1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Bản chất chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản và giá trị của học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức hiện nay

16 84 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 143,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa tư bản vốn giàu có và đầy sức mạnh. Điều đó có được do đâu mà ra? Nếu trước đây chưa có sự xuất hiện những học thuyết của Các Mác thì lí giải là một điều rất khó khăn mà đôi khi là nhiều nhà triết gia muốn giấu nhẹm đi cái bản chất của chủ nghĩa tư bản.Nhưng đến Các Mác thì ông đã lý giải hòn đá tảng trong con đường làm sáng tỏ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản với học thuyết giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thặng dư có những điều rất hay mà càng phân tích ta càng thấy rõ sự vượt bậc của tư tưởng Mác. Thêm vào đó,đã rất nhiều thế kỉ trôi qua từ khi học thuyết giá trị thặng dư của Mác ra đời nhưng nó vẫn đúng với mọi nền kinh tế và đến nay giá trị vẫn còn nguyên vẹn. Điều này khiến em rất tò mò và muốn đi sâu vào phân tích ,vì thế mà em đã lựa chọn đề tài :Bản chất chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản và giá trị của học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Đề tài: Bản chất chiếm đoạt giá trị thặng dư của

chủ nghĩa tư bản và giá trị của học thuyết giá trị thặng dư

trong nền kinh tế tri thức hiện nay

Họ và tên: Lê Đức Thuận Khóa K59

Chuyên ngành: Kế toán kiểm toán Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Văn Vinh

Quảng Ninh – THÁNG 6 NĂM 2021

MỤC LỤ

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương I: Bản chất chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản 2

1.1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư 2

1.2 Phương pháp thu giá trị thặng dư của tư bản 3

1.2.1 Giá trị thặng dư tuyệt đối 3

1.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 4

1.2.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch 6

1.3 Bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản 6

Chương II: Vận dụng giá trị thặng dư vào nền kinh tế tri thức hiện nay 8

2.1 Tổng quan về nền kinh tế tri thức 8

2.1.1 Nền kinh tế tri thức ở Việt Nam 9

2.2 Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư vào nền kinh tế tri thức 10

Kết luận 13

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Chủ nghĩa tư bản vốn giàu có và đầy sức mạnh Điều đó có được do đâu

mà ra? Nếu trước đây chưa có sự xuất hiện những học thuyết của Các Mác thì

lí giải là một điều rất khó khăn mà đôi khi là nhiều nhà triết gia muốn giấu nhẹm đi cái bản chất của chủ nghĩa tư bản.Nhưng đến Các Mác thì ông đã lý giải "hòn đá tảng" trong con đường làm sáng tỏ bản chất bóc lột của chủ nghĩa

tư bản với học thuyết giá trị thặng dư Học thuyết giá trị thặng dư có những điều rất hay mà càng phân tích ta càng thấy rõ sự vượt bậc của tư tưởng Mác Thêm vào đó,đã rất nhiều thế kỉ trôi qua từ khi học thuyết giá trị thặng dư của Mác ra đời nhưng nó vẫn đúng với mọi nền kinh tế và đến nay giá trị vẫn còn nguyên vẹn Điều này khiến em rất tò mò và muốn đi sâu vào phân tích ,vì thế

mà em đã lựa chọn đề tài :"Bản chất chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ

nghĩa tư bản và giá trị của học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức"

Trang 4

Chương I: Bản chất chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản 1.1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư

Học thuyết giá trị thặng dư được coi là một trong những đóng góp lớn lao của Các Mác với lịch sử loài người Học thuyết giá trị thặng dư được hình thành trên cơ sở phát hiện ra hai tính chất cơ bản của lao động sản xuất hàng hóa là: lao động cụ thể và lao động trừu tượng

Vậy giá trị thặng dư do đâu mà có?

Nguồn gốc giá trị thặng dư sẽ được lý giải bắt đầu từ mâu thuẫn của công thức chung của tư bản: T-H-T’ trong đó T’= T+ T Như vậy trong công thức chung của tư bản đã xuất hiện lượng tiền dôi ra là T T này được tạo ra bởi

tư bản khi phát hiện ra hàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động.Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì xuất hiện thêm khái niệm là tiền công: là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động,là giá cả của hàng hóa sức lao động Tiền công mang hình thái biểu hiện của tư bản và cùng với nó là mới quan hệ sản xuất tư bản giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê.Nhà tư bản đưa vào một lượng đầu vào trong quá trình sản xuất sức lao động của công nhân làm thuê đã tạo ra một lượng lớn hơn lượng ban đầu và nhà tư bản chiếm dụng phần dôi ra đó.Như vậy thì nguồn gốc của giá trị thặng dư chính là việc tư bản đã phát hiện

ra loại hàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động

Ví dụ về giá trị thặng dư như sau:

Giả định sản xuất 10kg sợi cần 10kg bông , giá 10kg bông là 10 đô Công nhân lao động 6h và hao mòn máy móc là 2h để tạo sợi thành bông.Giá trị sức lao động trong 1 ngày của công nhân là 3 đô: trong 1 giờ người công nhân sẽ tạo ra 0.5 đô

Nếu như quá trình lao động kéo dài đến điểm mà ở đó bù đắp được giá trị lao động là 6h thì giá trị thặng dư chưa được tạo ra.Trong thực tế thì tất nhiên sẽ không dừng lại ở đó, khi mua sức lao động các nhà tư bản đã tính toánlàm sao

để tạo ra lượng dôi ra để thu về cho mình.Việc sử dụng sức lao động trong ngày thuộc về tư bản và tư bản sẽ sử dụng sức lao động để đạt được mục đích của mình Chẳng hạn tư bản bắt công nhân lao động 1 ngày:

Trang 5

Chi phí sản xuất Giá trị của sản phẩm mới

- Tiền mua bông là 20 đô la

- Hao phí máy móc là 4 đô la

-Tiền mua sức lao động trong 1

ngày là 3 đô la

 Tổng 27 đô

- Giá trị bông chuyển vào sợi là 20 đô la

- Giá trị máy móc chuyển vào sợi là 4 đô

-Giá trị công nhân tạo ra trong 12 h lao động là 6 đô la

 Tổng 30 đô la Như vậy so với 27 đô la thì giá trị tạo ra là 30 đô la,dư ra 3 đô la.Đây chính là phần giá trị thặng dư mà tư bản có được

Từ đó khái niệm giá trị thặng dư được hiểu là giá trị mới dôi ra ngoài giá

trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị tư bản chiếm không

1.2 Phương pháp thu giá trị thặng dư của tư bản

1.2.1 Giá trị thặng dư tuyệt đối

Khái niệm: giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra do kéo dài ngày lao động trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Phương pháp này được sử dụng trong thời kì đầu của tư bản khi mà kĩ thuật thấp, tư tưởng chưa tiến bộ như sau này.Các nhà tư bản chỉ có phương pháp kéo dài thời gian lao động một ngày của các công nhân

Giả sử một ngày lao động 8h trong đó 4h là thời gian lao động tất yếu, 4h

là thời gian lao động thặng dư

4h thời gian lao động cần thiết 4h thời gian lao động thặng dư

Tỉ suất thặng dư trong trường hợp này: m’= 44 x 100%= 100%

Khi các nhà tư bản áp dụng phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối thì họ đã tăng giờ lao động của công nhân ví dụ như sau: kéo dài thời gian lao động thêm 2h

mà vẫn giữ nguyên 4h thời gian lao động cần thiết

4h thời gian lao động cần thiết 6h thời gian lao động thặng dư

Tỉ suất thặng dư khi tư bản tăng thời gian lao động của công nhân:

Trang 6

m’=46 x100%=150%

Rõ ràng khi kéo dài thời gian lao động trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi thì đã tạo ra tỉ suất thặng dư mới lớn hơn tỉ suất thặng dư cũ Tuy nhiên, phương pháp tăng giá trị thặng dư tuyệt đối này của tư bản bị vấp phải một hạn chế đó là: thời gian trong ngày có hạn và thể chất,tinh thân của người lao động cũng có giới hạn.Nếu cứ kéo dài giờ lao động thị người lao động

sẽ bị kiệt quệ sức lực khi không có thời gian nghỉ ngơi dành cho chính mình, là thời gian dành cho gia đình hoặc nhu cầu khác.Vì vậy mặc dù các nhà tư bản muốn tạo giá trị thặng dư theo phương pháp kéo dài thời gian này nhưng bị phản đối bởi công nhân

Trong phạm vi giới hạn thời gian, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không cố định tuy nhiên nó phải đảm bảo: thời gian lao động cần thiết < thời gian lao động < 24h.Và cuối cùng thời gian lao động được các công nhân đòi lại là chỉ 8h/ngày

1.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối:

Phương pháp này ra đời vào thời kì sau khi chủ nghĩa tư bản phát triển hơn.Việc hạn chế về thời gian của phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và sự phát triển hơn của kĩ thuật,công nghiệp cơ khí làm cho năng suất lao động tăng lên.Các nhà tư bản đã nghĩ tới việc bóc lột năng suất lao động để tạo giá trị thặng dư thay vì tăng thời gian như phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối Phương pháp giá trị thặng dư tương đối:thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài ngày lao động không thay đổi

Giả sử một ngày lao động là 8h trong đó thời gian lao động cần thiết là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h:

4h thời gian lao động cần thiết 4h thời gian lao động thặng dư

Tỉ suất giá trị thặng dư: m’=44 x100=100%

Trang 7

Trong trường hợp ngày lao động không đổi nhưng chỉ cần 3h lao động cần thiết công nhân đã tạo ra được lượng giá trị mới bằng giá trị lao động của mình.Do đó thời gian lao động sẽ được phân bổ: 3h thời gian lao động cầm thiết, 5h thời gian lao động thặng dư

3h lao động cần thiết 5h thời gian lao động thặng dư

Tỉ suất giá trị thặng dư: m’=35 x100%= 166%

Rõ ràng tỉ suất thặng dư đã tăng lên

Nhưng làm thế nào để giảm thời gian lao động cần thiết? Tăng năng suất lao động sẽ trả lời cho câu hỏi này.Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân và tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó, tức là tăng năng suất lao động xã hội

Hai phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được các nhà tư bản sử dụng kết hợp để nâng cao khả năng bóc lột công nhân làm thuê.Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động Ngày nay, việc tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp

1.2.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch:

Là phần giá trị thặng dư thu thêm xuất hiện khi giá trị cá biệt của hàng hóa nhỏ hơn giá trị xã hội của hàng hoá Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tứơng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối dều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động

Trang 8

(mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao động xã hội)

Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giám giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch

Phương pháp giá trị thặng dư tương đối Phương pháp giá trị thặng dư siêu ngạch

- Do tăng NSLĐ XH;

- Toàn bộ các nhà TB thu;

- Biểu hiện quan hệ giữa công nhân và tư

bản

- Do tăng NSLĐ cá biệt;

- Từng nhà TB thu;

- Biểu hiện quan hệ giữa công nhân với tư bản, tư bản với tư bản

Dù là phương pháp nào thì mục tiêu nhất quán của nhà tư bản là tạo ra giá

trị thặng dư bằng việc bóc lột công nhân làm thuê

1.3 Bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản

Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vì: Quy luật này không những vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất giá trị và giá trị thặng dư mà còn vạch rõ phương thức

mà các nhà tư bản sử dụng để kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động và tăng năng suất lao động để tăng cường bóc lột công nhân làm thuê

Quy luật giá trị thặng dư ra đời cùng với sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, tồn tại và phát huy tác dụng cùng với sự tồn tại và vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Quy luật này quyết định toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời đây cũng là nguyên nhân làm cho mâu thuẫn cơ bản và nói chung toàn bộ mâu thuẫn của xã hội tư bản ngày càng sâu sắc, tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản

Trang 9

Như vậy, thoạt nhìn, việc mua bán sức lao động cũng giống như mua bán các hàng hóa thông thường khác, nhưng ẩn sau quan hệ “thuận mua vừa bán” đó

là sự bóc lột tinh vi của nhà tư bản đối với người công nhân Do đó, “sản xuất giá trị thặng dư” chỉ là sự bóc lột lao động không công của công nhân một cách tinh vi của nhà tư bản

Trang 10

Chương II: Vận dụng giá trị thặng dư vào nền kinh tế tri thức hiện nay.

1 Tổng quan về nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức là một khái niệm ra đời lần đầu tiên vào năm 1960 khi công nghệ thông tin toàn cầu phát triển mạnh mẽ Nó nhấn mạnh vào một dạng kinh tế mà trong đó lấy tri thức làm cốt lõi Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa: "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh

ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế".

Định nghĩa này cho thấy rằng, nền kinh tế tri thức là cấu trúc của nền kinh tế mới,quan hệ kinh tế mới.Trong đó cơ sở căn bản để phát triển nền kinh tế này là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Cũng chính công nghệ thông tin trong định nghĩa của kinh tế tri thức là cơ sở để có những kiểu kinh tế như: kinh

tế số, kinh tế mạng,

Kinh tế số có những đặc điểm sau:

 Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp;

cơ cấu nền kinh tế tri thức có sự biến đổi sâu sắc theo hướng các ngành kinh tế dựa vào tri thức ngày càng tăng và chiếm ưu thế; công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực; nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hoá; mọi hoạt động trong nền kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hoá kinh tế

 Đáp ứng các tiêu chí: cơ cấu GDP hơn 70% có sự đóng góp của ngành sản xuất dịch vụ và công nghệ cao; cơ cấu giá trị gia tăng do hơn 70% lao động trí óc mang lại; cơ cấu lao động hơn 70% là công nhân tri thức; cơ cấu tư bản hơn 70% là yếu tố con người

Nói tóm lại kinh tế tri thức cốt lõi là công nghệ thông tin, đề cao các yếu tố phi vật chất như: tri thức, sức sáng tạo của con người.Nó là sự kết hợp của bộ óc con người và công cụ mạng thông tin toàn cầu

Trang 11

1 Nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam mang đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Cùng với xu thế của thế giới, kinh tế tri thức bắt đầu được chú ý và có bước phát triển tại Việt Nam:

 TPHCM đã hình thành những nền tảng của kinh tế tri thức, bao gồm đội ngũ trí thức đông đảo, đô thị thông minh, khu công nghệ cao, trung tâm khởi nghiệp sáng tạo, các tập đoàn lớn về công nghệ, các trung tâm

nghiên cứu phát triển, hạ tầng công nghệ thông tin trên nền tảng mạng 5G

 TPHCM thành lập và phát triển chuỗi Công viên phần mềm Quang Trung, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, Trung tâm ươm tạo chuyên về trí tuệ nhân tạo, Công viên Khoa học và công nghệ tại Khu Công nghệ cao, Viện Khoa học và Công nghệ tính toán… Riêng Khu Công nghệ cao đến nay đã thu hút 162 dự án với tổng mức đầu tư hơn 7,65 tỷ USD, giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao năm 2020 đạt hơn

20 tỷ USD, năng suất lao động bình quân gấp 20 lần bình quân của Thành phố và hơn 60 lần bình quân cả nước, thu hút nhiều tập đoàn đa quốc gia mạnh về công nghệ như Intel, Samsung, Nidec…

 TPHCM là địa phương đầu tiên ban hành Chương trình chuyển đổi số nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số, chính quyền số và xã hội số

Có thể nói đó là những bước đầu đạt được trong việc tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam

Tuy nhiên cho đến nay khi các nước trên thế giới đã và đang phát triển mạnh kinh tế tri thức thì Việt Nam mơi sở bước tiếp cận và cónhiều khó khăn: Nền kinh tế về cơ bản vẫn là kinh tế gia công, bán tài nguyên, nhập công nghệ

mà phần lớn là công nghệ cũ từ nước ngoài, chưa phát huy được năng lực KH&CN của quốc gia:

 Trong tổng giá trị xuất khẩu, tỷ lệ sản phẩm công nghệ cao chiếm chưa đến 5%; trong FDI, công nghệ mới cũng chỉ chiếm khoảng 5% Thế giới coi FDI là kênh chuyển giao tri thức, nhưng ở ta thì chuyển giao tri thức rất ít, mà chủ yếu là thuê đất đai, nhân công rẻ, sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ với nhiều ưu đãi

 Theo báo cáo về Chỉ số đổi mới toàn cầu (The Global Innovation Index - GII), do WIPO, Đại học Cornell (Mỹ) và Viện INSEAD hợp tác thực hiện

Ngày đăng: 23/07/2021, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w