Cung biểu thị những lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (với các yếu tố khác không đổi). Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đời sống nhân dân đang dần được cải thiện và nâng cao, vì thế nhu cầu các mặt hàng tiêu dùng ngày càng lớn, đặc biệt là nhu cầu về lương thực, thực phẩm, kéo theo đó là sự tăng lên về khả năng cung cấp và giá cả thị trường.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đời sống nhân dân đang dần được cải thiện và nâng cao, vì thế nhu cầu các mặt hàng tiêu dùng ngày càng lớn, đặc biệt là nhu cầu về lương thực, thực phẩm, kéo theo đó là sự tăng lên về khả năng cung cấp và giá cả thị trường Trong khuôn khổ bài tập lớn môn Kinh tế học Vi mô
em xin chọn đề bài “Lý thuyết thị trường: Cung – cầu & Giá cả, liên hệ với thị trường
của một loại hàng hóa cụ thể trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay”
Gạo là một mặt hàng lương thực không thể thiếu và rất được quan tâm do cung, cầu, giá gạo liên tục biến động, nhất là thị trường xuất nhập khẩu có những chuyển biến những điều đó đã góp phần không nhỏ trong việc làm giá gạo biến động Do đó ta cũng nhận thấy rằng vấn đề cung – cầu, giá cả về gạo rất được quan tâm Vì vậy, loại hàng hóa em chọn ở đây là: Gạo - xu hướng cung, cầu và giá cả thị trường trong giai đoạn
2011 - 2015
NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận về lý thuyết cung – cầu & giá cả thị trường:
1 Cung:
a Khái niệm:
Cung biểu thị những lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán có khả năng bán
và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (với các yếu tố khác không đổi)
Cung bao gồm hai yếu tố cơ bản là khả năng bán và ý muốn sẵn sàng bán hàng hay dịch vụ của người bán Nếu người sản xuất tạo ra sản phẩm song không muốn bán vì giá quá rẻ thì không có cung và cầu không được thỏa mãn
Cung mô tả hành vi của người bán ở tất cả các mức giá, nó phản ánh mối quan hệ giữa giá và lượng cung ở mỗi một mức giá cụ thể thì có một cung xác định
Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định
Ta có thể thấy, cung là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung và giá Cung thể hiện mục đích bán hàng của người sản xuất
b Những yếu tố ảnh hưởng đến cung:
Công nghệ: Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất,
giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm Một tiến bộ về công nghệ là một
Trang 2sáng kiến bất kỳ cho phép tạo ra nhiều sản lượng hơn cùng với một lượng đầu vào như
cũ Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm
tăng khả năng cung lên
P
Sau cải tiến công nghệ
Q
Giá của các yếu tố sản xuất (đầu vào): Giá các yếu tố sản xuất có khả năng ảnh
hưởng đến khả năng cung sản phẩm Nếu giá của các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến
giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lơi nhuận sẽ cao lên, do đó các nhà sản xuất có
xu hướng sản xuất nhiều lên
Chính sách thuế: Chính sách thuế của Chính phủ có ảnh hưởng quan trọng đến
quyết định sản xuất của các hãng, do đó ảnh hưởng đến việc cung sản phẩm Mức thuế
cao sẽ làm cho phần thu nhập còn lại cho người sản xuất ít đi và họ không có ý muốn
cung hàng hóa nữa, và ngược lại
Số lượng người sản xuất: Số lượng người sản xuất càng nhiều thì lượng cung
càng lớn
Các kỳ vọng: Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa, giá của các yếu tố
sản xuất, chính sách thuế,…đều có ảnh hưởng đến cung hoàng hóa dịch vụ Nếu sự
mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng và ngược lại.,
Sự điều tiết của chính phủ: Sự điều tiết của chính phủ chia làm hai dạng
- Dạng nâng đỡ: Chính phủ trợ cấp giá cả, giảm thuế, hỗ trợ đào tạo lao động cho
các hãng,
- Dạng hạn chế: Sự điều tiết của chính phủ khi đó được coi như sự áp đặt một thay
đổi công nghệ hay các điều kiện sản xuất theo hướng bất lợi cho người sản xuất, làm cho
lượng cung giảm xuống ở mỗi mức giá
Từ các yếu tố ảnh hưởng đến cung, có thể tóm tắt dưới dạng toán học như sau:
Cung là một hàm số phụ thuộc vào rất nhiều biến số:
Trang 3Q 𝑆
𝑋, 𝑡= f(PX,t,, Pi, T, NS, E) Trong đó:
Q 𝑆
𝑋, 𝑡 : Lượng cung đối với hàng hóa X trong thời gian t
PX,t : Giá của hàng hóa X trong thời gian t
Pi : Giá của các yếu tố đầu vào
T : Công nghệ
NS : Số người sản xuất E: Các kỳ vọng
Từ những yếu tố ảnh hưởng trên sẽ làm thay đổi cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung (tăng cung hoặc giảm cung) Đồ thị minh họa:
P S1 S0 S2
Tăng lượng cung
Giảm Tăng
cung cung
Giảm lượng cung
0
Q
2 Cầu:
a Khái niệm:
Cầu là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (với các yếu tố khác là không đổi)
Cầu không phải là một số lượng hàng hóa cụ thể mà là một sự mô tả toàn diện về
số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua ở tất cả mức giá có thể
Cầu thể hiện khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua Cầu mô tả hành vi của người mua ở tất cả các mức giá
Lượng cầu là lượng hàng hóa dịch vụ mà người mua sẵn sàng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định
Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá
Trang 4b Những yếu tố ảnh hưởng đến cầu:
Sở thích của người tiêu dùng : Sở thích hay thị hiếu của người tiêu dùng có ảnh
hưởng lớn đến cầu Sở thích hay thị hiếu phản ánh ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hóa hay dịch vụ
Thu nhập của người tiêu dùng: Thu nhập là một yếu tố quan trọng xác định cầu
Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng của người tiêu dùng Khi thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng cần nhiều hàng hóa hơn và ngược lại Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào từng loại hàng hóa cụ thể mà mức độ thay đổi của cầu sẽ khác nhau
Giá cả của các loại hàng hóa có liên quan :Cầu đối với hàng hóa không chỉ phụ
thuộc vào giá của bản thân hàng hóa, mà còn phụ thuộc vào giá của hàng hóa có liên quan Các hàng hóa liên quan chia làm hai loại : hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung
- Hàng hóa thay thế: Là hàng hóa có thể sử dụng thay cho hàng hóa khác Khi giá của một loại hàng này thay đổi thì cầu đối với hàng hóa kia cũng thay đổi
- Hàng hóa bổ sung: Là loại hàng hóa được sử dụng đồng thời với hàng hóa khác Khi giá của một hàng hóa tăng lên thì cầu đối với hàng hóa bổ sung kia sẽ giảm đi
Các kỳ vọng : Cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ
vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng hy vọng giá của hàng hóa nào đó sẽ giảm trong tương lai, thì cầu hiện tại đối với hàng hóa đó sẽ giảm và ngược lại…Các kỳ vọng cũng có thể về thu nhập, thị hiếu, số lượng người tiêu dùng,…cũng tác động đến cầu đối với hàng hóa
Thị hiếu: Thị hiếu có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng; thị hiếu là sở
thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hóa hay dịch vụ
Dân số: Dân số tăng lên (với các yếu tố khác không đổi) sẽ làm cho cầu đối với
hàng hóa tăng lên.Vì dân số tăng lên sẽ làm cho lượng người tiêu dùng tham gia thị trường tăng lên
Như vậy, thể tóm gọn dưới dạng toán học như sau:
Q 𝐷
𝑋, 𝑡 = f(PX,t , Yt, Pt,r, N, T, E) Trong đó:
Q 𝐷
𝑋, 𝑡 : Lượng cầu đối với hàng hóa X trong thời gian t
PX,t : Giá hàng hóa X trong thời gian t
Yt : Thu nhập của người tiêu dùng trong thời gian t
Trang 5Pr,t : Giá của các hàng hóa có liên quan trong thời gian t
N : Dân số
T : Thị hiếu
E : Các kỳ vọng
Từ những yếu tố ảnh hưởng trên sẽ làm thay đổi cầu là sự dịch chuyển toàn bộ đường cầu (tăng cầu hoặc giảm cầu) Đồ thị minh họa:
Giảm lượng cầu
P
Giảm Tăng
cầu cầu
D2 Tăng lượng cầu
D1 D0
0 Q
3 Giá cả thị trường:
a Giá cả:
Giá cả thị trường hay giá cả hàng hóa là mức giá thỏa thuận giữa người mua và người bán Giá cả hàng hóa của một mặt hàng có thể thay đổi tùy vào sự thỏa thuận giữa người mua và người bán
Giá cả là hệ thống thông tin của thị trường thể hiện nhu cầu hàng hóa Giá cả xác định sự phân phối tài nguyên giữa các doanh nghiệp và sự phân phối hàng hóa thế nào
Cơ cấu giá là “bàn tay vô hình” điều khiển các quyết định của thị trường
Giá cả thi ̣ trường có thể thay đổi liên tu ̣c tùy thuô ̣c vào giai đoa ̣n, tính chất thi ̣ trường, các biê ̣n pháp can thiê ̣p của chính phủ (thuế, trợ cấp)
b Cân bằng thị trường:
- Khi đường cung và đường cầu cắt nhau tại 1 điểm xác định:
Chỉ có một mức giá duy nhất (P*) mà nhu cầu của người tiêu dùng bằng với khả năng cung của người cung cấp gọi là điểm cân bằng (E)
Trang 6
P D S
P* E E là điểm cân bằng thị trường
Q* Q
Khi thị trường là hoàn hảo, giá cả thị trường sẽ có khuynh hướng tiến đến điểm cân bằng Khi đạt điểm cân bằng thì thị trường sẽ ổn định
Tuy nhiên vì một lí do nào đó từ cả người tiêu dùng hay người cung cấp, đặc điểm của thị trường thay đổi – đường cung hoặc đường cầu sẽ thay đổi
P D’ D S’
E’ S
E
Q
II Liên hệ với thị trường gạo trong giai đoạn 2011 - 2015:
1 Khái quát chung:
Gạo là một mặt hàng thuộc nhóm lương thực, được sản xuất và tiêu dùng chủ yếu
ở các nước Châu Á Cũng như các mặt hàng lương thực khác, Chính phủ luôn có các chính sách nhằm tăng cung trong nước để đảm bảo an ninh lương thực
Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, sản lượng lúa gạo đã gia tăng nhanh chóng Trong giai đoạn 1991 – 2001 bình quân diện tích tăng 1.73%/năm, năng suất tăng 3.2%/năm và sản lượng tăng 5%/năm Nước ta từ một nước thiếu lương thực đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
Trang 7(chiếm khoảng 17% sản lượng gạo thế giới) Gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế Việt Nam, năm 2015 với giá trị xuất khẩu đạt 2,68 tỷ USD, sản lượng đạt 6,568 triệu tấn
2 Cung về mặt hàng gạo ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015:
a Tình hình cung:
Nông nghiệp từ lâu đã là nghành sản xuất chủ yếu ở nước ta, nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp trồng trọt phát triển nhất là trồng lúa với địa hình đa dạng, giáp biển Đông và có hệ thống sông ngòi dày đặc nhất là hai đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ ở 2 đầu đất nước: Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng gắn liền với hai hệ thống sông lớn: sông Cửu Long và sông Hồng; bên cạnh đó, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với độ ẩm lớn, lượng mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghề trồng lúa phát triển
Bước vào sản xuất lúa vụ đông xuân năm 2011, ngành nông nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn, rõ nét nhất là giá rét kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, hạn hạn ở khu vực Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long đầu vụ hạn hán, cuối vụ thiếu nước ngọt do xâm nhập mặn sâu vào nội đồng với nồng độ mặn cao, dịch bệnh trên cây lúa, rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá, bệnh lùn sọc đen diễn ra trên diện rộng Tuy nhiên, kể từ quý 2/2011, thời tiết tương đối thuận lợi đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất nông nghiệp trên cả nước
Theo số liệu của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năng suất lúa đông xuân giai đoạn 2011 – 2015 cả nước đạt 63,47 tạ/ha, cao hơn 1,2 tạ/ha so với vụ đông xuân các năm trước, sản lượng đạt gần 19,5 triệu tấn, tăng 25,8 vạn tấn Trong đó, sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Nam ước tính đạt 12,5 triệu tấn, phía Bắc đạt khoảng 7 triệu tấn Đối với vụ hè thu, tính đến cuối tháng 8/2011 các địa phương trên cả nước đã thu hoạch được 1221 nghìn ha, bằng 102,3% cùng kỳ năm trước, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 93,5% diện tích thu hoạch Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu năm 2011 của vùng đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 51 tạ/ha, tăng gần 3 tạ/ha so với vụ hè thu năm trước, sản lượng ước tính đạt 8,4 triệu tấn, tăng 420 nghìn tấn
b Các yếu tố ảnh hưởng:
*Tích cực:
Sản lượng các vụ lúa đã thu hoạch trên cả nước giai đoạn 2011 – 2015 đạt kết quả rất khả quan Nhờ việc áp dụng tốt các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chọn lọc được các loại
Trang 8giống tốt, năng suất cao cùng với thuận lợi của thời tiết đã giúp một năm bội thu lúa trên
cả nước
Áp dụng khoa học kĩ thuật: thực hiện nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các
hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong việc nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm nông nghiệp Các ngành chức năng đã nỗ lực đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất lúa gạo thông qua nhiều hình thức như: xây dựng mô hình trình diễn; nhân rộng các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao; mở các lớp tập huấn, dạy nghề… tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Chọn lọc, thử nghiệm các giống lúa tốt, năng suất cao: thực hiện mô hình thử
nghiệm giống lúa thuần PC6 vụ đông xuân năm 2014 – 2015; tăng cường tuyên truyền
và tập trung các nguồn lực đẩy mạnh việc nghiên cứu, khảo nghiệm, thử nghiệm các giống lúa mới, mô hình sản xuất mới với năng suất chất lượng cao
Số lượng người sản xuất: nước ta phần lớn người dân làm nghề sản xuất nông
nghiệp, diện tích đất dành cho trồng lúa còn rất nhiều nên sản lượng lúa gạo hàng năm lớn, lượng cung dồi dào
*Tiêu cực:
Bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến cung còn có các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến cung lúa gạo trong giai đoạn 2011 – 2015 như:
Thiên tai: Nước ta là một trong những nước chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
nhất là lũ lụt, hạn hán tác động rất lớn đến ngành nông nghiệp nhất là trồng lúa Tình trạng ngập úng do lũ lụt, thiếu nước do hạn hán làm cho sản lượng cũng như năng suất lúa gạo Bên cạnh đó, Đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa lớn nhất của nước ta hàng năm phải đối mặt với tình trạng nhiễm phèn, nhiễm mặt, xâm thực làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất lúa gạo
Sâu bệnh: Nước ta có một mùa đông lạnh, kéo dài, độ ẩm cao tạo điều kiện cho
sâu bệnh phát triển ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và sản lượng lúa gạo Các loại sâu bệnh thường gặp ảnh hưởng đến cây lúa như: đạo ôn, bạc lá, đốm sọc, sâu đục thân bướm hai chấm, sâu đục thân năm vạch đầu nâu, sâu đục thân năm vạch đầu đen, rầy nâu,
Đô thị hóa: Nước ta đang trong quá trình đô thị hóa, nhất là trong giai đoạn 2011 –
2015 dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được sử dụng để xây dựng các khu đô thị, nhà
Trang 9máy công nghiệp kéo theo đó người dân sẽ mất đất, chuyển dần ra thành thị để sản xuất công nghiệp
c Đồ thị minh họa:
P S2 S S1
0 Q
Khi cung về lúa gạo chịu ảnh hưởng của các yếu tố tích cực thì sẽ làm cho đường cung (S) dịch chuyển về phía bên phải (S – S1)
Khi cung về lúa gạo chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực thì sẽ làm cho đường cung (S) dịch chuyển về phía bên trái (S – S2)
3 Cầu về mặt hàng gạo ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015:
a Tình hình cầu:
Gạo là một mặt hàng không thể thiếu ở nước ta Trong mỗi bữa cơm của người Việt đều không thể thiếu gạo Có thể coi gạo là một loại mặt hàng thiết yếu, là nguồn lương thực chính của người Việt Nam Theo số liệu gần đây nhất của Bộ Nông ngiệp và phát triển Nông thôn lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng
136 kg Uớc tính, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ thêm 150.000 tấn gạo
Ngoài việc sử dụng lúa gạo làm nguồn lương thực hàng ngày nước ta còn sử dụng lúa gạo vào ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm Sản lượng gạo được dùng trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là khoảng 6 triệu tấn một năm
và sẽ tăng thêm từ 50.000 đến 100.000 tấn mỗi năm Trong lĩnh vực này, gạo được sử dụng nhiều trong các loại thực phẩm làm từ tinh bột gạo như bánh bao, mì, bánh tráng, bánh bột gạo, bia và rượu
Gạo là một trong những nguồn nguyên liệu chính của thức ăn tự chế cho lợn,
cá và gia cầm đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long Trong khi Việt Nam chỉ có thể cung cấp tối đa 500.000 tấn gạo dùng trong thức ăn chăn nuôi thì nhu cầu về gạo trong ngành công nghiệp này của nước ta sẽ tăng 50.000 đến 100.000 tấn mỗi năm, tùy thuộc vào lợi thế về giá của gạo so với các nguồn nguyên liệu khác như ngô và sắn
Trang 10b Các yếu tố ảnh hưởng:
*Tích cực:
Sở thích của người tiêu dùng: đa số người dân Việt Nam đều sử dụng gạo
nên cầu về gạo ở nước ta rất lớn Người tiêu dùng chủ yếu thích sử dụng loại gạo hạt dài, dẻo, thơm
Dân số: Dân số đông kéo theo đó là sản lượng gạo tiêu dùng ngày một tăng
lên
*Tiêu cực:
Hàng hóa thay thế: Lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam
đang trên đà giảm Khi nền kinh tế phát triển, người tiêu dùng có sức mua lớn hơn và có
cơ hội tiếp cận nhiều hơn với các loại thực phẩm khác, vì thế lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người sẽ giảm khi thu nhập tăng
Nguồn hàng của các loại thực phẩm khác luôn có sẵn trên thị trường cũng khiến cho lượng tiêu thụ gạo bình quân đầu người sụt giảm Lượng gạo tiêu thụ đầu người tại các khu vực đô thị thường thấp hơn so với khu vực nông thôn Sản lượng gạo tiêu thụ tại các khu vực đô thị cũng trên đà giảm nhanh, tiếp theo đó lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người cũng đang giảm
c Đồ thị minh họa:
P D D1
D2
Khi cầu về lúa gạo chịu ảnh hưởng của các yếu tố tích cực thì sẽ làm cho đường cầu (D) dịch chuyển về phía bên phải (D – D1)
Khi cầu về lúa gạo chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực thì sẽ làm cho đường cầu (D) dịch chuyển về phía bên trái (D – D2)