Người ta dễ phân biệt nhà người hoa với nhà người kinh bởi yếu tố tín ngưỡng và nàu đỏ trang trí cửa nhà cũng hư cách bài trí từ ngoài vào trong với các bàn thờ thần thánh, tổ tiên, gia đình, với các băng giấy màu đỏ viết chữ hán ghi lời cầu nguyện,chúc mừng điều tốt lành.
Trang 1Dân tộc Hoa
II Văn hóa vật thể
Nhà ở cổ truyền của dân tộc hoa ở Nam Bộ là nhà xây lợp ngói âm dương
và thường có cổng cài then ngang Những nhà khá giả thường có “ trán tường” chạm hoa lá Của trang trí chữ hoặc treo đèn lồng trang trí bằng màu vàng và màu đỏ với màu sắc sặc sỡ…
- Nhà cửa Nhà cổ truyền của người Hoa có những đặc trư*ng mang dấu ấn của người phư*ơng Bắc rất rõ Kiểu nhà "hình cái ấn" là rất điển hình Nhà hình cái ấn của người Hoa bên Trung Quốc Nhà thường năm gian đứng (không có chái) Bộ khung với vì kèo đơn giản, t*ường xây gạch một rất dày (30-40cm) mái lợp ngói âm d*ương Mặt bằng sinh hoạt: nhà chính bao giờ cũng thụt vào một chút tạo thành một cái hiên hẹp Gian chính giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, đồng thời còn là nơi tiếp khách Các gian bên đều có t*ường ngăn cách với nhau Đến nay nhà người Hoa đã có nhiều thay đổi: có một số kiểu nhà là biến dạng của nhà cổ truyền Như*ng cũng có những kiểu nhà, người Hoa tiếp thu của người Tày hay người Việt Ở Quảng Ninh, một số cư* dân Hoa chuyên đánh
cá ven biển thuyền đồng thời cũng là nhà Riêng đồng bằng sông Cửu Long, người Hoa còn có nhà sàn
- Nhà người hoa ở Sài Gòn Chợ Lớn thường tập chung ở các sở tín ngưỡng của các bang, hội quanh các Chùa Bà, chùa Ông Nhiều nơi ở sâu trong các ngõ, hẻm thiếu ánh sáng Nhà của người dân lao động vốn chật hẹp, thiếu tiện nghi, lại có nhiều chức năng sử dụng ngoài để ở nhà còn có chức năng sản xuất, giao dịch ,để nguyên liệu, thành phẩm
Người ta dễ phân biệt nhà người hoa với nhà người kinh bởi yếu tố tín ngưỡng và nàu đỏ trang trí cửa nhà cũng hư cách bài trí từ ngoài vào trong với
Trang 2các bàn thờ thần thánh, tổ tiên, gia đình, với các băng giấy màu đỏ viết chữ hán ghi lời cầu nguyện,chúc mừng điều tốt lành
- những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm Làng thường
ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay lá quế, lá tre, phên lứa Nổi bật trong nhà
ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên
2. Chùa, đình:
Nguồn gốc: các ngôi chùa đình đều được ra đời trước và sau thế kỉ 18 Quy mô: Các chùa đình của người Hoa lúc đầu quy mô nhỏ bé, đơn giản
về sau được cải tạo và phát triển hoàn thiện tùy thuộc vào sự làm ăn, phát triển của cộng đồng tại các địa phương
•Đặc điểm chung:
- Chùa thường được đặt ở khu vực đông dân cư, chưa thấy có cảnh quan riêng biệt, tách rời, xa nhà ở của người dân
- Chùa thường được xây dựng theo lối chữ Quốc hay chữ Khẩu, có người gọi là “ Trái ấn” với các dãy nhà khép kín, vuông góc tạo không gian ở giữa gọi là sân trời “ Thiên tinh” để điều tiết ánh sáng, không khí, vừa kín đáo lại vừa thông thoáng
- Có thể nhận biết dễ dàng nhận ra chùa của người Hoa với màu đỏ hoặc màu hồng thắm, vì đối với người Hoa màu đỏ là màu của may mắn
và hạnh phúc
- Các chùa Hoa được xây, lợp ngói, có viền bằng ngói óng men màu xanh thẫm
- Không gian chùa người Hoa thường có các bộ phận chủ yếu:
- Sân chùa: (tùy theo địa thế xây chùa mà sân chùa rộng hẹp khác
nhau để mọi người tập kết khi viếng chùa, biểu diễn nghệ thuật, để cây cảnh…)
Trang 3- Cổng, cửa chùa: được chạm trổ công phu, phía sao cổng, cửa có
bình phong tránh nhìn thẳng vào chùa Trước cửa thường có 2 con kì lân(nếu thờ nữ thần hoặc văn thần) hoặc sư tử( nếu thờ nam thần và phái võ)
- Tiền điện: gian ở ngay sau khi bước vào cửa chùa, được bài trí
thoáng đãng tờ quan công,Thổ địa,Thần tài,
- Trung điện: là nơi bầy lư hương cỡ lớn bằng các chất liệu khác nhau tùy từng chùa
- Chính điện: là nơi thờ Quan công, Bà Thiên Hậu, Ngọc Hoàng,
Thượng đế và các vị thần tài, ông Bổn, Dược sư, Bà Thai Sinh, Ngũ hành, Nương Nương…
- Sân thiên tinh:tạo không khí trang nghiêm.
- Các hành lang và gian nhà phụ nối giữa các điện tạo lối đi trang nghiêm và tiện lợi khi mưa nắng
→ chùa đình của người Hoa là sự kết hợp của kĩ thuật xây dựng theo phong cách kiến trúc Trung Hoa, là sự kết hợp của nghệ thuật điêu khắc và của hội họa
3 Trang phục.
- Trang phục của người Hoa Nam Bộ có nhiều biến đổi theo thời gian và có
sự giao thoa với trang phục người Kinh, nó thường được tái hiện trong các dịp
lễ tết và hội hè
a Trang phục ngày thường:
- Trang phục của nam giới: Áo ngắn gọi là áo “xá xẩu” Áo có 2
vạt như áo cánh, tay lửng, nút áo bằng vải, cài ở giữa, trong khi làm việc
họ ít khi cài khuy Một loại quần đàn ông được gọi là “quần tiều” Dài quá đầu gối một chút, ống rộng, thắt lưng bằng vải rút bỏ thòng lòng Một chiếc khăn rằn đôi khi là khăn bông vắt vai hoặc quấn quanh bụng dùng
để lau mồ hôi khi nắng nóng hoặc làm việc
- Vào dịp tết những người đàn ông hoa đứng tuổi thường mặc một chiếc áo dài màu đen hoặc xám, tay cầm quạt, đội mũ chóp vải trùm đầu, chân mang giày vải, có người còn ngậm một tẩu thuốc
Trang 4- Trang phục nữ giới: Áo ngắn, nút áo bên sườn phải kéo từ cổ
xuống, cổ áo hơi cao, tay áo quá khủy tay Quần của phụ nữ người Hoa ống hẹp, cao trên mắt cá chân
- Trong ngày lễ tết thường mặc một loại áo váy mà người Việt quen
gọi là áo “xường xám”, người Hoa gọi là “chuyền chỉ” Loại váy này
thường đi với các loại trang sức như: vòng cổ, vòng tay, bông tai tạo nên
vẻ duyên dáng, trẻ trung Kiểu tóc đặc trưng của người phụ nữ bình dân
là cắt tóc ngắn, để thẳng chấm tới vai, phía trước vén đường ngôi giữa và vén sau tai, cũng có khi họ búi sau gáy và cài trâm, ép xuống sát da đầu
Đi cùng bộ trang phục thường có chiếc khăn tay dùng để lau mồ hôi hay lau tay
b Trang phục lễ cưới cổ truyền
- Cô dâu: mặc bộ áo cuới (xám khoành) màu đỏ bằng gấm thêu, dài chấm
gối, chiếc áo ngắn bằng gấm ngũ sắc, cổ đứng, xẻ giữa, nút thắt to, tay áo dài và rộng để lộ chiếc áo trắng bên trong Toàn bộ áo và xiêm được thêu nổi hình
phụng “phùng xám”(áo phụng)
Trang 5+ Cô dâu còn đội thêm chiếc mũ cưới (mũ phụng), gồm hình chim phượng với các bông nhung đỏ đung đưa theo bước chân, phía trước mũ có chiếc rèm thưa bằng hạt châu để che mặt
+ Chân đi hài bọc gấm hoặc nhung thêu hoa
- Áo của chú rể thêu rồng gọi là “lùng xám”(áo rồng) Trang phục là bộ
xiêm và áo bằng gấm xanh, dệt chữ thọ hay chữ phúc Áo kiểu thường dài, cổ
áo cao, tay dài và rộng,cài cúc ở sườn phải hoặc ở giữa Bên trong mặc áo trắng, trên đầu đội mũ quả bí hoặc mũ dưa hấu màu xanh sậm,chân di hài bọc gấm Giữa ngực chú rể có đính 1 bông hoa vải to màu đỏ, các dải dây buộc chéo vào người Cũng có khi chú rể không cài hoa mà khoác bên ngoài áo dài 1 chiếc áo ngắn không tay,xẻ giữa gọi là “mạ hoa”
c Trang phục lễ tết:
- Phụ nữ các dịp lễ tết thường mặc “ Xườn Xám” thường là màu đỏ, thêu hoa, cộc tay , xẻ tà dưới chân Loại áo này thường đi với các loại trang sức; vòng cổ, vòng tay, bông tai
- Người lớn tuổi thường mặc áo dài màu xám hoặc đen đội mũ chóp vải trùm đầu, đi giày vải, miệng ngậm tẩu thuốc
d Trang sức:
Phụ nữ thích dùng đồ trang sức đặc biệt là vòng tay bằng đồng, vàng, đá, ngọc….đeo bông tai, dây chuyền
Đàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức
4 Ẩm thực
•Đồ ăn
- Người Hoa nổi tiếng với các món ăn ngon miệng được nhiều người công nhận, kĩ thuật nấu ăn giỏi và có sở thích ăn món ăn xào mỡ với gia vị như vịt quay, heo quay cả con và thịt xá xíu
- Lương thực chính của người Hoa là gạo nhưng người Hoa thích dùng những thực phẩm chế biến từ bột gạo và bột mì như : mì vằn thắn, hủ tiếu, , bánh bao
Trang 6Ví dụ:
+ Sủi cảo: nhân được làm từ tôm, thịt lợn, các loại rau…băm nhuyễn với
nhau và trộn gia vị cho vừa phải Nhân sau khi chuẩn bị xong được cho vào một lát bánh mỏng, làm bằng bột mì để gói hoành thánh, gói lại theo hình bán nguyệt và đem luộc Được chế biến theo nhiều cách như ăn nước , hấp hay chiên
+ Hủ tiếu: Được làm từ thịt nạc heo, thịt bằm heo, tôm, cật, trứng cút, mực
khô….Dùng kèm với các loại rau giá, tần ô, hẹ và gia vị Ba món hủ tiếu tiêu biểu là: Hủ tiếu Nam Vang, Mĩ Tho, Sa Đéc
+ Mỳ vằn thắn: Sợi mỳ được làm từ bột và trứng, sau đó được cán mỏng
nên sợi mỳ vừa dai vừa giòn, lại giữ được màu vàng ươm, luộc chín tới không
bị nát mà vẫn giữ được đọ dai vừa phải Vằn thắn mềm, có nhân là tôm tươi giã nhỏ, nấm hương và thịt, được gói trong một lớp bột mỳ Để bát mỳ ngon hơn, đầu bếp cho thêm một phần tư quả trứng luộc, một con tôm tươi cỡ 2 ngón tay, thịt xá xíu thái mỏng, nấm hương và cả một miếng gan lợn luộc Nước dùng đậm vừa phải, nếu muốn ăn nhạt thì có thể thêm chanh, ăn cay thì đã có ớt thái nhỏ, không cần phải dùng thêm tương ớt Ngoài lá hẹ đúng vị, bát mỳ còn có thêm rau cải cúc chần sơ qua Ngoài ra còn một miếng bì lợn dày, mềm mềm, rất dễ ăn Và có thể ăn thêm quẩy, quẩy giòn giòn ngâm vào nước mỳ dai dai, khá thú vị
Thịt xá xíu: là một loại thịt heo quay hoặc nướng, xuất phát từ Quảng
Đông (Trung Quốc) Thịt heo bỏ xương,ướp gai vị, xỏ ghim rồi đem nướng trên lửa Thịt thường dùng là thịt vai, ướp mật ong, ngũ vị hương, xì dầu, chao, tương đen, phẩm màu đỏ, rượu Thịt xá xíu có thể dùng làm nhân bánh bao hoặc
có thể ăn với rất nhiều thứ khác nhau, ngoài cơm ra thì có thể kẹp bánh mỳ hoặc nấu với các loại mỳ, đặc biệt là mỳ vằn thắn
- Các dịp lễ tết họ thường làm nhiều loại bánh rất ngon, hấp dẫn về hình thức
Trang 7Thức uống: Thức uống cũng dược người Hoa đặc biệt quan tâm vì ngoài chức năng giải khát còn là loại thuốc mát bồi dưỡng “ lục phủ ngũ tạng” Các loại trà, sâm, nước đắng, nước hoa cúc…là những thứ giải khát thong dụng trong gia đình Nam giới cũng dùng rượu trong các dịp lễ tết, hội hè…
Hút :Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ nhất là những người có
tuổi
Văn hóa vật chất
Chùa Ông BỔn
Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp chiếm Sóc Trăng (năm 1867), chúng chia khu vực hành chính của tỉnh làm 10 tổng gồm 93 làng Lúc này, tên làng thể hiện ước vọng tốt đẹp nhất của dân làng nên thường dùng những từ tốt đẹp như: phú, quý, bình, an, hòa, khánh, hưng, long… để đặt tên làng Làng mới luôn đòi hỏi cơ sở công ích Trước hết là lập chợ, sau đó là xây cầu, đắp lộ Đồng thời thiết chế văn hóa đình, chùa, miễu… là nhu cầu tinh thần cơ bản của một làng Riêng tại Sóc Trăng và thị xã (nay là thành phố) nói chung có cư dân người Hoa nên theo thế phong thủy của người xưa, khi xây dựng chùa Ông Bổn
và chùa Ông Bắc (chùa Việt), họ chọn địa thế có hình “mạng nhện” nằm giữa làng Khánh Hưng thuộc tổng Nhiêu Khánh - là khu vực trung tâm kinh tế tỉnh Sóc Trăng thời bấy giờ Trong cuốn “Truyện xưa tích cũ đất Sóc Trăng” của cố học giả Vương Hồng Sển - nhà văn hóa, khảo cổ lớn của miền Nam ghi lại:
“vào thời điểm này, sau khi kinh xáng Maspero khởi công và hoàn thành vào năm 1911 đến năm 1920, chùa Ông Bổn nằm ở trung tâm chợ Châu Thành ở làng Khánh Hưng - cùng với chợ Bãi Xàu ở làng Mỹ Xuyên (huyện Mỹ Xuyên) được phong là “Thị tứ đệ nhất hạng - cùng chợ Bố Thảo” (Mỹ Tú) và chợ Đại Ngãi (Vàm Tấn) là 4 chợ xưa nhất trong tỉnh Đã có từ năm 1904 do một nghị định đề ngày 15/10/1904 của Thống đốc Nam kỳ đặt ra Do có địa thế giàu tiềm năng kinh tế nên chùa Ông Bổn được người Hoa thời xưa xây dựng tổng thể
Trang 8kiến trúc theo hình chữ “Phú” – tượng trưng cho sự ấm no, phú quý theo quan niệm của người Hoa
Khác với chùa Ông Bổn ở Lịch Hội Thượng (Long Phú) và nhiều ngôi chùa thờ ông Trịnh Hòa; thờ ông Châu Đạt Quan - làm quan triều nhà Nguyên (1260 – 1367) ở Quận 5, TPHCM và các tỉnh bạn; chùa Ông Bổn của người Hoa ở thành phố Sóc Trăng thờ ông Trịnh Ân tức “Cảm Thiên Đại Đế” làm vị phúc thần phù hộ cho mình Tương truyền ông Trịnh Ân là vị phó quan khai quốc phong thần văn võ song toàn trong triều vua nhà Tống ở Trung Quốc Ông lập được nhiều công lớn trong việc dạy dân bền chí làm ăn để khẩn hoang lập ấp
và khuyên mọi người biết giữ đạo lễ nghĩa, thuần phong mỹ tục Nhưng chẳng may ông bị gian thần hãm hại khép vào tội chết Lúc xử trảm ông, đất trời cảm động trút một cơn mưa lớn, điểm vầng sắc hồng Dân chúng trong vùng thấy điềm trời linh hiển nên càng tỏ lòng thương tiếc, họ lập miếu thờ ông làm vị phúc thần Truyện này sau đó lan đến triều đình, khiến vua tỉnh ngộ, thương cảm phong sắc cho ông chức tước “Cảm Thiên Đại Đế” (lòng trung cảm động đến trời), tức là Ông Bổn được dân chúng sùng kính, tôn thờ đến ngày nay -nhằm thỏa mãn nhu cầu yên ổn tâm linh hơn là tu học thuyết giáo nhà Phật như các ngôi chùa Khmer, chùa Việt khác trong tỉnh
Tích ông Trịnh Ân thờ trong chánh điện chùa Ông Bổn ở thành phố Sóc Trăng phảng phất màu sắc huyền thoại của truyện kể dân gian Song, điều đáng quý là ngôi chùa Ông Bổn này còn gọi là Hòa An Hội Quán - vốn rất nổi tiếng của người Hoa ở Sóc Trăng được xây dựng cách nay 128 năm, với chất liệu toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua Di tích này được trải qua 7 đợt trùng tu nhưng vẫn giữ được những giá trị nghệ thuật kiến trúc
Về Nghệ thuật kiến trúc: chùa Ông Bổn có mặt tiền chính diện hướng về hướng Nam, hai bên tả hữu tô đá rửa được nghệ nhân đắp chữ nổi bằng xi măng rộng khoảng 1 thước là 2 đại tự: “Tăng”, “Phước” - ngụ ý chúc bà con bá tánh
Trang 9hưởng thêm nhiều phước lộc - tạo thêm vẻ bề thế của ngôi chùa Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh, tượng trưng cho thần Thổ Địa của địa phương
Quan sát từ đỉnh hương lớn đặt giữa khuôn viên khá rộng của ngôi chùa, tổng thể kiến trúc di tích này có toàn bộ phần chân cột, đá xanh viên nền “Tam cấp” trong khu vực nội thất đến khung cửa chính của ngôi chùa… đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng từ Trung Quốc chở qua Ngôi chùa được thợ xây dựng “Vân kim tam cấp” qua thước Lỗ Ban - theo hình chữ
“phú” - tượng trưng cho sự sung túc, phú quý theo quan niệm của người Hoa
BÀ Thiên Hậu
Theo học giả Vương Hồng Sển thì Thiên Hậu Thánh Mẫu (vị thần được thờ chính trong chùa) có tên là Mi Châu, người Bồ Dương (Phước Kiến) Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), đời vua Tống Nhân Tông Sau đó, tám tuổi bà biết đọc, mười một tuổi bà tu theo Đạo giáo Mười ba tuổi, bà thọ
Trang 10lãnh thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ "Nguyên vị bí quyết" và bà tìm được dưới giếng lạn một xấp cổ thư khác, rồi coi theo đó mà luyện tập đắc đạo Một lần, cha bà tên Lâm Tích Khánh ngồi thuyền cùng hai trai (anh của bà), chở muối đến tỉnh Giang Tây để buôn, giữa đường thuyền lâm bão lớn Lúc đó bà đang ngồi dệt vải cạnh mẹ nhưng xuất thần để đi cứu cha và hai anh Bà dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm hai anh, giữa lúc đó
mẹ kêu gọi bà, buộc bà phải trả lời, bà vừa hở môi trả lời thì sóng cuốn cha đi mất dạng, chỉ cứu được hai anh Từ đó mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị nạn người ta đều gọi vái đến bà Năm Canh Dần (1110) nhà Tống sắc phong cho bà
là "Thiên Hậu Thánh Mẫu"