Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo quy luật này, phương thức chung của các quá trình vận động , phát triển là: những sự thay đổi về chất của SV, HT có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của SV, HT và ngược lại, những sự thay đổi về chất của SV, HT lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của SV, HT trên các phương diện khác nhau. Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của SV, HT thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Trước khi đến với nội dung quy luật thì phải tìm hiểu về khái niệm chất và lượng
Trang 1Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này, phương thức chung của các quá trình vận động , phát triển là: những sự thay đổi về chất của SV, HT
có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của SV, HT và ngược lại, những sự thay đổi về chất của SV, HT lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của SV, HT trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của SV, HT thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Trước khi đến với nội dung quy luật thì phải tìm hiểu
về khái niệm chất và lượng
Khái niệm chất là một phạm trù dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của SV, HT; là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với SV, HT khác Như vậy, tạo thành chất của SV, HT chính là các thuộc tính khách quan vốn có của nó – lưu ý: khái niệm chất không đồng nhất với khái niệm thuộc tính, và cũng cần phân biệt với chất ở quan niệm duy tâm – xem chất chỉ là cảm giác chủ quan (nhà triết học duy tâm chủ quan Béc-cơ-li cho rằng:
“Chất của sự vật chỉ là phức hợp cảm giác của con người mà thôi”)
Vì vậy, để xác định chất của SV, HT thì cần phải xác định các thuộc tính của nó Mà thuộc tính của SV, HT chỉ bộc lộ ra khi nó nằm trong mối liên hệ với các SV, HT khác, nên muốn xác định thuộc tính của
SV, HT thì cần phải đặt SV, HT ấy trong mối liên hệ với các SV, HT khác Mỗi SV, HT đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ có thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của SV, HT và trong quá trình vận động của sự vật những thuộc tính không cơ bản có thể thay đổi, có cái mất đi, có cái nảy sinh thêm nhưng chất nói chung của SV, HT không thay đổi Mà khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó mới thay đổi Tuy nhiên, sự phân biệt giữa thuộc tính
Trang 2cơ bản và không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối, tùy thuộc vào từng mối quan hệ nhất định Trong mối quan hệ này nó là thuộc tính
cơ bản nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là thuộc tính không cơ bản và ngược lại Lênin đã đưa ra một ví dụ đơn giản về cái cốc như sau: trong mối quan hệ với người uống nước thì cái đáy cốc có lành hay không đó là thuộc tính cơ bản; trong mối quan hệ với người dùng cốc để úp con bướm thì thuộc tính cơ bản lại là tính chất trong suốt của thủy tinh Ngoài ra, tổng hợp các thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản, còn tổng hợp các thuộc tính không cơ bản tạo thành chất không cơ bản của SV, HT Nhưng vì sự phân biệt giữa thuộc tính cơ bản và không cơ bản cũng chỉ mang tính chất tương đối, nên sự phân biệt giữa chất cơ bản và chất không cơ bản cũng mang tính chất tương đối Nhưng mặt khác, mỗi thuộc tính lại được tạo thành từ các đặc trưng về chất của nó, vì vậy, mỗi thuộc tính lại đóng vai trò là một chất của SV, HT Rút cuộc, sự phân biệt giữa thuộc tính và chất cũng chỉ mang tính tương đối Trong mối quan hệ này nó là thuộc tính, nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là chất của SV, HT SV, HT có vô vàn thuộc tính nên SV, HT không chỉ có một chất mà có vô vàn chất – Ăngghen đã từng khẳng định: “Những chất, lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vô vàn chất, lượng mới tồn tại” , ví dụ như mỗi nguyên tố hóa học là một chất bao gồm nhiều loại nguyên tử khác nhau, nhưng mỗi nguyên tử lại được coi là một chất khác nhau như
O, H, đi sâu vào kết cấu của các nguyên tử chúng ta lại thấy những hạt có điện tích khác nhau như electron, nơtron,… đó cũng là những chất khác nhau, hay trong sinh vật thì có nhiều loài động và thực vật, một loài là một chất nhưng trong mỗi loài lại có những con vật hay cây cỏ khác nhau, trong xã hội, một hình thái kinh tế xã hội là một chất, nhưng trong một hình thái kinh tế xã hội lại có nhiều quốc gia, nhiều chế độ xã hội khác nhau,…, trong tư duy, hệ tư tưởng của các giai cấp khác nhau là những chất khác nhau nhưng một hệ tư
Trang 3tưởng lại gồm những quan điểm, những tư tưởng, mà mỗi quan điểm, tư tưởng đó lại là một chất riêng Mỗi SV,HT đều có quá trình tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn phát triển của SV, HT nó lại có chất của nó, thí dụ như CNTB phát triển thành CNĐQ thì có thể coi đó là hai chất khác nhau nhưng lại nằm trong chung một chất chung đó là hình thái kinh tế xã hội TBCN hay là sự phát triển của con người có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên, trung niên,… hay trình độ phát triển của một con người từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT, ĐH, Cao học,… Như vậy, chất biểu hiện tính toàn vẹn, tính chỉnh thể thống nhất của SV, HT Chất và SV, HT gắn liền với nhau; chất là chất của
SV, HT; còn SV, HT tồn tại với tính quy định về chất của nó
Khái niệm lượng là một phạm trù dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của SV, HT về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của quá trình vận động, phát triển của SV, HT Bên cạnh đó, lượng có tính khách quan,
là cái vốn có của bản thân các SV, HT, vì bất kì SV, HT nào cũng điều chiếm một vị trí nhất định trong không gian và được diễn ra trong một khoảng thời gian nào đó Mà vì mỗi SV, HT có vô vàn chất nên
nó cũng có vô vàn lượng Mỗi loại lượng có phương thức xác định khác nhau, có những lượng được biểu thị bằng con số chính xác như trong một con người lượng có thể thể hiện qua chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, trình độ học vấn,…, nhưng có những lượng phải bằng sự trừu tượng hóa, khái quát hóa mới xác định được nó, ví dụ như khi chúng ta đánh giá về hoạt động học tập của một lớp thì ta chỉ đánh giá được là tích cực hay không tích cực; hay ý thức tham gia hoạt động phòng chống dịch COVID-19 của người VN cao hay kém,… Có những lượng nói lên những nhân tố bên trong của SV, HT nhưng có những lượng chỉ nói lên những nhân tố bên ngoài của SV,HT, ví dụ như số lượng những nguyên tử hợp thành một nguyên tố hóa học
Trang 4nào đó là những nhân tố bên trong của sự vật, còn chiều cao hay chiều dài của một sự vật chỉ là nhân tố bên ngoài của nó Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một SV, HT hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy Hai phương diện đó đều tồn tại khách quan Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về SV, HT chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng Chính Ăngghen đã phê phán quan điểm siêu hình: coi chất và lượng là những khái niệm khác nhau một cách tuyệt đối Chẳng hạn, con số là một sự quy định về lượng nhưng những con số khác nhau lại là những chất khác nhau,
cụ thể như con số 5 chỉ sự phát triển của lượng từ 1 đến 5 nhưng 5 lại là một chất – nó khác so với 4, 3 “Mọi chất lượng đều có vô vàn những mức độ khác nhau về số lượng, thí dụ những sắc thái của màu sắc, độ cứng và độ mềm, độ bền,… và mặc dù các mức độ ấy khác nhau về chất, nhưng chúng đều có thể đo được và nhận thức được”[1]
Bàn về nội dung qui luật:
Thứ nhất, từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi
về chất : Bất kì SV, HT nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Chất là mặt tương đối ổn định, còn lượng là mặt thường xuyên biến đổi, nên sự vận động, phát triển của SV, HT bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất của SV, HT Thí dụ như trong kho tàng ca dao, tục ngữ của chúng ta thì đã có những câu phản ánh mối quan hệ này như : “Năng nhặt chặt bị”, “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, “Có công mài sắt có ngày nên kim”,…Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự
Trang 5thay đổi về chất Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ Khái niệm độ là một phạm trù chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn
mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của SV, HT Vì vậy, trong giới hạn của độ, SV, HT vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành SV, HT khác Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về chất Giới hạn đó chính là điểm nút – là một phạm trù dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã làm thay đổi về chất của SV, HT Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của SV, HT Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của SV, HT Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi SV, HT Đó
là các bước nhảy : nhanh và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát và tự giác,… Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển ; đồng thời, đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động , phát triển liên tục của SV, HT Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một đường nút
vô tận, thể hiện cách thức vận động và phát triển của sự vật từ thấp đến cao Ph.Ăngghen khái quát tính tất yếu này : “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”[2] Ví dụ, thông thường trong tự nhiên, nước đun sôi đến điểm nút là 100oC thì bốc thành hơi, nếu nhiệt độ hạ thấp đến 0oC thì nước lỏng biến thành nước đá,…Bảng tuần hoàn của Mendeleev xây dựng chỉ rõ tính đa dạng về chất của các nguyên tử phụ thuộc vào số lượng các hạt proton có trong hạt nhân của nguyên tử (khi số proton tăng hay giảm thì nguyên tử sẽ trở thành nguyên tử của nguyên tố khác) – Ăngghen cũng đã viết:
Trang 6“Người ta có thể gọi hóa học là khoa học của biến đổi về chất của vật thể sinh ra do sự thay đổi về thành phần số lượng” Trong xã hội quy luật này thể hiện ra ở quy luật lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì làm thay đổi quan hệ sản xuất, do đó lịch
sử xã hội loài người là lịch sử thay thế nhau của các hình thái kinh tế
xã hội với những quan hệ sản xuất khác nhau, hay trong xã hội tư bản, sự tích lũy về tiền đến một mức độ nhất định có thể mua được
tư liệu sản xuất, thuê được công nhân làm thuê để bóc lột sức lao động thì người có tiền trở thành nhà tư bản và tiền biến thành tư bản; sự phát triển của lịch sử Triết học cũng như vậy, sự ra đời của CNDVBC là một bước nhảy – tức là sự thay đổi về chất trong Triết học duy vật, từ trước những tư tưởng duy vật và biện chứng đã phát triển dần dần phải đến TK XIX thì mới có đủ điều kiện về khoa học tự nhiên và kinh tế xã hội để Mác và Ăngghen sáng tạo ra CNDVBC và CNDVLS
Thứ hai, sự tác động trở lại của chất đối với lượng: Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của SV Chất mới tác động đến lượng của SV, HT trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ nhịp điệu của sự vận động và phát triển của SV, HT hoặc làm cho những lượng mới ra đời Thí dụ, trong giới tự nhiên, khi nước bốc thành hơi thì các phân tử hơi nước sẽ vận động với tốc độ nhanh hơi so với tốc độ vận động của các phân tử nước lỏng, thể tích của hơi nước cũng lớn hơn thể tích của nước lỏng; trong xã hội, khi
ra đời CHXH đã chứng tỏ khả năng to lớn của nó trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, với hơn 70 năm tồn tại CNXH đã trở thành
hệ thống gồm nhiều nước không ngừng phát triển về nhiều mặt và tạo ra một chất mới khác biệt về chất so với CNTB, một xã hội không còn áp bức, bóc lột, bất công,… Cũng lưu ý rằng: quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại chỉ được thể hiện trong mối quan hệ xác định giữa chất và lượng, mối
Trang 7quan hệ đó hình thành một cách khách quan chứ không thể tùy tiện gán ghép bất cứ lượng nào với chất nào, nói cách khác, sự tác động
và chuyển hóa giữa lượng và chất bao giờ cũng phụ thuộc vào những điều kiện nhất định Trong ví dụ về nước đun sôi bốc thành hơi nêu ở trên, sư thay đổi về lượng của nhiệt độ đã làm cho chất thay đổi, chất ở đây là trạng thái của nước (lỏng, đá, hơi) – chứ không nói
về kết cấu hóa học của nước, và dưới điều kiện áp suất bình thường nước sôi ở điểm nút 100oC nhưng nếu thay đổi áp suất thì điểm sôi
sẽ thấp hoặc cao hơn
Tóm lại, bất kì SV, HT nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của SV, HT Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của SV, HT trong tự nhiên, xã hội vả tư duy
Ý nghĩa phương pháp luận: vì bất kì SV, HT nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận thức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng, tạo nên
sự nhận thức toàn diện về SV, HT; vì những thay đổi về lượng của
SV, HT có khả năng tất yếu chuyển hóa thành những thay đổi về chất của SV, HT và ngược lại, do đó, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng
để có thể làm thay đổi về chất; đồng thời, có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của SV, HT; vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của SV,
HT với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu quy luật thì khi lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước
Trang 8nhảy về chất của SV, HT Vì thế cũng cần khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng
mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng; vì bước nhảy của
SV, HT là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, trong nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể Đặc biệt, trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất
Nguồn:
[1] C Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Sđd, t.20, tr.722
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1994, t.20, tr.179