1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN sử dụng phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng dạy học bài đọc tiểu thanh kí của nguyễn du cho học sinh lớp 10

72 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề sử dụng phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng dạy học bài đọc tiểu thanh kí của nguyễn du cho học sinh lớp 10
Trường học trường thpt yên dũng số 3
Chuyên ngành ngữ văn
Thể loại sáng kiến
Năm xuất bản 2020
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: Sử dụng phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng dạy học bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THUYẾT MINH

MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Sử dụng phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp,

kĩ thuật dạy học tích cực nhằm làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng dạy học bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du cho học sinh lớp 10 tại trường THPT Yên Dũng số 3

2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 01/12/2020

3 Các thông tin cần bảo mật: Không

4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm

Trước khi giải pháp này được thực hiện, để chuẩn bị cho giờ dạy học bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du trong chương trình Ngữ văn 10 tập I, giáo viên thường

yêu cầu học sinh đọc trước văn bản bài thơ (phiên âm chữ Hán, dịch nghĩa và dịch thơ) và trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài vào vở soạn Trong giờ học, giáo viên thường vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật cơ bản thiên về tính truyền thống như phát vấn, đàm thoại, diễn giảng Giáo viên sẽ phối hợp giữa việc đặt câu hỏi gợi dẫn cho học sinh, học sinh suy ngẫm, cảm nhận, trả lời và giáo viên

sẽ nhận xét, bổ sung, chốt kiến thức cơ bản, sau đó giảng bình những nội dung trọng tâm để học sinh có cơ hội khắc sâu kiến thức Học sinh sẽ ghi kiến thức cơ bản vào

vở và ôn bài theo hệ thống kiến thức đã ghi

Việc dạy và học như thế có những ưu điểm nhất định như học sinh có thời gian chuẩn bị bài ở nhà, trên lớp cơ hội được suy nghĩ, tìm tòi để phát hiện ra cái hay, cái đẹp của bài thơ dưới sự gợi ý của giáo viên, được lắng nghe những lời phân tích, đánh giá của giáo viên về tác giả, bài thơ Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó, tôi nhận thấy một số hạn chế như sau:

Giáo viên chủ yếu tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân, do đó chưa hình thành được một số năng lực cơ bản cho các em

Trang 2

2 Giáo viên chủ yếu dùng hình thức hỏi đáp, diễn giảng, do đó, tính chủ động, tích cực của học sinh chưa thực sự được phát huy Ở những câu thơ khó, có thể học sinh không cảm nhận được, và dẫn tới tình trạng giáo viên áp đặt cách hiểu của mình cho học sinh Thậm chí, học sinh dễ nảy sinh tâm lí ỷ lại, trông chờ vào bạn khác hoặc vào giáo viên, không dành thời gian, tâm sức để suy nghĩ, tìm hiểu, cảm nhận

về cái hay, cái đẹp của từng lời thơ, hình ảnh thơ… Từ đó mà hứng thú và kết quả học tập của học sinh sẽ không được như mong đợi

5 Sự cần thiết áp dụng giải pháp sáng kiến

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo có ghi rõ nhiệm vụ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Để đáp ứng nhiệm vụ đó, các nhà giáo dục cần đầu tư đổi mới

chương trình; đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập; đặc biệt là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực; chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Như vậy, đổi mới phương pháp dạy và học nhằm mục đích hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đã và đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với giáo dục nói chung và đối với dạy học ở THPT nói riêng, trong đó có môn Ngữ văn

Đọc Tiểu Thanh kí là một trong những bài thơ chữ Hán nổi tiếng nhất, có giá

trị nhất trong di sản thơ ca mà đại thi hào Nguyễn Du để lại cho đời Đến với bài thơ này, hậu thế có cơ hội gặp gỡ hồn thơ đa cảm, tài hoa của Nguyễn Du, có dịp đồng cảm với nỗi khổ đau của những kiếp tài hoa bạc mệnh trong xã hội cũ, ở Việt Nam

và đất nước Trung Quốc, từ đó mà thêm mến yêu, trân trọng cái tài, cái đẹp trong đời và hướng tới cuộc sống nhân văn hơn, tươi đẹp hơn

Trang 3

3 Tuy nhiên, cũng như những bài thơ chữ Hán khác mà học sinh được học trong

chương trình Ngữ văn 10, Đọc Tiểu Thanh kí là bài thơ rất khó Bài thơ được viết

bằng thứ văn tự cổ rất hàm súc, cô đọng và giàu ý nghĩa – chữ Hán Chính điều này gây ra nhiều khó khăn cho cả giáo viên và học sinh khi tiếp cận bài thơ

Trước hết là sự khó khăn đối với giáo viên Không ít giáo viên, kể cả những người đã ra trường khá lâu năm cũng gặp khó khăn trong quá trình tìm hiểu văn bản bài thơ và thiết kế kế hoạch dạy học Thực tế, rất nhiều giáo viên lúng túng khi đến với bài thơ này Làm thế nào để giúp học sinh đọc hiểu một cách sâu sắc, tường tận

về những vẻ đẹp ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh của bài thơ; làm thế nào

để phát huy được vai trò tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học, hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất để đáp ứng yêu cầu của đổi mới dạy học, đồng thời làm tăng hứng thú, đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy học bài thơ này

Thứ hai là sự khó khăn đối với học sinh Học sinh gặp khó khăn khi tiếp cận bài thơ ngay từ khâu chuẩn bị bài ở nhà Chữ Hán cổ nên rất khó hiểu, nhiều từ xa

lạ với học sinh thời hiện đại Hệ thống câu hỏi ở phần Hướng dẫn học bài gồm 4 câu, hầu hết là các câu mang ý nghĩa khái quát lớn, nếu không có sự gợi dẫn của giáo viên thì học sinh sẽ không thể chuẩn bị bài một cách chu đáo Ở trên lớp, khi giáo viên chỉ áp dụng những phương pháp dạy học truyền thống, học sinh cũng gặp những khó khăn trong quá trình cảm nhận vẻ đẹp và các tầng ý nghĩa của câu chữ, hình ảnh… Với thời lượng 90 phút trên lớp, học sinh khó lòng hiểu được bài thơ một cách sâu sắc, lĩnh hội được trọn vẹn giá trị của bài thơ, cũng khó có thể tự tin và hứng thú khi gặp những đề văn liên quan tới bài thơ này

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, đồng thời tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã suy ngẫm, trăn trở để làm sao có thể tổ chức một giờ học hiệu quả nhất, giúp học sinh chủ động, dễ dàng nhất trong quá trình tiếp cận bài

thơ Đọc Tiểu Thanh kí Tôi quyết định lựa chọn giải pháp sử dụng hệ thống phiếu

học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật tích cực trong quá trình dạy học nhằm làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng dạy học bài thơ này cho học sinh lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 3 Lớp 10A4 (lớp theo khối D) năm học 2020-

2021 được tôi chọn làm lớp thực nghiệm để áp dụng những giải pháp mới

Trang 4

4

6 Mục đích của giải pháp sáng kiến

Sử dụng phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích

cực trong giờ học bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí, tôi hướng tới một số mục đích chính

sau:

Thứ nhất: Khắc phục những hạn chế của cách dạy truyền thống; phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học; hình thành, phát triển năng lực của học sinh; từ đó làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng giờ học, đồng thời nâng

cao chất lượng các bài kiểm tra, bài thi liên quan tới bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí và

những bài thơ chữ Hán khác

Thứ hai: Bồi đắp thêm tình yêu của học sinh đối với bài thơ nói riêng, thơ Nguyễn Du và thơ chữ Hán nói chung Đó sẽ là tiền đề để học sinh thêm yêu Văn học

Thứ ba: Mở rộng hình thức sử dụng phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đối với giờ học về các tác phẩm văn học khác trong chương trình Ngữ văn cả 3 khối lớp để từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Yên Dũng số 3

Thứ tư: Trao đổi các giải pháp trong sáng kiến với giáo viên dạy Ngữ văn ở một số trường THPT trong và ngoài tỉnh để sẻ chia, học hỏi kinh nghiệm dạy học cùng các đồng nghiệp

7 Nội dung

7.1 Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến

7.1.1 Các giải pháp áp dụng

7.1.1.1 Sử dụng phiếu học tập

Với bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí, giáo viên đã thiết kế một hệ thống phiếu học

tập đầy đủ, chi tiết (gồm 6 phiếu) và yêu cầu học sinh hoàn thiện trước khi đến giờ học Hệ thống phiếu bao gồm các câu hỏi cụ thể, có câu mang tính chất phát hiện,

có câu mang tính chất đề dẫn, gợi mở và có những câu mang tính chất đánh giá, khái quát và mở rộng… Nhìn chung, hệ thống phiếu sẽ bao quát toàn bộ nội dung của hai tiết học về văn bản bài thơ, từ phần Tìm hiểu chung, Đọc hiểu văn bản đến phần Tổng kết bài học Để xây dựng hệ thống phiếu đó, giáo viên căn cứ vào mục tiêu cần

Trang 5

5 đạt của bài học, đặc điểm của bài học và đối tượng học sinh để việc sử dụng phiếu

sẽ đạt hiệu quả dạy học cao nhất

Trong quá trình dạy học trên lớp, đối với từng phần của bài học, giáo viên sẽ

sử dụng từng phiếu có nội dung phù hợp:

Ở phần Tìm hiểu chung, giáo viên sử dụng phiếu học tập số 1 về tác giả, nhân vật Tiểu Thanh và văn bản bài thơ

Ở phần Đọc - hiểu văn bản, giáo viên sử dụng phiếu học tập số 2 đến số 5 ứng với từng cặp câu trong bài thơ: Hai câu đề, hai câu thực, hai câu luận và hai câu kết

Ở phần Tổng kết bài học, giáo viên sử dụng phiếu học tập số 6 để khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

Để trả lời đầy đủ các câu hỏi trong hệ thống phiếu, học sinh phải tìm tòi, đọc các tài liệu tham khảo, chọn lọc, sắp xếp những kiến thức phù hợp với yêu cầu của từng phiếu Học sinh phải biết kết hợp giữa kiến thức tham khảo và cách cảm nhận của cá nhân mình Trong quá trình hoàn thiện phiếu, năng lực tự học, sáng tạo, giải quyết vấn đề của học sinh sẽ được hình thành và phát triển

Kết quả của giải pháp 1: 100% học sinh hoàn thiện phiếu học tập trước khi vào giờ học trên lớp Vì có nhiều thời gian để chuẩn bị nên nhiều học sinh trả lời đầy

đủ, chính xác những kiến thức cơ bản về tác giả và bài thơ Phiếu học tập trở thành

nền tảng để giáo viên tổ chức các hoạt động khác trong hai tiết học về Đọc Tiểu Thanh kí

(Chi tiết về hệ thống phiếu ở phần phụ lục 2)

7.1.1.2 Sử dụng kĩ thuật phỏng vấn chuyên gia

Kĩ thuật này được giáo viên sử dụng trong phần Tìm hiểu chung về tác giả và nhân vật Tiểu Thanh Khi áp dụng phương pháp này, giáo viên phân công một nhóm gồm hai học sinh, trong đó, một học sinh đóng vai chuyên gia về nhà thơ Nguyễn

Du, một học sinh đóng vai MC để dẫn chương trình Học sinh đóng vai chuyên gia

có nhiệm vụ tìm hiểu những kiến thức cơ bản về nhà thơ Nguyễn Du như: Thời đại, quê hương, gia đình, cuộc đời, sự nghiệp văn học Học sinh đóng vai MC có nhiệm

vụ xây dựng nội dung chương trình phỏng vấn: Lời dẫn dắt, giới thiệu, đặt câu hỏi

Trang 6

6 cho chuyên gia, mời các học sinh trong lớp đặt câu hỏi cho chuyên gia và kết luận

về buổi phỏng vấn

Trong giờ học, chuyên gia và MC được bố trí ngồi ở bàn tách riêng với các bạn trong lớp MC sẽ dẫn dắt, điều khiển chương trình phỏng vấn để giúp các học sinh trong lớp lĩnh hội được những kiến thức cơ bản nhất về tác giả Nguyễn Du và nhân vật Tiểu Thanh Đó là cơ sở quan trọng để học sinh đọc hiểu văn bản bài thơ

Kết quả của giải pháp 2: Học sinh tổ chức thành công buổi phỏng vấn chuyên gia Học sinh đóng vai chuyên gia đã chuẩn bị kĩ lưỡng những kiến thức quan trọng nhất về tác giả như: Thời đại, quê hương, gia đình, cuộc đời – những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị nội dung và nghệ thuật của sự nghiệp văn học mà Nguyễn

Du đề lại cho đời Học sinh đóng vai MC đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thể hiện được tài năng đầy triển vọng của một người dẫn chương trình Sự phối hợp giữa chuyên gia, MC và các học sinh trong lớp đã đem lại không khí hào hứng, sôi nổi cho giờ học, trang bị những kiến thức nền tảng để học sinh tiếp cận văn bản bài thơ

(Chi tiết về diễn biến và nội dung cuộc phỏng vấn ở phần phụ lục 3)

Ở phần đọc hiểu hai câu kết, giáo viên vẫn sử dụng hình thức hoạt động nhóm nhưng có sự thay đổi so với ở hai câu thực để giờ học trở nên linh hoạt, tránh nhàm chán cho học sinh Giáo viên chia lớp thành 5 nhóm, mỗi nhóm gồm 8 – 9 học sinh Các học sinh thảo luận trong 7 phút dựa trên phiếu học tập cá nhân (phiếu số 5), ghi lại kết quả thảo luận chung của nhóm trên giấy A0 Hết thời gian thảo luận, giáo

Trang 7

7 viên yêu cầu các nhóm treo sản phẩn của nhóm lên bảng Giáo viên gọi một nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình Học sinh cả lớp có thể quan sát sản phẩm của từng nhóm, đối sánh kết quả của từng nhóm để đánh giá nhóm nào làm việc tốt nhất, hiệu quả nhất Trong hoạt động này, học sinh các nhóm tỏ ra sôi nổi, hăng say tranh luận, bày tỏ ý kiến, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của nhóm đại diện vừa trình bày, bổ sung để hoàn thiện sản phẩm cho nhóm đại diện Giáo viên nhận xét sản phẩm của từng nhóm, chọn sản phẩm của nhóm tốt nhất, chấm điểm cho nhóm trình bày và nhóm có sản phẩm chuẩn xác nhất Dựa trên sản phẩm của các nhóm, giáo viên chốt kiến thức cơ bản về hai câu kết

Kết quả của giải pháp 3: Các nhóm đều hoàn thành nhiệm vụ được giao Hoạt động nhóm đã tạo không khí sôi nổi cho lớp học, khác hẳn với không khí khá trầm lắng khi giáo viên hỏi đáp từng học sinh hoặc diễn giảng, truyền thụ một chiều Học sinh tỏ ra hứng thú vì kết quả thu được là do quá trình tự học kết hợp với công sức của tập thể, vì trong giờ học có cơ hội được bày tỏ quan điểm của cá nhân mình về bài thơ, tác giả Trong quá trình hoạt động nhóm, năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh được hình thành và phát triển

(Chi tiết về kết quả của hoạt động nhóm ở phụ lục 4)

7.1.1.4 Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở

Phương pháp này được giáo viên áp dụng khi tìm hiểu chung về bài thơ, đọc hiểu hai câu đề, hai câu kết và phần Tổng kết bài học Dựa trên cơ sở phiếu học tập

đã chuẩn bị từ trước, cá nhân học sinh sẽ xung phong trả lời các câu hỏi trong phiếu Trong quá trình đó, giáo viên chuẩn bị thêm một số câu hỏi khác nhằm gợi dẫn học sinh để học sinh có câu trả lời trọn vẹn về văn bản, hoặc kiểm tra xem học sinh có chuẩn bị phiếu học tập bằng sức của mình không hay sao chép của bạn khác trong lớp để đối phó với giáo viên

Kết quả của giải pháp 4: Học sinh hào hứng tham gia phát biểu, có học sinh trả lời trọn vẹn những câu hỏi dẫn dắt hoặc kiểm tra của giáo viên; một số học sinh hăng hái bổ sung cho câu trả lời của bạn Nhờ đó, giờ học diễn ra sôi nổi, hiệu quả Trong quá trình trả lời câu hỏi của giáo viên, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh sẽ được phát huy

Trang 8

8

7.1.1.5 Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy

Giáo viên dùng kĩ thuật sơ đồ tư duy sau khi đã kết thúc thời gian học trên lớp nhằm ôn tập kiến thức cơ bản về tác giả, bài thơ Giáo viên chia nhóm học sinh (như khi đọc hiểu hai câu kết), yêu cầu các nhóm hoàn thiện sơ đồ tư duy và nộp sản phẩm

Kết quả của giải pháp 5: Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy tổng kết bài học Qua

sơ đồ đó, học sinh nắm bắt, ghi nhớ một cách dễ dàng về giá trị cơ bản của tác phẩm Quá trình hoàn thiện sơ đồ tư duy cũng giúp học sinh phát huy được năng lực tự học

và sáng tạo, giao tiếp và hợp tác

(Chi tiết về sản phẩm sơ đồ tư duy ở phụ lục 5)

Kết quả khi áp dụng các giải pháp trong sáng kiến

Kết quả áp dụng sáng kiến được giáo viên thể hiện qua kết quả thống kê, đánh giá về hứng thú của học sinh trong giờ học và kết quả bài thi, bài khảo sát của học sinh Cụ thể như sau:

- Giáo viên thiết kế mẫu phiếu để điều tra, đánh giá về hứng thú và hiệu quả học tập

của học sinh lớp 10A4 trong giờ dạy Đọc Tiểu Thanh kí Kết quả thu được như sau:

HS

TỈ LỆ

%

GHI CHÚ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP 44

1 Em có thích học những bài thơ Đường luật

bằng chữ Hán trong chương trình Ngữ văn

Trang 9

3 Em có sôi nổi, tích cực trong giờ học về các

bài thơ Đường luật bằng chữ Hán không?

6 Em nhận thấy, năng lực của học sinh có

được phát triển hay không?

Trang 10

10

7 Em có tự tin và thích thú khi gặp đề làm văn

về các bài thơ chữ Hán không?

a Rất tự tin và thích thú 3 6.8

SAU KHI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP

1 Em có có thích thú với việc học bài thơ Đọc

Tiểu Thanh kí hay không?

2 Hệ thống các câu hỏi trong phiếu học tập có

giúp em nhiều trong quá trình chuẩn bị bài ở

kĩ thuật dạy học mới có giúp em phát huy

tính tích cực, chủ động trong giờ học hay

Trang 11

11

4 Nhờ hệ thống phiếu học tập và các phương

pháp, kĩ thuật mới, em có hiểu bài ngay

trong giờ học hay không?

a Rất sôi nổi, hào hứng 30 68.1

6 Em nhận thấy, năng lực của học sinh có

được phát triển hay không?

7 Khi gặp các đề làm văn về Đọc Tiểu Thanh

kí nói riêng và thơ chữ Hán nói chung, em

Trang 12

12 Nhìn vào bảng thống kê trên có thể thấy, việc sử dụng hệ thống phiếu học tập kết hợp với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đã giúp học sinh dễ dàng

hơn trong quá trình tiếp cận bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí Học sinh hứng thú hơn với

bài thơ, với giờ học, hiểu bài hơn, thấy mình tích cực, chủ động và được phát huy năng lực học môn Ngữ văn, tự tin và hào hứng hơn khi gặp đề bài làm văn có liên quan đến bài thơ Giờ học của cả lớp trở nên sôi nổi, hấp dẫn và hiệu quả hơn

Theo phản hồi từ các giáo viên trong tổ bộ môn, đặc biệt là các giáo viên đang trực tiếp dạy Ngữ văn 10, học sinh trong giờ thực nghiệm đã sôi nổi, nhiệt tình, hứng thú, say mê với bài học hơn khi các giáo viên sử dụng những phương pháp truyền thống Điều đó chứng tỏ, việc áp dụng giải pháp mới đã bươc đầu đem lại những kết quả khả quan

- Để đánh giá về hiệu quả của các giải pháp trong sáng kiến, giáo viên cũng tiến hành lập bảng so sánh kết quả thi thử lần 2 của lớp 10A4 năm học 2019-2020 (giáo viên chưa áp dụng sáng kiến) và lớp 10A4 năm học 2020-2021 (giáo viên áp dụng sáng kiến) Đây là hai lớp trọng điểm khối D của nhà trường, có năng lực Ngữ văn tương đương nhau

BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ THI THỬ LẦN 2 CỦA LỚP 10A4 NĂM HỌC 2019-2020 LỚP 10A4 NĂM HỌC 2020-2021

2021

thực nghiệm

Trang 13

13 Nhìn vào bảng so sánh trên đây, có thể nhận thấy: Sau khi áp dụng sáng kiến,

tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi trong kì thi thử đại học lần 2 tăng lên đáng kể: từ 52.3% lên 70.5%; tỉ lệ học sinh đạt điểm yếu kém giảm từ 9.1% xuống còn 4.5%

- Giáo viên cũng tiến hành đánh giá về hiệu quả của các giải pháp trong sáng kiến bằng cách cho học sinh làm bài kiểm tra khảo sát trong 15 phút về thơ chữ Hán Trước khi áp dụng sáng kiến, GV cho HS làm bài khảo sát về hai câu đầu trong bài

thơ Tỏ lòng (Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão) Sau khi áp dụng sáng kiến, GV cho

HS làm bài khảo sát về hai câu kết của bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí Cả hai bài cùng

chung dạng: Cảm nhận về một đoạn thơ Kết quả thu được như sau:

BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ BÀI KIỂM TRA KHẢO SÁT

CỦA LỚP 10A4 NĂM HỌC 2020-2021

Phổ điểm

Ghi chú

sáng kiến

thực nghiệm

(Chi tiết về đề bài khảo sát ở phụ lục 7) Nhìn vào bảng so sánh trên đây, có thể nhận thấy: Với cùng một dạng bài, trước khi áp dụng sáng kiến, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi chưa thực sự cao (56.8%), và vẫn có học sinh đạt điểm yếu Sau khi áp dụng sáng kiến, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng lên đáng kể (77.3%), số lượng học sinh đạt điểm yếu không còn

Trang 14

14 Kết quả khảo sát, đối sánh trên đây chứng tỏ: Việc áp dụng sáng kiến đã đem

lại những hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy học bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du

7.1.2 Các bước đã được thực hiện khi áp dụng sáng kiến

- Bước 1: Giới thiệu sáng kiến đến các đồng chí đang giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 10 tại trường THPT Yên Dũng số 3, một số giáo viên Ngữ văn ở trường THPT Yên Dũng số 2 (Yên Dũng, Bắc Giang), trường THPT Vân Nội (Đông Anh,

Hà Nội), trường THPT Cao Bá Quát (Gia Lâm, Hà Nội)

- Bước 2: Tổ chức trao đổi, thảo luận trong và ngoài tổ bộ môn; xây dựng kế hoạch áp dụng sáng kiến; đồng thời, nhờ các đồng nghiệp áp dụng sáng kiến trong giảng dạy, cụ thể:

Số

TT Họ và tên Năm sinh

Nơi công tác Chức

1 Đỗ Thị

Oanh 1982

THPT Yên Dũng số 3

GV THPT hạng III

Cử nhân

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

2 Nguyễn

Thị Thủy 984

THPT Yên Dũng số 3

GV THPT hạng III

Cử nhân

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

3 Lưu Thị

Hoài 1983

THPT Yên Dũng số 3

GV THPT hạng III

Cử nhân

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

4 Đặng Thị

Thủy 1982

THPT Yên Dũng số 3

GV THPT hạng III

Cử nhân

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

Trang 15

GV THPT hạng II

Cử nhân

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

6 Hoàng Thị

Lệ Thỏa 1980

THPT Yên Dũng số 2

GV THPT hạng III

Cử nhân

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

7 Trần Thị

Kim Oanh 1985

THPT Vân Nội

GV THPT hạng II

Thạc

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

Thạc

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

Thạc

Nhận xét, phản hồi về sáng kiến

- Bước 3: Tổ chức thực hiện sáng kiến bắt đầu từ đầu học kì 2, năm học

2020-2021

- Bước 4: Tổ chức rút kinh nghiệm sau khi áp dụng sáng kiến để giảng dạy

7.2 Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến

- Tại trường THPT Yên Dũng số 3:

+ Sáng kiến đã được áp dụng để giảng dạy bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí, các bài

thơ chữ Hán cho học sinh lớp 10A4, năm học 2020-2021 (chương trình Văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc) và đem lại những hiệu quả thiết thực trong việc làm tăng hứng thú và nâng cao chất lượng học tập cho học sinh

+ Có thể nhân rộng sáng kiến này ở tất cả các bài học, tất cả các lớp ở 3 khối

10, 11, 12 trong học kì 2 của năm học 2020-2021 và những năm học tiếp theo

Trang 16

16

- Tại các trường: THPT Yên Dũng số 2, THPT Cao Bá Quát và THPT Vân Nội, sáng kiến cũng đã được áp dụng để giảng dạy cho học sinh lớp 10A5, 10A11 và 10C, bước đầu đem lại những hiệu quả khả quan

- Có thể nhân rộng sáng kiến này đến các trường THPT trong và ngoài tỉnh

7.3 Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến

Sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên ở tại trường THPT Yên Dũng số 3, hiệu quả của sáng kiến đạt được như sau:

Về lợi ích kinh tế

Giáo viên có thể sử dụng phần lí luận của sáng kiến kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng các giải pháp khác, áp dụng vào bất kì bài học nào trong chương trình Ngữ văn nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học và nâng cao chất lượng môn Ngữ văn tại trường trung học phổ thông Yên Dũng số 3 và một số trường khác trong

Trang 17

17

Đàm Thị Thanh Tùng

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHIẾU HỌC TẬP VÀ MỘT

SỐ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

1 Phiếu học tập

Về khái niệm phiếu học tập, tác giả PGS.TS Nguyễn Đức Thành đã viết: Để

tổ chức các hoạt động của học sinh, người ta phải dựng các phiếu hoạt động học tập, gọi tắt là phiếu học tập, còn gọi cách khác là phiếu hoạt động hay phiếu làm việc Phiếu học tập là những tờ giấy rời, in sẵn những công tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát cho học sinh để học sinh hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học Trong mỗi phiếu ghi rõ một vài nhiệm vụ nhận thức nhằm hướng tới hình thành kiến thức, kĩ năng hay rèn luyện thao tác tư duy để giao cho học sinh

Người viết sáng kiến đã vận dụng linh hoạt khái niệm trên để chuẩn bị hệ thống phiếu học tập giao cho học sinh chuẩn bị bài học trước khi lên lớp

Khi sử dụng phiếu học tập trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí nói riêng, giáo viên sẽ phát huy được vai trò chủ thể trong hoạt

động học tập của học sinh, góp phần tạo sự hấp dẫn, hứng thú trong tiết dạy

2 Kĩ thuật phỏng vấn chuyên gia

Kĩ thuật phỏng vấn chuyên gia là một kĩ thuật dạy học mà khi sử dụng, giáo viên sẽ tổ chức thành một buổi tư vấn trong giờ dạy học Để có thể áp dụng kĩ thuật này, giáo viên sẽ phân công học sinh (hoặc học sinh xung phong) để tạo thành các nhóm chuyên gia về một chủ đề nhất định Các học sinh đóng vai chuyên gia phải nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên quan đến chủ đề mình được phân công Trong giờ học, nhóm chuyên gia sẽ lên ngồi phía trên lớp học Một

em trưởng nhóm chuyên gia hoặc giáo viên sẽ điều khiển buổi tư vấn, mời các bạn

học sinh trong lớp đặt câu hỏi rồi mời chuyên gia giải đáp, trả lời

Trang 18

18 Người viết sáng kiến đã áp dụng linh hoạt kĩ thuật này khi phân một nhóm gồm hai học sinh, trong đó, một học sinh đóng vai chuyên gia, một học sinh đóng vai MC để điều khiển, dẫn dắt buổi phỏng vấn về tác giả Nguyễn Du và nhân vật Tiểu Thanh

- Giai đoạn chuẩn bị

+ Xác định hoạt động cần tổ chức dạy học hợp tác dựa trên mục tiêu, nội dung của bài học

+ Xác định tiêu chí thành lập nhóm: theo trình độ của học sinh, theo sở thích của học sinh Thiết kế các hoạt động kết hợp cá nhân, theo cặp, theo nhóm để thay đổi, tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập của học sinh

+ Xác định thời gian phù hợp cho hoạt động nhóm để thực hiện có hiệu quả

+ Thiết kế các phiếu/hình thức giao nhiệm vụ tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng hiểu rõ nhiệm vụ và thể hiện rõ kết quả hoạt động của cá nhân hoặc của cả nhóm, các bài tập củng cố chung hoặc dưới hình thức trò chơi học tập theo nhóm, từ đó tăng cường sự tích cực và hứng thú của học sinh

- Giai đoạn tổ chức dạy học hợp tác:

Trang 19

19 + Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập: Giáo viên tổ chức giao cho toàn lớp với các hoạt động chính như giới thiệu chủ đề, thành lập các nhóm là việc, xác định nhiệm vụ của các nhóm, xác định và giải thích nhiệm vụ cụ thể của các nhóm, xác định rõ mục tiêu cụ thể cần đạt được Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau + Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ học tập có sự hợp tác Các nhóm tự lực thực hiện nhiệm vụ được giao, trong đó có hoạt động chính là chuẩn bị chỗ làm việc, lập kế hoạch làm việc, thỏa thuận về quy tắc làm việc, tiến hành giải quyết nhiệm vụ, chuẩn

bị báo cáo kết quả trước lớp, xác định nội dung, cách trình bày kết quả

+ Bước 3 Trình bày và đánh giá kết quả của hoạt động hợp tác Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước lớp Các học sinh khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung Gióa viên hướng dẫn học sinh lắng nghe và phản hồi tích cực Thông thường, học sinh trình bày bằng miệng hoặc trình bày với báo cáo kèm theo Có thể trình bày có minh họa thông qua biểu diễn hoặc mẫu kết quả làm việc nhóm Kết quả trình bày của các nhóm sẽ được chia sẻ với các nhóm khác, để các nhóm góp ý và là cơ sở để triển khai các nhiệm vụ tiếp theo Sau khi học sinh nhận xét, phản hồi, giáo viên cùng với học sinh tổng kết các kiến thức cơ bản Cần tránh tình trạng giáo viên giảng lại toàn

bộ vấn đề học sinh đã trình bày

- Điều kiện sử dụng:

+ Nhiệm vụ học tập cần đủ khó để thực hiện dạy học theo nhóm vì nếu nhiệm vụ quá dễ sẽ làm cho hoạt động nhóm trở nên nhàm chán và chỉ mang tính chất hình thức

+ Không gian làm việc cần đảm bảo phù hợp để học sinh thuận tiện trong việc trao đổi và thảo luận (học sinh trong nhóm cần nghe và nhìn thấy nhau, đặc biệt là với hình thức thảo luận nhóm)

+ Thời gian cũng cần đủ cho các thành viên trong nhóm thảo luận và trình bày kết quả một cách hiệu quả

5 Kĩ thuật sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy (còn gọi là bản đồ khái niệm hay giản đồ ý) là một hình thức trình bày thông tin trực quan Thông tin được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên và biểu diễn bằng các từ khóa, hình ảnh Thông thường, chủ đề hoặc ý tưởng chính được

Trang 20

20 đặt ở giữa, các nội dung hoặc ý triển khai được sắp xếp vào các nhánh chính phụ xung quanh Có thể vẽ sơ đồ tư duy trên giấy, bảng hoặc thực hiện trên máy tính

Trong dạy học Ngữ văn, kĩ thuật sơ đồ tư duy thường sử dụng kết hợp với dạy học hợp tác, phương pháp đàm thoại gợi mở, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên dự án để học sinh trình bày tóm tắt kết quả học tập của cá nhân hoặc của nhóm

PHỤ LỤC 2 HỆ THỐNG PHIẾU HỌC TẬP PHỤC VỤ CHO BÀI HỌC

PHIẾU SỐ 1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, VĂN BẢN BÀI THƠ

1 Tác giả Nguyễn Du

Hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả Nguyễn Du dựa trên những gợi ý sau:

- Thời đại:………

- Quê hương:………

- Gia đình:………

- Cuộc đời:………

- Sự nghiệp + Tác phẩm chính:………

+ Vị trí của Nguyễn Du trong lịch sử văn học dân tộc:………

2 Nhân vật Tiểu Thanh Trình bày những hiểu biết của em về Tiểu Thanh – nhân vật xuất hiện ngay từ nhan đề của bài thơ ………

………

3 Văn bản - Nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ ………

………

- Bài thơ được viết theo thể thơ nào? ………

Trang 21

21

………

- Chia bố cục của bài thơ Vì sao có thể chia như vậy? ………

………

- So sánh phiên âm và dịch thơ Căn cứ vào bản dịch nghĩa, hãy chỉ ra những điểm bản dịch thơ dịch chưa sát ý nghĩa/bỏ sót chữ trong nguyên tác ở những câu thơ sau: + Câu 1: ………

………

+ Câu 2: ………

………

+ Câu 6:………

………

+ Câu 8:………

………

PHIẾU SỐ 2 TÌM HIỂU HAI CÂU ĐỀ - Đọc kĩ câu thơ thứ nhất và trả lời các câu hỏi: 1 Ở câu thơ thứ nhất, Nguyễn Du miêu tả cảnh vật ở đâu? Cảnh vật được miêu tả qua những từ ngữ nào? ………

………

2 Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng của phép đối trong câu 1 - Biểu hiện:………

………

- Tác dụng: + Cảnh vật có sự thay đổi như thế nào? ………

………

+ Gợi tâm trạng nào của Nguyễn Du trước sự đổi thay của cảnh vật? ………

Trang 22

Trả lời các câu hỏi:

5 Chỉ ra hành động và tâm thế khi thực hiện hành động đó của Nguyễn Du trong câu thơ thứ hai

PHIẾU SỐ 3 TÌM HIỂU HAI CÂU THỰC

- Diễn xuôi hai câu thơ theo gợi ý của phần dịch nghĩa

- Trả lời các câu hỏi:

1 Hai câu thơ tái hiện những sự kiện nào xảy ra trong cuộc đời Tiểu Thanh?

………

………

2 Hình ảnh son phấn và văn chương trong hai câu thơ tượng trưng cho những vẻ

đẹp nào của Tiểu Thanh?

………

3 Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng của biện pháp đối trong hai câu thơ

Trang 23

PHIẾU SỐ 4 TÌM HIỂU HAI CÂU LUẬN

- Đọc câu thơ thứ 5 và trả lời các câu hỏi:

1 Những mối hận cổ kim là gì? Đó là mối hận của những ai? Họ hận về những điều

gì trong thực tế cuộc sống? (Gợi ý: Dựa vào cuộc đời của Tiểu Thanh, Nguyễn Du,…)

………

………

2 Nguyễn Du muốn đi tìm câu trả lời cho nguyên nhân của những mối hận đó Nhưng nhà thơ có tìm thấy câu trả lời hay không? Dựa vào những từ ngữ nào trong câu thơ mà em biết điều đó?

………

………

3 Nhận xét về âm điệu của câu thơ thứ 5 Câu thơ này cho em thấy tâm trạng gì của

Nguyễn Du khi nhà thơ khái quát về những mối hận cổ kim?

………

………

Trang 24

24

- Đọc câu thơ thứ 6 và trả lời các câu hỏi:

4 Chỉ ra cách Nguyễn Du tự xưng trong câu thơ? Trong các tác phẩm văn học trung đại, em đã gặp cách xưng hô tương tự như vậy hay chưa?

………

………

PHIẾU SỐ 5 TÌM HIỂU HAI CÂU KẾT

- Đọc kĩ hai câu kết và trả lời các câu hỏi

1 Ở hai câu kết, Nguyễn Du tự xưng là gì? Em có hiểu biết gì về danh xưng ấy? Em

đã từng gặp kiểu tự xưng như thế trong văn học trung đại hay chưa?

………

………

2 Khoảng thời gian hơn ba trăm năm trong hai câu thơ gợi cho em liên tưởng đến

những khoảng thời gian nào? Đó là thời gian có thực hay là thời gian ước lệ?

Trang 26

26

Trang 27

27

Trang 28

28

Trang 29

29

Trang 30

30

Trang 31

31

PHỤ LỤC 3 KỊCH BẢN BUỔI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA

- MC: Mời chuyên gia lên

- MC: Giới thiệu về chuyên gia

- Chuyên gia: Gửi lời chào tới học sinh cả lớp, giới thiệu về bản thân

- MC: Giới thiệu mục đích mời chuyên gia đến lớp học – cùng trao đổi về cuộc đời

và sự nghiệp của Nguyễn Du để giúp học sinh lớp 10A4 có những hiểu biết cơ bản nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du, lấy đó làm cơ sở để đọc hiểu bài thơ

Đọc Tiểu Thanh kí

- MC mời một số học sinh trong lớp đặt câu hỏi

- Học sinh 1: Xin chuyên gia giới thiệu cho chúng cháu về cuộc đời của nhà thơ Nguyễn Du

- Chuyên gia:

+ Về thời đại: Nguyễn Du sinh năm 1765 Ông sinh ra và lớn lên cuối thế kỉ XVIII, sống đến đầu thế kỉ XIX Đó là thời đại đầy biến động dữ dội của lịch sử Việt Nam (Lê – Trịnh, khởi nghĩa Tây Sơn…) Có lẽ, chính vì vậy mà thơ Nguyễn Du trĩu nặng nỗi đau đời và nỗi buồn thời thế

+ Quê hương:

Quê cha: Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh – mảnh đất hiếu học, sông Lam núi Hồng

Quê mẹ: Bắc Ninh – cái nôi của dân ca quan họ

Sinh ra và lớn lên ở Thăng Long – mảnh đất kinh kì ngàn năm văn hiến Nguyễn Du được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, có cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhiều vùng đất khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật sau này

+ Gia đình: Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một gia đình đại quý tộc phong kiến, nổi tiếng với truyền thống khoa bảng danh vị và văn thơ

+ Bản thân: 3 giai đoạn chính trong cuộc đời

Thơ ấu và niên thiếu:

Sống tại Thăng Long trong một gia đình phong kiến quyền quý

Trang 32

Hơn 10 năm gió bụi: Từ 1789, rơi vào cuộc sống đầy khó khăn, gian khổ hơn 10 năm Nguyễn Du lăn lộn chật vật ở các vùng nông thôn khác nhau Chính giai đoạn này đã đem đến cho Nguyễn Du vốn sống thực tế phong phú, đặc biệt là về xã hội

và thân phận con người Nguyễn Du có điều kiện học hỏi và nắm vững ngôn ngữ nghệ thuật dân gian

Làm quan cho nhà Nguyễn: Con đường hoan lộ khá thuận lợi Ông từng giữ nhiều chức quan khác nhau và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc Quãng đời này giúp Nguyễn Du nâng cao tầm khái quát của những tư tưởng về xã hội và thân phận con người trong sáng tác

Có thể nói, cuộc đời đầy thăng trầm và trái tim giàu yêu thương cùng tài năng nghệ thuật đã khiến Nguyễn Du trở thành một thiên tài văn học, một đại thi hào dân tộc Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới và ra quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm ngày sinh của ông

- MC: Cảm ơn chuyên gia Mời một học sinh khác đặt câu hỏi

- Học sinh 2: Chuyên gia có thể cho chúng cháu biết đôi điều về sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du được không ạ?

- Chuyên gia: Có thể nói, Nguyễn Du đã để lại một sự nghiệp văn học phong phú,

đồ sộ với nhiều thể loại, và thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc

+ Sáng tác bằng chữ Hán: 249 bài được sáng tác trong nhiều thời kì khác nhau

Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những

năm tháng trước khi ra làm quan cho nhà Nguyễn

Nam trung tập ngâm (Các bài thơ ngâm khi ở phương Nam): 40 bài, viết trong thời

gian ở Huế và ở Quảng Bình, những địa phương ở phía Nam Hà Tĩnh quê hương ông

Trang 33

33

Bắc hành tạp lục (Ghi chép trong chuyến đi sang phương Bắc): 131 bài thơ sáng

tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc

+ Sáng tác bằng chữ Nôm:

Tác phẩm: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều); Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh)

Truyện Kiều:

Được sáng tác trên cơ sở cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc

Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân

Thể loại: truyện thơ (làm theo thể thơ lục bát); cảm hứng mới; nhận thức lí giải nhân vật khác

Kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học hiện đại

Văn chiêu hồn:

Thể thơ: song thất lục bát

Thể hiện một biểu hiện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du:

ưu ái những thân phận nhỏ bé

- MC: Cảm ơn chuyên gia và mời một HS khác đặt câu hỏi

- HS 3: Xin chuyên gia cho chúng cháu biết thêm về những đặc sắc nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Du ạ!

- Chuyên gia:

+ Về nội dung: thơ Nguyễn Du đề cao xúc cảm, chữ “tình”

Thơ văn Nguyễn Du thể hiện tình cảm chân thành, sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người bé nhỏ, bất hạnh, người phụ nữ

Những khái quát của ông về cuộc đời và về thân phận con người thường mang tính triết lí cao và thấm đẫm cảm xúc

Nỗi đau và thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xh cũ

Bản chất bạo tàn của xã hội phong kiến

Nguyễn Du là người đầu tiên trong văn học trung đại nói lên một cách tập trung vấn đề về thân phận của người phụ nữ có sắc đẹp và tài năng văn chương nghệ thuật

Trang 34

34 Đề cập một vấn đề mới và quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: xã hội cần phải trân trọng những giá trị tinh thần, do đó cần phải trân trọng người sáng tạo những giá trị tinh thần đó

Đề cao hạnh phúc của con người tự nhiên, trần thế (Truyện Kiều - tình yêu lứa đôi)

+ Về nghệ thuật:

Sáng tác bằng chữ Hán:

Thể thơ: Nguyễn Du sáng tác theo những thể thơ Trung Quốc như ngũ ngôn

cổ thơ, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật và ca, hành

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du ở thể nào cũng có những bài đặc sắc

- MC: Cảm ơn chuyên gia, mời HS khác đặt câu hỏi

- HS 4: Thưa chuyên gia, hôm nay chúng cháu được học bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí

của Nguyễn Du Chúng cháu chưa rõ Tiểu Thanh ở trong bài thơ là ai, vì sao lại được Nguyễn Du viết trong thơ mình ạ?

- Chuyên gia: Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc sống vào đầu thời Minh Cô có

tài sắc: xinh đẹp, có tài văn chương, âm nhạc Nhưng số phận của Tiểu Thanh rất

bất hạnh: Nàng lấy lẽ một người họ Phùng, bị vợ cả ghen, bắt sống một mình ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ Vì đau buồn mà nàng chết ở tuổi 18 Sau khi nàng chết, người vợ

cả đã đem đốt những bài thơ nàng viết, chỉ còn sót lại một vài bài Người ta sưu tập lại và ghi Phần dư – phần bị đốt còn sót lại Có thể nói, Tiểu Thanh là một cô gái tài hoa nhưng bạc mệnh

Viết về những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh là một nội dung lớn trong sáng tác của Nguyễn Du

- MC: Xin cảm ơn chuyên gia về buổi trò chuyện hữu ích hôm nay Hi vọng, sau buổi trò chuyện, các em học sinh lớp 10A4 sẽ có thêm thật nhiều kiến thức để học

bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí hôm nay và Truyện Kiều ở học kì 2

Trang 35

- Vẻ đẹp con người Nguyễn Du trong bài thơ

- Những biểu hiện sâu sắc, mới mẻ của tiếng nói nhân đạo trong bài thơ

Trang 36

36 + Cảm nhận được nỗi đau đớn, xót xa Nguyễn Du dành cho số phận bất hạnh và niềm yêu thương, trân trọng, ngợi ca Nguyễn Du dành cho tài sắc của Tiểu Thanh + Cảm nhận được nỗi phẫn uất của Nguyễn Du trước tình cảnh của những kiếp tài hoa bạc mệnh, trong đó có mình; nỗi khát khao tìm kiến tri âm và niềm tự thương của Nguyễn Du

+ Nhận xét, đánh giá được những đóng góp mới mẻ của Nguyễn Du cho thơ ca dân tộc về cả nội dung và nghệ thuật thơ: những biểu hiện mới của tiếng nói nhân đạo trong thơ văn Nguyễn Du, những kết tinh nghệ thuật thơ Đường trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du

- Năng lực viết

+ Vận dụng kiến thức cơ bản về tác giả, bài thơ để tạo lập được đoạn văn/bài văn trình bày cảm nhận của bản thân về một bài thơ/đoạn thơ

+ Dùng ngôn ngữ chính xác, gợi hình, gợi cảm và giàu sức thuyết phục

- Năng lực nói và nghe

+ Trình bày được ý kiến, quan điểm của cá nhân về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

+ Biết lắng nghe và hiểu được quan điểm của người khác về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

2.2 Năng lực chung

- Tự học: Tự nhận thức và hoàn thiện các công việc cần làm của cá nhân

- Giao tiếp và hợp tác: Phân tích và hoàn thành được các công việc cần thực hiện khi hoạt động nhóm

- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề, biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề

Ngày đăng: 30/07/2021, 09:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w