – Tiên trong truyện
cổ tích Việt Nam”, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo trong Khoa Văn học, các thầy cô trong chuyên ngành Văn học dân gian
Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội và đặc biệt là TS Nguyễn Việt Hương – người hướng dẫn trực tiếp
Tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô
Do năng lực nghiên cứu có hạn, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Minh Châu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn “Nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam” là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự tham khảo ý kiến của những người đi trước
Luận văn không sao chép từ một tài liệu, công trình có sẵn nào
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Minh Châu
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chí Anh (1999), Lý thuyết vũ trụ song song và các cõi giới tôn giáo”, Tạp chí nghiên cứu Phật học (4+5)
2 Phạm Tuấn Anh (2008), “Một số vấn đề lý luận về nghiên cứu cấu trúc truyện cổ
tích thần kỳ”, Tạp chí nghiên cứu Văn học (12), tr.67-75
3 Hà Châu (1971), “Từ nhân vật truyện cổ tích thần kỳ đến nhân vật truyện cười”,
Tạp chí Văn học (5), tr.48-56
4 Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, tập I –
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
5 Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và biên soạn (1858 – 1982), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
6 Nguyễn Đổng Chi (1972), “Nghiên cứu truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích
Việt Nam”, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I H, Nxb Khoa học xã hội, Hà
11 Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (2001), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (Phần
truyện cổ tích người Việt), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 612 Nguyễn Thị Bích Dung (2010), Thế giới nhân vật trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Cục xuất bản Công an nhân dân
13 Nguyễn Thị Dung (2012), Thế giới nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích thần kỳ các dân tộc Việt Nam, luận văn tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
14 Nguyễn Tấn Đắc (1990), “Về các bảng phụ tra cứu típ và mô típ của truyện kể dân gian”, Văn hóa dân gian – những phương pháp nghiên cứu, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính tổ chức bản thảo, Nxb Khoa học xã hội
15 Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif, Nxb Khoa
18 Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội
19 Nguyễn Xuân Đức (1997), Thi pháp truyện cổ tích thần kỳ, đề tài Khoa học cấp
bộ, tài liệu đánh máy lưu tại thư viện Viện nghiên cứu Văn hóa
20 Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội
21 E.M.Meletinxki (2004), Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc
dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
22 E.M.Meletinxki (1958), Nhân vật truyện cổ tích hoang đường – xuất xứ của hình tượng, tài liệu đánh máy lưu tại Viện văn học
Trang 723 Nguyễn Bích Hà (1998), Thạch Sanh và kiểu nhân vật dũng sĩ trong truyện cổ tích Việt Nam và Đông Nam Á, Nxb Giáo dục
24 Nguyễn Bích Hà (2010), Văn học dân gian Việt Nam, in lần thứ hai, Nxb Đại
học Sƣ phạm
25 Đỗ Đức Hiểu chủ biên (1984), Từ điển văn học, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội
26 Nguyễn Thị Huế (1999), Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội
27 Nguyễn Thị Huế (chủ biên) và Trần Thị An (2004), Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6 – truyện cổ tích thần kỳ, Nxb Khoa học xã hội
28 Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1962), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
29 Đinh Gia Khánh (1968), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, tái bản, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
30 Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian, tập 1, Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
31 Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1998), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội
32 Đinh Gia Khánh chủ biên (2001), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục ,
Trang 835.Trần Bình Minh (2000), Những tương đồng giữa các lễ hội cổ truyền Đông Nam
Á, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội
36 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2005), Tổng tập văn học dân gian người Việt,
Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội
37 Tăng Kim Ngân (1997), Cổ tích thần kỳ người Việt: Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb Khoa học xã hội
38 Trần Đức Ngôn (1991), “Lý thuyết hình thái học của V.Ia.Prốp và truyện cổ tích
thần kỳ của người Việt”, Tạp chí Văn hóa dân gian (3), tr.12-15
39 Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lý Hữu Tấn, Hoàng
Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trí Viễn (1961), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, tập 1: Văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội
40 Võ Quang Nhơn (1983), Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam,
Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
41 Lê Chí Quế (2001), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
42 Trần Đình Sử chủ biên, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam (1987), Lý luận văn học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội
43 Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
44 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, tái bản lần 2, Nxb Giáo dục,
Hà Nội
45 Đường Tiểu Thi (2007), “Khảo sát type truyện cô Lọ Lem của miền Nam Trung
Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Văn học, (8), tr.116-131
46 Đường Tiểu Thi (2007), “Mô típ “Liên tục biến hình” trong type truyện cô Lọ
Lem, Tạp chí Văn hóa dân gian, (4)
Trang 947 Đặng Thái Thuyên (1985), “Phân tích truyện cổ tích thần kỳ từ bản chất
phôncơlo của nó”, Thông báo khoa học Đại học sư phạm Hà Nội
48 Đỗ Bình Trị (1991), Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội
49 Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội
50 PGS.TS Vũ Anh Tuấn (2012), Giáo trình văn học dân gian, Nxb Giáo dục Việt
53 Hoàng Tiến Tựu (2000), Văn học dân gian Việt Nam (Giáo trình đào tạo giáo
viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng sư phạm), Nxb Giáo dục, Hà Nội
54 Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (2002), Tổng tập văn học các dân tộc ít người Việt Nam, tập 2- truyện cổ dân gian, Nxb Đà Nẵng
55 Vladimir Iakovlervits Propp (2003), Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 1, Chu Xuân
Diên, Phạm Lan Hương, Nguyễn Kim Loan, Phạm Bích Ngọc, Trần Minh Tâm, Đỗ Đức Thịnh, Đỗ Lai Thúy, Phan Ngọc dịch, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà Nội
56 Vladimir Iakovlervits Propp (2005), Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 2, Chu Xuân
Diên, Nguyễn Quang Lê, Nguyễn Kim Loan, Phạm Bích Ngọc, Trần Minh Tâm, Đỗ Đức Thịnh, Đỗ Lai Thúy, Phan Ngọc dịch, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà Nội
Trang 10kỳ ảo tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước
mơ của thể loại này
Sở dĩ truyện cổ tích có sức hấp dẫn kỳ lạ, phong phú là vì nó được xây dựng bằng trí tưởng tượng bay bổng, diệu kỳ, chuyên chở những quan niệm thẩm mỹ, khát vọng lớn lao nhưng vẫn thấm đậm chất liệu đời sống xã hội Việt Nam cổ, là biểu tượng nghệ thuật của cái hiền hòa, nhân ái hay tính chuẩn mực trong quan niệm, tâm lý dân tộc v.v… Vì thế, từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, ở nước ta, truyện
cổ tích Việt Nam rất được các nhà nghiên cứu chú ý
Khoa học nghiên cứu Văn học dân gian nói chung, truyện cổ tích Việt Nam nói riêng đã đạt được rất nhiều thành tựu về lý luận và phương pháp nghiên cứu Tuy nhiên các nghiên cứu tường tận một thể loại, một kiểu nhân vật cụ thể còn chưa thực sự phong phú Số lượng các truyện cổ dân gian được nghiên cứu nhiều nhưng việc xem xét nó từ góc độ văn hóa dân gian còn chưa được chú ý nhiều Vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam đã có một
số công trình nghiên cứu văn học dân gian đề cập đến, song các công trình nghiên cứu chuyên biệt, mô tả nhân vật một cách tổng thể, hệ thống, chuyên biệt còn chưa nhiều Việc khảo sát, phân loại, chỉ ra đặc điểm, chức năng, giá trị văn hóa của thế giới nhân vật Thần – Tiên trên các phương diện ngôn ngữ - dân tộc học – văn hóa học cũng chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến một cách chi tiết, rõ ràng Đây
là động lực thúc đẩy chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài Nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam
Thế giới nhân vật Thần – Tiên là một phương thức phản ánh đặc biệt về thế giới, con người của truyện cổ tích Tìm hiểu thế giới nhân vật Thần – Tiên sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về thế giới tâm linh huyền bí của người xưa, quan niệm nghệ thuật của tác giả dân gian về thế giới, con người, đồng thời cũng thấy được những
Trang 112
bước phát triển về trình độ nhận thức trong tư duy, đời sống tâm linh của xã hội, con người Việt Nam Tìm hiểu nhân vật Thần – Tiên qua các đặc điểm (ngôn ngữ, diện mạo, tính chất, giới tính, chức năng, hành động…) cũng như lý giải nguồn gốc hình thành các nhân vật này và hệ thống quan niệm thẩm mỹ mà người xưa gửi gắm
sẽ là một hướng nghiên cứu cần thiết để chúng ta có thể đưa ra một cái nhìn bao quát về truyện cổ tích Việt Nam
Thế giới nhân vật Thần – Tiên là một trong những hướng để nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian, mà cụ thể là truyện cổ tích có chứa đựng các yếu tố kỳ ảo trong mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết, giữa văn học dân gian với văn hóa dân gian Với những ý nghĩa sâu xa, rộng lớn như vậy, nhân vật Thần – Tiên cần được nghiên cứu một cách hệ thống
Từ các phương diện trên, chúng tôi nhận thấy nhân vật Thần – Tiền trong truyện cổ tích Việt Nam là nhân vật mang những đặc trưng riêng trong hệ thống nhân vật kỳ ảo của truyện cổ tích Việt Nam Vì thế, đây là một điều cần thiết và cuốn hút chúng tôi khi thực hiện đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các công trình sưu tầm truyện cổ tích Việt Nam
Việc sưu tập truyện cổ tích từ lâu đã được các nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Ngay từ thời Bắc thuộc đã có những viên đô
hộ ghi chép một số truyện cổ của người Việt, như sách giáo khoa Giao Châu ký của Triệu Công và Tăng Cổn, sách Lĩnh biểu lục dị của Lưu Tuân đề sống vào đời Đường Họ ghi chép một số ít truyện, do tính hiếu kỳ hơn là do ý muốn sưu tầm [7]
Đến đời Lý, Trần, một số người bắt đầu sưu tầm thần thoại, thần tích và truyện cổ tích của dân tộc Sở dĩ, họ sưu tầm truyện cổ tích, thần thoại nhà nước là
vì mục đích đi tìm tài liệu bổ sung cho lịch sử, nhất là giai đoạn khuyết sử, với ý muốn tìm về cuội nguồn dân tộc, nhiều hơn là nhằm bảo tồn văn học dân gian
Trong số những loại sách này có Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái của Trần Tế Pháp [7]
Trang 123
Vào khoảng cuối nhà Lê đầu nhà Nguyễn có nhiều sách vở xuất hiện, trong
đó có loại chữ bằng Hán văn Loại sách này có ghi chép ít hay nhiều những truyền
thuyết cổ tích lưu hành trong dân gian Có thể đếm được những quyển như Công dư tiếp ký của Vũ Phương Đề, Truyền văn tân lục của Nguyễn Diễn Trai, Lan trì kiến văn lục của Vũ Nguyên Hanh (tức Vũ Trinh), Sơn cư tạp thuật của Bùi Huy Bích (?), Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Tân truyền kỳ mạn lục của Phạm Quý Thích, Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng v.v… [7] Số
truyện do nhà nho thu góp trong sách trên, hầu hết là những truyền thuyết hoang đường hoặc những truyện cổ lịch sử Động cơ của những người ghi chép, cóp nhặt thì vẫn thế, vẫn không phải có ý thức sưu tầm văn học mà chỉ là tìm tòi tài liệu cho lịch sử, hay là lưu lại một sự việc chưa rõ căn nguyên
Lịch sử ngành nghiên cứu truyện kể dân gian thế giới đã có bề dày ngót 200 năm, còn ở Việt Nam thì có lẽ phải đến những năm 60 đầu những năm 70 của thế
kỷ này với sự xuất hiện của các công trình sưu tập truyện cổ tích như Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1958 - 1982 của Nguyễn Đổng Chi; Tổng tập văn học các dân tộc ít người Việt Nam, tập 2- truyện
cổ dân gian, Nxb Đà Nẵng, 2002, do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên; Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6 – truyện cổ tích thần kỳ, Nxb Khoa học xã hội, 2004 do Nguyễn Thị Huế (chủ biên) và Trần Thị An và đến năm 2000, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập của Nguyễn Đổng Chi được in lại thành hai quyển thì truyện kể
dân gian Việt Nam mới được nhìn nhận như một thể loại riêng biệt
Các công trình nghiên cứu truyện cổ tích
Một số nghiên cứu ngoài nước
R.M Volkov trong cuốn: Cổ tích điều tra về cách cấu tạo chủ đề của truyện
cổ tích dân gian, tập 1, Truyện cổ tích Bạch Nga, Ukraina, NXB Quốc gia Ukraina, Ôđetxa, 1924 (dẫn theo V.Ia.Propp trong cuốn: Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 1) đã
phân chia truyện cổ tích theo nút truyện, theo tính cách của nhân vật, theo số lượng nhân vật, theo một trong những yếu tố của quá trình hành động v.v… tuy nhiên đề tài hoàn toàn không được phân chia theo một tiêu chí cụ thể, thống nhất nào
Trang 134
Có thể nói, việc phát hiện ra cấu trúc đặc biệt của truyện cổ tích, công đầu
thuộc về các nhà forklore học châu Âu Người đầu tiên đưa ra khái niệm type và môtíp là nhà folklore học Nga nổi tiếng thế kỷ XIX A.N.Vêxêlôpxki với cuốn Những bài báo về truyện cổ tích, trong sách Tuyển tập các công trình nghiên cứu, tập 16, Lêningrat xuất bản, 1938 (trích dẫn theo V.Ia.Propp trong cuốn Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 1, Nxb Văn hóa Dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà
Nội, 2003) Kế thừa những thành tựu của Vêxêlốpxki, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về type và motif thành công như công trình của các nhà nghiên cứu
thuộc trường phái địa lý – lịch sử (trường phái Phần Lan)
Cùng với phương pháp phân tích cấu trúc hình thái truyện cổ tích, V.Ia.Propp được đánh giá là một trong những nhà folklore học vĩ đại nhất của thế
kỷ XX Sau khi công trình Hình thái học truyện cổ tích ra đời, ông đã được coi như
là người mở đường cho lý thuyết nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử, lý thuyết về chức năng của nhân vật hành động phát triển (ở Việt Nam, cuốn này nằm trong tập
Tuyển tập V.Ia.Propp, tập I, NXB Văn hóa dân tộc - Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
xuất bản, Hà Nội, 2003)
Sau Hình thái học truyện cổ tích, V.Ia.Propp tiếp tục công việc nghiên cứu của mình bằng công trình Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ nhưng
theo một hướng mới là truy tìm chìa khóa dẫn tới nguồn gốc lịch sử của các câu
chuyện cổ tích (ở Việt Nam, cuốn này nằm trong Tuyển tập V.Ia.Propp, tập II, NXB Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà Nội, 2005)
Ở châu Á, cụ thể là ở miền Nam Trung Quốc, một trong những tác giả đề cập đến vấn đề nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ sớm nhất phải kể tới Đoàn Thành
Thức đời Đường với cuốn: Đậu dương tạp trở, bao gồm những motif truyện giống như kiểu Cô Lọ Lem Sau này, các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Đường Tiểu Thi với bài viết Khảo sát type truyện Cô Lọ Lem của miền Nam Trung Quốc, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 8/2007…, [45] đã có trong tay 70 bản kể về type truyện
Cô Lọ Lem của Trung Quốc
Trang 145
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả trên hầu như mới
đề cập đến truyện cổ tích dưới các góc độ như: đề tài, motif, cốt truyện; hành động,
nguồn gốc, chức năng của nhân vật v.v…Nếu các nhà nghiên cứu có phân loại truyện cổ tích theo hướng phân tích cấu trúc cốt truyện thì các ý kiến đưa ra cũng chưa hoàn toàn thống nhất bởi vì họ chưa tìm được tiếng nói chung về việc xác định
“đơn vị cơ bản” cấu tạo nên cốt truyện
Phần lớn các công trình nghiên cứu đó đều khẳng định trong truyện cổ tích luôn tồn tại nhiều dạng thức không gian khác nhau, sự chuyển đổi phi cản trở giữa các loại hình không gian thông qua chuyến du hành của các nhân vật truyện cổ tích Việc tìm hiểu nhân vật kỳ ảo nói chung, nhân vật Thần - Tiên trong truyện cổ tích nói riêng chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo dưới các góc độ: nguồn gốc, tính chất, chức năng, tác động…và mối quan hệ giữa chúng
Một số nghiên cứu trong nước
Các công trình nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam:
Công trình đầu tiên mang tính chất tiên phong dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên
cứu truyện cổ tích Việt Nam là sử dụng phương pháp nghiên cứu theo type và motif của trường phái địa lí - lịch sử, công trình Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện
cổ tích qua truyện Tấm Cám của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh vào năm 1968
[29]
Sau Đinh Gia Khánh, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi vào nghiên cứu các
motif nổi bật trong một nhóm truyện Đây cũng là một hướng vận dụng phương
pháp nghiên cứu ảnh hưởng của trường phái địa lí - lịch sử Trước hết, Nguyễn Thị
Huế viết Người mang lốt- motif đặc trưng của kiểu truyện cổ tích về nhân vật xấu xí
mà tài ba (1997) Đến 1998, Nguyễn Bích Hà với công trình Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á (1998) [23] Năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc viết Từ truyện Kajong và Halêk của người Chăm đến type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á trong quyển Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif [15] Bài viết đã đi vào so sánh các bản kể khác nhau thuộc nhiều dân tộc của type
truyện Tấm Cám phổ biến Trong phần “Những nhận định khái quát về truyện cổ
Trang 15Tiếp nhận hướng nghiên cứu mới, vận dụng phương pháp nghiên cứu hình thái học của Propp, Tăng Kim Ngân đã vận dụng lí thuyết về 31 chức năng của
Propp trong Cổ tích thần kì người Việt- đặc điểm cốt truyện (1994) [35]
Loại phương pháp thứ ba được các nhà văn học dân gian áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu là thi pháp học trên cơ sở so sánh văn học viết và văn học dân gian
Trước hết, Hoàng Tiến Tựu với công trình Bình giảng truyện dân gian (1996) đã
tiến hành bình một số truyền thuyết, truyện cổ tích tiêu biểu [51] Năm 2010,
Nguyễn Định với Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ đã tiến hành thống kê và lí giải về yếu tố thần kì trong truyền thuyết
và truyện cổ tích của người Việt ở khu vực này [17] Đến năm 2011, Nguyễn Xuân
Đức đã đóng góp cho làng nghiên cứu khoa học về truyện cổ tích công trình Thi pháp truyện cổ tích thần kì người Việt Công trình này chủ yếu đề cập đến những
đặc điểm thi pháp của truyện cổ tích thần kì người Việt trong quan hệ đối sánh với
văn học viết là chủ yếu [19] Công trình Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
của Nguyễn Xuân Đức vào năm 2011 cũng có nhiều đóng góp về mặt thi pháp văn học dân gian nói chung và thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích nói riêng Công trình đã đề cập nhiều vấn đề như tiêu chí phân loại thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích dựa theo chức năng, đặc trưng thi pháp của chúng [20]
Ngoài ba phương pháp trên, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp cấu trúc - chức năng để nghiên cứu truyện cổ tích Đặc biệt, nhà nghiên cứu Chu
Xuân Diên với chuyên luận Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học (1989) đã
từng bước khái quát các trào lưu nghiên cứu truyện cổ tích của các nhà folklore thế
Trang 167
giới và Việt Nam nhằm tiến tới khẳng định một cách nhìn toàn diện về lịch sử nghiên cứu và phân loại truyện cổ tích Trong chuyên luận này, tác giả đi vào các vấn đề cơ bản của thể loại này như khái niệm, vấn đề nguồn gốc và nghiên cứu lịch
sử truyện cổ tích, mối quan hệ của truyện cổ tích với hiện thực và việc nghiên cứu thi pháp truyện cổ tích [10]
Các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc trang bị kiến thức nền tảng cũng như định hướng nền tưởng về mặt phương pháp luận để nghiên cứu đề tài luận văn này Mặt khác, các công trình này cũng cung cấp nhiều tri thức về dân tộc học, xã hội học, văn hóa,… hỗ trợ chúng tôi trong việc ứng dụng phương pháp liên ngành để giải thích các hiện tượng, quy luật xuất hiện trong luận văn
Các công trình nghiên cứu hệ thống nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích Việt Nam
Truyện cổ tích thường trình bày mơ ước đậm hơn hiện thực, kết thúc có hậu nên rất cần dùng yếu tố kỳ ảo, vốn là những yếu tố tưởng tượng, không có thật, không theo quy luật khách quan v.v…Vì vậy, khi phân tích cơ sở lịch sử, nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích chúng ta không thể bỏ qua yếu tố thần kỳ như là một dấu hiệu đặc trưng của kiểu nhân vật này
Năm 1961, nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong cuốn: Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (Văn học dân gian) – tập 1 – NXB Giáo dục đã đề
cập đến các dạng nhân vật như: Bụt, tiên, thần, ma quỷ; những vật có ma lực (ngựa
thần, gươm thần…) v.v…[39]
Sau đó, Nguyễn Đồng Chi với: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập,
NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1958 – 1982 (trước năm 1967, mang tên là NXB
Văn Sử Địa) [5]; Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên trong cuốn: Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục Hà Nội, 1962 [28]; Cao Huy Đỉnh với: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1974 [18]; Đặng Thái Tuyên với: Đề tài hôn nhân trong truyện cổ tích thần kỳ Mường, Tạp chí Văn học,
số 5/1983; Nguyễn Thị Huế với bài viết: Nhân vật xấu xí mà có tài trong truyển cổ
Trang 178
tích các dân tộc Việt Nam, Tạp chí Văn học số 5/1985 (năm 1999, tác giả đã triển
khai vấn đề này một cách chi tiết, công phu hơn trong một công trình cùng tên);
Tăng Kim Ngân với Cổ tích thần kỳ người Việt – Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, NXB Khoa học xã hội, 1997; Đỗ Bình Trị với Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, NXB Giáo dục, 1999, v.v… cũng đều nói đến yếu tố kỳ ảo
mà trong đó có nhân vật kỳ ảo
Trong số các tác giả kể trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến ý kiến: “…yếu tố
kỳ diệu, siêu nhiên chính là một thủ pháp nghệ thuật gắn với nội dung lãng mạn của
truyện…” [30] của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Bút
pháp nghệ thuật phổ biến ở giai đoạn đầu là yếu tố thần kỳ Tiên, bụt, vật báu thần
kỳ, các hình thức biến hóa thần kỳ của con người và thiên nhiên là những lực lượng phù trợ cho nhân vật chính đạt tới hạnh phúc Phù thủy, ma quỷ, những con vật và
đồ vật quái dị của chúng…là những lực lượng thù địch, tàn ác, ngăn cản và hãm hại nhân vật chính” [18, tr.67] Đỗ Bình Trị nhấn mạnh: “Lực lượng thần kỳ bao gồm: 1/ những nhân vật thần kỳ (Thần, Bụt, Tiên…), 2/ những vật có phép màu (cung tên thần, gươm thần, đàn thần, bút thần, sách ước…), 3/ sự biến hóa siêu tự nhiên (người hóa thành vật, vật hóa thành người, vật này hóa thành vật khác, người thế
này hoá thành người thế khác …)” [44, tr.14] Ông cho rằng: chỉ có một kiểu nhân vật chính như: người con riêng, người em út, người mồ côi, người mang lốt vật,
người đi ở, người dũng sĩ, người có tài lạ … là xuất hiện trong truyện cổ tích mà thôi
Vào năm 2008, trong Luận án tiến sỹ: Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ [17], tác giả Nguyễn Định đã chia yếu tố thần kỳ làm hai dạng: Theo dạng biểu hiện, yếu tố thần kỳ được chia thành các dạng
nhỏ sau: Dạng hữu hình gồm: dạng người (Tiên, Bụt, bà Chằng, Ngọc hoàng, mụ phù thuỷ…), dạng loài vật (đại bàng, phượng hoàng, trăn tinh…), dạng đồ vật (cung thần, đàn thần, niêu cơm thần…), ngoài ra, còn có dạng vật thể (giếng nước, hồ
nước…); dạng vô hình gồm: ma quỷ, câu thần chú, lời nói thần kỳ…Theo bản chất
xã hội, yếu tố thần kỳ có hai tuyến: tuyến thiện và tuyến ác Sau khi phân loại yếu tố
Trang 18kỳ ảo là nét nghệ thuật đặc trưng của truyện cổ tích Yếu tố này can thiệp vào mọi
cốt truyện hoang đường và là phương tiện tiếp sức cho nhân vật chính hoàn thành nhiệm vụ Càng lùi về quá khứ xa xưa, yếu tố kỳ ảo càng đậm nét Nó vừa là thủ
pháp nghệ thuật, vừa là niềm tin của nhân dân
Tuy nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam chưa được dành cho một công trình nghiên cứu độc lập nào nhưng đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến một số kiểu, loại hoặc phân chia một số nhóm nhân vật cổ tích nào đó trong các công trình, bài viết của mình như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên trong cuốn:
Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục Hà Nội, 1962; Nguyễn Ngọc Côn với: Lịch sử văn học Việt Nam, tập I (tủ sách Đại học Sư phạm), văn học dân gian, phần
I (nhiều tác giả), in lần 3, NXB Giáo dục, 1970; Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật
với: Lịch sử văn học Việt Nam, tập I – NXB Khoa học xã hội, 1980; Võ Qunag Nhơn với: Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1983; Chu Xuân Diên với: Từ Truyện cổ tích trong Từ điển văn học, tập II, NXB Khoa học xã hội, 1984; Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) với cuốn: Nhân vật thần kỳ, NXB Văn hoá dân tộc Hà Nội, 1989; Nguyễn Thị Huế với bài viết: Nhân vật xấu xí mà có tài trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 5/1991; Trần Đức Ngôn với bài viết: Lý thuyết hình thái học của V.Ia.Propp và truyện cổ tích thần kỳ của người Việt, Tạp chí Văn hoá dân gian số 3/1991; Hoàng Tiến Tựu với cuốn: Bình giảng truyện dân gian (in lần 2), NXB Giáo dục, 1996; Đặng Văn Lung, Võ Thị Hảo với cuốn: Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam – Tuyển chọn một số công trình, tập 2, NXB Văn hoá dân tộc, 1997; Nguyễn Xuân Đức: Thi pháp truyện cổ tích thần kỳ, đề tài khoa học, lưu tại Trường Đại học Vinh – Nghệ An, (1997); Phạm Đức Dương với: Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp tiếp cận văn hoá học, Tạp chí Văn học, số 1/1998; Nguyễn Bích
Trang 1910
Hà với: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam
Á, NXB Giáo dục, 1998 và bài viết: “Vận dụng lý thuyết văn học so sánh, tìm hiểu kiểu truyện “người em” trong truyện cổ tích Việt Nam và châu Âu”, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 4/2005; Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) với cuốn: Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 2 – truyện cổ dân gian, NXB Đà Nẵng, 2002; Nguyễn Tấn Đắc với: Truyện kể dân gian, đọc bằng type và môtíp, NXB Khoa học
xã hội Hà Nội, 2001 và bài viết: Ai xung đột với ai trong type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á, Tiểu ban 4 – Viện Văn học, Hội thảo Văn học quốc tế, 2006 v.v…
Các công trình nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam
Về nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam, đã có một vài nhà nghiên cứu đề cập tới khi phân loại truyện cổ tích, như trong Luận án tiến sỹ của
Nguyễn Định Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ, trong luận án này tác giả đã chia yếu tố thần kỳ làm hai dạng: Theo dạng biểu hiện, yếu tố thần kỳ được chia thành các dạng nhỏ sau: Dạng hữu hình gồm:
dạng người (Tiên, Bụt, bà Chằng, Ngọc Hoàng, mụ Phù Thuỷ…), dạng loài vật (đại bàng, phượng hoàng, trăn tinh…), dạng đồ vật (cung thần, đàn thần, niêu cơm thần…), ngoài ra, còn có dạng vật thể (giếng nước, hồ nước…); dạng vô hình gồm:
ma quỷ, câu thần chú, lời nói thần kỳ…Theo bản chất xã hội, yếu tố thần kỳ có hai
tuyến: tuyến thiện và tuyến ác Trong công trình nghiên cứu này thì nhân vật Thần,
Tiên được xếp vào dạng hữu hình cùng với Phật, Phù Thủy… Luận án tiến sĩ Thế giới nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích thần kỳ các dân tộc Việt Nam của Nguyễn
Thị Dung đã đề cập và nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên trong hệ thống các nhân vật thần kỳ, từ cơ sở hình thành, khảo sát tất cả các loại nhân vật thần kỳ xuất hiện trong truyện cổ tích thần kỳ các dân tộc Việt Nam… và nhân vật Thần, Tiên cũng được đề cập tới, nhưng chưa nghiên cứu sâu trên các phương diện phương thức biểu hiện, chức năng, tác động, nghệ thuật truyện, giá trị văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng…
Trang 2011
Mặc dù chưa đề cập đến Nhân vật Thần – Tiên trong hệ thống nhân vật kỳ ảo một cách đầy đủ nhưng những công trình nghiên cứu trên thật sự là những tư liệu cần thiết, giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn để phân loại và sắp xếp kiểu nhân vật này một cách có hệ thống Hướng nhìn nhận nhân vật Thần – Tiên trong hệ
thống nhân vật kỳ ảo một cách toàn diện dưới góc độ folklore về cơ bản vẫn chưa nhiều; đặc biệt là nhân vật Thần – Tiên trong phạm vi của bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, biên soạn Những yếu tố nghệ thuật,
cái tạo nên vẻ đẹp của nhân vật Thần - Tiên chưa được xem xét thấu đáo trong các công trình nghiên cứu, bài viết trên Các ý kiến đưa ra về hệ thống nhân vật này còn
mờ nhạt Các tác giả cũng chưa đề cập một cách hệ thống về các tiêu chí, cơ sở để xác định nhân vật Thần Tiên trong mối quan hệ hữu cơ như: Nguồn gốc, tính chất, chức năng, hành động, tác động,…
Nhân vật Thần Tiên hầu như chưa được nghiên cứu như một phương thức tư duy quan trọng và là một phương tiện nghệ thuật độc đáo để chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực Quan niệm nghệ thuật về thế giới, con người của người xưa cũng chưa được bộc lộ đầy đủ trong các nhân vật này Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả trên chủ yếu mới chỉ dừng lại ở các lực lượng thần kỳ hoặc nếu
có đề cập đến nhân vật kỳ ảo thì cũng chỉ là xét chung chung trong một loại hay một nhóm nhân vật nào đó như: Tiên, Thần, Bụt v.v… Một số loại nhân vật chỉ được nghiên cứu trên phương diện đơn lẻ như: Chức năng, hành động của nhân vật, nhân
vật chính và hoàn cảnh khởi đầu, motif…
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thấy cần cụ thể phạm vi nghiên cứu
để có cái nhìn bao quát và đi sâu vào nghiên cứu nhân vật Thần - Tiên nhằm tìm hiểu nguồn gốc hình thành, đặc điểm nhân vật, phương thức nghệ thuật biểu hiện, giá trị văn hóa v.v…của loại nhân vật này trong truyện cổ tích Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên
3.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên nói riêng, nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam nói chung, một mặt giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn một thể loại hết
Trang 2112
sức phong phú và đa dạng trong kho tàng văn học dân tộc, mặt khác giúp ta hiểu được tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhân dân lao động trong sự đối sánh với thành tựu của những người sáng tạo chuyên nghiệp trong văn học viết
Luận văn chỉ ra đặc điểm của nhân vật Thần – Tiên: số lượng, tần xuất, nguồn gốc, dạng thức xuất hiện, diện mạo, tính cách, hành động v.v… Xác định được chức năng của nhân vật Thần – Tiên tham gia trong truyện cổ tích; đồng thời
so sánh các nhân vật Thần – Tiên với nhau, nhân vật Thần – Tiên với các nhân vật
thần kỳ khác trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Nhận xét, đánh giá về sự
tương đồng, sự khác biệt giữa các nhân vật là Thần, là Tiên, nhân vật Thần – Tiên với các nhân vật kỳ ảo khác trong truyện cổ tích
Tìm hiểu phương thức nghệ thuật biểu hiện nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam về các mặt: xây dựng nhân vật, cốt truyện, không gian, ngôn ngữ, Đồng thời thông qua việc tìm hiểu cơ sở hình thành nhân vật Thần – Tiên, chúng tôi khẳng định được chức năng, giá trị của văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng (thờ cúng các vị thần…) trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật của tác giả dân gian về thế giới và con người
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ nghiên cứu các truyện cổ tích Việt Nam có xuất hiện nhân vật Thần – Tiên Nghiên cứu về đặc điểm, phương thức biểu nghệ thuật biểu hiện, giá trị văn hóa của các nhân vật Thần – Tiên trong truyện
cổ tích Việt Nam
Về tư liệu nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn cuốn sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (2000), Nguyễn Đổng Chi, 2 quyển, Nxb Giáo dục, Hà Nội làm tư liệu
khảo sát
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, khảo sát tư liệu: Lựa chọn cuốn sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (2000), Nguyễn Đổng Chi, 2 quyển, Nxb Giáo dục, Hà Nội
làm tư liệu khảo sát Sau đó đọc tất cả và dừng lại ở những truyện có nhân vật Thần
– Tiên Trên cơ sở này, chúng tôi thống kê, phân loại chúng
Trang 2213
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sẽ so
sánh các loại nhân vật Thần – Tiên với nhau, nhân vật Thần – Tiên với các nhân vật
kỳ ảo khác trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Thế giới nhân vật Thần – Tiên được
chúng tôi phân chia thành các kiểu, loại nhân vật có các chức năng khác nhau Chúng tôi sẽ phân tích từng biểu hiện cụ thể của chúng Khi phân tích tư liệu, chúng tôi chọn những dẫn chứng cụ thể của cho nhân vật Thần - Tiên và cuối cùng rút ra nhận xét, đánh giá tổng hợp
- Phương pháp liên ngành: Chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành (dân
tộc học, văn hóa học, phân tâm học, tôn giáo học v.v…) để lý giải những quan niệm thâm mỹ cùng nguồn gốc hình thành của thế giới nhân vật Thần – Tiên
Ngoài các phương pháp nghiên trên chúng tôi còn sử dụng rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử…
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam là hướng tiếp cận liên ngành từ truyện cổ tích Việt Nam cho đến phân tâm học, văn hóa học, dân tộc học v.v…
Thống kê các câu chuyện cổ tích có xuất hiện nhân vật Thần – Tiên trong
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, biên soạn), xác định
được số lượng, tần số, hành động, chức năng, giới tính, tính chất… của nhân vật Thần – Tiên, tạo thành hệ thống thế giới nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam
Chỉ ra các dạng thức và phương thức nghệ thuật của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam: xây dựng cốt truyện; tổ chức không gian, thời gian,
tổ chức sự kiện và tạo ra các thủ pháp,…
Luận văn khẳng định được giá trị văn hóa của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam: phản ánh trí tưởng tượng phong phú, hóa giải những vấn
Trang 23Chương 1: Tổng quát về đề tài
Chương 2: Diện mạo và đặc điểm của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam
Chương 3: Phương thức nghệ thuật biểu hiện nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam
Chương 4: Giá trị văn hóa của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam
Trang 2415
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Truyện cổ tích và nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích Việt Nam 1.1.1 Khái niệm truyện cổ tích
Các nhà nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian đã đưa ra nhiều quan niệm, khái niệm về truyện cổ tích, điều đó phản ánh tính phong phú, phức tạp của thể loại này Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thật chính xác, phổ quát tuyệt đối trong quan niệm của các nhà nghiên cứu
Trong ngôn ngữ Châu Âu có rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ truyện cổ
tích Ngôn ngữ Anh sử dụng thuật ngữ ghép Antique Vestiget (trong đó Antique là
cổ xưa, là cũ còn Vestiget là vết tích, dấu tích) Thuật ngữ này có nội hàm khá rộng,
tương ứng với ý nghĩa “truyện cổ”, “truyện đời xưa” tức là nhằm chỉ tất cả các loại truyện dân gian
Ngôn ngữ Pháp ngày nay hai thuật ngữ được dùng để chỉ truyện cổ tích là
Cotes-bleu (truyện hoang đường) và Contes-de-fées (tiêu thoại) hoặc một thuật ngữ chỉ chung cả hai truyện đó là Contes-populaire (Contes là chuyện bịa đặt, còn populaire là thuộc về dân gian)
Các nhà khoa học Nga định nghĩa Ckazka là một trong những thể loại văn
học dân gian thuộc loại hình tự sự lấy hư cấu làm cơ sở cho sự sáng tạo, dẫu rằng
nó nói về những chuyện phiêu lưu (Avanchiur) hay chuyện thế sự… Ckazka là
những dạng khác nhau của loại hình tự sự truyền miệng: truyện kể về loài vật, chuyện thần kỳ, chuyện phiêu lưu, chuyện trào phúng châm biếm Theo các nhà nghiên cứu Xô Viết thì cổ tích là một chỉnh thể nghệ thuật tổng hợp các đặc điểm như: tính trần thuật, tính tưởng tượng hư cấu, tính giáo huấn Dĩ nhiên nó là truyện
cổ dân gian, lưu truyền bằng miệng v.v…
Ở nước ta hiện nay trong các giáo trình văn học dân gian hay trong các công trình nghiên cứu, các tác giả ít đưa ra những định nghĩa và truyện cổ tích, mà chỉ đưa ra những đặc trưng chung để xác định thể loại Quá trình nghiên cứu truyện cổ
Trang 25cứu folklore đã xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau Một khuynh hướng cho rằng,
có thể định nghĩa truyện cổ tích thông qua việc nhận biết những cốt truyện; khuynh hướng khác lại nhấn mạnh khả năng tin hoặc không tin của người nghe vào “tính khác thường” của cốt truyện cổ tích Người khác lại coi trọng sự phản ánh hiện thực một cách có ý thức của truyện cổ tích, v.v…
Trước cách mạng tháng Tám, truyện cổ tích thường được gọi là “truyện đời xưa”, dùng để chỉ chung các loại truyện dân gian, truyền miệng Về sau, phạm vi truyện cổ tích được thu hẹp dần, dùng để chỉ một loại riêng biệt Việc xác định thể loại truyện cổ tích ở nước ta càng ngày càng khó khăn vì bản thân truyện cổ tích Việt Nam mang tính chất phức tạp và có xu hướng đan xen vào các thể loại khác như thần thoại, truyền thuyết Những năm gần đây, các nhà khoa học có xu hướng tách riêng truyện cổ tích thành một thể loại độc lập, ra khỏi nhóm truyện dân gian Nhưng nhiều khi quan niệm cũ vẫn ảnh hưởng đến cách trình bày của các tác giả
Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên chủ biên)
vẫn xếp truyền thuyết vào loại truyện cổ tích lịch sử Khi định nghĩa truyện cổ tích tác giả cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể mà hiểu nó thông qua cách đối chiếu với thần thoại: “Thần thoại là những truyện mà nhân vật là thần, còn truyện cổ tích thì nhân vật là người; Thần thoại là sáng tác dân gian thời nguyên thủy; còn truyện
cổ tích là sản phâm của xã hội thị tộc đã tan rã, phản ánh đấu tranh xã hội; Thần thoại hấp dẫn bằng những hình tượng mỹ lệ, táo bạo, còn truyện cổ tích lôi cuốn chúng ta vào những nỗi niềm vui khổ, không khí đâu tranh chống cường quyền…” [28]
Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã khái quát từ hàng loạt định nghĩa về truyện
cổ tích:
Trang 26Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng kỳ ảo tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương pháp phản ánh hiện thực và ước mơ
Bàn về khái niệm truyện cổ tích với tư cách là một thể loại tự sự dân gian, nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi có nhận xét: “Khi nói đến truyện cổ tích hay truyện đời xưa chúng ta đều sẵn có quan niệm cho rằng đó là một danh từ chung bao gồm hết thảy mọi truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại Cũng vì thế, xác định nội dung từng loại truyện khác nhau để đi đến phân loại truyện cổ vẫn là một công việc hứng thú và luôn có ý nghĩa Tuy nhiên cho đến lúc này công việc đó vẫn chưa hoàn thành và chưa có một ý kiến nào khả dĩ gọi là thỏa
đáng” [7, tr11-12]
Xét về mặt từ nguyên, truyện cổ tích là thuật ngữ có gốc Hán Việt được hiểu là
những truyện xưa nay còn để lại dấu vết (cổ: xưa, tích: vết), ví dụ: Sự tích trầu cau,
Sự tích cây nêu ngày tết, Sự tích trái sầu riêng… Các giải thích như thế không bao
hàm phạm vi sáng tác truyện cổ tích, không trùng với nội hàm khái niệm “truyện cổ
tích”, vì rất nhiều truyện không tìm thấy dấu vết hay mối liên hệ của nó với thực tế
Trong cuốn Giáo trình văn học dân gian (PGS.TS Vũ Anh Tuấn chủ biên) thì
ông đưa ra nhận định khái quát như sau: “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kỳ ảo để thể hiện cái nhìn hiện
Trang 2718
thực của nhân dân đối với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như về công
lý xã hội và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động” [50]
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, giáo sư Lê Chí Quế trình bày khái
niệm “truyện cổ tích” thông qua việc xác định bản chất thể loại của nó Theo ông,
“Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính của nó là xây dựng trên những cốt truyện; truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật được xây dựng thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ; truyện cổ tích là một thể loại hoàn
chỉnh của văn học dân gian, được hình thành một cách lịch sử ” [41, tr.107]
Đặc biệt, giáo sư Chu Xuân Diên, trong chuyên luận Truyện cổ tích dưới mắt
các nhà khoa học, đã phân tích khá sâu sắc nội hàm khái niệm “cổ tích” Ông viết:
“Cổ tích là một từ Hán Việt “Cổ” có nghĩa là xưa, cũ Ta có khái niệm “truyện cổ” (hoặc “truyện cổ dân gian”), “truyện đời xưa” dùng để chỉ nhiều loại truyện dân gian khác nhau, trong đó có truyện cổ tích các loại truyện cổ khác nữa (cả thành
văn lẫn dân gian)” [11, tr.230] Sau khi diễn giải, ông nhấn mạnh, khái niệm “truyện
cổ tích” bao hàm ba yếu tố nghĩa: “Truyện cổ tích là truyện kể; truyện kể này có quan hệ với thời quá khứ xa xưa cả về nội dung lẫn nguồn gốc phát sinh; dấu tích
của truyện kể này vẫn còn lại cho đến nay” [11, tr.230- 231] Trong cuốn Từ điển văn học, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (1998) cũng đã nêu
ra định nghĩa khá đầy đủ và xác đáng: “Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy song phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp, chủ đề chủ yếu của nó là chủ
đề xã hội Nó biểu hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan niệm về công lý xã hội và ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân, yếu tố tưởng thần kỳ tạo nên một đặc trưng nổi bật
trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ” [25]
Từ những phát biểu trên, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích là một thể loại tự sự
dân gian có những đặc điểm khái quát sau: Truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian, có cốt truyện hoàn chỉnh; chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ
Trang 28có thực Mà trong thế giới không thực đó lại bao gồm những cái nên xảy ra, đáng lẽ phải xảy ra, cho nên chính nó còn giúp người ta hiện thực hóa những ước muốn
không tưởng
1.1.2 Phân loại truyện cổ tích
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn học dân gian đã phân chia truyện cổ tích theo các tiêu chí khác nhau Dưới đây, chúng tôi nêu ra một số trường hợp tiêu biểu:
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi cho biết: “Nghiêm Toản và Thanh Lãng
đã không dựa trên một tiêu chuẩn khu biệt nào trong khi phân chia truyện cổ thành các loại truyện khác nhau Nghiêm Toản chia truyện cổ tích làm bốn loại: truyện mê tín hoang đường, truyện luân lý ngụ ngôn, truyện phúng thế hài đàm và sự tích các
thánh” [7, tr.40] Thanh Lãng chia truyện cổ tích làm bảy loại: truyện ma quỷ, truyện anh hùng dân tộc, truyện ái tình, truyện luân lý, truyện thần tiên, truyện phong tục và truyện khôi hài [7, tr.40]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi chia truyện cổ tích làm ba loại: truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích thế sự, truyện cổ tích lịch sử [7, tr.53] Ông đã dựa vào
nội dung để hệ thống các truyện cổ tích thành một số kiểu truyện theo bản kể có khảo dị để phân loại truyện cổ tích thành ba tiểu loại trên [36, tr 24] Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh chia truyện cổ tích thành hai loại chính dựa vào nội dung:
truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự [32, tr 298] Các nhà nghiên cứu Chu
Trang 2920
Xuân Diên, Lê Chí Quế [11], Hoàng Tiến Tựu [53] đã chia truyện cổ tích thành ba
tiểu loại: truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt – xã hội
Trong Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, nhà nghiên cứu Nguyễn
Xuân Đức cho biết nhận định của Noovicôva về vai trò của yếu tố kỳ diệu: “Trong truyện cổ tích thần kỳ, các xung đột xã hội đƣợc giải quyết trong địa hạt của cái thần kỳ và nhờ cái thần kỳ” [20, tr.30] Ông khẳng định: “Muốn xác định thể loại chúng ta phải dựa chủ yếu vào chức năng và đặc trƣng thi pháp chứ không thể “căn
cứ vào nội dung truyện” vào các “dấu ấn”, “vào các chi tiết” hay vào “cái lõi lịch
sử” ” [20, tr.33] PSG TS Vũ Anh Tuấn trong cuốn Giáo trình văn học dân gian
cũng đồng tình với việc phân loại truyện cổ tích nhƣ đa số các nhà nghiên cứu văn học dân gian: “Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích về loài vật Tuy nhiên ông nhấn mạnh đây là một cách phân loại hợp lý, vì ngoài tiêu chí chính là đề tài thì những yếu tố nghệ thuật khác (nhân vật, tính kỳ ảo) cũng đƣợc tính tới trong khi phân loại Với các phân loại nhƣ trên thì khái niệm “truyện cổ tích” lớn hơn khái niệm “thể loại”, là một “loại” bao gồm ba “thể loại” khác nhau (Tuy nhiên theo thói quen, chúng tôi vẫn thống nhất gọi truyện cổ tích là “thể loại”,
và đƣợc phân chia thành các “tiểu loại” ” [50, tr.116] Trong cuốn thi pháp truyện
cổ tích thần kỳ Việt Nam, Nguyễn Xuân Đức phân chia nhân vật trong truyện cổ
tích thần kỳ ra làm 04 loại: nhân vật phân tuyến, nhân vật cực tuyến, nhân vật nhân cách, nhân vật phiếm chỉ
Hiện nay, ở Việt Nam, đa số các nhà nghiên cứu văn học dân gian tán thành
việc phân loại truyện cổ tích thành ba tiểu loại: truyện cổ tích về loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt Trong cách phân loại này, các nhà nghiên
cứu đã lấy vai trò của yếu tố thần kỳ là một tiêu chí: “Việc coi truyện cổ tích thần
kỳ là một tiểu loại của truyện cổ tích có những đặc điểm riêng về nhiều mặt, phân biệt nó với những tiểu loại truyện cổ tích khác nhƣ truyện cổ tích loài vật hay truyện
cổ tích sinh hoạt (…) Trong đó tiêu chí cơ bản phân biệt các tiểu loại với nhau là vai
Trang 3021
trò quan trọng của yếu tố thần kỳ trong việc chi phối quá trình phát triển hệ thống, tình tiết của cốt truyện” [36, tr.33 – 35]
1.1.3 Thi pháp truyện cổ tích
Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật,
về phương thức và thủ thật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng nhân vật Thi pháp truyện cổ tích là nghiên cứu bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố riêng lẻ như các mô típ, cốt truyện, cách mô
tả diện mạo bên ngoài và tâm lí bên trong của nhân vật cho đến không gian, thời gian,… Có nhiều vấn đề trong nội dung thi pháp truyện cổ tích, tuy nhiên chúng tôi chỉ đề cập tới một số vấn đề có liên quan tới đề tài
Cốt truyện là hệ thống những biến cố, hành động, những sự kiện,… tạo
thành những bộ phận quan trọng của câu chuyện nhằm chuyển tải nội dung của câu chuyện Những biến cố đó là những sự kiện bất thường được chia làm sáu phần:
Giới thiệu, là phần mở đầu ở đây chưa có biến cố, xung đột xảy ra Phần thắt nút,
thường là một biến cố quan trọng Đây là nút mở đầu cho chuỗi biến cố sẽ xảy ra ở
phần sau Phần phát triển, là phần trung tâm của câu chuyện Phần này là chuỗi
biến cố xảy ra theo trục thời gian, các biến cố có mức độ tăng dần đến một biến cố
căng thẳng, quyết liệt nhất Phần đỉnh điểm (còn gọi là cao trào), đây là phần giải quyết mâu thuẫn, xung đột Phần kết thúc (còn gọi là phần mở nút), đây là phần giải quyết số phận của nhân vật Phần vĩ thanh, là phần bài học được rút ra từ câu
chuyện Từ những đặc điểm của cốt truyện trên ta có thể nêu ra những đặc điểm của cốt truyện cổ tích như sau: Truyện cổ tích cũng có đầy đủ sáu phần cơ bản của cốt truyện như đã nêu trên Truyện cổ tích thường ngắn gọn, đơn giản, ít tình tiết, biến
cố Vì vậy, cốt truyện cổ tích thường đơn giản, sơ lược, khuôn mẫu Cốt truyện cổ tích thường xây dựng trên cơ sở cuộc đời của nhân vật chính diện Những xung đột tạo nên biến cố trong cốt truyện cổ tích có thể xảy ra trong phạm vi gia đình, xã hội nhưng cũng có khi chuyển từ phạm vi gia đình ra ngoài xã hội Những biến cố ấy có mức độ đơn giản đến phức tạp, có khi chuyển sang gây cấn, quyết liệt Ví dụ: Trong
truyện : Cây khế; Tấm Cám…
Trang 3122
Thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích là lớp thời gian quá khứ thể hiện
rõ nhất là cụm từ mở đầu truyện: “Ngày xưa, …” hay “Ngày xửa, ngày xưa,… ” Quá khứ trong truyện cổ tích là quá khứ “phiếm chỉ” Điều này cũng làm cho truyện
cổ tích có tính chất “phiếm chỉ” khác với truyền thuyết là thời gian được xác định
cụ thể Đó là thời gian của lịch sử Không chỉ có quá khứ “phiếm chỉ” mà thời gian trong truyện cổ tích còn là thời gian “mặc định” Khi cắt bỏ thời gian ở phần giới thiệu thì các biến cố của nội dung câu chuyện xảy ra là thời gian hiện tại hay còn gọi là thời gian khách quan Vì vậy, nhân vật trong truyện cổ tích bao giờ cũng hành động trong hiện tại mặc dù mọi hành động của nhân vật, mọi diễn biến của sự kiện, tình tiết lại vận động, gói gọn trong thời gian quá khứ “ngày xửa, ngày xưa” ấy Thời gian của cổ tích là quá khứ nhưng hành động của nhân vật được kể luôn là hiện tại, một thứ hiện tại trong quá khứ Đó là thứ thời gian kéo dài và liên tục, khi nào sự kiện kết thúc thì thời gian mới dừng lại, chấm dứt Do vậy, thời gian của truyện cổ tích là thời gian “mặc định” Thời gian trong truyện cổ tích có thể nhanh hoặc chậm tùy theo nhịp điệu trần thuật về những biến cố đã được lựa chọn, xắp xếp của người kể chuyện Do vậy, không có sự quy đảo về thời gian Nhân vật được giới thiệu là được tác giả dân gian đạt vào trục đối kháng, mâu thuẫn và cứ thế trôi theo dòng sự kiện ấy, không cảm nhận thời gian theo cảm xúc chủ quan Vì thế, nhân vật của truyện cổ tích khi đứng trước những biến cố có những hành động cụ thể, không quay lại để hồi tưởng, băn khoăn, không ưu tư, suy nghĩ,… không có
biểu hiện của tâm trạng Ví dụ trong truyện Tấm Cám, cô Tấm có rất nhiều lần đã
khóc, nhưng việc “khóc” của cô Tấm không phải nằm trong một tâm trạng gì cả mà
đó chỉ là một hành động “khóc” như mọi hành động khác trong truyện mà thôi Cũng chính vì thế mà trong truyện cổ tích không bao giờ có thời gian “tâm lí” (tâm trạng), và khi câu chuyện kết thúc là khi hành động đối kháng được giải quyết
Nếu thời gian nghệ thuật truyện cổ tích là thời gian “phiếm chỉ” thì không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích là không gian, không xác định, mơ hồ và
phiếm chỉ Điều này dề nhận thấy trong những yếu tố biểu thị không gian ở phần
mở đầu truyện đó là: … “tại một làng nọ”,… “vùng đất kia”, … “nhà kia”, …
Trang 3223
Những yếu tố chỉ không gian này được nhắc đến như một khái niệm, một ý niệm về không gian chứ không được miêu tả một cách cụ thể Ngoài ra, công việc, hành động của nhân vật gợi cho chúng ta thấy được không gian của truyện cổ tích là không gian của làng quê nhưng cũng không được mô tả cụ thể Qua nhiều chi tiết được nhắc đến đã gợi ra khung cảnh làng quê như: mò cua, bắt cá, chăn trâu, đốn củi, cày ruộng, giữ ruộng, trèo cau, dệt vải, làm rẫy, chèo đò, đi hội làng,… Không gian này làm cho truyện cổ tích gần gũi, thân thuộc với người nghe, làm cho người nghe dễ đồng cảm với nhân vật bất hạnh trong câu chuyện Nếu ở trên là lớp không gian trần thế - không gian “phiếm chỉ” thì không gian nghệ thuật truyện cổ tích còn
có một lớp không gian thần kì, kì ảo – không gian không cản trở Không gian này dung chứa các yếu tố thần kì của truyện cổ tích Không gian thần kì mang yếu tố hư
ảo, xa lạ đối với con người So với không gian phiếm chỉ - không gian trần thế thì không gian thần kì còn được gọi là không gian không cản trở Nhân vật trong truyện
cổ tích nhất là cổ tích thần kì, con người gần như không già đi, không ốm đau, không thất bại trước một thế lực phản diện nào,… thậm chí họ còn có thể biến hóa vào thế giới của muôn loài Vì thế, nhân vật cổ tích sống trong không gian ấy nên làm được nhiều chuyện phi thường mà con người thật không bao giờ làm được như
Thạch Sanh đánh đàn tuy không học đàn, xuống thủy cung,…trong truyện Thạch Sanh hay cô Tấm biến hóa thành chim, thành cây, thành quả,… trong truyện Tấm Cám Trong truyện cổ tích hai lớp không gian hiện thực và không gian thần kì đan
xen lẫn nhau Nhân vật cổ tích đi về giữa hai lớp không gian ấy, giữa hai cõi mơ và thực, nó không hoàn toàn là hiện thực và cũng không hoàn toàn là mơ Chuyện của
cổ tích luôn chuyển hóa linh hoạt giữa mơ và thực, thực và mơ Từ những yếu tố không gian nghệ thuật cổ tích đã nêu, ta có thể khẳng định: không gian nghệ thuật
cổ tích không có không gian tâm lí (tâm trạng)
Nhân vật trong truyện cổ tích rất đa dạng, phong phú và sinh động Nó phản
ánh hầu như toàn bộ mọi hạng người, mọi loại nghề nghiệp trong xã hội Nhân vật
cổ tích còn là nhân vật của các quan hệ gia đình, thân tộc, xã hội Nhân vật xuất hiện bao giờ cũng nêu lên những mâu thuẫn trong quan hệ xã hội, quan hệ gia đình
Trang 3324
Dù có đa dạng và phong phú, nhưng nhân vật trong truyện cổ tích được phân tuyến
và chia làm hai tuyến nhân vật chính đó là: tuyến nhân vật chính diện và tuyến nhân vật phản diện Hai tuyến nhân vật này tiêu biểu cho hai lực lượng chính trị đối lập nhau trong xã hội đó là: thống trị - bị trị; thiện - ác; cao cả - thấp hèn; tốt – xấu,… Nhân vật được phân thành hai tuyến rạch ròi ngay từ đầu truyện nhân vật trong cổ tích không có hiện tượng đổi tuyến Nhân vật của hai tuyến luôn được đặt trong thế đối lập, xung đột, mâu thuẫn với nhau Đây là nguyên tắc xây dựng nhân vật đối tuyến của truyện cổ tích Trong truyện, khi các nhân vật đã được phân tuyến thì dù các nhân vật ấy đấu tranh, xung đột, hay mâu thuẫn thì chỉ phát triển trong tuyến nhân vật của mình mà không bao giờ đổi tuyến Hay nói cách khác, nhân vật tốt thì luôn luôn tốt, nhân vật xấu thì luôn xấu, nhân vật ác thì luôn ác,…Điều này làm nhân vật cổ tích không giống với con người trong cuộc sống thực, đó chỉ là những khuôn mẫu đã định sẵn để thể hiện một mục đích, lí tưởng hay một bài học luân lí nào đó, v.v… Nhân vật trong truyện cổ tích còn là nhân vật cực tuyến, thường được đẩy đến cực điểm của một tính chất nào đó, thường thì rất tốt, rất thiện hoặc rất ác, rất xấu,… Việc xây dựng nhân vật cực tuyến còn được xem là một thủ pháp nghệ thuật, đó là nhân vật được phóng đại, hư cấu theo tình cảm yêu hay ghét mãnh liệt
và chủ quan của tác giả dân gian Nhân vật trong truyện cổ tích còn là loại nhân vật chức năng, là kiểu nhân vật phổ biến của cổ tích thần kì Đó là những nhân vật có đặc điểm phẩm chất cố định không thay đổi từ đầu cho đến cuối truyện, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hành động của nhân vật chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất định nào đó Nhân vật trong truyện cổ tích là nhân vật phiếm chỉ Không chỉ nhân vật chức năng không có đời sống nội tâm mà các nhân vật khác trong truyện cổ tích đều như thế Trong truyện cổ tích cũng không miêu tả nội tâm nhân vật, ta không biết nhân vật nghĩ gì, vì không hề có biểu hiện của nội tâm Nhân vật cổ tích chỉ hành động, thực hiện hết hành động này đến hành động khác bao giờ đạt được mục đích thì mới dừng lại và truyện kết thúc
1.2 Nhân vật Thần – Tiên và cơ sở hình thành
1.2.1 Các khái niệm
Trang 3425
Xét về bản chất, nhân vật văn học là sự khái quát những tính cách xã hội được tái hiện trong tác phẩm văn học Bởi cuộc sống xã hội của con người vô cùng phong phú nên khi tái hiện lại trong tác phẩm văn học những tính cách đó một mặt đạt tính khái quát cao, mặt khác lại đạt được chiều sâu hơn cả những hiện tượng trong thực tại, bởi vậy sự biểu hiện ra của chúng trong văn chương vô cùng đa dạng Nếu trong cuộc sống nhân vật là những hình hài cụ thể thì khi chuyển vào tác phẩm văn học nó có thể có hình hài, nhưng cũng có thể không có hình hài Xét về chức năng mỗi nhân vật là các dạng phát ngôn khác nhau của tác giả về một mặt nào đó trong cuộc sống, đó có thể là phê phán, thù ghét, yêu thương… Vì vậy nhân vật trong tác phẩm văn học là lời phát ngôn của tác giả
Nhân vật văn học thường là con người, nhưng cũng có khi không phải là con người, nó phần lớn là những cá thể nhưng cũng có khi không phải là những cá thể… cho nên xét cho cùng nhân vật là hiện tượng ước lệ
So với văn học viết, nhân vật trong truyện cổ tích không nhiều, không phong phú, không đa dạng bằng nhưng cũng không chỉ là một loại như trong thần thoại Trong truyện cổ tích các nhân vật có thể được phân thành các tuyến: chính diện / phản diện, cấp độ chính / phụ, thành dạng hữu hình / vô hình, dạng người / dạng vật / dạng đồ vật… Đây chính là sự khác biệt khá rõ trong cách xây dựng nhân vật giữa truyện cổ tích với nhân vật trong văn học viết Nếu như trong cổ tích khi xây dựng nhân vật sẽ tuân thủ những nguyên tắc chung của thể loại, tức là xây dựng nhân vật
mô thức về một loại người còn trong văn học viết, các tác giả thường xây dựng hướng tới tính cá thể hóa của nhân vật
Thần được xây dựng trong trí tưởng tượng của người xưa Thần có thể trợ giúp, ban tặng cho con người những phép màu… để vượt qua thử thách, thực hiện ước mơ của mình; đồng thời, thần cũng là nhân vật cản trở con người thực hiện mục đích của mình
Thần là những người khi sống có đạo đức, có công lao với xã hội, đến lúc chết được phong làm một chức quan nhất định, chuyên làm một nhiệm vụ nhất định Người phong chức cho họ có thể là hoàng đế của các triều đại, nhân dân
Trang 3526
quanh vùng, Diêm Vương hay Ngọc Hoàng Đại Đế Các vị thần có mặt ở khắp nơi trong cõi Ta Bà (chính là trái đất của chúng ta) như thần núi, thần biển, thần sông; mỗi vùng đất đều có thần thổ công; mỗi thôn làng đều có thần thành hoàng… Trong nhân gian cũng lưu truyền nhiều câu chuyện về con người lúc sống có đạo đức đến khi chết được phong chức quan, ví dụ như người lúc sống làm quan thanh liêm xét
xử công bằng khi chết được Diêm Vương bổ nhiệm làm phán quan chuyên xét xử công tội của các chúng sinh trong các địa ngục nhỏ; hoặc có người lúc sống làm quan có tài đức khi chết được làm thần thành hoàng chuyên cai quản một vùng nhất định Trong Phật giáo cũng có đề cập đến nhiều trường hợp một người sau khi chết
đi, do nghiệp báo nào đó mà không đi đầu thai ngay, vong hồn ở một trạng thái tự
do không bị ràng buộc, có thể tự do làm điều mình thích, có năng lực thần thông trong một giới hạn nào đó, những người như vậy thì được gọi là quỷ thần (có thể gọi là quỷ hoặc là thần); thời gian họ làm quỷ thần cũng không có giới hạn nhất định, có thể một vài tháng cũng có thể vài ngàn năm Cũng có trường hợp con vật
do sống quá lâu, trí tuệ cũng dần dần phát triển giống như con người, biết tu luyện
và có thần thông, đây cũng được tính là một vị yêu thần mà nhân gian thường gọi là yêu tinh Do vậy có thể nói thần cũng có thần tốt và thần xấu, nói cách khác là thiện thần và ác thần Một điều đặc biệt nữa là các vị thần đều nhớ các kí ức khi còn làm người của mình chứ không bị mất đi giống như khi đầu thai Thần có tuổi thọ rất lâu nhưng vẫn có sinh tử
Tiên có nguồn gốc từ Đạo giáo, tiên tượng trưng cho các giá trị hoàn mỹ về phẩm chất, đạo đức, có những phép biến hóa kỳ diệu, giúp nhân vật vượt qua thử thách, đạt được ước mơ về cuộc sống no ấm, giàu sang, hạnh phúc
Tiên là người khi sống biết tu luyện đắc đạo mà thành, họ sống lâu, có phép thuật Tiên thường là thiện chứ không có ác Có nhiều cách khác nhau để tu luyện thành tiên, có người tu tâm, có người tu đạo, có người luyện khí công, có người luyện linh đơn thảo được, luyện phép thuật phù chú, … do đó mà cũng có nhiều tên gọi khác nhau như Địa hành tiên, Phi hành tiên, Du hành tiên, Không hành tiên, Thiên hành tiên, Thông hành tiên, Đạo hành tiên, Chiếu hành tiên, Tinh hành tiên,
Trang 3627
Tuyệt hành tiên Cũng giống như thần, các vị tiên cũng nhớ được kí ức khi còn làm người của mình chứ không bị mất đi giống như khi đầu thai Trong kinh Phật có nói tuổi thọ của tiên có thể kéo dài ngàn vạn năm, tuy vậy không có nghĩa là họ không chết, họ vẫn ở trong sinh tử luân hồi nếu không chịu tu giải thoát thì khi chết họ lại đầu thai vào trong lục đạo luân hồi Nơi sinh sống của các vị tiên thường là ở trong núi sâu, hải đảo hoặc biển cả…xa lánh trần thế ồn ào đầy thị phi
1.2.2 Cơ sở hình thành
Quá trình tìm hiểu cơ sở hình thành nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam là một công việc có ý nghĩa và rất cần thiết Có nhiều cơ sở hình thành nhân vật Thần – Tiên, tuy nhiên chúng tôi chỉ nêu ra một số cơ sở có mối liên
hệ mật thiết với các loại nhân vật này là: Cơ sở hiện thực – xã hội, cơ sở lịch sử và
cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng Những cơ sở này đóng một vai trò quan trọng đối với
thế giới nhân vật Thần – Tiên
1.2.2.1 Cơ sở hiện thực – xã hội
Truyện cổ tích ra đời khi xã hội phân hóa mạnh (giàu nghèo, thống trị - bị trị,…), đó chính là nguyên nhân khiến con người muốn thoát ly trần gian để đến với thế giới nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Mọi mối mâu thuẫn chưa quá gay gắt nhưng lý tưởng của con người về sự công bằng, bình đẳng đã dần dần sụp
đổ Con người chỉ còn biết hướng mơ ước của mình vào một xã hội đẹp đẽ bên ngoài xã hội trần thế đầy bất trắc, khắc nghiệt để mong thay đổi được số phận của mình Nhân vật Thần - Tiên xuất hiện không chỉ phản ánh sức mạnh và sự huyền bí của thiên nhiên mà còn mang những thuộc tính của xã hội, của lịch sử
Khi xã hội bất công, người dân lao động không tin vào công lý khi mà công
lý ấy lại nằm trong tay những kẻ bạc ác, có quyền thế nhưng lại coi khinh, bóc lột dân nghèo thậm tệ Vua quan thì độc ác, dâm bạo, bất nhân Mọi cương thường đạo
lý bị đảo lộn công với sự thống trị hà khắc của các lực lượng phong kiến đã đẩy con người nhỏ bé vào tình thế tuyệt vọng với một tương lai ảm đạm Người dân bị áp bức về mặt chính trị, bị bóc lột về mặt kinh tế và bị bóp nghẹt, kìm tỏa về mặt tinh thần Họ bị kìm kẹp về mọi mặt, thâm chí còn không được tham dự vào đời sống
Trang 3728
giao lưu văn hoá, lễ hội, hát hò, vui chơi v.v… Dưới chế độ phong kiến, người dân
ở khắp mọi vùng, miền đều bị mất mọi quyền làm người: từ quyền sở hữu tài sản, làm chủ bản thân, cho đến cả quyền sinh hoạt văn hoá tinh thần
Khi xây dựng truyện cổ tích, tác giả dân gian đưa nhân vật đến thế giới Thần
- Tiên như thiên cung, thuỷ cung, âm phủ… Nhân vật này đều là những con người bất hạnh, chịu nhiều đau khổ cả về tinh thần lẫn vật chất Tiếng nói của họ trong cuộc sống đời thường cũng thật mỏng manh, yếu ớt Con người không làm sao thoát khỏi vòng vây của cái nghèo, cái đói Họ thật sự bất lực trước hoàn cảnh đen tối và
bế tắc hoàn toàn trong việc tìm ra giải pháp cải tạo hiện thực Giữa lúc ấy, ước mơ
về một cuộc sống no đủ, tươi đẹp, về một tình yêu đôi lứa hạnh phúc cũng như một
sự nghiệp công danh vững chắc ngày càng thôi thúc và trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết trong tâm trí con người Con người chứ không phải ai khác đã thấu hiểu cảnh đen tối của hiện thực Họ cũng không còn dành trọn niềm tin vào sự đổi thay cuộc đời ở trong xã hội thực tại đó nữa Vì vậy, con người đã hướng ước mơ của mình tới một xã hội khác, khác xa với cõi trần Họ mơ ước được tiếp xúc và nhận được sự trợ giúp từ các vị Thần, Tiên Chính bản thân con người cũng mong muốn được thay đổi, được hoá thân thành những dạng thức kỳ ảo khác Thế giới nhân vật Thần – Tiên được hình thành dựa trên cơ sở hiện thực – xã hội đó
Truyện cổ tích xuất hiện hình tượng nhân vật Thần - Tiên, bắt nguồn từ văn
học dân gian thời kỳ tiền giai cấp (như những truyện về người vợ kỳ diệu – con vật tô-tem, những truyện về những con ăn thịt người, thần ác,…về những cuộc viễn du
ở các thế giới khác nhau…) Về sau, những cốt truyện đó được bổ sung bằng những truyện về những người bị hắt hủi, xua đuổi – về đứa trẻ mồ côi nghèo, về người con trai út, người con gái riêng
Nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam là vấn đề nghiên cứu trung tâm của chúng tôi Sự hình thành của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt nam gắn liền với việc xuất hiện những yếu tố có tính chất xã hội – đời sống
Trang 3829
1.2.2.2 Cơ sở lịch sử
Dựa vào nguồn gốc sâu xa từ lịch sử, chúng ta có thể phân loại thế giới nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam thành những kiểu nhân vật khác nhau Mỗi loại nhân vật Thần – Tiên đều có nguồn gốc lịch sử hình thành khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu một cách khái quát nhất cơ
sở lịch sử hình thành của thế giới nhân vật Thần – Tiên
Có thể nói, con đường hình thành của truyện cổ tích từ truyện kể thực dụng mang tính chất thần thoại, từ cái cấu trúc cổ xưa nhất của nó đến hình thức thể loại
cổ điển đã được nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đề cập đến một cách hợp lý Truyện cổ tích ra đời vào cuối giai đoạn công xã nguyên thuỷ và chủ yếu tồn tại, phát triển trong thời kỳ phong kiến nên niềm tin của con người vào các sức mạnh của tự nhiên vẫn còn Tính hợp lý của sự phát triển ấy đã dẫn đến việc khôi phục lại được những bước hình thành liên tục của truyện cổ tích với tư cách là một thể loại
Những truyện kể cổ xưa nhất mang tính chất thần thoại có mục đích thực dụng nhằm ngăn cấm việc vi phạm những quy tắc sinh hoạt nhất định Truyện kể cổ
xưa phức tạp nên do những motif có tính chất xã hội, những motif về những trợ thủ
thần kỳ, dẫn đến sự ra đời của truyện cổ tích thần kỳ Truyện cổ tích hình thành do nhào nặn lại những đề tài cổ xưa và những ý niệm thần thoại, cùng với việc khẳng định tư tưởng chiến thắng, khẳng định công lý và việc sáng tạo ra những công thức
kể chuyện cổ tích độc đáo [55]
Nhân vật Thần - Tiên được sắp xếp theo tiến trình của truyện dân gian Việt Nam (cũng là theo diễn trình tư duy nghệ thuật của người xưa), do chịu sự chi phối trực tiếp của các yếu tố lịch sử và tương ứng với quá trình phát triển lịch sử trong từng giai đoạn của các dân tộc mà mô hình phát triển như sau: Thần linh ra đời sớm nhất dựa trên cơ sở thần thánh hoá tự nhiên; Tiên xuất hiện khi Đạo giáo ra đời (Đạo giáo phù thuỷ, Đạo giáo thần tiên) v.v…
Tín ngưỡng sùng bái Thần – Tiên của người Việt xưa, có thể chia ra làm bốn
loại: sùng bái mọi thứ trên trời; sùng bái muôn vật dưới đất; sùng bái động vật và sùng bái con người Theo tín ngưỡng dân gian, ngoài các sự vật gặp thấy hằng
Trang 3930
ngày, còn có một thế giới thần bí, nói đúng hơn, mỗi sự vật có mang theo một điều
gì đó linh thiêng; núi có thần núi, sông có thần sông, đến cả cây cổ thụ, những tảng
đá lớn cũng đều có thần, có ma Con người sau khi chết vẫn còn lại cái hồn, hồn ấy
có một bản chất như thần linh, ma quỷ v.v… Nhân vật thần xuất hiện sớm nhất, tiếp
đó mới là ma quỷ, Tiên, Phật – Bụt, v.v…Việc phát triển các loại nhân vật từ nhân vật thần trong thần thoại đến các nhân vật ma quỷ, Tiên, Phật – Bụt, phù thuỷ…trong lịch sử là một quá trình “con người hoá” các nhân vật Nhân vật của thần thoại phần lớn là thần, các loại thần linh, những đấng siêu nhiên Thế giới của
họ là vũ trụ bao la Sức mạnh của thần thánh là sản phẩm của thời kỳ nguyên thuỷ, mang sức mạnh vô địch, vạn năng nên không cần đến sự trợ giúp Do đó, ở thần thoại chưa xuất hiện kiểu nhân vật Thần – Tiên mang tính chất trợ giúp Trong truyền thuyết, nhân vật chính là những người anh hùng có công trong việc mở mang
bờ cõi, khai sáng văn hoá, chống giặc ngoại xâm nên khả năng thần kỳ nằm ngay trong bản thân nhân vật (nhân vật bán thần), sự trợ giúp tuy có cần thiết nhưng không nhiều Đến cổ tích, nhân vật chính là những con người khốn khổ, bị chà đạp đến kiệt cùng về tinh thần và thể xác Họ đã mất dần niềm tin vào sự thay đổi cuộc đời ở trong xã hội thực tại Con người đã hướng ước mơ của mình tới một xã hội khác với cõi trần Để thể hiện được lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân: thiện thắng ác
và mong muốn cho những người bất hạnh có được cuộc sống đủ đầy…, thì sự xuất hiện của hệ thống nhân vật Thần - Tiên này là cần thiết
Bên cạnh hệ thống nhân vật Thần - Tiên xuất hiện để trợ giúp con người vượt qua khó khăn, thực hiện được mơ ước của mình, còn có những nhân vật gây cản trở, đe doạ cuộc sống của con người Vì vậy, khi đề cập đến hệ thống nhân vật Thần - Tiên là đề cập đến hai tuyến: nhân vật Thần - Tiên tuyến thiện (Tiên, thần Thiện), nhân vật Thần - Tiên tuyến ác (Thần ác) Những nhân vật này có thể là nhân vật có nguồn gốc kỳ ảo, cũng có thể là nhân vật không có nguồn gốc kỳ ảo; là những nhân vật bỗng nhiên biến hoá kỳ ảo, nhân vật tu tiên mới có một ít phép thuật biến hóa, v.v…Nhìn chung, khi nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam, chúng tôi
Trang 4031
thấy hệ thống nhân vật Thần – Tiên ở các vùng, miền, dân tộc khác nhau lại mang những đặc điểm khác nhau
So sánh truyện cổ tích thần kỳ với truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích
loài vật thì chúng ta thấy rõ là: Truyện cổ tích loài vật xuất hiện là nhằm giải thích
cho căn nguyên sự xuất hiện của loài vật nào đó hoặc một đặc điểm nào đó Do vậy, không cần đến sự xuất hiện của nhân vật kỳ ảo Song truyện cổ tích sinh hoạt ra đời muộn (trong xã hội phong kiến) nên nội dung chủ yếu là nói về thế sự (chủ yếu là
về xung đột gia đình, vợ chồng) Đa số truyện cổ tích sinh hoạt đều có kết thúc không có hậu Nhân vật Thần - Tiên cũng rất ít xuất hiện và nếu có xuất hiện thì là
ở một số ít truyện có thế giới Thần - Tiên trong giấc mộng của con người… Vì thế, vai trò của chúng cũng rất mờ nhạt
Truyện cổ tích có nguồn gốc sâu xa và bén rễ từ thời kỳ tiền giai cấp Vì vậy, trong sơ đồ kết cấu của truyện cổ tích, có thể thấy rõ hình dáng của các nghi lễ hiến
tế và nghi lễ thụ pháp của con người từ thời viễn cổ Một trong những vấn đề có liên quan đến các nghi lễ ấy chính là hệ thống những ý niệm của con người thời cổ về thế giới bên kia, các cuộc hành trình đến những vùng, miền xa lạ, đến với các thế giới trên cao (môi trường xuất hiện của Tiên, Phật – Bụt…), thế giới khác trên mặt đất, thế giới khác dưới Đặc biệt là có liên quan mật thiết đến thế giới bên dưới (âm phủ v.v…: nơi xuất hiện ma quỷ: Diêm Vương, yêu tinh, con quỷ…), vốn là nơi thể hiện sự âu lo về cái chết hay những gì xảy ra sau chết, về tử thần, về khát vọng muốn chinh phục hay vượt qua sự băng hoại của đời sống và sức mạnh khủng khiếp của cái chết của con người Đây cũng đồng thời là cuộc hành trình đi tìm công lý của nhân vật chính Chế độ nguyên thuỷ tan rã cùng với ý thức về bản thân và cá nhân phát triển Nhận thức về quan hệ hôn nhân ngày càng tiến bộ hơn, hôn nhân tạp hôn giữa những người cùng huyết thống (cha mẹ, với con cái, anh em ruột v.v…) gắn với chế độ nguyên thuỷ đã trở nên hủ bạ, phải nhường chỗ cho chế độ hôn nhân tiến bộ hơn Cơ sở kinh tế, xã hội và cơ sở lịch sử sâu xa ấy tạo điều kiện cho sự xuất hiện một loại truyện dân gian khá phổ biến ở các dân tộc Việt Nam Đó
là loại truyện về các nhân vật bất hạnh, nghèo khổ, thấp hèn như: người em út,