1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYÊN LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ PHỔ BIẾN _ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN, LỊCH SỬ CỤ THỂ

6 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 43,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nguyenlymoiquanhephobien quandiemtoandien lichsucuthe Đầu tiên chúng ta tìm hiểu các khái niệm cơ bản. Khái niệm về mối liên hệ là một phạm trù dùng để chỉ sự ràng buộc, phụ thuộc, quy định lẫn nhau, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành nên SV, HT với nhau; giữa SV, HT với nhau, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi SV, HT trong thế giới; mà trong đó sự biến đổi của SV, HT này sẽ kéo theo sự biến đổi của SV, HT khác. Ví dụ như, trong tự nhiên, mối liên hệ giữa cây và đất hay cây với nước; trong xã hội, mối liên hệ giữa sinh viên với nhà trường; trên thị trường, mối liên hệ giữa cung và cầu,…

Trang 1

Đầu tiên chung ta tìm hiểu các khái niệm cơ bản Khái niệm về mối liên hệ là một phạm trù dùng để chỉ sự ràng buộc, phụ thuộc, quy định lẫn nhau, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành nên SV, HT với nhau; giữa

SV, HT với nhau, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi SV, HT trong thế giới; mà trong

đó sự biến đổi của SV, HT này sẽ kéo theo sự biến đổi của SV, HT khác Ví dụ như, trong tự nhiên, mối liên hệ giữa cây và đất hay cây với nước; trong xã hội, mối liên hệ giữa sinh viên với nhà trường; trên thị trường, mối liên hệ giữa cung và cầu,… Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các SV,

HT của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều SV, HT của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi

SV, HT của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Đó là mối liên hệ giữa các mặt đối lập trong một mâu thuẫn, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng,… Như vậy, giữa các SV, HT của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến

ở những phạm vi nhất định Đồng thời cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định, ví dụ như mối liên hệ giữa ĐH CNTT với SV CNTT, Toàn

bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng – trong tự nhiên, đều là động vật nhưng mỗi loài có tập tính khác nhau, hay trong xã hội loài người, đều là gia đình nhưng mỗi gia đình có hoàn cảnh khác nhau,…,

và ngược lại tính đa dạng trong tính thống nhất – từ ví dụ trên dù các loài động vật có tập tính khác nhau nhưng đều cùng là động vật, hay dù hoàn cảnh khác nhau nhưng đều là gia đình,…, của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy

Nội dung nguyên lý: Thế giới có vô vàn các SV, HT nhưng chúng đều tồn tại trong mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau, tức là chúng luôn luôn tồn tại trong sự quy định lẫn nhau, tác động, biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau Mặt khác, mỗi SV, HT của thế giới cũng là một hệ thống được cấu thành từ nhiều yếu tố, nhiều mặt, tồn tại torng mối liên hệ ràng buộc, chi phối và làm biến đổi lẫn nhau Vì vậy, một SV, HT có

vô vàn mối liên hệ Mối liên hệ giữa một SV, HT rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ: có

Trang 2

mối liên hệ bên trong là mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố trong một SV hay một hệ thống đồng thời lại có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa SV này với SV khác, hệ thống này với hệ thống khác,…

Các mối liên hệ có 3 tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng, phong phú Tính khách quan của mối liên hệ xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới Theo đó, các SV, HT trong thế giới dù đa dạng, muôn hình, muôn vẻ như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất Ngay cả ý thức của con người cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và nội dung của ý thức cũng chỉ là kết quá của

sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người Mối liên hệ là cái vốn

có của bản thân SV, HT, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức của con người hay

sự áp đặt từ bên ngoài, dù muốn hay không muốn thì bản thân các SV, HT hay các mặt, bộ phận trong một SV, HT luôn luôn chứa đựng các mối liên hệ; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình (ví

dụ, trong tự nhiên một cái cây muốn tồn tại và phát triển được nó cần phải có mối liên

hệ với đất, với nước, ánh sáng, độ ẩm, không khí,… mà chính bản thân cái cây ấy cũng

có liên hệ với nhau qua quá trình trao đổi chất – dễ nhận thức được là các mối liên hệ trong nội bộ cái cây ấy không phải do con người sáng tạo ra cũng không phụ thuộc vào

ý muốn chủ quan của con người hay đấng tối cao nào đó tạo ra mà hoàn toàn là cái vốn có của cái cây ấy, nếu tách rời khỏi những mối liên hệ ấy thì cái cây ấy cũng không tồn tại, vận động, phát triển được; một con người muốn tồn tại và phát triển được thì cũng cần rất nhiều các mối liên hệ như các mối liên hệ giữa các quá trình bên trong: đồng hóa và dị hóa, biến dị và di truyền, sinh – lão – bệnh – tử và cả các mối liên hệ của con người đó với tự nhiên với cộng đồng với tập thể, đoàn thể, xã hội,… con người không thể tách rời khỏi các mối liên hệ ấy – một người mà tách rời khỏi mối liên hệ với

tự nhiên thì sẽ không có quá trình trao đổi chất thì người đó sẽ không tồn tại hay tách rời khỏi cộng đồng người, cắt đứt đi các mối quan hệ xã hội thì cũng như các loài động vật khác mà thôi,…) Tính phổ biến của mối liên hệ xuất phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới vật chất – theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ SV, HT

Trang 3

hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các SV, HT hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ SV, HT nào không phải là một cấu trúc hệ thống bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau Mối liên hệ có trong mọi SV, HT; mọi giai đoạn, mọi quá trình; có cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người Chẳng hạn, trong thế giới tự nhiên, giữa động vật và thực vật có mối liên hệ với nhau chặt chẽ, giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ cũng có mối liên hệ với nhau, trong xã hội, có lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng ở trong phạm vi một địa phương hay trong phạm vi một quốc gia, một vùng hay trên phạm vi thế giới

nó cũng có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau, cụ thể như VN những năm vừa qua thu hút được đầu tư nước ngoài khá lớn do có nhiều thế mạnh, có nhiều mối liên hệ với nhau (nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú và quan trọng là thể chế chính trị ổn định) và chính các mối liên hệ ấy và sự tác động qua lại giữa chúng là động lực để thu hút đầu tư nước ngoài và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở VN trong những năm vừa qua Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ xuất phát từ tính đa dạng, muôn hình muôn vẻ của thế giới vật chất Trong thế giới có nhiều kiểu mối liên hệ, mà mỗi kiểu mối liên hệ có đặc điểm riêng, có vị trí, vai trò riêng đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của SV, HT Song, thực chất của khoa học là nhận thức các mối liên hệ vì thông qua các mối liên hệ mà

SV, HT mới bộc lộ các thuộc tính và thông qua các thuộc tính ấy mới nắm bắt được bản chất của các SV, HT Có liên hệ bên trong – mối liên hệ bên ngoài; có mối liên hệ

cơ bản – mối liên hệ không cơ bản; có mối liên hệ chủ yếu – mối liên hệ thứ yếu; có mối liên hệ bản chất – mối liên hệ không bản chất; có mối quan hệ tất nhiên – mối liên

hệ ngẫu nhiên; có mối quan hệ trực tiếp – mối quan hệ gián tiếp; mối liên hệ diễn ra rất phức tạp trong đời sống xã hội, vì ở đó có sự tham gia của con người có ý thức, nhưng tổng hợp các mối liên hệ trong đời sống xã hội vạch ra đường đi cho mình theo những xu hướng nhất định, đó là các quy luật xã hội Hiện nay khoa học hiện đại đã chứng minh rằng: phương thức tồn tại của SV, HT do cách thức liên hệ giữa các yếu tố

Trang 4

cấu thành quyết định Chẳng hạn, cùng từ các nguyên tử cacbon ( C ), nhưng theo những cách thức liên hệ khác nhau sẽ tạo thành than hoặc kim cương; hoặc cùng từ công thức phân tử C2H6O, nhưng cách thức liên hệ khác nhau sẽ tạo thành rượu (CH3 – CH2 – OH) hoặc ête (CH3 – O – CH3); hay trật tự liên hệ giữa các axit nucleic (A – T – G – X) mà bị đảo lộn sẽ gây ra hiện tượng đột biến gen Sự vận động, phát triển của SV, HT

do sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành quyết định, mà trước hết là do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập Chẳng hạn, sự tác động qua lại giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là động lực phát triển của xã hội TBCN; hay sự tác động qua lại giữa cung và cầu, giữa tích lũy với tiêu dùng là động lực phát triển của nền sản xuất xã hội

Về ý nghĩa phương pháp luận, từ tính khách quan và phổ biến của các mối quan hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống trong thực tiễn cần phải xem xét SV, HT trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính SV, HT và trong sự tác động qua lại giữa SV, HT đó với các SV, HT khác V I Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”[1]

– chẳng hạn cùng là mối liên hệ thầy – trò nhưng giữa phương Đông

-và phương Tây thì có sự khác nhau, tức là cùng mối liên hệ thầy – trò nhưng khi đặt ở không gian khác, thời gian khác thì cũng biểu hiện khác, cụ thể ta xét mối liên hệ giữa thầy và trò ở xã hội truyền thống của VN nói riêng và phương Đông nói chung là: “tôn

sư trọng đạo”, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, có vị trí chỉ đứng sau vua và được xếp trước cả cha cho nên vị trí, vai trò của người thầy trong xã hội truyền thống được đề cao, nhưng trong điều kiện hiện nay khi kinh tế thị trường tác động vào đời sống tinh thần của xã hội từ nơi này đến nơi khác mối liên hệ thầy – trò đang có sự thay đổi, tuy nhiên chúng ta phải thực tế nhìn vào, không phải sự biến đổi nào cũng đi với tích cực,

có những sự biến đổi hiện nay – trong đó có mối liên hệ thầy – trò, đang có rất nhiều biểu hiện tiêu cực mà sự tiêu cực đó làm băng hoại đi mối liên hệ thầy trò, làm giảm đi giá trị của người thầy, người cô, mất đi truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc,…

Trang 5

Ngoài ra, trong vô vàn các mối liên hệ, trước hết cần rút ra những mối liên hệ cơ bản, chủ yếu, tức là xem xét một cách có trọng tâm, trọng điểm, nhờ đó nắm bắt được bản chất của SV, HT; cũng tránh lại cách xem xét siêu hình, phiến diện, một chiều (chỉ thấy một mặt mà không thấy nhiều mặt, chỉ thấy một mối liên hệ mà không thấy các mối liên hệ khác) – chẳng hạn như câu chuyện dân gian “Thầy bói xem voi”,…; bên cạnh đó cũng tránh lại cách xem xét cào bằng, dàn trải (coi mọi mối liên hệ như nhau), có nghĩa là chống lại chủ nghĩa chiết trung về mối quan hệ; đồng thời chống lại thuật ngụy biện (quy cái thứ yếu thành cái chủ yếu, quy cái không cơ bản thành cái cơ bản; bằng lí lẽ, lập luận tưởng rằng có lý, nhưng thực chất là vô lí) – ví dụ như trong học đường, việc đi học muộn được các sinh viên ưa chuộng bởi lối ngụy biện “đằng nào cũng đi học, đến sớm hay muộn cũng vậy”,… Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về SV, HT và xử lí có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn

Từ tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch sử cụ thể yêu cầu khi xem xét các SV,

HT, cần phải đặt chúng trong từng hoàn cảnh lịch sử - cụ thể; trong điều kiện, môi trường cụ thể; trong từng điều kiện không gian, thời gian cụ thể, nhất định; trong từng mối liên hệ, quan hệ nhất định; trong từng trường hợp cụ thể nhất định; trong từng

hệ tọa độ cụ thể nhất định,…; cần xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn; đồng thời cần xem xét

SV, HT trong sự vận động, phát triển ở từng giai đoạn cụ thể nhất định, như theo V I Lênin, “phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể”[2]

, đó là “bản chất” và “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác

Trang 6

[1] V I Lênin : Toàn tập, t.42, NXB Tiến Bộ, Mátxcơva, 1979, tr.364 [2] V I Lênin : Toàn tập, t.31, NXB Tiến Bộ, Mátxcơva, 1981, tr.201

Ngày đăng: 02/08/2021, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w