Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý của ngành y tế đã góp phần đáng kể trong công tác chuyên môn, quản lý và điều hành, giảm bớt áp lực cộng việc cho cán bộ y tế và nâng cao chất lượng công việc. Thúc đẩy ứng dụng CNTT ngành y tế tạo ra nhiều cơ hội và thách thức với ngành y tế nói chung và y tế dự phòng nói riêng. Mạng lưới y tế dự phòng không ngừng củng cố và hoàn thiện từ trung ương đến tuyến cơ sở và đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong việc thu thập thông tin, giám sát, dự báo, phát hiện và xử lý thành công các dịch bệnh. Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe ở Việt Nam hiện nay đã có bước phát triển quan trọng, đặt nền móng xây dựng ngành y tế thông minh với ba trụ cột chính là phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe thông minh, khám chữa bệnh thông minh và quản trị y tế thông minh, người dân bước đầu được hưởng lợi từ các thành tựu CNTT trong hoạt động y tế.
Trang 1BỘ Y TẾ
VIỆN Y TẾ CÔNG CỘNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LỚP BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP Y TẾ CÔNG CỘNG CHÍNH (HẠNG II)
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VIỆC TRIỂN KHAI MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
TẠI TỈNH LONG AN
Họ và tên học viên: NGUYỄN THANH SƠN Thời gian đào tạo: 25/6/2021 đến 14/8/2021 Đơn vị: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Long An
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG II MỤC ĐÍCH 2
CHƯƠNG III NỘI DUNG 3
3.1 Các luận điểm lý thuyết chính 3
3.1.1 Hệ thống thông tin trong y tế dự phòng [7] 3
3.1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS và mục tiêu 90 – 90 – 95 tại Long An 5
3.2 Vận dụng các luận điểm lý thuyết vào thực tiễn hoạt động của đơn vị 6
3.2.1 Sử dụng ứng dụng mạng xã hội trong tiếp cận tìm ca nhiễm HIV kết nối điều trị thành công 6
3.2.2 Ứng dụng mới giúp quản lý xuyên suốt quá trình điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam [3] 9
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 12
4.1 Kết luận 12
4.2 Đề xuất, kiến nghị 12
CHƯƠNG 5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc điểm là tận dụng triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin (CNTT) Làn sóng công nghệ đang diễn ra với tốc độ chóng mặt với những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống, mở ra nhiều cơ hội, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh; giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ số và Internet Nếu không bắt kịp nhịp độ chúng ta sẽ phải đối mặt với sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh; dư thừa lao động… Có thể nói CNTT là phương tiện trợ giúp đắc lực trong công tác quản lý nền hành chính nói chung và quản lý ngành y tế nói riêng
Hiện nay, tình hình dịch bệnh có xu hướng ngày càng diễn biến phức tạp với nhiều dịch bệnh nguy hiểm như HIV, Ebola, Covid-19…Điều này đòi hỏi ngành y tế phải có một
hệ thống thu thập, xử lý và đưa ra cảnh báo một cách nhanh chóng và chính xác để có nhưng can thiệp một cách hiệu quả
Dự án tăng cường hỗ trợ kỹ thuật phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam gọi tắt là
dự án EPIC do Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hoa Kỳ tài trợ triển khai tại 6 tỉnh, thành của Việt Nam gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương và Long An Mục tiêu chính của dự án là triển khai các giải pháp tìm người nhiễm HIV mới kết nối điều trị ARV nhằm đạt mục tiêu 90-90-95 mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết với Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) tiến tới kết thúc đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030 [2] Mục tiêu đó là 90% người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm của mình, 90% người biết tình trạng nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc ARV và 95% bệnh nhân đang điều trị ARV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế [8]
Để đạt được mục tiêu nói trên, việc ứng dụng CNTT trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS là hoạt động hết sức cần thiết góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác phòng chống HIV/AIDS của tỉnh Long An Đó chính là lý do tôi chọn nội dung “Ứng
dụng công nghệ thông tin trong việc triển khai một số hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
tại tỉnh Long An” cho chương trình học tập Bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp y tế công
cộng chính (hạng II)
Trang 4CHƯƠNG II MỤC ĐÍCH
1 Xác định một số lợi ích của việc ứng dụng CNTT và công tác phòng chống HIV/ AIDS tại tỉnh Long An
2 Đánh giá hiệu quả triển khai các ứng dụng CNTT sau một thời gian áp dụng, từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm
Trang 5CHƯƠNG III NỘI DUNG 3.1 Các luận điểm lý thuyết chính
3.1.1 Hệ thống thông tin trong y tế dự phòng [7]
Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý của ngành y tế đã góp phần đáng kể trong công tác chuyên môn, quản lý và điều hành, giảm bớt áp lực cộng việc cho cán bộ y
tế và nâng cao chất lượng công việc Thúc đẩy ứng dụng CNTT ngành y tế tạo ra nhiều cơ hội và thách thức với ngành y tế nói chung và y tế dự phòng nói riêng Mạng lưới y tế dự phòng không ngừng củng cố và hoàn thiện từ trung ương đến tuyến cơ sở và đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong việc thu thập thông tin, giám sát, dự báo, phát hiện và xử lý thành công các dịch bệnh Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe ở Việt Nam hiện nay đã có bước phát triển quan trọng, đặt nền móng xây dựng ngành y tế thông minh với ba trụ cột chính là phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe thông minh, khám chữa bệnh thông minh và quản trị y tế thông minh, người dân bước đầu được hưởng lợi từ các thành tựu CNTT trong hoạt động y tế Người dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ y tế như đăng ký tiêm chủng, xét nghiệm, lựa chọn những chuyên khoa cần khám, chọn giờ khám và bác sĩ khám mà không phải đến bệnh viện hoặc các cơ sở y tế Nhân viên y tế cập nhật thông tin khoa học dễ dàng, trao đổi thông tin nhanh chóng và chính xác trong củng bệnh viện hoặc các bệnh viện khác nhau Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT cũng góp phần tốt trong việc quản trị y tế thông minh nhằm chống lãng phí trong quá trình sử dụng thuốc, vật tư,…rút ngắn thời gian làm các thủ tục hành chính của bệnh nhân, nhắc nhở bệnh nhân uống thuốc và tái khám… Từ các số liệu đã được số hóa trên, cơ quan quản lý nhà nước tiếp cận được nguồn dữ liệu nhanh chóng, chính xác và kịp thời để đưa ra những dự báo và từ đó chủ động can thiệp trong công tác phòng, chống dịch, kiểm dịch y tế quốc tế, sức khỏe môi trường, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm như SARS, cúm A do H5N1, HIV…
Tại Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 về “ Định hướng xay dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045”, Bộ Chính trị đã chỉ đạo nghiên cứu xây dựng và triển khai Chiến lược tiếp cận và chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 của Việt Nam, Chiến lược chuyển đổi số quốc gia và nhiều cơ chế, chính sách và giải pháp phát triển phù hợp với điều kiện Cách mạng công
Trang 6nghiệp lần thứ 4, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16-CT/TTg ngày 4/5/2017
về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Trên cơ sở đó, Bộ
Y tế triển khai xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh thông minh với các mục tiêu sau:
a) Xây dựng và triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân: Hồ sơ sức khỏe điện tử ghi lại và lưu trữ thông tin tóm tắt các đợt khám chữa bệnh xuyên suốt theo thời gian sống của người dân theo Quyết định số 831/QĐ-BYT ngày 11/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành mẫu hồ sơ quản lý sức khỏe cá nhân phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu Phấn đấu đến năm 2025 bảo đảm 100% người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử
b) Tin học hóa hoạt động trạm y tế: Xây dựng, triển khai phần mềm quản lý hoạt động trạm y tế theo quy định tại Quyết định số 6110/QĐ-BYT ngày 19/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý trạm
y tế xã, phường, thị trấn và Quyết định số 6111/QĐ-BYT ngày 19/12/2017 của Bộ trưởng
Bộ Y tế về việc phê duyệt Đề án tin học hóa y tế cơ sở, bảo đảm kết nối và chia sẻ thông tin với các hệ thống thông tin bệnh viện , hồ sơ sức khỏe điện tử, hệ thống giám định và thanh toán bảo hiểm y tế, hệ thống thống kê y tế điện tử trong toàn quốc
c) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ thông minh trong phòng bệnh, môi trường, an toàn thực phẩm, dinh dưỡng và phòng, chống HIV/AIDS Ưu tiên triển khai các ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong việc theo dõi, cảnh báo dịch bệnh trên cả nước
d) Phát triển các ứng dụng cung cấp tri thức phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe người dân; các thông tin về cơ sở y tế, bác sĩ, dịch vụ y tế trên môi trường web, di động, giúp người dân có thể tra cứu thông tin y tế dễ dàng, hiệu quả, kịp thời, mọi lúc, mọi nơi, kết nối với hệ tri thức Việt số hóa
đ) Phát triển các ứng dụng thông minh cho phép cung cấp các dịch vụ theo dõi, trợ giúp, chăm sóc sức khỏe người dân từ xa, kết nối trực tuyến giữa người bệnh, các thiết bị theo dõi sức khỏe và cán bộ y tế
e) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu và sản xuất Dược phẩm
Các hệ thống thông tin y tế bao gồm nhiều chức năng trong hệ thống phần mềm quản lý hoạt động chuyên môn, trong đó có quản lý chương trình phòng, chống HIV/AIDS,
cụ thể như sau:
Trang 7- Quản lý các thông tin về người bệnh HIV/AIDS bao gồm: tên bệnh, phân loại đối tượng, cơ sở trả kết quả xét nghiệm dương tính
- Quản lý thông tin ngày có kết quả xét nghiệm khẳng định nhiễm HIV, nơi quản lý điều trị ARV, ngày tử vong
- Quản lý các thông tin trong công tác phòng chống HIV/AIDS bao gồm:
+ Hoạt động can thiệp giảm tác hại: Đối tượng (nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới, vợ/chồng/bạn tình/bạn chích của người nhiễm HIV), được nhận dịch vụ (bơm kim tiêm, bao cao su, chất bôi trơn, điều trị Methadone, điều trị
dự phòng trước phơi nhiễm PrEP, giới thiệu các dịch vụ tư vấn xét nghiệm…)
+ Truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS: Các hình thức truyền thông về HIV/AIDS
3.1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS và mục tiêu 90 – 90 – 95 tại Long An
Long An phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại Thành phố Tân An vào tháng
8 năm 1993, Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh đã phát hiện 4.514 người nhiễm HIV, tử vong 1.508 ca Hiện số bệnh nhân còn sống đang quản lý ở cộng đồng là 2.794 ca Hiện 15/15 huyện, thị, thành phố với 188/188 xã, phường, thị trấn phát hiện người nhiễm HIV chiếm
tỷ lệ 100% Số ca nhiễm HIV ngoài tỉnh đang quản lý là 412 BN Dịch tập trung cao ở các vùng giáp ranh thành phố Hồ Chí Minh, biên giới Campuchia và dọc quốc lộ 1A từ thành phố Hồ Chí Minh qua Long An đi về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là huyện Đức Hòa, Cần Giuộc, Bến Lức, Thủ Thừa và thành phố Tân An Số người nhiễm HIV trên 100.000 dân ở Long An là 237, xếp thứ 13/20 tỉnh, thành khu vực phía Nam [5]
Ngày 14/8/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1246/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 Theo đó, cần đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS để giảm số người mới nhiễm HIV và tử vong liên quan AIDS, chấm dứt dịch AIDS tại Việt Nam vào năm 2030, giảm tối đa tác động của dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế - xã hội Điều này đòi hỏi phải thực hiện hai mục tiêu quan trọng là:
+ Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình tư vấn xét nghiệm HIV, đẩy mạnh xét nghiệm HIV dựa vào cộng đồng, tự xét nghiệm; tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng biết tình trạng HIV của mình đạt 95% vào năm 2030; giám sát chặt chẽ tình hình diễn biến dịch HIV/AIDS ở các nhóm có hành vi nguy cơ cao [4]
Trang 8+ Mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS, tỷ lệ người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm HIV của mình được điều trị thuốc kháng vi rút HIV đạt 95%; tỷ lệ người được điều trị thuốc kháng vi rút HIV có tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế đạt 95%; loại trừ lây truyền HIV từ mẹ sang con vào năm 2030 [4]
Theo ước tính của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, tỉnh Long An có 3.200 người nhiễm HIV, theo mục tiêu 90-90-95 Long An cần xét nghiệm tìm 2.880 ca nhiễm HIV trong cộng đồng, điều trị ARV 2.592 BN và đạt tải lượng HIV dưới ngưỡng là 2.462 bệnh nhân [1] Từ tháng 6 năm 2018, Ban quản lý Dự án EPIC – Bộ Y tế đã tài trợ kinh phí và
hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật (trong đó có các kỹ thuật về tìm ca nhiễm HIV quan mạng
xã hội và phần mềm quản lý về điều trị HIV) để Long An triển khai mục tiêu 90-90-95 Tính đến ngày 31/12/2020 kết quả mục tiêu 1 đạt 87,3%, mục tiêu 2 đạt 86,3% và mục tiêu
3 đạt 97,4% [5]
Hình 1 Kết quả triển khai mục tiêu 90 – 90 – 95 tỉnh Long An năm 2020 [5] 3.2 Vận dụng các luận điểm lý thuyết vào thực tiễn hoạt động của đơn vị
3.2.1 Sử dụng ứng dụng mạng xã hội trong tiếp cận tìm ca nhiễm HIV kết nối điều trị thành công
Hiện nay dịch HIV tại Long An vẫn tập trung trên nhóm đối tượng nguy cơ cao như người tiêm chích ma túy, phụ nữ mại dâm và đặc biệt là nhóm nam quan hệ tình dục đồng
Trang 9giới (MSM) Kết quả giám sát phát hiện năm 2018 và 2019 tại Long An cho thấy trên 90% người nhiễm HIV được phát hiên trong năm đều là MSM Điều này cảnh báo nguy cơ lây lan dịch HIV trong cộng đồng MSM, các bằng chứng cho thấy học sinh, công nhân (MSM)
… đã và tiếp tục có nguy cơ lây nhiễm HIV tiềm ẩn khó kiểm soát rất cao Bên cạnh đó, nhóm MSM gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế trong đó có dịch vụ xét nghiệm HIV Nguyên nhân là họ sợ bị nhân viên y tế kì thị (đối với những người đã bộc lộ giới tính) hoặc sợ bị lộ thân phận (đối với những người chưa bộc lộ giới tính)
Để đạt được mục tiêu 90 thứ nhất “90% người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm HIV của mình” thì việc quan trọng là làm thế nào để có thể tiếp cận các nhóm MSM để tư vấn họ các biện pháp phòng tránh HIV (cấp bao cao su, gel bôi trơn, điều trị PrEP) và đặc biệt là xét nghiệm HIV cho họ Trong khi đó, các hình thức tiếp cận truyền thống như gặp
gỡ trực tiếp nhóm MSM gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế như sau:
+ Tiếp cận thường vào ban ngày nên ảnh hưởng đến sinh kế của cộng tác viên chương trình HIV;
+ Hiệu quả tiếp cận không cao: có khi mất hàng tháng mới tiếp cận được một đối tượng nguy cơ cao đi xét nghiệm;
+ Khó tiếp cận khách hàng: cần có thời gian, xây dựng niềm tin, gặp gỡ khách hàng
+ Ảnh hưởng của dịch Covid -19 nên cộng tác viên bị hạn chế đi lại và tiếp xúc với người lạ
Nhận thức được vấn đề trên, Khoa Phòng, chống HIV/AIDS -Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Long An đã triển khai mô hình tiếp cận nhóm MSM qua mạng xã hội và bước đầu
đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp tiếp cận truyền thống Mô hình tiếp cận truyền thống gần như không tiếp cận được những người tìm kiếm bạn tình qua mạng xã hội hẹn hò trực tuyến như Blued, Grindr, Hornet, Jack’d Đây là mạng dành cho những người đồng tính (gay/MSM) tìm kiếm bạn tình Các mạng xã hội hẹn hò trực tuyến này dựa trên nền tảng sử dụng vị trí của người dùng để định vị, tìm kiếm bạn tình đang ở nơi gần nhất với họ Các dịch vụ chính trên mạng xã hội hẹn hò trực tuyến là: tìm kiếm bạn tình theo các bộ lọc, gởi tin nhắn cá nhân, theo dõi người dùng, phát sóng trực tuyến, và có thể kiếm tiền từ live stream hoặc bán hàng Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy: người dùng trên các mạng này có hành vi nguy cơ cao, vì họ quan hệ tình dục với khá
Trang 10nhiều người và chưa quan tâm đến các biện pháp phòng tránh HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Để triển khai hoạt động trên, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Long An đã phối
hợp với Văn phòng CDC Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp tập huấn “Sử
dụng Ứng dụng Mạng Xã hội Blued trong Tiếp cận, Tìm ca” cho 30 bạn cộng tác viên tại 5
huyện trọng điểm về dịch HIV/AIDS là Bến Lức, Đức Hòa, Cần Đước, Cần Giuộc và thành phố Tân An Kết quả sau 12 tháng triển khai hoạt động tìm ca HIV qua mạng xã hội,
số ca nhiễm HIV là MSM do cộng tác viên phát hiện ra và kết nối điều trị thành công tăng lên rõ rệt và trên 80% số ca do cộng tác viên phát hiện từ ứng dụng hẹn hò trực tuyến Blued [6]
Hình 2 So sánh kết quả tìm ca nhiễm HIV của cộng tác viên trước và sau khi triển khai tiếp cận khách hàng qua mạng xã hội trực tuyến [6]
Sau một năm triển khai mô hình tiếp cận tìm ca qua mạng xã hội trực tuyến, chúng tôi nhận thấy một số thuận lợi và khó khăn như sau:
Thuận lợi
- Cộng tác viên có thể xâm nhập vào các mạng xã hội hẹn hò dành cho nhóm đối tượng đích cần can thiệp là MSM;
- Việc triển khai mô hình có thể đảm bảo sinh kế của tư vấn viên, vì tư vấn viên có thể làm việc ngoài giờ hành chính nên không ảnh hưởng công việc chính thức
- Mô hình tiếp cận mang lại hiệu quả cao (trong 02 giờ có thể tiếp cận 35 người, 15 người có phản hồi, 9 người đi xét nghiệm);
- Công tác viên dễ tiếp cận khách hàng hơn, chủ yếu sử dụng tin nhắn;
- Phù hợp với dịch tễ học, lây truyền HIV qua quan hệ tình dục chiếm tỷ lệ cao;