1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn của nam cao và lỗ tấn từ góc nhìn so sánh

91 213 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy rằng mức độ đậm nhạt của chất nghịch dị cũng như các kiểu nghịch dị trong tác phẩm của hai tác giả có sự khác biệt khá lớn, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng kiểu nhân vật này là kiể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Lê Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo, TS Nguyễn Thu Hiền, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của cô đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Tôi cũng xin được cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Văn học – những người mà trong thời gian qua

đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Văn học Việt Nam (khóa học 2015 – 2017) đã luôn chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và cảm xúc trong những ngày tháng tôi học tập tại mái trường Nhân văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Lê Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Cấu trúc của luận văn 11

CHƯƠNG 1: VĂN CHƯƠNG VỊ NHÂN SINH VÀ BIỂU ĐẠT VỀ CÁI NGHỊCH DỊ- SỰ GẶP GỠ GIỮA NAM CAO VÀ LỖ TẤN 12

1.1 “Nghệ thuật là tiếng đau khổ kia”: tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao ……… ……… 13

1.1.1 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 14

1.1.2 Trăng sáng - Tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao và bước ngoặt trong hành trình sáng tác 14

1.2 “Hãy cứu lấy các em”: Lựa chọn dấn thân trong sự nghiệp cầm bút của Lỗ Tấn 17

1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn 20

1.2.2 Nhật kí người điên - biểu tượng về lựa chọn dấn thân trong sự nghiệp cầm bút của Lỗ Tấn 20

1.3 Văn chương vị nhân sinh và lựa chọn gần gũi trong biểu đạt về cái nghịch dị 25

1.3.1 Văn chương vị nhân sinh: điểm gặp gỡ giữa hai nhà văn 27

1.3.2 Cái nghịch dị như một lựa chọn tương đồng trong biểu đạt 27

1.3.2.1 Giới thuyết về khái niệm “nhân vật nghịch dị” 32

1.3.2.2 Cái nghịch dị như một lựa chọn tương đồng trong biểu đạt …… 32

TIỂU KẾT 38

Trang 6

CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NGHỊCH DỊ TRONG

TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN 40

2.1 Nhân vật nghịch dị dương tính 40

2.2 Nhân vật nghịch dị dạng âm tính 52

2.3 Loại hình nhân vật nghịch dị trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn từ góc nhìn so sánh 60

TIỂU KẾT 64

CHƯƠNG III NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NGHỊCH DỊ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ LỖ TẤN 65

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật nghịch dị dương tính 66

3.1.1 Miêu tả ngoại hình đa dạng ở nhân vật của Nam Cao 67

3.1.2 Chuỗi hành động ở nhân vật của Nam Cao 71

3.1.3 Độc thoại nội tâm ở nhân vật của Lỗ Tấn 75

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật nghịch dị âm tính 77

3.2.1 Miêu tả ngoại hình bằng điểm nhấn 77

3.2.2 Miêu tả nét hành động, tâm lý đặc thù 81

TIỂU KẾT 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nam Cao là cây bút văn xuôi hiện thực xuất sắc, là đỉnh cao của nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 Lỗ Tấn là cây bút có ý nghĩa mở đầu cho nền văn học mang tính chất hiện đại ở Trung Quốc giai đoạn 1917 - 1949 Cả hai tác giả đều có đóng góp to lớn trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc

Lỗ Tấn được xem là người đặt nền móng cho nền văn học mang tính hiện đại của Trung Quốc Điều day dứt, trăn trở nhất khi cầm bút của ông đó

là vấn đề dân tộc, thức tỉnh tinh thần dân tộc đang bị cầm tù bởi lễ giáo, đạo

đức phong kiến cũ và “phép thắng lợi tinh thần” Lỗ Tấn không chỉ là một

nhà văn mà còn là một nhà tư tưởng có vị trí quan trọng hàng đầu trong lịch

sử hiện đại Trung Quốc

Tuy không phải là nhà văn mang ý nghĩa mở đầu và đặt nền móng cho

sự phát triển của một nền văn học đầy mới mẻ như Lỗ Tấn, Nam Cao là cây bút xuất hiện ở chặng cuối cùng khi các nhà văn cùng thời đã gặt hái được thành công, nhưng ông được đánh giá là nhà văn hiện thực xuất sắc, là đỉnh cao của nền văn học hiện thực Việt Nam Tinh thần dân tộc của Nam Cao dồn vào cuộc cách mạng trong văn chương, ông luôn trăn trở về vấn đề nhân cách sống, số phận con người và không ngừng tìm tòi, cách tân trong sáng tạo nghệ thuật

Hai nhà văn sống ở những giai đoạn lịch sử khác nhau trong bối cảnh lịch sử - xã hội không giống nhau ở từng quốc gia, nhưng ở hai nhà văn này

có sự gặp gỡ nhau ở tinh thần cách mạng, ở sự đau đáu với nhân sinh và số phận con người Đặc biệt, tư tưởng và tinh thần đó ở hai ông còn được thể hiện qua hệ thống nhân vật nổi bật trong các sáng tác của từng tác giả, đó là kiểu nhân vật nghịch dị Hệ thống nhân vật này, về mặt nội dung, là sự phản ánh đạo đức, nhân cách của con người và phản ánh cái bối cảnh xã hội đã nhào nặn lên những con người ấy Còn về mặt nghệ thuật, những nhân vật này

Trang 8

được xây dựng thành hệ thống như là một biện pháp, thủ pháp nghệ thuật để tạo nên ấn tượng về sự dị hợm, quái lạ hay sự châm biếm sâu cay Nhân vật nghịch dị trong sáng tác của hai nhà văn chủ yếu là những con người nghèo khổ (cả những người nông dân hay những người tri thức có học hành) Tuy rằng mức độ đậm nhạt của chất nghịch dị cũng như các kiểu nghịch dị trong tác phẩm của hai tác giả có sự khác biệt khá lớn, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng kiểu nhân vật này là kiểu nhân vật phổ biến và thể hiện những ý đồ nghệ thuật sâu sắc trong sáng tác của hai tác giả

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình so sánh giữa Nam Cao và Lỗ Tấn, vấn đề so sánh về nhân vật cũng đã được một số nhà nghiên cứu điểm qua Cũng đã có các công trình nghiên cứu về nhân vật nghịch dị trong tác phẩm của từng tác giả, nhưng chưa có công trình nào đặt vấn đề về so sánh kiểu nhân vật nghịch dị trong sáng tác của hai nhà văn này, đây chính là khoảng trống trong nghiên cứu của các công trình đi trước để chúng tôi tập trung đi sâu khai thác

2 Lịch sử vấn đề

Nam Cao và Lỗ Tấn là hai tác giả lớn của nền văn học Việt Nam và Trung Quốc nên điều tất yếu là đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm và sự nghiệp của hai tác giả này

Sáng tác của Nam Cao đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ: từ phương pháp sáng tác, thi pháp học, tự sự học, tâm lý học hay diễn ngôn và dụng học…

Có thể kể đến các công trình như luận án tiến sĩ Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học của Vũ Lăng, phân tích theo ký hiệu học như Thử đọc Chí Phèo của Nguyễn Đức Dân

Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao được chú ý từ 1941 với lời tựa của Lê

Văn Trương cho tập Đôi lứa xứng đôi do Nxb Đời Nay ấn hành tháng 2/1952 Nam Cao thực sự trở thành đối tượng của khoa văn học với bài Nam Cao của Nguyễn Đình Thi trong Mấy vấn đề văn học (Nxb Văn nghệ - H.1956) Tô

Trang 9

Hoài trong các bài viết Chúng ta mất Nam Cao, Người và tác phẩm Nam Cao

nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa con người nhà văn với tư tưởng nghệ thuật, giữa hiện thực cuộc sống với những điều được phản ánh trong tác phẩm Năm 1961, Hà Minh Đức có chuyên luận đầu tiên về Nam Cao với tiêu

đề Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc.Trong chuyên luận ông khẳng định

“sự kết hợp chặt chẽ và thường xuyên những yếu tố tiến bộ về tư tưởng với những sáng tạo về nghệ thuật cho Nam Cao một phong cách đặc biệt: phong cách một nhà văn hiện thực tâm lý”

Nhà nghiên cứu Phong Lê cũng khẳng định tài năng của Nam Cao qua

công trình nghiên cứu Đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao.Trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam Nguyễn Hoàng Khung khẳng định sự xuất

hiện của Nam Cao trong văn học “như là người đại diện tiêu biểu nhất của trào lưu hiện thực phê phán”

Nghiên cứu từ góc độ loại hình học, các tác giả thường chia hệ thống nhân vật trong sáng tác của Nam Cao thành hai nhóm chính đó là người nông dân với bi kịch tha hóa và người tri thức với bi kịch sống mòn Trong lời mở

đầu cho tập Truyện ngắn Nam Cao Nxb Văn học, 1975 Hà Minh Đức cũng

chia hệ thống nhân vật trong sáng tác của Nam Cao theo hướng trên Phong

Lê trên Tạp chí văn học năm 1986 có đăng bài Người trí thức kiểu Nam Cao

và sự chiến thắng của chủ nghĩa hiện thực, năm 1987 ông tiếp tục đăng bài Tình cảnh người nông dân và tình cảnh các làng quê tiền cách mạng Hà Văn

Đức trong một bài viết về Nam Cao cũng khẳng định hai loại nhân vật trong sáng tác của Nam Cao là người nông dân và người trí thức nghèo…Nghiên cứu về nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao, các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nội dung tư tưởng, nghệ thuật xây dựng nhân vật như Hà Văn Đức đã nêu lên bi kịch của người nông dân, trí thức và chú ý đến nghệ thuật miêu tả

tâm lý của Nam Cao Phan Văn Tường trong Phong cách nghệ thuật Nam Cao đã phân tích nỗi trăn trở da diết về thực trạng sống của con người và tầm

Trang 10

nhìn nhân văn mới, chủ nghĩa hiện thực nhân văn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ của Nam Cao…

Về kiểu nhân vật nghịch dị trong tác phẩm của Nam Cao, trong phạm vi khảo sát tư liệu của chúng tôi thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống về chủ đề này, mà mới chỉ được đề cập một cách chừng mực trong các bài viết mang tính tổng quan, khái quát Cụ thể, Vương

Trí Nhàn có bài Những biến hóa của chất nghịch dị trong văn Nam Cao được

in trong sách Nghĩ tiếp về Nam Cao, trong bài viết đó ông khẳng định Nam

Cao đã nhìn thấy sự quái dị trong hàng loạt hiện tượng đời sống Có khi đó là những con người, sự kiện được phơi bày như một quái tượng đập vào mắt như

nhân vật Thiên Lôi, Đức trong Nửa đêm, Trạch Văn Đoành trong Đôi móng giò có khi đó là cái quái dị khoác cái áo thông thường, hòa tan vào cái hàng ngày như trong Một bữa no cái ăn đã bị đẩy lên với thử thách lương tâm

Vương Trí Nhàn gọi đó là sự kỳ quặc ở dạng dương tính và âm tính Trong bài viết này, Vương Trí Nhàn cũng nói rõ lý do vì sao ông sử dụng thuật ngữ

“nghịch dị” chứ không phải “quái dị”, “kì dị Bên cạnh đó tác giả cho rằng có một sự liên hệ giữa cái kì dị và cái mòn mỏi trong văn Nam Cao Theo ông mối liên hệ đó còn thể hiện ở ba giai đoạn: : Cái trì trệ, sống mòn lúc đầu – Sự cựa quậy, muốn thay đổi – Kết cục: tình thế bi đát hơn thì bao trùm trong cả

ba giai đoạn hiện thực ấy là chất nghịch dị Xem xét văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX như một quá trình thì giai đoạn Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố là sự thường biến còn đến Vũ Trọng Phụng, Nam Cao thì đã le lói có dấu hiệu của sự đột biến, dị biến

Trần Thị Việt Trung trong bài viết Về các nhân vật dị dạng trong sáng tác của Nam Cao cho rằng trong truyện ngắn, tiểu thuyết của Nam Cao xuất

hiện nhiều nhân vật xấu xí, kì dị là thể hiện tính chất khốc liệt, tàn bạo của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đen tối nhất Nhà nghiên cứu cũng khẳng định không có sự gặp gỡ giữa thi pháp nghệ thuật này của Nam Cao với truyện cổ

Trang 11

tích như Sọ Dừa, Chàng Cóc vì nhân vật trong cổ tích là những nhân vật xinh

đẹp và tốt bụng chỉ là bọc trong vẻ ngoài xấu xí còn nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao thì dị dạng cả về ngoại hình và tâm hồn Nhân vật trong truyện

ngắn Nam Cao không có sự đối lập giữa chất thực và chất mơ như Nhà thờ đức bà Pari Phan Văn Tường cũng có bài viết Nhân vật nghịch dị trong tác phẩm Nam Cao in trong Kỉ yếu khoa học hội nghị các nghiên cứu sinh Ngữ văn Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Bài viết có điểm qua một số

nhân vật nghịch dị tiêu biểu trong các sáng tác của Nam Cao và một số biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật nghịch dị ấy

Như vậy, các bài viết trên đều chỉ ra rằng trong sáng tác của Nam Cao có

sự tồn tại của kiểu nhân vật nghịch dị nhưng chỉ điểm qua một vài nhân vật nghịch dị tiêu biểu Các nhà nghiên cứu cũng đều cho rằng xây dựng nhân vật nghịch dị là cách để Nam Cao tố cáo xã hội bất công, thối nát và nhận định dạng nhân vật này chính là sản phẩm của xã hội Việt Nam giai đoạn đó

Nếu ở Việt Nam, Nam Cao là một trong những tác giả được các nhà nghiên cứu dành nhiều bút mực thì hLỗ Tấn cũng là cái tên được nhắc đến rất nhiều không chỉ ở Trung Quốc Lỗ Tấn là người mở đường cho văn học hiện đại Trung Quốc Khi nói đến sáng tác của ông, chúng ta không thể bỏ qua truyện ngắn – nơi mà con người và tài năng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện rõ, nhất là trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Truyện ngắn của Lỗ Tấn không những được dịch ra nhiều thứ tiếng mà còn thu hút sự tìm tòi, khám phá của giới phê bình, nghiên cứu văn học trên thế giới trong đó có Việt Nam

ta Với nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, họ đã từng bước chỉ ra sự đóng góp, tài năng cũng như sức sống kì diệu của truyện ngắn

Lỗ Tấn Tuy nhiên do những hạn chế về ngôn ngữ khó tiếp cận với những tài liệu Trung văn, các nghiên cứu khảo sát ở đây, chỉ tập trung vào nghiên cứu ở Việt Nam

Về nhân vật trong truyện ngắn Lỗ Tấn, các nhà nghiên cứu thường chia thành ba nhóm đó là hình tượng người nông dân, người trí thức và phụ nữ Về

Trang 12

nhân vật nghịch dị trong sáng tác của Lỗ Tấn chỉ có duy nhất một bài viết của

Lê Nguyên Cẩn Thế giới nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn Lỗ Tấn đăng

trên tạp chí Văn học 10/2001 Bài viết phân tích và chỉ ra một số nhân vật nghịch dị trong sáng tác của Lỗ Tấn cũng như một số biện pháp nghệ thuật để xây dựng loại nhân vật này

Từ góc nhìn so sánh đã có một số công trình nghiên cứu so sánh về truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn tập trung về vấn đề loại hình nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật Ở Trung Quốc, theo sự tìm hiểu của chúng tôi

thì có luận văn So sánh nhân vật AQ và nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn của Lỗ Tấn và Nam Cao của Nguyễn Thành Đạt tại Đại học Sư phạm Hoa

Trung năm 2011 Tuy nhiên do giới hạn về thời gian, điều kiện nghiên cứu cũng như sự khác biệt về ngôn ngữ chúng tôi chưa thể khảo sát kĩ lưỡng công

trình này Ở Việt Nam, tiêu biểu nhất có lẽ là luận án của Lư Cẩm Anh So sánh văn xuôi tự sự của Lỗ Tấn và Nam Cao Trong luận án, tác giả đã khái

quát sáng tác của Lỗ Tấn và Nam Cao trong bối cảnh nền văn học hiện đại Trung Quốc và Việt Nam, chỉ ra nội dung tư tưởng của văn xuôi tự sự Lỗ Tấn

và Nam Cao khi viết về người tri thức và người nông dân Trong chương thứ

ba của luận án tác giả tìm hiểu hình thức nghệ thuật của văn xuôi tự sự Lỗ Tấn và Nam Cao qua cốt truyện, kết cấu, thủ pháp miêu tả nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật Trong phần viết về thủ pháp miêu tả nhân vật, tác giả đã dành một phần nhỏ viết về Nam Cao với thủ pháp đặc tả chân dung những nhân vật

dị dạng Ở đây, tác giả chỉ điểm qua một vài nhân vật dị dạng như Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận, Thiên Lôi…với sự dị dạng về ngoại hình và cũng chưa đề cập đến các nhân vật dị dạng trong truyện của Lỗ Tấn

Luận văn thạc sĩ của Trần Lê Hoa Tranh với đề tài Tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt về mặt thi pháp nhân vật phụ nữ trong truyện Lỗ Tấn và Nam Cao (Đại học KHXH và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 1998) đã đi

sâu vào thi pháp nhân vật phụ nữ trong sáng tác của hai tác giả

Trang 13

Phạm Tú Châu trong bài viết Đôi diều so sánh giữa AQ và Chí Phèo đã

lý giải từ thực tế hoàn cảnh lịch sử, văn hóa của hai nước dẫn đến sự khác nhau khi ở AQ là phép thắng lợi tinh thần còn ở Chí Phèo lại là sự đấu tranh, chống đối tự phát Thế lực địa chủ cường hào ở Trung Quốc và Việt Nam cũng khác nhau cho nên Chí Phèo thì ăn vạ còn AQ thì bị cụ cố Triệu, bác coi đền ăn vạ Chí Phèo và AQ đều phản kháng nhưng đều thất bại vì chưa được ánh sáng của lý trí soi sáng, họ hàng động suy cho cùng là vì miếng ăn chứ không phải vì lý tưởng gì cao xa cho nên hai nhân vật này không mang tính phản phong Nếu ước mơ của họ có trở thành hiện thực thì Chí Phèo và AQ cũng trở thành địa chủ mà thôi

Ngoài ra sự so sánh về nhân vật AQ và Chí Phèo cũng được nhắc đến rải

rác trong một vài bài viết khác Chẳng hạn Trần Tuấn Lộ trong bài viết Qua truyện ngắn Chí Phèo bàn thêm về cái nhìn hiện thực của Nam Cao đãcho rằng,

mặc dù Nam Cao không chịu ảnh hưởng bởi Lỗ Tấn (vì thời gian Nam Cao viết

Chí Phèo thì AQ chưa được giới thiệu vào Việt Nam) nhưng liên tưởng Chí

Phèo với AQ là tự nhiên vì họ đều là những người tứ cố vô thân, uống rượu, lưu manh, có tính tự đắc, và AQ gặp cô tiểu như Chí Phèo gặp Thị Nở

Như vậy có thể thấy rằng việc phân tích hệ thống nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn mới chỉ dừng lại ở các bài viết ngắn chưa được phân tích kĩ Việc so sánh giữa hai tác giả đã có nhưng chưa

có công trình nào so sánh về nhân vật nghịch dị trong sáng tác của hai tác giả

Trong bối cảnh các nghiên cứu như trên, chúng tôi thực hiện luận văn Nhân vật nghịch dị trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn từ góc nhìn so sánh với

mong muốn bổ khuyết các nghiên cứu mang ý nghĩa so sánh về hai tác giả quan trọng trong Văn học Việt Nam và Văn học Trung Quốc này

3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đặt ra vấn đề nghiên cứu này chúng tôi muốn đi sâu vào một hướng nghiên cứu khác về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ

Trang 14

Tấn bên cạnh việc phân chia nhân vật thành nhân vật người nông dân, nhân vật người tri thức, nhân vật phụ nữ…để cung cấp cho người đọc cái nhìn đa dạng, toàn diện hơn về sáng tác của hai nhà văn lớn

Nghiên cứu nhân vật nghịch dị trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn sẽ cho thấy sự tương đồng, dị biệt của hai tác giả khi xây dựng loại nhân vật nghịch dị và kiến giải về sự giống và khác nhau đó, từ đó làm nổi bật nét riêng, sự độc đáo trong việc xây dựng nhân vật của mỗi nhà văn

Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho những người quan tâm nghiên cứu về kiểu nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn của từng tác giả Nam Cao, Lỗ Tấn nói riêng, cũng như nghiên cứu so sánh về truyện ngắn của hai nhà văn này nói chung Trên cơ sở này, luận văn cũng góp phần bổ sung thêm một kết quả nghiên cứu cho lĩnh vực nghiên cứu so sánh văn học Việt Nam và Trung Quốc ở từng quốc gia

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Do mục tiêu của luận văn, ở công trình này chúng tôi chỉ khảo sát các sáng tác của Nam Cao (trước Cách mạng Tháng 8) tức là giai đoạn sáng tác khi nhà văn đã thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn và sáng tác theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa Tuy nhiên giai đoạn này, nhà văn chưa giác ngộ cách mạng và các sáng tác của ông tời kì này chủ yếu hướng tới vấn

đề nhân sinh, về thân phận, số phận con người chứ chưa phục vụ cách mạng

Về Lỗ Tấn, các truyện ngắn ở hai tập Gào thét và Bàng hoàng phản ánh

thời kì lịch sử khoảng từ cách mạng Tân Hợi năm 1911 đến trước 1925-1927 Đây là hai tập truyện quan trọng trong cuộc đời cầm bút của Lỗ Tấn, khi ông mới bước chân vào con đường sáng tác với những quan niệm nghệ thuật mới

mẻ Sau này ông sáng tác các thể loại khác chứ không quay về truyện ngắn nữa

Trang 15

Cụ thể chúng tôi khảo sát các truyện ngắn trong Nam Cao – tác phẩm (tập I, II), Nxb Văn học, 1975 và Tuyển tập truyện ngắn Lỗ Tấn (Trương

Chính dịch), Nxb Văn học, 1994 Cần chỉ rõ việc lựa chọn các văn bản này gắn với giai đoạn nào trong sáng tác của hai nhà văn, gắn với sự thay đổi quan niệm sáng tác, hoặc thể hiện quan niệm sáng tác như thế nào

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học trong nghiên cứu nhân vật

Trong luận văn, người viết áp dụng phương pháp này vào việc tìm hiểu những yếu tố nghệ thuật trong việc xây dựng nên các nhân vật nghịch dị của hai tác giả Nam Cao và Lỗ Tấn

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Văn chương vị nhân sinh - sự gặp gỡ giữa Nam Cao và Lỗ Tấn Chương 2 Các loại hình nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao và

Lỗ Tấn

Chương 3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao và Lỗ Tấn

Trang 16

CHƯƠNG 1: VĂN CHƯƠNG VỊ NHÂN SINH VÀ BIỂU ĐẠT VỀ CÁI NGHỊCH DỊ- SỰ GẶP GỠ GIỮA NAM CAO VÀ LỖ TẤN

Nam Cao và Lỗ Tấn là những nhà văn lớn, tác phẩm của họ không chỉ có giá trị về nghệ thuật mà hơn thế nó còn có ý nghĩa về nhân sinh Vị nhân sinh trong tác phẩm của hai tác giả không chỉ là sự đồng cảm, thương yêu con người mà nó còn ở khía cạnh khác, trước tiên đó là giúp con người hiểu rõ mình, cả cái tốt và những khuyết nhược, những thói hư tật xấu của mình và hoàn cảnh mình đang lâm vào, cũng tức là chỉ rõ tình cảnh biến dạng cả về ngoại hình lẫn tính cách mà sự khốn cùng để lại trên người mình Vị nhân sinh trong văn Nam Cao và Lỗ Tấn không thiên về sự vuốt ve an ủi, đánh vào tình thương mà nó hướng vào nhận thức, vào đời sống tinh thần của người đọc Vị nhân sinh ở đây là sự thức tỉnh con người, để họ hiểu rõ chính bản thân mình

Để mọi người nhận ra những khuyết nhược, những thói hư tật xấu và nghịch cảnh của bản thân, của dân tộc, cả hai tác giả đã tìm đến kiểu nhân vật nghịch dị như một sự lựa chọn tương đồng để biểu đạt dụng ý của mình Ở Lỗ

Tấn, ông hướng đến giải quyết vấn đề “quốc dân tính”, chỉ ra sự mê muội,

thói ích kỉ và chủ nghĩa AQ của người dân, bởi vậy, nhân vật của Lỗ Tấn chủ yếu được khắc họa ở sự nghịch dị về tính cách, tâm lý Ngược lại, Nam Cao nhấn mạnh sự tha hóa, bế tắc của con người trước hoàn cảnh sống, do đó, nhân vật của ông được khắc họa có sự dị dạng, tha hóa từ ngoại hình đến tính cách, nhân phẩm, đó như là hệ quả của hiện thực khắc nghiệt để lại trên những con người nghèo khó

1.1 “Nghệ thuật là tiếng đau khổ kia”: tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao

1.1.1 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

Nam Cao (1917 – 1951) quê ở làng Đại Hoàng, Hà Nam Sinh ra ở một vùng quê nghèo, gia đình cũng nghèo khó ông là người con duy nhất trong gia

Trang 17

đình được đi học Cuộc sống ngay từ nhỏ của Nam Cao đã phải đối mặt với

đói nghèo, bệnh tật “áo cơm ghì sát đất” Thi trượt Thành Chung, ông bỏ quê

đi Sài Gòn kiếm sống với khát khao to lớn, tuy nhiên khó khăn, bệnh tật khiến ông phải quay lại làng quê.Nam Cao ôn thi lại và đậu bậc Thành Chung Lại

do vấn đề sức khỏe nên Nam Cao không được nhận vào công chức Ông xin dạy ở một trường tư do một người họ hàng mở Quãng thời gian dạy học này chính là lúc Nam Cao hiểu rõ hơn nỗi khổ tâm của người trí thức giàu hoài bão, khát vọng nhưng lại bị thực tế cuộc sống đè bẹp những khát vọng lớn lao

ấy, khiến họ trở thành những con người tầm thường, ích kỉ trước cuộc sống cơm ăn áo mặc Khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, trường học bị đóng cửa, Nam Cao nghỉ dạy, sống chật vật bằng nghề gia sư, viết văn…có những lúc thất nghiệp Năm 1943 Nam Cao ra nhập Hội văn hóa cứu quốc.Khi phong trào văn hóa cứu quốc bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương.Trong cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở địa phương và được bầu làm chủ tịch xã.Sau đó ông được điều động công tác tại Hội văn hóa cứu quốc.Tháng 11 năm 1951, ông hi sinh trên đường đi công tác vào vùng địch hậu khi mà cuốn tiểu thuyết lớn ông ấp ủ vẫn chưa được hoàn thành

Thời điểm Nam Cao sống và sáng tác, đất nước đã rơi vào tay thực dân Pháp Từ đó, nước ta còn trở thành thuộc địa của Nhật – Pháp Xã hội Việt Nam lúc ấy tăm tối, ngột ngạt dưới ách thống trị của bọn thực dân phát xít và phong kiến tay sai Nhân dân sống lầm than trong tình trạng một cổ ba tròng Sức người, sức của từ nông thôn đến thành thị đều bị vơ vét đến kiệt quệ để phục vụ cho chiến tranh Nam Cao là người tận mắt chứng kiến sự nghèo đói, lạc hậu khổ sở và sự chuyển mình đầy đau đớn của xã hội lúc ấy, ông cũng là người chứng kiến thời đại bão táp cách mạng và sự thắng lợi vinh quang của cách mạng tháng Tám

Trang 18

Kể từ khi bước chân vào làng văn đến khi qua đời, Nam Cao đã có mười lăm năm gắn bó với nghiệp văn Ông khởi đầu văn nghiệp từ 1936 với truyện

ngắn Cảnh cuối cùng tiếp đó là Hai cái xác (bút danh Thúy Rư, in trên Tiểu thuyết thứ bảy) Sau đó các sáng tác tiếp theo của tác giả lần lượt ra mắt bạn đọc

kể cả thơ và truyện cho thiếu nhi với các bút danh Xuân Du, Nguyệt, Nhiêu Khê

Tuy nhiên phải đến tập truyện Đôi lứa xứng đôi (1941)thì tên tuổi của Nam Cao

mới được khẳng định Có nhà nghiên cứu đã so sánh tập truyện này như giấy phép đưa Nam Cao bước vào làng văn, sánh bên các nhà văn đã nổi danh như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…

Trước cách mạng, Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính là người nông dân bị bần cùng hóa và người trí thức nghèo Ở đề tài thứ nhất, nổi bật lên là

các tác phẩm: Chí Phèo(1941), Trẻ con không được ăn thịt chó (1942), Lão Hạc (1943), Một bữa no (1943), Một đám cưới (1944) Viết về đề tài này,

Nam Cao tập trung khắc họa bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam đói nghèo xơ xác trong những năm 1940-1945 cùng số phận của những người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, bị cự tuyệt quyền làm người Những con người khốn khổ ấy càng hiền lành, càng nhẫn nhục chịu đựng thì càng bị chà đạp phũ phàng Viết về người nông dân, Nam Cao đã chân thực khi thể hiện cả những điểm mạnh cũng như điểm yếu của họ Ông không tô hồng, không bôi nhọ và phơi bày mọi thứ một cách công bằng nhất, thực nhất, qua

đó lên án mạnh mẽ xã hội thực dân phong kiến đã hủy hoại nhân hình, nhân tính, làm xói mòn nhân cách của những người dân lương thiện

Về đề tài người trí thức nghèo, có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như

Những truyện không muốn viết (1942), Trăng sáng (1943), Đời thừa (1943), Quên điều độ (1943), tiểu thuyết Sống mòn (1944) Qua những tác phẩm này,

Nam Cao đã miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người tri thức nghèo Đó

là những giáo khổ trường tư, những nhà văn túng quẫn, những viên chức nghèo…Người tri thức trong tác phẩm của Nam Cao phần lớn đều là những

Trang 19

con người có tài năng, tâm huyết, ôm ấp hoài bão to lớn nhưng không thực hiện được, thậm chí nhân cách cũng đứng trước nguy cơ bị xói mòn Đa phần những tri thức ấy bị dồn vào tình trạng sống mòn, sống thừa…

Thời gian viết và số lượng tác phẩm để lại của ông không nhiều, nếu so với các tác giả cùng thời thì có thể thấy khối lượng tác phẩm của Nam Cao thật sự khiêm tốn: hai tiểu thuyết ngắn, dăm bảy chục truyện ngắn, ký, một kịch, dăm mười truyện ngắn cho thiếu nhi…Số lượng tuy ít ỏi là thế nhưng những tác phẩm của ông thực sự gây ấn tượng mạnh, luôn ám ảnh người đọc, tạo khả năng cho người đọc đồng sáng tạo cùng với tác giả Những trang văn

của Nam Cao thực sự là “những dòng văn xuôi mọc cánh” khiến bao thế hệ

độc giả không ngừng tốn giấy mực khai thác, khám phá và phát hiện các tầng giá trị của những tác phẩm đã trở thành mẫu mực cho thể loại truyện ngắn, truyện dài

Đương thời, so với các nhà văn hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…hay các nhà văn trong Tự Lực văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam thì Nam Cao là

người đến muộn Nhưng ngay từ lúc trình làng, “với một lối riêng” ông đã xác

định được cái riêng độc đáo của mình Buổi đầu, sáng tác của Nam Cao vẫn còn bị ảnh hưởng bởi bầu không khí của văn chương lãng mạn lúc đó, tuy nhiên ông không chạy theo những thị hiếu thời thượng mà nhanh chóng vượt qua cảm hứng thi vị hóa, duy mĩ hóa lúc bấy giờ

Nam Cao biết rằng cái giỏi của mình ở đâu, không viển vông, không mộng mị, tất cả đều được thử thách qua thực tế Theo lời kể của nhà văn Tô

Hoài trong Người và tác phẩm Nam Cao thì vốn Nam Cao nhút nhát, ít nói nhưng cũng có những lúc bồi hồi, “con ma thiên tài đến tưng nịnh, xui giục anh, công kênh anh ngồi lên đầu cuộc sống của mọi người” Lắm lần chuyện vui hoặc quá chén, anh chàng gầy gò leo khoeo ấy mặt đỏ lên, “vừa rung đùi vừa nói băm băm bàn tay, chửi bới rất hùng hổ, coi giời bằng vung, coi ai cũng

Trang 20

bằng cứt” Chẳng vậy mà anh chàng ấy dám phát biểu rằng Gorki viết cũng

xoàng, Lỗ Tấn thì khá hơn một tý, mình sâu tí nữa thì có thể kịp Shekhop Trần Đăng lạnh như đá Tiểu thuyết của tao sẽ…và hoa chân múa tay Nhưng khi cái

“bốc” ấy qua rồi, thì Nam Cao lại trở về lầm lũi, cặm cụi làm việc, suy nghĩ

Ông xem mình thật đáng xấu hổ quá và thầm chửi bản thân

Nam Cao là một trong số ít nhà văn có quan điểm cá nhân về việc làm nghệ thuật và sáng tác theo tôn chỉ đã đưa ra Sự miệt mài, nhiệt thành với đời, với văn của ông được thể hiện rõ trên từng trang sách, đó là một trong những điều góp phần tạo nên thành công của ông trên con đường văn chương

1.1.2 Trăng sáng - Tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao và bước ngoặt trong hành trình sáng tác

Trăng sáng (viết 1942) được coi là tác phẩm đánh dấu bước ngoặt trong

hành trình sáng tác của Nam Cao

Nếu như văn chương lãng mạn tiêu cực với tính chất ảo mộng phi hiện thực của nó xóa nhòa ranh giới giữa hiện thực với văn chương, coi văn chương là thứ xa rời thực tế, tách rời con người nghệ sĩ và con người xã hội

thì có thể nói Trăng sáng là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao tuyên chiến với thứ văn chương lãng mạn tiêu cực đó Trăng sáng là quá trình dằn vặt đầy

đau đớn của nhà văn để đi đến đoạn tuyệt với thứ văn chương thi vị hóa cuộc sống, chạy theo vẻ đẹp bên ngoài, coi nghệ thuật là “ánh trăng xanh huyền ảo,

nó làm đẹp đến những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa” Trong lúc các nhà văn lãng mạn đương thời coi nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật là cái đẹp chủ quan thì Nam Cao đã ý thức về một nghệ thuật vị nhân sinh, có ích

cho xã hội Trong Trăng sáng Nam Cao thể hiện rõ quan điểm của người cầm bút không thể trốn tránh, thờ ơ với sự thật, không thể làm ngơ trước “biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến rang và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?” [23, tr

42] Sự thật tàn nhẫn với biết bao mảnh đời bất hạnh, mỗi người khổ một nỗi

Trang 21

khổ riêng, đau một nỗi đau riêng khiến Nam Cao không thể làm ngơ mà viết

ra thứ văn chương phỉnh nịnh, giả dối, tô hồng hiện thực như ánh trăng lừa dối khiến cảnh vật hoang tàn cũng trở lên thơ mộng Xác định rõ thiên chức của người cầm bút nơi mình, Nam Cao cũng như nhiều nhà văn khác lúc bấy giờ đã đi ngược lại với các cây bút lãng mạn tiêu cực Vũ Trọng Phụng nói

rằng “Tiểu thuyết là sự thực ở đời”, Ngô Tất Tố kêu gọi “Hãy ngó mắt đến những kẻ hạ lưu thôn quê”…Còn Nam Cao thì sâu sắc đưa ra quan điểm

“Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” [23, tr 42] Đó là tuyên ngôn nghệ thuật khẳng định việc chối bỏ

khuynh hướng văn học chạy theo thị hiếu tầm thường, khẳng định thiên chức của người nghệ sĩ nơi tác giả và quan niệm văn chương vị nhân sinh của ông

Tiếp theo Trăng sáng, Đời thừa đánh dấu sự phát triển trong quan điểm

nghệ thuật của nhà văn Nam Cao đã ý thức được trách nhiệm nặng nề, lớn lao của người nghệ sĩ trong từng trang viết của mình Người nghệ sĩ chân chính sáng tạo không chỉ vì mưu sinh kiếm sống mà trước hết là vì nhu cầu, là

sự thôi thúc cần phải được viết từ bên trong Dù có những khi “áo cơm ghì sát đất” thì cũng không thể viết một cách buông thả vì người nghệ sĩ một khi đã buông thả, dễ dãi qua loa trong cách viết thì trong cuộc sống ắt hẳn cũng đánh mất chính mình Xây dựng nhân vật Hộ, Nam Cao muốn nhấn mạnh ý nghĩa

cao quý của nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” [23, tr 69] Đồng thời tác giả cũng lên án thứ văn chương “vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài

ý thông thường, quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi”

[23, tr 69]

Như vậy thì sau chặng đường sáng tác đầu tiên, Nam Cao đã dứt khoát rời bỏ khuynh hướng lãng mạn thoát ly và đến với khuynh hướng hiện thực

Trang 22

Khi ông hướng ngòi bút của mình trở về với cuộc sống hiện thực, với những kiếp người nhỏ bé thì ngòi bút vị nhân sinh ấy cũng chưa bao giờ dễ dãi với chính mình Nam Cao không hề rụt rè khi phê phán thứ văn chương tả chân hời hợt, nông cạn, không chạm vào cái sâu kín bên trong, cái bản chất mà chỉ

tả được cái bề ngoài Các nhân vật, hoàn cảnh và sự việc trong sáng tác của Nam Cao, do vậy luôn rất thật, thật như chính cuộc sống vậy, nhưng nó cũng không phải là một trường hợp cụ thể nào mà là điển hình cho nhiều số phận Nam Cao đã đúc kết, đưa ra những tiêu chuẩn để làm nên một tác phẩm văn

chương có giá trị: “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn” [23, tr 76]

1.2 “Hãy cứu lấy các em”: Lựa chọn dấn thân trong sự nghiệp cầm bút của Lỗ Tấn

1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn

Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tự là Dự Tài, Lỗ Tấn là bút danh của

ông khi viết Nhật kí người điên đăng trên tạp chí Tân thanh niên năm 1918

Ông xuất thân trong một gia đình sĩ phu phong kiến đã sa sút Cha của Lỗ Tấn

là Chu Bá Nghi, học đến tú tài nhưng không ra làm quan, mẹ ông là Lỗ Thụy, người thôn quê, tự học đến trình độ có thể xem sách được Bà là người có ảnh hưởng lớn đến Lỗ Tấn, bút danh của ông cũng là lấy từ họ mẹ Lỗ Tấn thông

minh, hiếu học, thông thạo Tứ thư, Ngũ kinh, Sử kí Sớm phát hiện ra sách

giáo khoa thuở đó dạy học sinh những điều bất nhân bất nghĩa, đặc biệt những

truyện trong Nhị thập tứ hiếu Lỗ Tấn đã nảy sinh sự căm ghét lễ giáo phong

kiến và nhen nhóm tư tưởng cần phải chống lại nó

Lỗ Tấn đặt chân tới Nam Kinh năm 1898, đúng năm xảy ra cuộc Biến pháp Mậu Tuất Ban đầu ông theo học trường Thủy sư (chuyên đào tạo kĩ sư

Trang 23

hàng hải), chưa đầy một năm, cảm thấy không có hứng thú gì với các môn học ở đây ông đã chuyển sang học trường Khoáng lộ (chuyên đào tạo kĩ sư hầm mỏ) Tại đây Lỗ Tấn tiếp thu được nhiều kiến thức khoa học tự nhiên và

xã hội của phương Tây, đọc được nhiều sách báo nói về tự do dân chủ Lỗ Tấn tốt nghiệp trường Khoáng Lộ với hai tấm bằng xuất sắc và được cử sang Nhật du học

Sang Nhật, Lỗ Tấn theo học ngành thuốc vì muốn chữa bệnh cho những người dân nghèo khổ Trong một buổi xem phim thời sự về chiến tranh Nga – Nhật, nhìn thấy cảnh tượng người dân Trung Quốc vui cười, háo hức xem cảnh một người Trung Quốc khác làm gián điệp bị chém đầu thì Lỗ Tấn nhận

ra rằng căn bệnh tinh thần của quốc dân còn nguy hiểm hơn, trầm trọng hơn bệnh tật Khi tinh thần u mê, tư tưởng lầm lạc thì có khỏe mạnh cường tráng cũng chỉ là thứ để người ta đem chém đầu thị chúng, cũng chỉ là thứ vui mừng khi thấy đồng bào mình đổ máu mà thôi Vì nhận thức ấy nên Lỗ Tấn nhanh chóng bắt tay vào hoạt động văn chương Năm 1907, Lỗ Tấn manh nha ý

tưởng thành lập tạp chí văn nghệ lấy tên là Phục sinh nhưng do thiếu tiền và

phương tiện nên ý tưởng này chưa thực hiện được Ông tham gia viết bài cho

các tạp chí khác, trong đó có nhiều bài có giá trị, nổi bật là hai bài Bàn về sự thiên lệch của văn hóa và Sức mạnh của dòng thơ Mara Ông cũng tích cực

tham gia các hoạt động của Quang Phục hội

Ngày 19 tháng 10 năm 1936, Lỗ Tấn đã mãi mãi ra đi trong sự tiếc nuối của hàng triệu người Trung Quốc nói riêng và của những người yêu mến nhà văn trên thế giới nói chung

Nói đến sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn, trước hết phải kể đến tiểu thuyết

“tấm bia vẻ vang trên lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc” Trừ năm thiên tiểu thuyết lịch sử trong Chuyện cũ viết lại thì hầu hết các sáng tác của ông đều thuộc thời kì đầu, chủ yếu là nói tới hai tập Gào thét và Bàng hoàng Gào thét trừ truyện Vá trời (về sau in vào tập Chuyện cũ viết lại) ra, gồm mười bốn

Trang 24

thiên viết từ năm 1918 đến 1922, đây là tập tiểu thuyết đầu tiên của Lỗ Tấn,

“là tiếng thét trợ uy do đồng cảm với những kẻ nhiệt tình” Thật ra, năm 1903,

lúc mới 23 tuổi, Lỗ Tấn đã mượn gương nghĩa dũng ở nước khác (Hồn Spartes) để thức tỉnh tinh thần hấp hối của Trung Quốc Sức mạnh của dòng thơ Ma-ra (Phần) viết năm 1907 cũng là một tiếng thét phản kháng Bàng hoàng gồm mười một thiên viết từ năm 1924, lúc mặt trận văn hóa mới đã xảy ra chia rẽ, một mình ông “đi đi lại lại trong sa mạc mênh mông, ý chí chiến đấu đã nguội lạnh đi không ít mà chiến hữu mới thì ở đâu chưa thấy”

Tuy vậy, ông vẫn vác kích chiến đấu và tìm ra lối thoát

Hai tập Gào thét và Bàng hoàng phản ánh cả một thời kỳ lịch sử khoảng

từ cách mạng Tân Hợi 1911 đến trước năm 1925-1927 Thời kỳ này,cách mạng Tân Hợi đã hoàn toàn tỏ ra bất lực, cách mạng dân chủ mới do giai cấp

vô sản lãnh đạo bắt đầu với vận động Ngũ tứ Thời kỳ bão táp cách mạng còn chưa tới, giai cấp vô sản bấy giờ còn chưa kết hợp với nông dân, đông đảo nhân dân còn sống cuộc đời đau khổ, mâu thuẫn xã hội gay gắt

Theo Nam xoang bắc điệu tập thì ở tập Bàng hoàng, kĩ thuật viết có vẻ

khá hơn trước, con đường tư tưởng hình như cũng không bị câu thúc nhưng ý chí chiến đấu đã nguội lạnh đi không ít, mang theo ít nhiều sắc thái thương cảm, phản ánh cái tâm cảnh bực bội của Lỗ Tấn trước sự nửa đường biến tiết của rất nhiều chiến hữu của ông

Khoảng thời gian 1934-1935, Lỗ Tấn viết năm truyện: Phi công (Phản đối chiến tranh, 1934), Trị thủy, Hái rau vi, Xuất quan, Khởi tử(1935) Về sau thêm vào ba truyện viết từ trước: Vá trời (1922), Lên cung giăng và Luyện kiếm (1926), in thành tập Chuyện cũ viết lại Những truyện này tuy tả người

xưa việc xưa nhưng không chỉ là tiểu thuyết lịch sử Lỗ Tấn đã mượn hình thức lịch sử để công kích sự thống trị tối tăm của chính phủ phản động Quốc dân đảng và bộ mặt tàn độc xấu xa của bè lũ tay sai cũng như những kẻ gọi là

“học giả”, “danh lưu”

Trang 25

Nếu truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết của Lỗ Tấn là tấm bia vẻ vang trên văn học sử hiện đại của Trung Quốc thì sự cống hiến của tạp văn của ông cho nền văn học hiện đại Trung Quốc, có lẽ, còn vượt qua cả tiểu thuyết Tạp văn Lỗ Tấn chiếm hơn hai phần ba sáng tác của ông, bao gồm 650 bài, với 15 tập, sáng tác rải rác trong suốt hai mươi năm hoạt động văn nghệ Tạp văn là một thể loại văn học nảy sinh từ cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa Ngũ Tứ Trước Lỗ Tấn, đã có người viết tạp văn, song chưa dựng được ngọn cờ Chính nhờ công lao và tài năng của Lỗ Tấn mà thể loại tạp văn có một vị trí độc lập như các thể loại khác Cù Thu Bạch từng nói: “Thể loại tạp cảm sẽ nhờ Lỗ Tấn mà trở thành tên gọi thay cho loại luận văn có tính chất

văn nghệ” Thời kì đầu, Lỗ Tấn viết 5 tập tạp văn Nhiệt Phong thu thập những bài “Tùy cảm lục” đăng trên tạp chí Tân thanh niên từ tháng 4 năm

1918 Phần là những bài tạp văn từ 1907 đến 1925, dấu vết của một phần đời

sống của Lỗ Tấn mà ông muốn chôn vùi nó vào một nấm mồ, mong mỏi cái

thời đại đáng nguyền rủa ấy qua đi Hoa cái tập viết trong hoàn cảnh gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng, trải qua nhiều gian nan mới đăng được Hoa cái tập tục biên ghi chép sự đi lên của tư tưởng và tinh thần chiến đấu của Lỗ Tấn,

cũng là tài liệu quý báu về đấu tranh tư tưởng văn hóa trong thời kì

1925-1927 của lịch sử vận động cách mạng hiện đại Trung Quốc Nhi dĩ tập thu

thập những bài Lỗ Tấn không dám nói toạc vì “máu ở Quảng Châu năm 1927

làm mắt trừng miệng ngọng” (Lời tựa Tam nhàn tập) Từ sau 1928 đến 1936,

Lỗ Tấn viết đến 9 tập tạp văn: Tam nhàn tập, Nhị tâm tập, Nam xoang Bắc điệu tập, Hoa biên văn học, ba tập Thả giới đình tạp văn, Tập ngoại tập và Tập ngoại tập thập di Tạp văn của Lỗ Tấn được coi là “luận văn có tính chất văn nghệ” Vì vậy sức hút của nó đến tư chính hai yếu tố chính luận và văn

nghệ

Ngoài tiểu thuyết và tạp văn thì Lỗ Tấn cũng để lại 75 bài thơ hầu hết đều thuộc thơ cổ

Trang 26

Lỗ Tấn - nhà văn thời Ngũ Tứ - thời đại trăn trở tìm đường của dân tộc Trung Hoa Ông cũng là văn hào vĩ đại của thế kỉ XX Ông vĩ đại bởi không chỉ là nhà văn, Lỗ Tấn còn là nhà tư tưởng Ông suốt đời dùng ngòi bút sắc bén làm vũ khí tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Lỗ Tấn đã dồn tất cả tâm huyết vào ngòi bút để vạch mặt kẻ thù, đồng thời phanh phui,

mổ xẻ mọi thói hư, tật xấu của quần chúng nhân dân đang mê muội và bị lợi dụng Với mục đích sáng tác rõ ràng như vậy, chủ đề nổi bật trong sáng tác của Lỗ Tấn là căn bệnh tinh thần cản trở con đường giải phóng dân tộc Lỗ

Tấn gọi đó là “liệt căn tính quốc dân” Và văn chương Lỗ Tấn, có thể nói gọn

lại đó là văn chương cải tạo quốc dân tính Khẩu hiệu này, Lương Khải Siêu

đã nói đến trước Lỗ Tấn 20 năm trong bài Tiểu thuyết cứu quốc Tức là ông

cũng đã nhìn ra vấn đề cải cách, mở mang và thay đổi tâm tính của người dân, nhưng thay đổi như thế nào thì còn chưa cụ thể Lương Khải Siêu, với tư cách

một chính khách cũng chỉ đề ra một số biện pháp như “chấn hưng dân khí”,

“mở mang dân trí”, các biện pháp khá chung chung này cũng giống như chúng ta đã làm thời Đông kinh nghĩa thục Trong khi đó, Lỗ Tấn trong bài Vì sao tôi viết tiểu thuyết đã xác định rõ ràng tư tưởng, hướng đi cụ thể cho mục

đích cải tạo quốc dân tính, ông cho rằng cần phải vị nhân sinh và hướng đến vấn đề nhân sinh

Lỗ Tấn đã nhận thức được bản thân sự nghèo đói không dẫn đến cải cách

mà ý thức về cái đói mới đem lại cải cách Người dân Trung Quốc nghèo đói, khổ cực và u mê, nhưng nếu họ không ý thức được sự u mê của mình, địa vị đích thực của mình thì mãi mãi họ cũng vẫn ngủ quên trong ngôi nhà bằng sắt

và chết lúc nào không hay Ý nghĩa lớn lao của khẩu hiệu Lỗ Tấn đề ra chính

là ở chỗ đó, ông buộc người dân phải tự ý thức, tự phản tỉnh và thay đổi Sự phê phán của tác giả càng trở nên thấm thía, sâu sắc khi nhà văn viết ra bằng thái độ tự phê phán mà nguồn cội sâu xa bắt nguồn từ lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và sự vò xé trước nỗi đau của đồng bào Những năm 60, Cách

Trang 27

mạng Văn hóa đã tàn phá văn minh Trung Quốc, kéo lùi lịch sử lại hàng chục

năm nhưng trách nhiệm đâu chỉ có “lũ bốn tên” mà sự thực là: cả dân tộc phải

sám hối đúng như lời nhà văn Lưu Tái Phục đã nói Nhà văn Ba Kim kêu gọi lập bảo tàng tội ác Cách mạng Văn hóa cũng có ý nghĩa đó Lỗ Tấn đã đúng khi nhận ra rằng nếu như người dân tự ý thức được bản thân mình thì họ sẽ trở lên vô địch Sự vươn mình của dân tộc Trung Hoa sau Ngũ Tứ đã chứng

minh được điều đó.Và lời kêu gọi “phê phán quốc dân tính” của Lỗ Tấn vẫn

có ý nghĩa mãi cho đến hôm nay

1.2.2 Nhật kí người điên - biểu tượng về lựa chọn dấn thân trong sự nghiệp cầm bút của Lỗ Tấn

Lỗ Tấn đến với văn chương sau khi trải qua một thời gian dài tuyệt vọng

vì không tìm thấy con đường nào cho sự đổi đời của dân tộc Ông đến với văn

chương vì lời mời từ phía nhóm trí thức Tân thanh niên Nhật kí người điên là

tác phẩm đầu tiên đánh dấu cho sự dấn thân trở lại của ông Trong đó, vẫn chưa hết những thất vọng, bi quan về tương lai của dân tộc Nhưng đây là tiếng nói đầu tiên thể hiện tinh thần khai sáng, tinh thần can dự vào hiện thực, phê phán tận gốc tư tưởng nô lệ Và hình ảnh Người điên là hình ảnh mang tính biểu tượng quan trọng tượng trưng cho con người thức tỉnh thất bại, và mọi hy vọng của Lỗ Tấn chỉ dành cho những đứa trẻ, những con người chân chính

Nhân vật người điên trong tác phẩm lên án lịch sử bốn nghìn năm chế độ

phong kiến Trung Quốc là lịch sử “ăn thịt người” Thực chất cái gọi là nhân

nghĩa, đạo đức chỉ là sự tàn bạo và u mê

Nhà văn thông qua diễn biển tâm lý của một người điên bị bệnh “bách hại cuồng” lúc nào cũng thấy mình đang bị bức hại để tố cáo lễ giáo, đạo đức và

chế độ phong kiến Qua con mắt của người điên, lịch sử mấy nghìn năm nhân nghĩa đạo đức của Trung Hoa thực chất thât đáng sợ, con người luôn nơm nớp

lo sợ, đề phòng, người với người là lang sói Người điên nhìn thấy ai cũng nghĩ

họ đang muốn hại mình, ông Triệu “hình như sợ mình mà cũng hình như muốn

Trang 28

hại mình Còn bảy tám người nữa chụm đầu thì thầm với nhau về mình nhưng

lại sợ mình thấy Ngay cả lũ trẻ con cũng “hình như sợ mình mà hình như cũng muốn hại mình” làm cho “mình kinh hãi, làm cho mình vừa ngạc nhiên vừa đau xót”…Lỗ Tấn đã lấy hình ảnh người điên “giẫm lên cuốn sổ ghi nợ mấy mươi đời của cụ Cố Cữu” để thể hiện tinh thần chống phong kiến triệt để của

mình Cụ Cố Cữu ở đây là một tên tượng trưng chỉ những nhân vật bảo thủ còn cuốn sổ ghi nợ thì sự ám chỉ lịch sử thống trị tràng kỳ của giai cấp phong kiến Giẫm lên cuốn sổ ghi nợ ấy tức là chống lại chế độ phong kiến Nhân vật người điên trong tác phẩm thực ra lại là người tỉnh nhất, anh ta tỉnh khi nhận ra được mặt trái của lễ giáo phong kiến và ngang nhiên chỉ trích, thừa nhận cái đen tối

trong lịch sử dân tộc “Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ “nhân, nghĩa, đạo đức” viết lung tung tí mẹt Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ “Ăn thịt người” [12, tr 19]

Trong tác phẩm Lỗ Tấn cũng nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần ba chữ “ăn thịt người” cũng như những điển tích về việc ăn thịt người trong lịch sử của dân tộc Trung Hoa Đó là những chữ “Dịch tử nhi thực” trong Tả truyện chỉ

việc người nước Sở vây nước Tống, người nước Tống đổi con mà ăn, chặt xương mà nhen lửa Dịch Nha – một người có tài nấu nướng, người nước Tề, đời Xuân Thu từng nấu thịt con mình dâng cho Tề Hoàn Công chỉ vì một câu than thở của Tề Hoàn Công rằng chưa được biết mùi vị thịt trẻ con ra sao Hay sự việc Từ Tích Lân - nhà cách mạng cuối đời Thanh bị bọn tay chân của Ân Minh moi gan nấu ăn…

Nhân vật người điên đã khẳng định lịch sử dân tộc Trung Hoa chính là

lịch sử “ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”.Đây là sự phủ nhận mạnh mẽ,

triệt để chế độ phong kiến Thời kì này Lỗ Tấn còn tin vào tiến hóa luận nên ông tin tưởng rằng ngày mai sẽ tươi sáng hơn hôm nay và những đứa trẻ chưa từng bị vấy bẩn – chính chúng sẽ xây dựng một tương lai khác, một xã hội,

Trang 29

một dân tộc khác cho đất nước ông Nơi ấy con người sống với nhau sẽ chân thành, hạnh phúc không còn nơm nớp lo sợ, hại lẫn nhau nữa

Cuối tác phẩm Lỗ Tấn đã viết những dòng nhắn nhủ như là sự kêu gọi

một cách thống thiết “Hãy cứu lấy các em”

Có thể nói Nhật kí người điên chính là biểu tượng cho sự lựa chọn dấn

thân của Lỗ Tấn trong sự nghiệp cầm bút của ông Chúng ta biết rằng, trước

đó Lỗ Tấn từng theo học nhiều ngành học khác nhau và ông mong muốn học

y với dự định sẽ chữa bệnh cứu giúp những người dân nghèo khó, để mọi người dân tộc ông có một sức khỏe cường tráng Tuy nhiên khi đã nhận ra vấn

đề về căn bệnh tư tưởng “liệt căn tính quốc dân” của nhân dân thì ông đã quyết định chuyển sang cầm bút Nhật kí người điên tuy là tác phẩm đầu tay

nhưng nó thể hiện sự quyết tâm chống phong kiến triệt để của tác giả Trong lịch sử văn học Trung Quốc thì đây là tác phẩm đầu tiên đả kích chế độ phong kiến một cách sâu sắc

“Hãy cứu lấy các em” – đó là câu cuối cùng của tác phẩm thể hiện tấm

lòng, sự mong mỏi, hi vọng của ông về một tương lai tươi sáng cho dân tộc ông, cho những mầm non của đất nước

1.3 Văn chương vị nhân sinh và lựa chọn gần gũi trong biểu đạt về cái nghịch dị

1.3.1.Văn chương vị nhân sinh: điểm gặp gỡ giữa hai nhà văn

Nam Cao và Lỗ Tấn đều chủ trương văn chương phải vì con người, vì

sự tiến bộ của xã hội nhưng không phải ngay từ đầu, hai ông đã xác định ngay được điều ấy mà cả hai phải qua quá trình “tìm đường”

Nam Cao bước chân vào nghiệp văn với các sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn để sau đó mất một khoảng thời gian nhất định ông mới xác định được quan niệm và con đường nghệ thuật mình theo đuổi Với Lỗ Tấn,

trước khi đến với nghề văn, ông từng trải qua nhiều ngành nghề khác nhau

từ khoáng sản, mỏ đến y…Cuối cùng ông nhận ra rằng: thuốc chỉ cứu chữa

Trang 30

được căn bệnh về thể xác chứ chẳng thể chữa được căn bệnh về tinh thần

Mà muốn xã hội tốt đẹp hơn, phát triển hơn thì điều cốt yếu là thoát khỏi cái

“liệt căn tính quốc dân” đã tồn tại bao lâu nay ở dân tộc Trung Hoa

Nam Cao và Lỗ Tấn đều là những nhà văn vị nhân sinh, nhưng nếu ở Nam Cao ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm thể hiện ở sự tha hóa, mòn mỏi thì trong tác phẩm của Lỗ Tấn, ý nghĩa nhân sinh lại được thể hiện ở việc chỉ ra căn bệnh quốc dân, thức tỉnh ý thức dân tộc

Nhìn chung thì vấn đề con người bị tha hóa đã được các nhà văn của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945 đưa vào tác phẩm của mình một cách sinh động với những cách tiếp cận khác nhau Người nông dân trong quan niệm của Nam Cao trước hết là những nạn nhân của hoàn cảnh,

đó là sự đói nghèo, bệnh tật, tệ nạn xã hội… Có thể nói cái đói, cái nghèo đã khiến những con người xưa nay vốn chất phát, hiền lành bỗng trở nên biến chất, tha hóa, đánh mất danh dự, lòng tự trọng tối thiểu của một con người

Đó là hình ảnh người bà tội nghiệp, đáng thương trong Một bữa no, chỉ vì

quá đói mà phải lặn lội đến tận nhà bà phó Thụ - nhà mà đứa cháu bà đang đi

ở cho người ta vừa là để thăm cháu, vừa để kiếm một bữa cơm, nhưng mục đích chính của bà là đi tìm miếng ăn hay chỉ vì tính tham ăn, thèm ăn, thiếu

ăn mà người bố trong Trẻ con không biết ăn thịt chó nhẫn tâm ăn hết phần

của vợ con mình, đó là anh cu Lộ trong Tư cách mỏ đã hi sinh danh dự, lòng

tự trọng của mình để đổi lấy việc được ăn ngon, ăn đủ, ăn không bỏ xót khi

có cơ hội…

Truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng, bốn phần đã có hết ba phần nói về chuyện miếng ăn, chuyện sinh tồn, hơn là chuyện “sống”, phần còn lại Nam Cao dành để nói về vấn đề nhân phẩm, nhân cách của con người, trong đó nhà văn đi sâu vào khai thác, khám phá, lật xới tấn bi kịch tinh thần của con người Đó là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo, đó là

bi kịch giằng xé tâm hồn, là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa sự sống và cái chết,

Trang 31

giữa sự sống với đức hi sinh cao cả của Lão Hạc trong những truyện ngắn cùng tên Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao lại đề cập nhiều đến thế chuyện miếng ăn, chuyện cái nghèo hèn trong tác phẩm của mình, như chúng

ta đã biết làng Vũ Đại quê ông là một bức tranh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam thời kì trước 1945 Ở đó xuất hiện biết bao gia đình, bao số phận cơ cực, tủi hờn, sống một cuộc sống mà sự sống cận kề với cái chết, danh dự, lòng tự trọng của con người lại đem ra so sánh với chuyện miếng ăn Ranh giới giữa chúng thật mong manh, thường đặt con người vào những sự lựa

chọn, miếng ăn hay là danh dự (Trẻ con không được ăn thịt chó, Tư cách mỏ, Một bữa no…), nhân phẩm hay là cái chết (Chí Phèo, Lão Hạc…) Hơn thế

nữa, nhà văn còn đi sâu phân tích tấn bi kịch tinh thần của những người trí thức như Hộ, Điền, Thứ Bi kịch vì số phận nghiệt ngã của những người lao động nghèo xung quanh, bi kịch vì cuộc đời vô vị, không lối thoát của mình,

vì một xã hội đầy bất công ngang trái và bế tắc Nam Cao đã đề cập đến những bi kịch ấy một cách rất nhẹ nhàng và càng từng trải, càng có ý thức về

ý nghĩa của thì người ta càng thấy ghê rợn, đó là bi kịch sống mòn Những người tri thức trong sáng tác của Nam Cao luôn muốn sống một đời sống xứng đáng, có ích, xây dựng được một sự nghiệp nhưng cuối cùng họ chẳng làm được gì, suốt đời vẫn cứ quanh quẩn với cuộc sống tẻ nhạt, đáng xấu hổ

Họ không làm được gì bởi điều kiện xã hội và hơn cả là do thụ động, do ngại

đổi thay và sợ hãi Do đó họ chết mòn, “sống mòn”, sống cuộc sống “đời thừa” Đúng như Nam Cao nhận xét họ sẽ “mốc lên, rỉ đi, mục ra”, họ sẽ

“chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống”

Nếu quan niệm vị nhân sinh ở Nam Cao thể hiện ở cuộc sống tha hóa, mòn mỏi của con người thì trong tác phẩm của Lỗ Tấn, ông lại tập trung thể hiện căn tính nô lệ, phép thắng lợi tinh thần và những thói hư tật xấu của người dân

Chúng ta thấy rằng Lỗ Tấn viết truyện ngắn nói riêng, sáng tác văn chương nói chung không phải vì mục đích làm nghệ thuật mà là để cải tạo quốc dân tính

Trang 32

Đó là căn tính nô lệ của người dân thể hiện qua sự u mê, thiếu hiểu biết, cam chịu…những căn bệnh đã ăn sâu bám rễ vào biết bao thế hệ trở thành cái

xấu xa trong căn tính dân tộc Với Nhật kí người điên, Lỗ Tấn muốn đánh thẳng vào lễ giáo đạo đức phong kiến, một thứ lễ giáo “ăn thịt người” Nhà

văn thông qua diễn biến tâm lí của một người bị cho là điên để tố cáo lễ giáo, đạo đức và chế độ phong kiến Qua con mắt của người điên, mối quan hệ giữa con người với con người được khắc họa rõ nét, người với người như lang sói, con người luôn sống trong sự lo sợ, đề phòng Lỗ Tấn đã chỉ ra nguyên nhân của cuộc sống tăm tối ấy, đó không chỉ là gông xiềng thống trị cụ thể mà còn

là sự ràng buộc tinh thần bắt nguồn từ lễ giáo và đạo đức phong kiến Nhân

vật AQ trong AQ chính truyện rất điển hình như nhân vật Đông ki sốt của Cervantes Theo Đặng Thai Mai thì “tâm lí tự cao tự đại với phép thắng lợi tinh thần đó của AQ, nhưng nó cũng là tâm lí của giai tầng thống trị phong kiến hồi đó” Dụng ý của Lỗ Tấn không phải “vạch áo cho người xem lưng”

mà là phô bày cho người trong nước biết những sự xấu xa của xã hội Trung Quốc để buộc họ phải tìm phương chạy chữa

Bên cạnh đó, Lỗ Tấn cũng viết về sự u mê, cam chịu, thiếu hiểu biết của những người nông dân nghèo khổ Họ vừa đáng thương và cũng vừa đáng

trách Chị Tường Lâm trong Lễ cầu phúc muốn làm một người nô lệ bình

thường cũng không được.Hai người chồng chị đều không may qua đời, con trai bị sói ăn, gia đình chồng đuổi ra khỏi nhà, chị bơ vơ, không nơi nương tựa Thế nhưng khi gặp “tôi”, chị Tường Lâm không hề xin tiền, cũng không hề xin gì cả, chỉ dứt khoát hỏi xem người chết rồi có còn linh hồn hay không Thì

ra sau tất cả, không chỉ đói khát, giá lạnh làm chị khổ sở mà cái làm chị khổ hơn đó là nỗi khổ về tinh thần, là nỗi lo sợ bị trừng phạt, bị đọa đày luôn thường trực trong suy nghĩ của chị

Nếu số phận chị Tường Lâm là “muốn làm nô lệ mà không được” thì số phận Nhuận Thổ trong Cố hương có thể nói là “tạm được làm nô lệ” Trong kí

Trang 33

ức của “tôi”, Nhuận Thổ hiện lên như một hiệp si tí hon giữa cánh đồng tươi mát với đức tính dung cảm, chân thành, vị tha và sự hồn nhiên.Thế nhưng

“qua hai mươi năm đày đọa của quan lại, thuế má, lính tráng, cường hào”,

Nhuận Thổ biến thành một con người gỗ không hồn Hình ảnh tươi mát ngày xưa đã mất hẳn, họa chăng chỉ còn phảng phất lại ở Thủy Sinh, con Nhuận Thổ Điều khiến “tôi” đau khổ nhất chính là anh ta biết khổ nhưng không biết

do đâu mà khổ Theo anh ta, khổ là do mất quy củ và anh ta muốn kéo con cháu trở về với quy củ

Căn bệnh của những người trí thức cũng được Lỗ Tấn mổ xẻ, phơi bày một cách rõ nét Đó là sự thủ cựu, gàn dở, tâm lý dao động, thỏa hiệp

Khổng Ất Kỉ trong truyện ngắn cùng tên là loại nho sĩ cuối mùa, suốt đời ôm mộng cử nghiệp, tự biến mình thành con mọt sách Quan niệm thủ cựu,

gàn dở của sĩ phu phong kiến “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”

(trăm nghề đều hèn hạ, chỉ có sách, đèn là cao quý) đầu độc anh ta, biến anh

ta thành kẻ cô độc, không giúp ích được gì cho xã hội mà còn bị xã hội bỏ rơi

Trần Sĩ Thành trong Luồng ánh sáng cũng tương tự như Khổng Ất Kỉ

Có chăng là vì anh ta sinh trưởng muộn hơn, trào lưu xã hội thay đổi, do dó anh ta phải thừa nhận sự thất bại của tư tưởng công danh phú quý Điều hi vọng duy nhất của anh ta đó là sự cầu may Lỗ Tấn đã không ngần ngại phê phán cái gàn dở, thủ cựu của những người trí thức phong kiến Bên cạnh đó, ông cũng đả kích không thương tiếc loại người văn dốt võ dát, tâm địa đầy rẫy những thèm muốn hèn hạ nhưng mồm thì luôn nói đạo đức như Tứ Minh

trong Miếng xà phòng hay Cao Cán Đình trong Cao phu tử

Lã Vi Phủ (Trên gác quán rượu) và Ngụy Liên Thù (Con người cô độc)

là những trí thức xuất hiện vào thời Cách mạng Tân Hợi, ít nhiều tiếp thu tư tưởng dân chủ của cách mạng tư sản đứng lên chống phong kiến, cải cách xã hội Tuy nhiên cuối cùng họ lại dao động, thỏa hiệp và đầu hàng Lã Vi Phủ cảm thấy đau khổ nhưng vẫn làm những việc vô nghĩa, Ngụy Liên Thù thì quay

Trang 34

lưng hẳn lại với cuộc đời Anh “làm những việc trước kia mình ghét, cự tuyệt những việc trước kia mình sùng bái, chủ trương” Những trí thức như vậy như

con ruồi bị khua động, liệng một vòng rồi cuối cùng lại quay về chỗ cũ

Tú Quân và Quyên Sinh (Tiếc thương những ngày đã mất) là trí thức

xuất hiện sau thời Ngũ Tứ Vấn đề mà họ quan tâm là giải phóng cá tính và tự

do hôn nhân tuy nhiên nếu lý tưởng mà tách rời hoàn cảnh xã hội thì sớm hay muộn cũng sẽ đổ vỡ

Nam Cao và Lỗ Tấn đều là những nhà văn lớn hướng đến nghệ thuật vị nhân sinh, do sự quy định của hoàn cảnh xã hội nên sáng tác của hai tác giả

có sự khác nhau về nội dung, nếu ở Nam Cao đó là sự tha hóa, mòn mỏi thì ở

Lỗ Tấn đó là liệt căn tính quốc dân thể hiện chủ yếu qua sự u mê và chủ nghĩa

AQ của người dân

1.3.2.Cái nghịch dị như một lựa chọn tương đồng trong biểu đạt

1.3.2.1 Giới thuyết về khái niệm “nhân vật nghịch dị”

Về khái niệm nhân vật nghịch dị thì trong lịch sử văn học, nghịch dị có lúc được xem là thủ pháp của cái hài, khi được xem là mức độ sắc sảo của sự châm biếm, khi thì được quan tâm ở tính táo bạo của hình tượng huyễn tưởng Nghịch dị là kiểu hình tượng đã có từ xa xưa trong các hệ thần thoại, cổ ngữ của mọi dân tộc nhưng khi ấy nghịch dị chưa được xem là “thủ pháp nghệ thuật”.Việc miêu tả những nhân sư, quái vật, nhân mã là dựa trên niềm tin rằng những nhân vật này có thực

Theo Lại Nguyên Ân trong Từ điển Văn học thì nghịch dị “chỉ một kiểu

tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào tính huyễn tưởng, vào tính trào phúng, tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyền hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi cái hài, cái giống thực và cái biếm họa”

Nhân vật méo mó, dị dạng trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn đã xuất hiện trong khá nhiều bài viết của khá nhiều tác giả, trong những bài viết

Trang 35

chuyên sâu và đôi khi chỉ được nhắc đến thoáng qua Trong quá trình tổng hợp tài liệu chúng tôi nhận thấy rằng thuật ngữ được các nhà nghiên cứu sử dụng chưa có sự thống nhất, và nội hàm ý nghĩa của thuật ngữ cũng chỉ mang tính tương đối

Một số tác giả như Hà Minh Đức, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Minh Châu, Trần Thị Việt Trung gọi hệ thống nhân vật xấu xí, méo mó, tha hóa trong

sáng tác của Nam Cao là thế giới “nhân vật dị dạng”

Hà Minh Đức trong bài viết Nam Cao vẫn ở giữa chúng ta có nhận định rằng “trong thế giới các nhân vật của Nam Cao có cả những mẫu người dị dạng, dị hình như Lang Rận, Thị Nở, Trương Rự…Họ bị mất dần nhân tính và càng ngày như càng xa lạ với mọi người” Hà Minh Đức cũng khẳng định

rằng khi miêu tả những nhân vật này Nam Cao không hề rơi vào tự nhiên chủ nghĩa mà thực ra đó là một dụng ý nghệ thuật Những nhân vật dị dạng, xấu xí

là sản phẩm của xã hội cũ, hoàn cảnh đã đẩy họ vào chốn tối tăm, u mê và

“kéo dài cuộc sống nửa vật nửa người”

Trong bài viết Về các nhân vật dị dạng trong sáng tác của Nam Cao

Trần Thị Việt Trung cũng đồng quan điểm với Hà Minh Đức khi cho rằng việc xuất hiện các nhân vật dị dạng về hình dạng, tâm hồn trong sáng tác của Nam Cao nhằm mục đích phê phán, tố cáo hiện thực xã hội trước cách mạng tháng tám

Lê Nguyên Cẩn trong Thế giới nhân vật dị dạng trong truyện ngắn Lỗ Tấn cũng chỉ ra rằng trong sáng tác của Lỗ Tấn có một hệ thống những nhân vật “dị dạng”, “khuyết tật” về ngoại hình và tính cách

Bên cạnh đó một số nhà nghiên cứu khác như Phong Lê, Vương Trí

Nhàn, Phan Văn Tường lại dùng thuật ngữ “nghịch dị” khi nói về dạng nhân

vật này

Nhà nghiên cứu Phong Lê cho rằng việc xuất hiện hàng loạt các nhân vật mang đậm tính nghịch dị trong sáng tác của Nam Cao là do sự quy định của

Trang 36

hoàn cảnh xã hội: “Đối với Nam Cao phải chăng, trong đời sống, như đời sống xã hội Việt Nam hồi tiền cách mạng, cái bình thường và nghịch dị thường là rất gắn liền với nhau, đến mức cái nghịch dị cũng thành bình thường – nó nói một trạng thái không bình thường của xã hội Như vậy nếu có một sự tô đậm chất nghịch dị, chất oái ăm và trái khoáy trong văn Nam Cao thì đó không phải là điều thiếu sót hay đáng tiếc, mà là một đặc điểm đáng lưu ý, do những quy định của hoàn cảnh và do sự tìm tòi để đáp ứng các yêu cầu của hoàn cảnh” (trong Nam Cao nhìn từ cuối thế kỷ)

Trong luận án tiến sĩ Phong cách nghệ thuật Nam Cao Phan Văn Tường cho rằng Nam Cao “có biệt tài miêu tả nhân vật bằng cái nhìn nghịch dị, một cách “tạo hình thức mới cho cái nhìn” Vương Trí Nhàn trong bài viết Những biến hóa của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao giải thích rằng ông

dùng thuật ngữ nghịch dị với ý nghĩa là trái với cái thông thường Theo ông

thuật ngữ này cũng chưa hẳn hoàn toàn hợp lý nhưng nếu dùng từ “quái dị”,

“kì dị” thì cũng chưa thỏa đáng vì truyện Nam Cao không có tính chất kỳ quái, hoang đường kiểu như Hoffmann hay Liêu Trai chí dị

Như vậy, rõ ràng là các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng có một hệ

thống nhân vật “méo mó” “xệch xạc” (chữ dùng của Nam Cao), dị hình dị

dạng và tha hóa về đạo đức trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn Tuy nhiên việc lựa chọn một thuật ngữ để định danh dạng nhân vật này còn chưa thống nhất Từ dị dạng thực ra thiên về chỉ ngoại hình nhiều hơn và khi dùng

từ này cũng dễ khiến người đọc liên tưởng đến sự dị dạng về hình dáng bên

ngoài.Vì vậy ở đây chúng tôi dùng từ “nghịch dị” để gọi tên kiểu nhân vật này

“Nhân vật nghịch dị” được chúng tôi dùng với nội hàm ý nghĩa như sau:

Thứ nhất, xét về phương diện: Nghịch dị như là một biểu hiện giúp nhận

biết sự trái ngược với cái thông thường ở hình tượng nhân vật thì “nhân vật nghịch dị là những nhân vật có sự dị dạng về ngoại hình và tha hóa về tâm

Trang 37

hồn, tính cách, được xây dựng một cách có ý thức nhằm phục vụ ý đồ nghệ thuật của tác giả”

Thứ hai, xét về phương diện: Nghịch dị như một thủ pháp trong sáng tạo

nghệ thuật thì “nhân vật nghịch dị là những nhân vật tồn tại phi lý trong hoàn cảnh, kiến tạo nên tiếng cười như là một hình thức thể hiện sự châm biếm, phê phán, hoặc gợi ra sự phản tư, phản tỉnh”

1.3.2.2 Cái nghịch dị như một lựa chọn tương đồng trong biểu đạt

Trong hầu hết các tác phẩm truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ Tấn, các nhân vật nghịch dị luôn có vị trí quan trọng, chiếm tỉ lệ cao Và bất cứ việc xây dựng một nhân vật nghịch dị nào cũng gắn với một thông điệp về quan niệm nhân sinh của nhà văn Nam Cao và Lỗ Tấn đều đã lựa chọn cái nghịch

dị để thể hiện tư tưởng của mình, có thể xem việc cùng tạo ra các nhân vật nghịch dị trong sáng tác của hai ông như một sự tương đồng trong biểu đạt Trước hết nghịch dị như một nhận diện ở ngoại hình và tha hóa về nhân tính Các nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao phần lớn đều có sự “méo mó”,

“xệch xạc” về ngoại hình, có thể đó chỉ là một vài đặc điểm nổi bật để nhận diện nhân vật như làn da, chiếc sẹo…có thể đó là những nhân vật mà sự méo

mó về ngoại hình được đẩy lên đến mức dị hợm Nhìn chung thì các nhân vật của Nam Cao được xây dựng có sự nghịch dị về ngoại hình rõ nét hơn so với các nhân vật của Lỗ Tấn Các nhân vật của Lỗ Tấn chủ yếu được xây dựng nghịch dị về nhân tính còn về ngoại hình thì ít được chú ý khắc họa

Trong tác phẩm của Nam Cao và Lỗ Tấn, có những nhân vật nghịch dị

có sự tương đồng đến ngạc nhiên, đó là AQ và Chí Phèo, Thím Tường Lâm

và Dì Hảo Tuy nhiên với Lỗ Tấn, điều đáng phê phán nhất của AQ là sự mê muội và cao độ là tâm lý tưởng tượng ra thắng lợi để tự an ủi trong khi thực tế

là thất bại thảm hại Lỗ Tấn đã khái quát thành chủ nghĩa AQ phổ biến trong tâm thức của người nông dân và của người dân Trung Quốc nói chung Với Nam Cao, ông xây dựng Chí Phèo vốn là con người lương thiện, hiền lành bị

Trang 38

xã hội dồn vào con đường lưu manh hóa, không có lối thoát, trước sự vô cảm của người đời Thế nhưng người ta vẫn thấy nỗi khát khao nhân tính bên trong những hình hài bị hủy hoại

Sự khác nhau về hiện thực xã hội khiến nội dung tác phẩm của hai tác giả có sự khác nhau mặc dù cùng hướng đến một đối tượng Tuy nhiên, cả Nam Cao và Lỗ Tấn đều lựa chọn cái nghịch dị để biểu đạt nội dung muốn truyền đạt Chất nghịch dị trong sáng tác của hai ông không phải sự kì quái, hoang đường như trong truyện cổ tích hay truyền kỳ mà là những cái thường ngày được khái quát hóa, điển hình hóa và được đẩy lên đến mức nghịch dị Chẳng hạn, trong truyện ngắn của Nam Cao thường xuất hiện những nhân vật

có ngoại hình xấu xí, tính cách gàn dở hoặc lưu manh, vì ông viết về cái nghèo, cái đói, cái khổ cho nên những nhân vật của ông tất nhiên phải dị dạng

cả về ngoại hình và tính cách Theo triết học thì vật chất quyết định ý thức, cho nên, những người nghèo khổ thì chẳng bao giờ đẹp đẽ được.Và sự nghèo đói, khốn khổ, sự bóc lột sẽ khiến bản chất tốt đẹp của con người bị biến tướng đi, tha hóa đi Những Chí Phèo, những anh cu Lộ, những Lang Rận, mụ Lợi, dì Hảo… đều là những con người bằng xương bằng thịt ở ngoài đời được tác giả đưa vào tác phẩm Họ xấu xí, méo mó, xệch xạc về nhân hình, nhân tính là bởi họ nghèo đói, khổ cực, bị áp bức, khinh bỉ

Bên cạnh đó, Lỗ Tấn viết truyện là nhằm mục đích thức tỉnh dân tộc, phê phán thói hư tật xấu của người dân Trung Hoa, cho nên nhân vật trong truyện ngắn của ông tất nhiên mang trong mình sự dị dạng về tính cách, tâm hồn Lỗ

Tấn đã nghiền ngẫm, nghiên cứu rất kĩ lưỡng “quốc dân tính” và đẩy chúng

lên đến mức nghịch dị nhằm gây ấn tượng mạnh với người đọc và để thể hiện

rõ sự phê phán của mình

Ngoài phần nghịch dị được thể hiện ở ngoại hình và nhân tính thì nghịch

dị còn được coi như là một thủ pháp nghệ thuật Thông thường cái nghịch dị

sẽ đem lại tiếng cười châm biếm sâu cay, qua đó người đọc tự rút ra bài học

Trang 39

phản tư phản tỉnh Tuy nhiên, đối với các nhân vật của Nam Cao và Lỗ Tấn, người ta ít tìm thấy tiếng cười châm biếm, hoặc nếu có thì đó nghiêng về tiếng cười chua xót hơn

Như vậy, trong thể loại truyện ngắn, cả Nam Cao và Lỗ Tấn đều lựa chọn cho mình cách biểu đạt bằng sự nghịch dị, đó là sự nghịch dị được lấy từ chất liệu đời sống thực, là những cái thường ngày được đẩy lên thành nghịch

dị Và trong mỗi truyện, mỗi nhân vật thì chất nghịch dị ấy lại được thể hiện ở mức độ đậm nhạt khác nhau

Trang 40

Khác với Nam Cao, Lỗ Tấn là người mở đầu, người tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa văn học Trung Hoa giai đoạn 1917-1949 Sự nghiệp văn học sáu trăm vạn chữ với nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, tạp văn, kịch…Lỗ Tấn đã để lại cho văn học Trung Hoa một khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị Ông là người có ảnh hưởng lớn đến các thế hệ nhà văn ở Trung Quốc sau này Nhà văn Quách Mạt Nhược từng nói:

“Trước Lỗ Tấn chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn”

Ta thấy ở Lỗ Tấn và Nam Cao đều có điểm chung đó là sự hướng đến

một nền nghệ thuật “vị nhân sinh”, và bước đường đi đến quan niệm văn

chương vị nhân sinh của hai tác giả đều phải trải qua quá trình tìm đường chứ không được định hình ngay từ ban đầu

Tuy rằng nói đến vị nhân sinh có vẻ như khá chung chung và có nhiều

tác giả hướng đến “vị nhân sinh” trong nghệ thuật nhưng ở Lỗ Tấn và Nam

Cao có sự xác định rõ ràng trong xu hướng sáng tác Điều này được thể hiện

rõ qua từng sáng tác cũng như phát ngôn của nhà văn và quá trình hình thành quan điểm nghệ thuật qua từng giai đoạn Ở Nam Cao, ban đầu ông sáng tác theo xu hướng lãng mạn, sau này mặc dù rất khó khăn nhưng Nam Cao đã từ

bỏ những tác phẩm ấy để đi sâu vào số phận con người, để hiểu và đồng cảm với cuộc sống, với nỗi đau của từng số phận Ông cho rằng nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật “là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” Rõ ràng trong các sáng tác của

Ngày đăng: 17/01/2019, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w