Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu thế khách quan chi phối sự phát triển của các quốc gia. Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước khó khăn lớn về mọi mặt nhất là trong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất. Chính vì vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng. Chúng ta cần phải linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sự phát triển kinh tế. Đất nước ngày càng phát triển về nhiều mọi lĩnh vực như vậy sẽ dẫn đến thực trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam. Do cơ chế chính sách chưa thỏa đáng: trung ương cũng như địa phương chưa có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng thỏa đáng, nhất là các vùng núi cao, vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ, tiếu các chính sách đồng bộ như: chính sách ưu đãi, khuyến khích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa cũng như chuyển giao công nghệ, tổ chức chưa tốt việc chăm lo của cộng đồng xã hội đối với người nghèo. Các nguyên nhân trên tác động qua lại lẫn nhau làm cho tình trạng nghèo đói trong từng vùng thêm trầm trọng, gay gắt khiến cho các hộ nghèo khó có thể vượt qua được nếu có những chính sách và giải pháp riêng đối với các hộ nghèo và vùng nghèo. Tóm lại, qua thực trạng Việt Nam hiện nay ta có thể thấy hàng loạt những nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Có rất nhiều nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, nguyên nhân chủ quan, khách quan và chúng tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên vận may, cơ hội của mỗi cá nhân, do vậy tạo nên sự khác biệt chênh lệch trong thu nhận, tài sản và hàng loạt các mặt khác của cuộc sống tạo nên sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Tác động của quy luật giá trị và thực trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2002- 2012
Họ và tên: Trần Khánh Huyền
Lớp: Anh 12 – K59
MSV: 2014815018
Chuyên ngành: Kế toán kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: Ths.Hoàn Văn Vinh
QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1.1.1 Quy luật giá trị là gì? Nội dung quy luật giá trị
1.1.2 Yêu cầu của quy luật giá trị
1.1.3 Tác động của quy luật giá trị
Chương II: SỰ PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002- 2012
1.2.1 Nguyên nhân chủ quan
1.2.2 Nguyên nhân khách quan
có xu hướng giảm dần, thì ngược lại, ở khu vực nông thôn lại đang tăng dần đã làm cho chênh lệch giàu nghèo trên phạm vi cả nước có xu
hướng gia tăng
sự phát triển không đồng đều trong nội bộ từng khu vực
KẾT LUẬN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã
và đang trở thành một trong những xu thế khách quan chi phối sự phát triển của các quốc gia Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước khó khăn lớn về mọi mặt nhất là trong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất Chính vì vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng
Chúng ta cần phải linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sự phát triển kinh tế
Đất nước ngày càng phát triển về nhiều mọi lĩnh vực như vậy sẽ dẫn đến thực trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam Do cơ chế chính sách chưa thỏa đáng: trung ương cũng như địa phương chưa có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng thỏa đáng, nhất là các vùng núi cao, vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ, tiếu các chính sách đồng bộ như: chính sách ưu đãi, khuyến khích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa cũng như chuyển giao công nghệ, tổ chức chưa tốt việc chăm lo của cộng đồng xã hội đối với người nghèo Các nguyên nhân trên tác động qua lại lẫn nhau làm cho tình trạng nghèo đói trong từng vùng thêm trầm trọng, gay gắt khiến cho các hộ nghèo khó có thể vượt qua được nếu có những chính sách và giải pháp riêng đối với các hộ nghèo và vùng nghèo Tóm lại, qua thực trạng Việt Nam hiện nay ta có thể thấy hàng loạt những nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo Có rất nhiều nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, nguyên nhân chủ quan, khách quan và chúng tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên vận may, cơ hội của mỗi cá nhân, do vậy tạo nên sự khác biệt chênh lệch trong thu nhận, tài sản và hàng loạt các mặt khác của cuộc sống tạo nên
sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
1
CHƯƠNG I
Trang 4NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1.1 Quy luật giá trị
1.1.1 Quy luật giá trị là gì? Nội dung quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng hóa Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự xuất hiện và hoạt động của quy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thể kinh
tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này Tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản
- Nội dung :
+ Quy luật giá trị hoạt động trong các hình thái xá hội khác nhau và trong
hệ thống các quan hệ kinh tế của mối hình thái Quy luật đó ko thuộc về quy luật biểu hiện bản chất xã hội cơ bản của một hình thái xã hội nào, các biểu hiện cụ thể của nó phụ thuộc vào quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất nhất định
+ Quy luật giá trị vận động thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa, chỉ
có thông qua sự vận động lên xuống của giá cả thị trường mới thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị Giá cả thị trường lên xuống một cách tự phát, xoay quanh giá trị, là sản phẩm của nền kinh tế tự do cạnh tranh, vô chính phủ và biểu hiện tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất
và trao đổi hàng hóa tự nhiên
+ Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa vì giá trị là cơ sở của giá cả của nó sẽ cao và ngược lại Trên thị trường ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó Sự vận động của giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả thị trường
2 + Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng hóa Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự
Trang 5sản xuất hiện và hoạt động của quy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này Tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản
1.1.2 Yêu cầu quy luật giá trị
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên
cơ sở lượng giá trị hàng hóa hay thời gian lao động xã hội cần thiết
Trong sản xuất hàng hóa thì vấn đề quan trọng nhất là hàng hóa sản xuất
ra có bán được hay không Để có thể tiêu thụ được hàng hóa thì thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa đó phải phù hợp với mức lao hoa phí
mà xã hội có thể chấp nhận được Trong trao đổi hàng hóa cũng phải dựa vào thời gian lao động xã hội có thể chấp nhận được Trong trao đổi hàng hóa phải dựa vào thời gian lao động xã hội được với nhau khi lượng giá trị của chúng ngang nhau, tức là khi trao đổi hàng hóa phải luôn theo quy tắc ngang nhau
Quy luật giá trị là trừu tượng Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến động của giá trị hàng hóa Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả phụ thuộc vào giá trị vì giá trị là cơ sở của giá cả Trong nền kinh tế hàng hóa thì giá cả và giá thị trường chênh lệch nhau, cung ít hơn cầu thì giá cả sẽ cao hơn giá trị và ngược lại nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả sẽ thấp hơn giá trị Nhưng xét cho đến cùng thì tổng giá cả hàng hóa bao giờ cùng bằng tổng giá trị của hàng hóa Giá cả hàng hóa có thể tách rời giá trị nhưng bao giờ cũng lên xuống xoay quanh giá trị, đó là biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị
Tóm lại, yêu cầu chung của quy luật giá trị mang tính khách quan, nó đảm bảo sự công bằng, hợp lý, bình đẳng giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
3
1.1.3 Tác động của quy luật giá trị
Trang 6Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất:
Nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa sản xuất bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động
Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng
Thứ hai:
Nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn.Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm
đi, ở ngành khác có thể tăng lên Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất
và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho các hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng xuất lao động,
hạ giá thành sản phẩm.
4
Trang 7Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết
Vậy người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi
Điều đó khích thích những người sản xuất hàng hóa cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm… nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn
Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên , chi phí sản xuất không ngừng giảm xuống
3 Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết ( theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ
Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê
Đây chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực
5
Trang 8Do đó , đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có hững biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh thế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hện nay
6
Trang 9Chương II
SỰ PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2002-2012 1.1 Thành tựu của Việt Nam trên các lĩnh vực từ 2002-2012
Trong 10 năm gần đây (2002 -2012), Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên tất cả các lĩnh vực: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 6,5%, tỷ lệ nghèo đã giảm mạnh từ 22,3% năm 2002 xuống còn 11,1% năm 2012 Đời sống của các hộ gia đình đã được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng lên nhanh chóng Mặc dù thu nhập của mọi tầng lớp dân cư, các địa phương, các vùng lãnh thổ và khu vực đều tăng lên Nhưng sự gia tăng chênh lệch này lại diễn ra theo các tốc độ và chiều hướng khác nhau Điều này đã dẫn đến sự gia tăng chênh lệch giàu- nghèo trong từng địa phương, từng khu vực cũng như trên phạm vi cả nước Cụ thể nếu năm 2002 hệ số chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thuộc nhóm giàu so với 20% dân số ở nhóm nghèo của Việt Nam là 8,1 lần, đến năm 2012 thì hệ số này là 9,4 lần Với tốc dộ gia tăng khoảng cách giàu nghèo bình quân 1,6% năm như hiện nay, nếu không có các chính sách điều chỉnh hợp lý thì Việt Nam sẽ nhanh chóng bức vào ngưỡng bất bình đẳng cao Điều này không những sẽ gây ra sự bất lợi về tăng trưởng kinh tế còn ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển bền vững, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc
tế sâu rộng như hiện nay
7
Trang 101.2 Nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam 1.2.1 Nguyên nhân chủ quan
Có thể nói rằng vấn đề giàu cụ thể ở nước ta thế nào vẫn chưa được rõ vì thiếu số liệu chính thức Đó là do chúng ta cha có chủ trương kê khai tài sản và thu nhập Kết quả do công chúng tự khai báo, nhưng thực tế thì ít người khai báo đúng thu nhập của mình, người giàu khai báo ít đi để trốn thuế thu
nhập, người nghèo khai báo ít hơn để được hưởng trợ cấp từ chính sách nhà
nước Tuy nhiên qua điều tra cũng thấy được nguyên nhân cơ bản để không ít hộ giàu lên đó là:
+ Ở nông thôn, người giàu hiện nay chủ yếu do khả năng thích ứng
nhanh với sản xuất kinh doanh Họ không chỉ làm nông nghiệp mà còn làm thêm các nghề khác (làm dịch vụ, làm thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ, chế biến, xay xát ) Đối với các hộ giàu, phần thu từ sản xuất nông nghiệp thường dùng cho chi tiêu sinh hoạt hàng ngày, còn phần thu từ các ngành nghề khác thì dùng cho việc mua sắm tài sản cố định để nâng cao mức sống hoặc để tích luỹ mở
rộng sản xuất kinh doanh Một bộ phận nhỏ các gia đình giàu lên nhờ có người thân sống và làm việc ở nước ngoài Bằng nguồn tài trợ không ít gia đình có
điều kiện để nâng cao mức sống hoặc đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập Ngoài ra có một số hộ giàu vì có người thân tham gia công tác quản
lý, lãnh đạo các cấp Trong số hộ này, không loại trừ những hộ giàu lên nhờ
khôn khéo hợp thức hoá những người thu nhập bất chính dưới đủ loại bổng lộc. + Ở thành phố, phần lớn người giàu là ở lĩnh vực buôn bán và dịch vụ trong lĩnh vực sản xuất, số hộ giàu rất ít Trong số hộ giàu lên nhờ buôn bán, có không ít người đã lợi dụng các kẽ hở của pháp luật để trốn thuế hoặc lẩn tránh các khoản nộp khác Ở đây phải kể đến một bộ phận không nhỏ các viên chức Nhà nước làm
"dịch vụ tổn hợp" tại các công ty trách nhiệm hữu hạn, các trung tâm tư vấn Ngoài ra là các hành vi buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, tham nhũng cực kỳ nguy hiểm cũng tạo nên một bộ phận cán bộ, viên chức giàu lên rất nhanh.
+ Về tay nghề, tính chất công việc, vị trí quyền lực: Tay nghề cao, quyền lực càng lớn thì thu nhập càng lớn Tất nhiên tay nghề và tính chất công việc (đòi hỏi
là lao động chân tay, trí óc nhiều, hay độ phức tạp của công việc ) đều đòi hỏi trình độ, tri thức của người lao động được tích luỹ lâu dài mới có được và những người sở hữu chúng có thu nhập cao là đúng
8
Trang 11Tuy nhiên địa vị xã hội hay uy tín có thể xuất phát từ tiềm lực kinh tế và hiện tượng người lạm dụng để làm giàu một cách bất chính thì sẽ làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng vì thực sự dựa trên dựa trên quyền lực và địa vị xã hội, tiềm lực kinh tế để làm giàu chính là bóc lột giá trị của những người khác Còn nguyên nhân cơ bản của nghèo là: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn hoặc không có vốn, đông con, neo đơn thiếu sức lao động.
Bên cạnh đó thì:
+ Đối với thành thị: nguyên nhân nghèo là do có thể bị phá sản, đông con, thiếu sức lao động, ốm đau, lời nhác, mắc các tệ nạn xã hội, thiếu tri thức, trình độ dân trí thấp
+ Đối với nông thôn: ngoài thiếu kiến thức làm ăn, không có vốn, nghèo còn
do đông con, không có điều kiện làm việc (thiếu ruộng, vườn, không đủ phương tiện sản xuất ), không có kinh nghiệm
Tất cả những nguyên nhân chủ quan trên đã làm những người nghèo ngày càng nghèo thêm và những người giàu thì giàu thêm và tạo ra hố ngăn giữa người giàu
và người nghèo ngày càng rộng Bên cạnh đó, những nguyên nhân khách quan càng làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng thêm và con người muốn điều chỉnh cũng khó được.
1.2.2 Nguyên nhân khách quan
+ Nguyên nhân nổi bật là do nền kinh tế nước ta đang trong tình trạng kém phát triển, thu nhập bình quân theo đầu người quá thấp, lại bị ảnh hưởng bởi
những hậu quả nặng nề của mấy chục năm chiến tranh liên miên tàn phá đất nước
Vị trí địa lí của nước ta bên cạnh mặt thuận lợi cho phát triển kinh tế cũng gây nhiều khó khăn do hình thết rải dài, gây nên sự cách biệt chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ trong lịch sử Nước ta lại bị ảnh hưởng lớn bởi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, mất mùa, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình phức tạp (sở hữu ruộng chua, mặn ) xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại không thuận tiện, cơ sở hạ tầng kém luôn đe dọa và tước đi những thành quả lao động, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
+ Mặt khác, trong các yếu tố mang tính lịch sử, truyền thống thì cũng có mặt tiêu cực, và tích cực ảnh hưởng đến sự phân hoá giàu nghèo Đó chính là sự đè nặng của những truyền thống cổ hủ, lạc hậu, cá nhân bị hoà lẫn vào cộng đồng được duy trì theo cộng đồng cùng với quan niệm như “ai giàu ba họ, ai khó ba đời", "an bần lạc đạo" hay câu "con vua rồi lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa " là triết lí một thời để an ủi người ta cam chịu đói nghèo, coi đó là sự thật hiển nhiên không thể thay đổi được
9