C.Mác: “ Mục đích của sản xuất TBCN là làm giàu, là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do đó, là bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá trị thặng dư’’(C. Mác: các học thuyết về giá trị thặng dư, phần thứ nhất, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, tr 547). Ta có thể nhận ra mục tiêu làm giàu chủ yếu của nhà tư bản muốn mua sức lao động của nhân công kết hợp với tư liệu sản xuất để thu về cho mình giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản cũng chỉ chi trả một phần sức mạnh lao động cho người làm việc thông qua hình thức tiền lương và bóc giá trị cân đối với người làm công việc tạo ra trong quá trình sản xuất. Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên suốt tất cả các hệ thống sản xuất của xã hội đó. Cân bằng giá trị, phần giá trị do lao động của công nhân thuê sáng tạo ra bên ngoài sức lao động của nhà tư bản sử dụng, phản ánh mối quan hệ sản xuất cơ bản nhất. Cân bằng giá trị do lao động không công của công nhân thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của bản chủ nghĩa. Toàn bộ hoạt động của nhà tư vấn theo hướng tăng cường tạo ra phần cân bằng giá trị thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra tuyệt đối cân bằng giá trị và tạo ra phần cân bằng giá trị. Do đó, sản xuất ra mức cân bằng tối đa giá trị cho nhà tư bản là nội dung chính của quy định cân bằng giá trị. Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư vấn. Nó quyết định sự phát sinh, phát triển của tư bản chủ nghĩa và sự thay thế nó bằng một xã hội khác cao hơn là quy luật vận hành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ có thị trường kinh tế phát triển mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng đông. Phát triển nền kinh tế thị trường là phủ hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Ở nông thôn nước ta, sự phát triển kinh tế thị trường và tăng tỉ lệ hàng hóa bán ra của nhiều dân, thu nhập tăng lên, đồng thời các ngành nghề ở nông thôn cũng ngày một phát triển, tạo ra cho nông dân nhiều việc làm. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng luận giá trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” làm tiểu đề tài của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MAC-LEENIN
Đề tài:Lý luận của Mác về giá trị thặng dư và định hướng phát triển nền kinh tế thị trường XHCN VN hiện nay
* H và tên: ọ và tên: Hoàng Thu Trang
* L p: Anh ớp: Anh 13 – KTKT - K59
* Chuyên ngành: K toán - Ki m toán ế toán - Kiểm toán ểm toán
* Gi ng viên h ảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Văn ướp: Anh ng d n: ThS Hoàng Văn ẫn: ThS Hoàng Văn Vinh
Trang 2M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
A.PHẦN MỞ ĐẦU 0
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3
2.1) Mục đích nghiên cứu 3
2.2) Nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.3) Phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa đề tài 3
5 Kết cấu đề tài 3
B PHẦN NỘI DUNG Chương I: Lý luận về giá trị thặng dư theo qaun điểm CN Mac 1 Nguồn gốc xuất hiện giá trị thặng dư 4
2 Khái niệm 4
3 Vai trò của giá trị thặng dư 5
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư 6
5 Phương pháp sản xuất gái trị thặng dư 6
Chương II: Vận dụng lý luận giá trị thặng dư và sự phát triển của nền kinh tế ở kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay 1 Tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay 9
2 Một số giải pháp để vận dụng lý luận giá trị thặng dư nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay 13
2.1) Các giải pháp về vấn đề đầu tư 13
2.2) Nâng cao chất lượng nguồn lao động, phát triển thị trường lao động trong nước, có sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước 15
2.3) Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế và giữ vững định hướng XHCN 16
C PHẦN KẾT LUẬN 17
* Tài liệu tham khảo 18
Trang 3A.M đ u: ở đầu: ầu:
1 Lý do chọn đề tài:
C.Mác: “ Mục đích của sản xuất TBCN là làm giàu, là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do đó,
là bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá trị thặng dư’’(C Mác: các học thuyết về giá trị thặng dư,
phần thứ nhất, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, tr 547) Ta có thể nhận ra mục tiêu làm giàu chủ yếu của
nhà tư bản muốn mua sức lao động của nhân công kết hợp với tư liệu sản xuất để thu về cho mình giá trị thặng dư Nhưng nhà tư bản cũng chỉ chi trả một phần sức mạnh lao động cho người làm việc thông qua hình thức tiền lương và bóc giá trị cân đối với người làm công việc tạo ra trong quá trình sản xuất
Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên suốt tất cả các hệ thống sản xuất của xã hội đó Cân bằng giá trị, phần giá trị do lao động của công nhân thuê sáng tạo ra bên ngoài sức lao động của nhà tư bản sử dụng, phản ánh mối quan hệ sản xuất cơ bản nhất Cân bằng giá trị do lao động không công của công nhân thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của bản chủ nghĩa Toàn bộ hoạt động của nhà tư vấn theo hướng tăng cường tạo ra phần cân bằng giá trị thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra tuyệt đối cân bằng giá trị và tạo ra phần cân bằng giá trị
Do đó, sản xuất ra mức cân bằng tối đa giá trị cho nhà tư bản là nội dung chính của quy định cân bằng giá trị Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư vấn Nó quyết định sự phát sinh, phát triển của tư bản chủ nghĩa và sự thay thế nó bằng một xã hội khác cao hơn là quy luật vận hành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chỉ có thị trường kinh tế phát triển mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng đông Phát triển nền kinh tế thị trường là phủ hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người Ở nông thôn nước ta, sự phát triển kinh tế thị trường và tăng tỉ lệ hàng hóa bán ra của nhiều dân, thu nhập tăng lên, đồng thời các ngành nghề ở nông thôn cũng ngày một phát triển, tạo ra cho nông dân nhiều việc làm
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng luận giá trị trong quá trình phát triển
kinh tế thị trường ở Việt Nam” làm tiểu đề tài của mình.
Trang 42.1) Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ quá trình vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
2.2) Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ lý luận giá trị thặng dư, phân tích quá trình và vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
2.3) Phạm vi nghiên cứu:
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
3.Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng – chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể: Tổng hợp phân thích, thống kê, so sách
4 Ý nghĩa đề tài:
Qua nghiên cứu đề tài giúp chúng ta hiểu được quá trình vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào
sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
5 Kết cấu đề tài:
Gồm có phần mở đầu, nội dung, kết luận Ngoài ra còn có 2 chương:
- Chương I: Lý luận về giá trị thặng dư.
- Chương II: Vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay
B N i dung: ội dung:
CH ƯƠ NG I : LÝ LU N V GIÁ TR TH NG D THEO QUAN ĐI M CH NGHĨA ẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA Ề GIÁ TRỊ THẶNG DƯ THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA Ị THẶNG DƯ THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA ẶNG DƯ THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA Ư THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA ỂM CHỦ NGHĨA Ủ NGHĨA
MAC
1 Nguồn gốc xuất hiện giá trị thặng dư:
C Mác đã nói một câu đầy mâu thuẫn nhưng rất có lý: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu
thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và
đồng thời không phải trong lưu thông” (C.Mác và Ph Ăngghen toàn tập, T23, Nxb CTQG, H-1993,
tr 249)
Trang 5- Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua s c lao đ ngức lao động ộng và t li u s n xu tư liệu sản xuất ệu sản xuất ản xuất ất Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
- Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày lao động người công nhân làm thuê
đã tạo ra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình
- Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư
- Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động) Phần giá trị mới
do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m)
Như vậy, lao động sống chính là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
2 Khái niệm giá trị thặng dư:
- Giá trị thặng dư (Surplus value) là giá trị do công nhân làm thuê lao động sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt hết Đối với hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào tư liệu sản xuất và mua sức lao động Mục đích khi chi tiền là nhằm thu được một
số tiền vượt ra ngoài số tiền mà họ đã chi trong quá trình sản xuất Số tiền vượt ra được gọi là giá trị thặng dư
- Giá trị thặng dư được Mác nghiên cứu dưới góc độ hao phí lao động Trong trường hợp này, giá trị do công nhân làm thuê sản xuất nhiều giá trị hơn chi phí được trả cho họ Yếu tố này được điều chỉnh bởi tiền lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách là người lao động Đối với Mác, sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được xóa bỏ khi nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo
ra
- Có thể nói, qua giá trị thặng dư, bản chất của tư bản chủ nghĩa là sự bóc lột sức người lao động
để tạo ra nhiều thặng dư hơn cho mình Việc họ bóc lột công nhân càng nhiều thì giá trị thặng dư được tạo ra càng cao
Trang 6* Ví d :ụ: Gi đ nh s n xu t 10 kg s i c n 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Đ bi n sản xuất ản xuất ất ợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số ần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số ể biến số ến số ố bông đó tr thành s i, m t ngợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số ộng ư liệu sản xuấtời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòni công nhân ph i lao đ ng trong th i gian là 6 gi và hao mònản xuất ộng ời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòn ời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòn máy móc là 2 đô; giá tr s c lao đ ng trong m t ngày c a ngức lao động ộng ộng ủa người công nhân là 3 đô; trong một ư liệu sản xuấtời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòni công nhân là 3 đô; trong m tộng
gi lao đ ng ngời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòn ộng ư liệu sản xuấtời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòni công nhân đã t o ra m t giá tr là 0.5 đô; cu i cùng, ta gi đ nh r ng trongạo ra một giá trị là 0.5 đô; cuối cùng, ta giả định rằng trong ộng ố ản xuất ằng trong quá trình s n xu t s i đã hao phí theo th i gian lao đ ng xã h i c n thi t.ản xuất ất ợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số ời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòn ộng ộng ần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số ến số
Nh v y, n u nh quá trình lao đ ng kéo dài đ n cái đi m mà đó bù đ p đư liệu sản xuất ến số ư liệu sản xuất ộng ến số ể biến số ắp được giá trị ư liệu sản xuấtợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến sốc giá tr
s c lao đ ng (6 gi ), t c là b ng th i gian lao đ ng c n thi t thì ch a có s n xu t giá tr th ngức lao động ộng ời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòn ức lao động ằng trong ời công nhân phải lao động trong thời gian là 6 giờ và hao mòn ộng ần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số ến số ư liệu sản xuất ản xuất ất ặng
d , do đó ti n ch a bi n thành t b n.ư liệu sản xuất ền chưa biến thành tư bản ư liệu sản xuất ến số ư liệu sản xuất ản xuất
3 Vai trò:
- Ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại đã thúc đẩy năng suất lao động của các tư vấn nước ngoài có nghĩa là phát triển tăng lên trình độ cao hơn Nhờ đó không những các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu cao mà đời sống của những lao động tại xí nghiệp cũng được cải thiện, khác xa đời sống của những công ty dưới chủ nghĩa tư bản đầu thế kỉ XVIII
- Trước thực tế, cộng với sự cố sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung quan liêu ở Đông
Âu và Liên Xô, nhiều người cho rằng học thuyết giá trị thặng dư đã không còn chính xác nữa Bởi vậy, việc luận giải vai trò của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường là vô cùng cấp bách
- Giá trị thặng dư có những vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường như sau:
+ Thứ nhất: Học thuyết giá trị thặng dư không chỉ là cơ sở để hiểu rõ bản chất và xu hướng hành của chủ nghĩa tư bản mà còn là còn đường chỉ dẫn chúng ta con đường tạo ra lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản xã hội hay nói cách khác là hàng nghìn công nhân có việc làm
+ Thứ hai: Mở rộng địa bàn và quy mô sản xuất, tích lũy thêm gái trị thặng dư
+ Thứ ba: Thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ hiện đại để tăng năng suất và giá trị thặng dư
+ Thứ tư: Làm giàu thêm cho giai cấp tư sản
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư :
– Năng suất lao động: là số lượng sản phẩm đươc người lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
– Thời gian lao động: là khoảng thời giờ lao động cần phải tiêu tốn để sản xuất ra một sản phẩm nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với một trình độ trang thiết bị
cơ bản, với một trình độ thành thạo bình thường và cường độ lao động bình thường trong xã hội ở thời điểm đó
Trang 7– Cường độ lao động: là sự hao phí sức trí óc (thần kinh), bắp thịt của người lao động trong sản xuất trong một đơn vị thời gian hoặc kéo dài thời gian sản xuất, hoặc cả hai cách đó
– Công nghệ sản xuất
– Thiết bị, máy móc
– Vốn
– Trình độ quản lý
5 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
a) Phương pháp sản xuất g iá trị thặng dư tuyệt đối
- Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động, trong khi năng suất lao động và thời gian lao động tất yếu và không đổi
* Ví dụ: Lúc đầu ngày lao động bình thường là 8 giờ, trong đó thời gian lao động tất yếu là 5 giờ
và thời gian lao động thặng dư là 5 giờ
Như vậy m’ = 5/5 (%) = 100%
Sau đó, ngày lao động được kéo dài thành 10 giờ, trong đó thời gian lao động tất yếu vẫn là 5 giờ, còn thời gian lao động thặng dư tăng lên thành 7 giờ Khi đó, m’ = 7/5(%) = 140%
- Con đường, biện pháp để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: 2 biện pháp
+ Một là, kéo dài thêm ngày lao động:
Với lòng tham của con người là sự vô hạn, nhà tư bản luôn tìm mọi cách kéo dài thời gian lao động của công nhân để nâng cao mức độ bóc lột triệt để Nếu có thể được thì họ không ngần ngại gì
mà không bắt ép người công nhân làm việc suốt 24 giờ một ngày
Tuy nhiên, việc kéo dài ngày lao động của nhà tư bản đối với công nhân gặp phải những trở ngại sau:
Thứ nhất, ngày lao động bị giới hạn bởi ngày tự nhiên (24 giờ).
Thứ hai, việc kéo dài đó không thể vượt quá giới hạn tâm sinh lý của công nhân Vì
ngoài thời gian lao động người công nhân còn phải có thời gian ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe để bắt đầu cho công việc mới
Thứ ba, việc kéo dài thời gian lao động gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công
nhân
Trang 8Giai cấp tư sản muốn kéo dài thời gian ngày lao động, còn giai cấp công nhân lại muốn rút ngắn thời gian ngày lao động Vì thế cho nên, độ dài ngày lao động là đại lượng thời gian không cố định Việc xác định độ dài ấy tùy thuộc vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản Ngày lao động không thể rút ngắn bằng thời gian lao động tất yếu, vì như vậy không có cơ sở cho chủ nghĩa tư bản tồn tại Điểm dừng của độ dài ngày lao động là điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản và lợi ích kinh tế của người lao động được thực hiện theo một thời gian thỏa mãn Thời gian lao động tất yếu < Ngày lao động của công nhân < 24 giờ
+ Hai là, tăng cường độ lao động:
Khi độ dài ngày lao động đã được xác định, nhà tư bản tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân
Tăng cường độ lao động cũng không khác gì việc kéo dài thời gian lao động, vì nó có nghĩa là công nhân phải làm việc khẩn trương hơn, căng thẳng hơn, hao phí nhiều sức lực hơn trong một khoảng thời gian nhất định, nhờ đó mà công nhân tạo ra được nhiều giá trị thặng dư hơn Việc tăng cường độ lao động cũng gặp phải cản trở, vì sức lực của mỗi công nhân là có hạn
- Đánh giá: Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp bóc lột tàn bạo, nặng nề đối với công nhân lao động làm thuê
Phương pháp này thường được sử dụng trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa kỹ thuật thấp, chậm tiến độ
b) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
- Khái niệm: Là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu, do đó thời gian
lao động thặng dư tăng lên tương ứng, trong điều kiện độ dài ngày lao động và cường độ lao động không đổi
* Ví dụ: Ngày lao động là 10 giờ, trong đó 6 giờ là thời gian lao động tất yếu và 6 giờ là thời gian lao động thặng dư Nếu thời gian lao động tất yếu giảm đi 1 giờ tức còn 5 giờ và ngày lao động không đổi Do đó, thời gian lao động thặng dư tăng từ 6 giờ lên 7 giờ và theo đó m’ tăng từ 100% (6/6) lên 140% (7/5)
Là bằng cách hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động Vì giá trị của hàng hóa sức lao động được biểu hiện ở giá trị các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ của người công nhân, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người công nhân
Trang 9Biện pháp để giảm giá trị tư liệu sinh hoạt là bằng cách tăng năng suất lao động xã hội trong ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu tiêu dùng
- Đánh giá: Đây là phương pháp bóc lột hết sức tinh vi, xảo quyệt của nhà tư bản đối với người công nhân lao động làm thuê
+ Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu
+ Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn: Hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối
* Giá trị thặng dư siêu ngạch:
+ Khái niệm: Là phần giá trị thặng dư của một số xí nghiệp thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó
Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị
xã hội, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch
Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ thì giá trị thặng dư siêu ngạch không còn nữa
C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.
CH ƯƠ NG II : VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA NỀN KINH TẾ Ở THỊ TRƯỜNG KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay:
Như chúng ta đã biết, sau chính sách đổi mới năm 1986, kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo
cơ chế thị trường chế độ cơ bản, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tồn tại giá trị thặng dư trong nền kinh tế
Từ một nước lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, kém phát triển, đến nay chúng ta đã trở thành nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện một cách khái quát tư tưởng, quan điểm của Đảng về nền kinh tế thị trường nước ta
Trang 10Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng, nghiên cứu vận dụng học thuyết kinh tế của Mác và cụ thể là học thuyết giá trị thặng dư Trong điều kiện mới hiện nay các nghiên cứu đã chứng minh những luận điểm hoàn toàn đúng đắn của Mác: “Chỉ có lao động mới tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, máy móc tuy có vai trò không thể thiếu trong quá trình sản xuất, là điều kiện để sản xuất giá trị thặng dư song nó không làm tăng giá trị mà chỉ chuyển dần giá trị của nó vào trong sản phẩm mới; phân tích rõ đặc điểm vai trò của lao động trí tuệ, lao động quản lý trong quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thặng dư; khẳng định sản xuất tạo ra giá trị thặng dư hay lợi nhuận vẫn là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn
là chế độ xã hội dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê ”
1.1)Thực trạng sản xuất giá trị thặng dư ở nước ta
Vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là việc phát triển nguồn nhân lực; khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế; áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động; và việc phân phối giá trị thặng dư
a) Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta:
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm phần đa số ngoài ra còn phải kể đến hàng triệu người già vẫn còn khả năng lao động và mong muốn được lao động Thêm vào đó người lao động Việt Nam lại cần cù, siêng năng, hoạt bát và năng động có khả năng ứng dụng thị trường cao, nhanh chóng bắt kịp kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất kinh doanh Tuy đây là sự thuận lợi lớn của nước ta song chất lượng lao động và trình độ kỹ thuật, tay nghề của lao động Việt Nam còn thấp, cơ cấu ngành không hợp lý, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động không có việc làm cao Muốn khắc phục nhược điểm này, ta phải biết tăng chất lượng của nguồn lao động như nâng cao trình độ học vấn của nhân dân nhất là phổ cập tiểu học, trung học cơ sở, mở trường dạy nghề, học phải đi đôi với thực hành Trước tình hình đó Đảng ta đã có chủ trương: “ Xã hội hoá giáo dục nhằm đa dạng hoá các loại hình giáo dục, đào tạo với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm” Với những chủ trương đó chất lượng nguồn lao động đã có những sự biến đổi tích cực so với trước đây
b) Khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả