1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Xây dựng sử dụng bài tập theo hướng phân hóa nêu vấn đề, nhằm tạo hứng thú vầ nâng cao chất lượng ôn tập phần ancol cho học sinh lớp 11

24 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu trên thì yếu tố đào tạo nguồn tri thức khoa học kỹthuật cho thế hệ trẻ là nhân tố quyết định hàng đầu của việc đổi mới đất nước .Điều này đặt ra những yêu cầu mới củ

Trang 1

I MỞ ĐẦU I.1 Lí do chọn đề tài

Nước ta đang trên con đường đổi mới toàn diện xây dựng một đất nước côngnghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nướcnông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp,nông nghiệp hiện đại ứngdụng khoa học tiên tiến có chính xác có hiệu qủa cao và hội nhập với cộng đồngquốc tế Để đạt được mục tiêu trên thì yếu tố đào tạo nguồn tri thức khoa học kỹthuật cho thế hệ trẻ là nhân tố quyết định hàng đầu của việc đổi mới đất nước Điều này đặt ra những yêu cầu mới của hệ thống giáo dục nước ta hiện nay là -

“Xây dựng mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình , phương pháp giảng dạy cũng như đánh giá chất lượng của ngành giáo dục và đào tạo Cụ thể, Bộ GDĐT đã thay kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học cao đẳng bằng kỳ thi bằng kỳ thi THPT quốc gia”

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó thì việc đổi mới nội dung và phươngpháp giảng dạy cũng như phương pháp đánh giá là một việc làm mang tính cấpthiết, để đạt được hai mục tiêu cơ bản:

- Một là phải phát huy được tính tích cực trong học tập, hình thành, phát triểnnăng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong đời sốngcủa học sinh

-Hai là xuất phát từ những đổi mới trong việc đánh giá chất lượng và thi cửcủa Bộ GDĐT thì phải thực hiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả họcsinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa năng lực, phát huy tốt sở trường,

sở thích của mỗi cá nhân học sinh để các em hướng tới con đường lập thân lậpnghiệp tuỳ thuộc vào khả năng, lực học của mình để lựa chọn các kỳ thi

Muốn đạt được các mục tiêu đó, trong quá trình dạy học phải lựa chọn phươngpháp phù hợp với nội dung dạy học cho từng đối tượng học sinh vùng, miền vàđối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu kém nhằm tích cực hoá nhậnthức hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực hoạt động sáng tạo cho mỗi đối tượng học sinh Các mục đích đó sẽ đạt được nếu áp dụng một cách

Trang 2

chính xác khoa học phương pháp dạy học phân hoá nêu vấn đề Đây là một hình thức dạy học kết hợp hai phương pháp dạy học là dạy học phân hoá và dạy họcnêu vấn đề Trong đó, dạy học nêu vấn đề đáp ứng được mục tiêu thứ nhất, còndạy học phân hoá nhằm đáp ứng được mục tiêu thứ hai Trong cùng một lớp họckhả năng nhận thức của từng học sinh là khác nhau.Vì vậy việc truyền thụ kiếnthức ở các mức độ cho từng đối tượng cho học sinh của giáo viên là vấn đề rất

quan trọng Đây là lí do mà tôi lựa chọn đề tài: “ xây dựng - sử dụng bài tập theo hướng phân hoá – nêu vấn đề nhằm tạo hứng thú và nâng cao chất ôn tập phần ancol cho học sinh lớp 11 THPT”

I.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu “ xây dựng bài tập theo hướng phân hoá – nêu vấn bài ancol chương trình hoá học 11 Qua đó làm tăng sự hướng thú tự tin và nâng cao

chất lượng dạy và học hoá học ở trường THPT

I.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và quy trình giảng dạy phân hoá nêu vấn đề trongdạy học ở trường THPT

2 Nghiên cứu nội dung cấu trúc chương trình hoá học 11 và hóa học THPT

3 Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đề phần Hoá họchữu cơ lớp 11 THPT nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy và học

4 Thực nhiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đềtài

I.4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

I.4.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT

I.4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân hoá nêu vấn đề trong giảng dạy vàhọc tập phần ancol Hoá học lớp 11 THPT

I.5 Phạm vi nghiên cứu: Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phân hoá nêu

Trang 3

vấn đề phần hoá học hữu cơ Hoá học lớp 11 THPT

I.6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận về nhận thức và tính tích cực nhận thức

- Nghiên cứu nội dung các chương hoá học hữu cơ lớp 11 ban cơ bản

- Điều tra thực tiễn: điều tra cơ bản về năng lực tư duy của học sinh

- Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên hoá học trong và ngoài trường

-Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đề phần hoá học hữu lớp 11 THPT cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy

- Thực nghiệm sư phạm và xử lí kết quả

I.7 Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng hệ thống bài tập phân hoá nêu vấn đề

đảm bảo tính khoa học, lôgic

về nội dung và cấu trúc, phù hợp với từng đối tượng học sinh sẽ góp phần nângcao hiệu quả dạy và học Hoá học nói chung, phần hoá học hữu cơ lớp 11 THPTnói riêng

II NỘI DUNG II.1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ DẠY HỌC PHÂN HOÁ -NÊU VẤN ĐỀ II.1.1 Dạy học phân hoá

II.1.1.1 Khái niệm:

Dạy học phân hoá xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa sự thống nhất và

sự phân hoá, tức là thể hiện sự kết hợp giữa hoạt động “đại trà” với giáo dục

“mũi nhọn” giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học ở trường phổ thông

và nó được tiến hành theo tư tưởng chủ đạo sau:

- Lấy trình độ phát triển chung của học sinh làm nền tảng Nội dung và phươngpháp trước hết phải phù hợp với trình độ và điều kiện chung của từng đối tượnghọc sinh

- Sử dụng những biện pháp phân hoá giúp học sinh yếu kém vươn lên trình độchung, tránh đươc sự mặc cảm tự ti ,chán nản của các em, đồng thời khích lệđược các học sinh khá giỏi có khả năng tìm tòi phát hiện một số vấn đề cụ thể

Các cách dạy học này dựa vào “vùng phát triển gần nhất” của học sinh tức là

Trang 4

chỉ cần gợi ý nhỏ là học sinh có thể giải được bài toán tương đối khó khăn hơn

so với sức của học sinh

c) Đưa ra nội dung bổ sung và biện pháp phân hoá nhằm giúp học sinh khá giỏiđạt đựợc những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bảnđặt ra từ mục tiêu của bài học

Như vậy, dạy học phân hoá vừa đảm bảo tính vừa sức và khuyến khích họcsinh phát huy tối đa trí lực vốn có của mỗi cá nhân khi vượt qua chướng ngạinhận thức Nếu vấn đề đưa ra quá khó thì học sinh sẽ thấy không hứng thú, lúcbấy giờ học tập như là một chướng ngại khó khắc phục, học sinh sẽ không đượcđặt vào tình huống có vấn đề nên không thấy sự hấp dẫn lôi cuốn khi tìm kiếm,phát hiện nhanh kiến thức Ngược lại vấn đề đưa ra quá dễ sẽ gây cho học sinh

sự nhàm chán, không kích thích tư duy tích cực của học sinh Đây là một nguyêntắc quan trọng mà giáo viên cần phải hết sức lưu ý trong quá trình dạy học theo xuhướng đổi mới nhằm khơi gợi, kích thích, đòi hỏi người nghiên cứu suy nghĩ,tìm tòi và phát huy đến mức cao nhất

II.1.1.2 Các phương pháp phân hoá

Quan điểm xuất phát

Trong một lớp học, một khối học cũng vậy có nhiều học sinh với những đặcđiểm giống nhau ví dụ: như lứa tuổi, trình độ phát triển tâm sinh lý tương đốiđồng đều… sự thống nhất này là cơ bản, nhờ đó ta mới có thể dạy học cùng mộtchương trình Tuy nhiên vẫn có nhiều em trình độ nhận thức cao hơn nhiều sovới các bạn cùng lứa do đó việc áp dụng phương pháp dạy học phân hoá có tácdụng rất lớn Trong thực tiễn có thể có hai phương pháp phân hoá chính ápdụng cho việc giảng dạy ở trường phổ thông là:

- Phân hoá trong cùng một lớp học

- Phân hoá trong cùng một khối học (lớp chọn) hoặc theo trường (trường điểm,trường chuyên)

*Phân hoá trong cùng một lớp:

Trong một lớp gồm nhiều cá thể khác nhau, khác nhau về trình độ nhận thức,

Trang 5

khác nhau về đặc điểm tâm sinh lý, mỗi học sinh là một chủ thể nhận thức khi

có cùng tác động sư phạm vào các học sinh khác nhau sẽ có các phản ứng khácnhau Sự phản ứng khác nhau đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực ảnhhưởng đến quá trình dạy học Do đó người giáo viên cần có sự “phân biệt hoá,

cá thể hoá” làm trong quá trình dạy học phát huy được tính tích cực, hạn chế tối

đa mặt tiêu cực của sự khác nhau đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh pháthuy ở mức độ cao nhất Muốn vậy người giáo viên cần nắm mục tiêu, hiểu tâm

lý của mỗi học sinh, của từng lứa tuổi học sinh và xác định tương lai công việclập nghiệp của học sinh

Tóm lại từ yêu cầu xã hội đối với người lao động là giống hoặc khác nhau,

từ sự giống và khác nhau về trình độ và việc phát triển nhân cách từng học sinhđòi hỏi quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hoá nội tại.dạy học phân hoá cần phải xây dựng kế hoạch lâu dài, cụ thể

*Phân hoá bài nội dung bài giảng : Khi phân hóa các bài giảng trên lớp cần

lưu ý một số đặc điểm sau:

- Phân hoá nội dung, phương pháp phù hợp với trình độ của mỗi đối tượng học sinh

- Phân hoá yêu cầu về khả năng tư duy độc lập, bài giảng dành cho đối tượnghọc sinh yếu kém chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh dễ tiếp nhận kiến thức

*Phân hoá bài tập về nhà: Khi phân hoá bài tập về nhà cần lưu ý :

- Phân hoá số lượng bài tập cùng loại phù hợp với đối tượng để đạt cùng mộtyêu cầu

- Phân hoá nội dung phù hợp với trình độ của mỗi học sinh

- Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập, bài tập cho đối tượng học sinh yếu kémchứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh suy nghĩ làm bài tập ở mức cao hơn

- Ra riêng bài tập tạo tiền đề xuất phát cho học sinh yếu kém để chuẩn bị nhữngbài sau và ra riêng bài tập nâng cao cho học sinh khá giỏi

II.1.2 Dạy học nêu vấn đề

II.1.2.1 Khái niệm

- Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học mà thầy tạo ra những tình huống có vấn

Trang 6

đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, để hoạt động tự giác và tích cực và đểgiải quyết vấn đề mà thông qua giải quyết những vấn đề đó học sinh có khảnăng lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục đích học tậpkhác.

- Dạy học nêu vấn đề là một hệ phương pháp dạy học phức tạp, đa năng tức là

nó có thể được áp dụng vào nhiều phương pháp dạy học khác nhau, trong đóphương pháp xây dựng bài toán ơrixtic (tình huống có vấn đề) giữ vai trò chủđạo, gắn bó phương pháp khác tập hợp thành một hệ thống toàn vẹn

II.1.2.2 Mối quan hệ giữa dạy học nêu vấn đề và dạy học phân hoá

a Sự phân hoá trong dạy học nêu vấn đề.

Nói chung tính phân hoá nên có cho mọi hình thức dạy hoc Vì trong mỗi lớphọc, ngoài những đặc điểm chúng ta mỗi cá thể học sinh là một đối tượng riêngbiệt với mức độ tư duy khác nhau, với sự định hướng khác nhau Cho nên xuhướng dạy học mới phải khêu gợi, kích thích, đòi hỏi con người suy nghĩ, tìm tòi

và phát huy đến mức cao nhất Đối với dạy học nêu vấn đề, tính phân hoá của nólại càng cần thiết để phát huy ưu thế của nó Vì nếu vấn đề đưa ra không vừa sứchoặc khó khăn thì học sinh sẽ không được đặt vào tình huống có vấn đề để lôicuốn họ và việc tìm kiếm, phát hiện kiến thức nhanh Từ đó, học sinh sẽ thấyhọc tập như là một hướng ngại khó khắc phục Ngược lại vấn đề đưa ra quá dễ

sẽ gây cho học sinh nhàm chán, không kích thích tư duy tích cực của học sinh

Sự phân hoá trong dạy học nêu vấn đề được thể hiện ở hai hình thức:

- Phân hóa về mặt tổ chức của dạy học nêu vấn đề, đó là các mức độ của dạyhọc nêu vấn đề gồm: Thuyết trình nêu vấn đề, Đàm thoại nêu vấn đề, Nghiêncứu nêu vấn đề

- Phân hoá về nội dung và mức độ phức tạp của vấn đề nghiên cứu Mỗi vấn đềnghiên cứu có thể được phân hoá thành các câu hỏi và bài tập có mức độ khótăng dần để phù hợp với từng đối tượng và cá thể học sinh, đó là các mức độ:+ Tái hiện kiến thức

+ Phân tích - so sánh

Trang 7

+ Vận dụng sáng tạo kiến thức trong tình huống mới

b.Yếu tố nêu vấn đề trong dạy học phân hoá

Ưu điểm chính của dạy học nêu vấn đề là phát huy tính tích cực, tự lực tìm kiếmtri thức của học sinh thông qua quá trình hình thành kỹ năng phát hiện và giảiquyết vấn đề học tập Còn ưu điểm của dạy học phân hoá là vừa sức và sát đốitượng trong giáo dục Vai trò của dạy phân hoá và việc sử dụng các bài tập phânhoá sẽ được phát huy tính tích cực hơn nhiều nếu biết áp dụng các yếu tố củadạy học nên vấn đề Bởi vì, nếu như đặc tính nêu vấn đề của dạy học thúc đẩyhoạt động hoá tư duy của học sinh thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điềukiện thuận lợi để áp dụng dạy học nêu vấn đề vào việc nghiên cứu tài liệu và cả

những bài ôn tập tổng kết “nếu như tính vấn đề của việc dạy học làm hoạt động hoá nhận thức của học sinh, kích thích các trạng thái tâm lý như ham muốn hiểu biết và ham học hỏi thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều kiện để sử dụng các cảm xúc tích cực này vào thực tiễn của quá trình dạy học” Và nếu

như trong dạy học truyền thống việc tổ chức giờ học chỉ giúp học sinh tái hiệnkiến thức, học thuộc nội dung chương trình SGK hoặc rèn luyện kỹ năng giảibài tập theo các mẫu bài quen thì việc tổ chức dạy học nêu vấn đề có sử dụngcác bài tập phân hoá trong giờ học sẽ dẫn học sinh vào tình huống mà học cầnkhái quát hoá kiến thức ở mức độ mới Kết luận mang tính suy luận trong phạm

vi toàn bộ chương trình và ở những bài mang tính chất nghiên cứu

II.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN HÓA -NÊU VẤN ĐỀ Ở CÁC TRƯỜNG THPT HIỆN NAY

Phần lớn giáo viên chỉ xây dựng và thiết kế bài giảng một cách chung chungcho mức học sinh trung bình chứ chưa thực sự xây dựng và sử dụng một cáchphân loại bài giảng bài tập cho nhiều đối tượng học sinh,dẫn đến còn nhiều sựbất cập trong quá trình nhận thức của học sinh Để giải quyết vấn đề trên tôi thấy

rằng việc: : “ xây dựng - sử dụng bài tập theo hướng phân hoá – nêu vấn đề nhằm tạo hứng thú và nâng cao chất lượng ôn tập phần Ancol cho học sinh

Trang 8

lớp 11 THPT” là rất cần thiết

II.3 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BÀI GIẢNG VÀ BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÂN HOÁ NÊU VẤN ĐỀ

II.3.1 Nguyên tắc xây dựng

II.3.1.1 Nguyên tắc chung

Trên cơ sở thực hiện việc phân hoá khả năng nhận thức và tư duy của họcsinh chúng ta có thể chuẩn bị hệ thống các bài giảng và bài tập với mức độ khácnhau Đối với một bài giảng, tùy vào đối tượng dạy học chúng ta có thể thiết kếthành các mức độ khác nhau phù hợp với khả năng tư duy nhận thức của từngđối tượng học sinh

* Đối với mức độ thấp: tức là khả năng nhận thức và tự lập thấp Với đối tượng

này thì giáo viên nên sử dụng phương pháp :

- Phương pháp thuyết trình – giải thích để nhằm diễn giải nội dung dạy họcmột cách dễ hiểu nhất Hoặc sử dụng phương pháp thuyết trình thông báo

- Khi dạy các tiết luyện tập thì giáo viên nên đưa ra các bài tập cơ bản tươngđối dễ và hướng dẫn học sinh một cách cụ thể

- Sử dụng phương pháp trực quan (dùng thí nghiệm đơn giản dễ nhận thấynhư chứng minh các tính chất vật lý của các chất )

* Mức độ trung bình: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập trung bình.

Đối với đối tượng học sinh này thì giáo viên có thể sử dụng các phương pháp sau:

- Sử dụng các phương pháp thuyết trình tái hiện - thông báo và thuyết trìnhgiải thích để dạy các nội dung khó và phức tạp

- Sử dụng phương pháp trực quan (thí nghiệm ở mức độ đơn giản) với hìnhthức minh hoạ hoặc diễn dịch chỉ đòi hỏi trò hoạt động nhận thức thụ động, lờinói của thầy là nguồn thông tin chủ yếu

- Sử dụng phương pháp đàm thoại tái hiện vì phương pháp này chỉ đòi hỏi trò

nhớ lại và trả lời các câu hỏi do thầy đặt ra

- Sử dụng phương pháp đàm thoại giải thích - minh họa có kèm theo thí

nghiệm Nội dung giải thích sẽ cấu tạo thành hệ thống câu hỏi - lời giải đáp

Trang 9

Như vậy sẽ giúp người học dễ nhớ hay rất phù hợp với đối tượng dạy học này Tóm lại với 2 đối tượng dạy trên thì vấn đề cơ bản là giáo viên phải tìm rađúng nguyên nhân học kém để có biện pháp xử lý thích hợp nhất, luôn khuyếnkhích, động viên, kiên trì giúp đỡ, đặc biệt là phải chú ý bồi dưỡng phương pháphọc tập, phương pháp tư duy, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của họcsinh chứ không làm thay

* Mức độ khá - giỏi: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập cao Do đặc

điểm về trình độ nhận thức khá cao nên đối với đối tượng dạy học này giáo viênnên sử dụng các phương pháp sao cho có thể phát huy được tính tích cực nhậnthức của học sinh tức là phải hướng học sinh tích cực tự lực giành lấy kiến thứcbằng cách tìm hiểu, khám phá và giành sáng tạo Cụ thể, giáo viên nên sử dụngcác phương pháp sau:

- Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự lực làm việc độc lập với sáchgiáo khoa, tự giác giải các bài tập trong đề cương mà giáo viên đưa ra cả bài tập

tự luận và bài tập trắc nghiệm

- Đàm thoại nêu vấn đề, đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề và hướngdẫn họ cách tự lực tìm ra phương hướng giải quyết

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu để giúp học sinh phát hiện một tính chấtmới, một khái niệm mới hoặc nghiên cứu một nội dung hay một vấn đề dướidạng bài tập nghiên cứu Muốn vậy giáo viên cần phải gây được động cơ hứngthú học tập của học sinh cũng như nhu cầu nhận thức của họ

- Bên cạnh đó có thể sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề

Như vậy khi dụng các phương pháp trên áp dụng cho học sinh khá - giỏi thìkiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn vớinhau Các vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra mội cáchđột ngột, bất ngờ

Tương tự, đối với nội dung của mỗi bài tập chúng ta thiết kế thành 3 vấn đề theo ba mức độ với mục đích hướng đến việc phát triển khả năng tìm tòi tự học

và cụ thể hoá mức độ kiến thức của học sinh

Trang 10

* Vấn đề thứ nhất: (mức độ 1) cần hướng học sinh nêu ra đựơc các tính chất riêng biệt của các tính chất ,các hiện tượng, cách lý giải những nguyên nhân đơngiản nhất, trình bày lại những kiến thức cơ bản dựa vào trí nhớ.

* Vấn đề thứ hai: (mức độ 2) học sinh biết vận dụng kiến thức vào điều kiệnmới, sử dụng kiến thức vào điều kiện thức tế Để hoàn thành vấn đề này cần có

sự phân tích so sánh để nêu ra được các điều kiện cơ bản đối với một số lớn cácchất, các hiện tượng

* Vấn đề thứ ba: (mức độ 3) là mức độ cao nhất trong ba mức độ, mức độ nàyyêu cầu không chỉ phân tích, so sánh mà còn khái quát hoá các số liệu thu được

sử dụng chúng trong điều kiện mới phức tạp hơn

II.3.1.2 Các kiểu phân hóa cụ thể đối với bài giảng và bài tập phân hoá

a Đối với các bài giảng, trên cơ sở mối quan hệ giữa mục đích nội dung phương pháp dạy học và các yếu tố chi phối phương pháp dạy học để thực hiệnphân hóa trong bài giảng hóa học phù hợp với đối tượng học sinh theo quy trìnhsau:

-* Nghiên cứu nội dung tài liệu sách giáo khoa

Trong suốt quá trình giảng dạy của một người giáo viên, để có được một bàidạy hay, lôi cuốn học sinh thì người giáo viên cần phải có một sự chuẩn bị chuđáo từ nhiều phía, trước tiên cần phải nắm rõ được mục tiêu và nội dung của bàidạy Muốn vậy người giáo viên không chỉ nghiên cứu kỹ nội dung tài liệu sáchgiáo khoa mà còn phải tìm hiểu và nghiên cứu qua các tài liệu tham khảo khác

có liên quan đến bài học đó Trên cơ sở đó giáo viên sẽ xác định được mục đíchcần dạy, cũng như nội dung cốt lõi, nền tảng bài đó là gì., từ đó lựa chọn phươngpháp dạy học thích hợp nhất Quan trọng nhất đối với sự thành công của một bàilên lớp là sự kết hợp các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng đốitượng học sinh

Xác định chính xác những mục đích của bài học:

Trang 11

Tìm hiểu những yêu cầu của chương trình: Những tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung bài học Đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập cũng nhưtrình độ năng lực nhận thức của từng đối tượng HS.

- Từ đó xác định hệ thống những mục đích của bài

+ Yêu cầu về nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần có

+ Yêu cầu về giáo dục tình cảm, thái độ, cách nhìn nhận đánh giá sự vật

+ Yêu cầu phát triển năng lực nhận thức như so sánh khái quát cũng như cáckhả năng sáng tạo, đổi mới

Xây dựng nội dung bài học: Từ mục đích giảng dạy giáo viên sẽ xây dựng nội

- Xây dựng mô hình cấu trúc nội dung bằng một sơ đồ Grap và xác định rõ thờigian hợp lý tương ứng với nội dung, phân hoá nội dung dạy học sao cho phù hợpvới các đối tượng học sinh

* Xác định và phân loại đối tượng dạy học

b/ Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có lập luận Tức là lí thuyết vàthực nghiệm gắn bó với nhau làm sáng tỏ và sâu sắc bản chất, hiện tượng của

Trang 12

các quá trình hóa học Vì vậy phân hoá các bài tập hoá học có thể theo nguyêntắc khác nhau, theo đặc thù nguyên tắc khoa học.

Bài tập lý thuyết: Là những bài tập chỉ dựa vào kiến thức lý thuyết loại bài tập

này phân hoá thành 3 mức độ

- Tái hiện kiến thức lý thuyết

- Tái hiện và giải thích

- Vận dụng sáng tạo và suy luận linh hoạt kiến thức ở điều kiện mới

Ví dụ 1: * Nội dung bài tập: Viết công thức cấu tạo các ancol có cùng công

thức phân tử C4H10O

* Thiết kế theo kiểu phân hoá - nêu vấn đề

+ Mức độ 1: Từ việc xem xét viết công thức cấu tạo tất cả các ancol có cùng

công thức phân tử C4H10O Gọi tên các ancol đó

+ Mức độ 2: Viết công thức tất cả CTCT và gọi tên các hợp chất có công thức

phân tử C4H10O

+ Mức độ 3:

a Viết công thức cấu tạo tất cả các ancol no, mạch hở có 4 nguyên tử các bontrong phân tử

b CTPT của A là C3H5Br3, viết tất cả đồng phân cấu tạo có thể có của hợp chất

A, cho các đồng phân đó lần lượt tác dụng với dung dịch NaOH thì đồng phânnào thu được ancol 3 chức bền

* Nhận xét: Về mức độ phân hoá và tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu

- Ở mức độ 1: Học sinh chỉ cần nhớ ancol đơn chức có một nhóm –OH và viết

đồng phân một cách đơn giản Như vậy kiến thức ở đây chỉ ở mức tái hiện lại vấn đề theo sự dẫn dắt của đề ra

- Ở mức độ 2: Yêu cầu khó hơn, học sinh suy luận từ công thức phân tử là

C4H10O thì ngoài đồng phân của ancol thì có thể có nhiều loại đồng phân củahợp chất có nhóm chức khác có chứa một nguyên tử oxi: ete, anđêhit.xeton

- Ở mức độ 3: Học sinh hoàn toàn nắm vững nguyên tắc viết đồng phân Sau đó

tự suy luận để tìm ra phương pháp viết đồng phân của các hợp chất và tính chất

Ngày đăng: 17/10/2017, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w