để cho lí trí có thể vận dụng những điều quan sát vào trong sự khái quát của nghệ thuật, để mô tả sự vật thực tế theo những nét bút sâu sắc, bạo dạn rắn rỏi như ngọn dao nhà điêu khắc” [
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân tác giả còn có sự giúp đỡ chân thành, nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Sau đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn: TS Phạm Tuấn Vũ đã giúp đỡ, tận tình hướng dẫn cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ, cổ vũ động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Vinh, tháng 01 năm 2011
Tác giả
Trần Anh Tuân
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Lỗ Tấn (1881-1936) là nhà văn vĩ đại của Trung Quốc và của thế giới Lỗ Tấn được xem là “Gorky của Trung Quốc”, là bậc thầy của dòng văn học hiện thực chủ nghĩa thế kỷ XX ở Trung Quốc Sự nghiệp sáng tác văn học của ông gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Trung Quốc Chủ tịch Mao Trạch Đông đánh giá: “Lỗ Tấn là vị chủ tướng của phong trào cách mạng văn hoá Trung Quốc, ông không chỉ là nhà văn vĩ đại, mà còn
là nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại” Giáo sư Lương Duy Thứ nhận định:
“Thế kỷ văn học này gắn bó chặt chẽ với tư tưởng và tác phẩm của văn hào vĩ đại Lỗ Tấn” [42, 43] Lỗ Tấn là nhà văn của thời đại Ngũ Tứ, thời đại trăn trở
“tìm đường của dân tộc Trung Quốc” dưới ánh sáng của lí luận mác xít Tác phẩm của ông, đặc biệt là tạp văn đã phản ánh sâu sắc và phong phú về con người và thời đại Trung Quốc trong giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt Theo nhà văn Hữu Thỉnh, “tại một số bảo tàng văn học trên thế giới, cứ sau một thời gian, người ta lại tiến hành thay đổi vị trí trưng bày, quy mô sắp xếp hiện vật của các nhà văn tuỳ theo kết quả nghiên cứu, đánh giá thăm dò dư luận Ở bảo tàng văn học đương đại Trung Quốc thì sự thay đổi đánh giá diễn
ra càng nhanh hơn Nhưng cho dù Mao Thuẫn, Lão Xá, Quách Mạt Nhược, Đinh Linh, Tào Ngu… có xê dịch như thế nào thì vị trí của Lỗ Tấn vẫn không thay đổi Trước sau ông vẫn ung dung một mình một gian trang trọng nhất ở
trung tâm của bảo tàng” (Tạp chí Thơ, số 10/2010, tr.23-24) Việc nghiên cứu
những sáng tác của nhà văn này đã được tiến hành ở Việt Nam tương đối sớm, tuy nhiên còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục tìm hiểu
1.2 Trong sự nghiệp văn học đồ sộ của Lỗ Tấn, tạp văn có vị trí quan trọng Tạp văn của Lỗ Tấn có hơn 650 văn bản, được viết trong 30 năm, chiếm hơn hai phần ba số trang trước tác của ông Tạp văn của Lỗ Tấn rất đặc sắc, Giáo sư Đặng Thai Mai nhận xét: “Tạp văn Lỗ Tấn quả có một ý nghĩa tiêu biểu cho cả một hình thức văn học và cả một thời đại” Mao Trạch Đông cho rằng: “Nếu Lỗ Tấn còn thì ông sẽ viết tạp văn” [26] Suốt một đời cầm
Trang 4bút, Lỗ Tấn dành rất nhiều thời gian, tâm huyết để viết tạp văn Cho đến ngày cuối cùng, trên bàn làm việc của ông vẫn là những bản thảo tạp văn Nghiên cứu tạp văn của Lỗ Tấn sẽ có thêm cơ sở lý giải nhiều vấn đề trong sự nghiệp văn chương của văn hào
1.3 Tạp văn là nơi Lỗ Tấn trực tiếp bộc lộ quan niệm về cuộc đời, về cách mạng và về văn học Tìm hiểu quan niệm văn học của Lỗ Tấn trong tạp văn sẽ hiểu thêm tác phẩm của ông và có thêm cơ sở để đánh giá sự nghiệp văn chương của nhà văn
2.1 Các công trình dịch và giới thiệu tạp văn Lỗ Tấn ở Việt Nam
Người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với tác phẩm Lỗ Tấn là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người hoạt động ở Quảng Châu Những tác phẩm của
Lỗ Tấn đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí Nguyễn Ái Quốc và không ít lần Người nhắc đến Lỗ Tấn trong những bài nói chuyện của mình
Ở Việt Nam, cùng với tiểu thuyết và truyện ngắn, tạp văn của Lỗ Tấn cũng đã từng bước được dịch, giới thiệu đến độc giả Ngay từ trước cách mạng tháng Tám, giáo sư Đặng Thai Mai đã dịch các tạp văn của Lỗ Tấn,
chẳng hạn như: Đêm, Bóng từ giã người, Khách qua đường và một số bài tạp văn trong tập Cỏ dại.
Sau cách mạng tạp văn của Lỗ Tấn ngày càng được giới thiệu đầy đủ hơn
Có thể kể đến Phan Khôi với Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn, Nhà xuất bản Văn nghệ,
Hà Nội năm 1956 Trong lời mở đầu Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn, dịch giả Phan
Khôi nhận xét: “Văn Lỗ Tấn không có thể có hiệu lực đến ngày trái đất vỡ, nhưng
Trang 5từ nay cho đến ngày xuất hiện giống người chân chính thì nó cứ tồn tại một cách
vẻ vang vì mọi người thiên hạ đều cần có nó, đều hoan nghênh nó” [20, 10]
Phó giáo sư Trương Chính, người dịch và nghiên cứu tác phẩm của Lỗ
Tấn năm từ 1963 đã cho xuất bản ba tập Tuyển tập tạp văn, do Nhà xuất bản
văn hóa Hà Nội ấn hành, trong đó chọn 161 bài tiêu biểu trong tạp văn của Lỗ Tấn Lời giới thiệu đã lí giải vì sao tạp văn của Lỗ Tấn lại có giá trị văn học nghệ thuật lâu dài: “Trước hết phải nói tạp văn Lỗ Tấn là một thứ văn trữ tình, rất lôi cuốn Ông viết bằng trái tim, bằng tâm hồn Văn ông thốt ra tự đáy lòng, nhiều bài như chan hòa máu và nước mắt” [47, 15]
Năm 1998 Trương Chính đã biên tập lại, chọn 144 bài in thành cuốn Lỗ Tấn - Tạp văn - Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành, trong đó sắp xếp theo từng
chủ đề Đến năm 2003 sách được tái bản Lần tái bản này Trương Chính đã chỉnh sửa, bổ sung thêm
Giáo sư Đặng Thai Mai là nhà nghiên cứu đã giới thiệu và dịch tạp văn
Lỗ Tấn ở Việt Nam sớm nhất Trong những người kế tục sự nghiệp giáo sư Đặng Thai Mai, Trương Chính là người đạt nhiều thành tựu nhất trong việc dịch thuật và giới thiệu tạp văn Lỗ Tấn Đi kèm với những bản dịch tạp văn là bài giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản về nội dung và quan niệm văn học của Lỗ Tấn trong tạp văn Sắp xếp theo ba chủ đề: về xã hội, về văn học
và về hồi ký văn học, Trương Chính đã định hướng được những vấn đề cơ bản
và chỉ ra những bài biểu lộ quan niệm văn học của Lỗ Tấn
Ở miền Nam trước 1975 tác giả Lỗ Tấn và tạp văn của ông cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, tiêu biểu là học giả Nguyễn Hiến Lê và Giản
Chi Trong công trình Văn học Trung Quốc hiện đại, Nguyễn Hiến Lê đã dành
một số trang nghiên cứu về tạp văn của Lỗ Tấn
2.2 Các công trình nghiên cứu về tạp văn Lỗ Tấn và quan niệm văn học của ông thể hiện trong tạp văn
Năm 1944 GS Đặng Thai Mai cho xuất bản công trình Lỗ Tấn, thân thế, văn nghệ, do Nhà xuất bản Thời đại ấn hành trong đó có khái quát về
phong cách Lỗ Tấn: “Lỗ Tấn đã cố ý đem cả khối nhiệt tình mà kiến trúc lại,
Trang 6để cho lí trí có thể vận dụng những điều quan sát vào trong sự khái quát của nghệ thuật, để mô tả sự vật thực tế theo những nét bút sâu sắc, bạo dạn rắn rỏi như ngọn dao nhà điêu khắc” [32, 30].
Hơn mười năm sau, trong Lược sử văn học Trung Quốc hiện đại, ông
đã có những nhận xét sâu sắc về tạp văn: “Trong sự nghiệp văn chương của
Lỗ Tấn tạp văn không những có một số lượng rất nhiều mà lại có một giá trị
tư tưởng và nghệ thuật rất cao Về số lượng cũng như về phẩm chất, tạp văn của Lỗ Tấn quả có một ý nghĩa tiêu biểu cho cả một hình thức văn học và cả một thời đại” [34, 185]
Năm 1959 Lê Xuân Vũ xuất bản cuốn Lỗ Tấn - chủ tướng của cách mạng văn hóa Trung Quốc, do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành Tác giả đã
dành một phần nghiên cứu về tạp văn, với những đánh giá xác đáng về nội dung, cũng như về mặt văn học nghệ thuật Tác giả cho rằng: “Chiến đấu là nguồn sinh mệnh của tạp văn, Lỗ Tấn viết tạp văn cũng vì chiến đấu, cho nên bút pháp của tạp văn Lỗ Tấn trước sau bất nhất mà thay đổi theo nhu cầu của chiến đấu” [73, 145]
Năm 1960, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội cho in công trình Lỗ Tấn - thân thế - tư tưởng - sáng tác của Lý Hà Lâm - giáo sư Trung Quốc Cuốn
sách là tập hợp những bài giảng của giáo sư tại trường Đại học sư phạm Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu về Lỗ Tấn một cách kỹ lưỡng, hệ thống và
có cái nhìn toàn diện về tạp văn Lỗ Tấn như: Tính tư tưởng, tính chính trị biểu hiện trong chủ đề Bên cạnh đó tác giả có những nhận định về mặt nội dung, mặt nghệ thuật tạp văn Lỗ Tấn như hình tượng hóa cao độ, chất u-mua châm biếm, tính trữ tình, ngôn ngữ cô động hàm súc cao
Các nhà nghiên cứu, nhà giáo như PGS Trương Chính, GS Nguyễn Khắc Phi, GS Lương Duy Thứ Đã dành tâm huyết và thời gian cho việc
nghiên cứu và biên soạn giáo trình văn học Trung Quốc Lịch sử văn học Trung Quốc, Trương Chính - Bùi Văn Ba - Lương Duy Thứ biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục - năm 1962; cuốn Văn học Trung Quốc (tập 2), Nguyễn
Khắc Phi - Lương Duy Thứ biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục năm 1988 Hai
Trang 7công trình này đem lại cho bạn đọc cái nhìn đa diện, sâu sắc về văn học Trung Quốc Trong đó dành không ít trang nghiên cứu về tạp văn Lỗ Tấn, với những kiến giải về thể loại tạp văn, chỉ ra được nội dung cụ thể, khái quát về mặt nghệ thuật của tạp văn Lỗ Tấn như “tính tư tưởng cao, tính chiến đấu mãnh liệt; nhưng đồng thời cũng là những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc” [10, 206].
Năm 1997, GS Lương Duy Thứ cho xuất bản công trình Lỗ Tấn - tác phẩm và tư liệu, trong đó có một số tư liệu nghiên cứu về phần tạp văn Lỗ Tấn, tiêu biểu là lời tựa Tuyển tập tạp cảm của Lỗ Tấn của Cù Thu Bạch Cù
Thu Bạch nhận định tạp văn Lỗ Tấn có bốn điểm cơ bản sau: một là “chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo nhất”; hai là “tinh thần chiến đấu dẻo dai”; ba là
“chống lại chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa thỏa hiệp”; bốn là “tinh thần chống giả dối Đây là tinh thần chủ yếu nhất của Lỗ Tấn - nhà văn và nhà tư tưởng”
Là những đánh giá hết sức sâu sắc, tinh tế của một người bạn chiến đấu, đồng thời là người tri âm tri kỷ về tạp văn của Lỗ Tấn
Trong cuốn sách này còn có bài Lỗ Tấn và tạp văn của tác giả Trần Áng Bài
viết có cái nhìn khá khái quát về mảng văn học độc đáo và quan trọng này của Lỗ Tấn Đặc biệt là những đánh giá về quan niệm văn chương và khẳng định giá trị văn học của tạp văn Lỗ Tấn của ông Trần Thấu Du - Viện trưởng viện bảo tàng Lỗ Tấn
ở Thượng Hải Ông viết: “Tạp văn Lỗ Tấn có chất thơ, tràn ngập vẽ đẹp thơ và tình
ý thơ Chất thơ ấy chủ yếu thể hiện trên ba mặt: Một, tính hình tượng của các đoạn văn tự sự và của các luận chứng; hai, ngôn ngữ văn học và ý cảnh thơ; ba, tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc thể hiện trong tác phẩm” [63, 326]
Giáo sư Phương Lựu có công trình Lỗ Tấn - nhà lý luận văn học do
Nhà xuất bản Giáo dục in năm 1998 Chuyên luận này dành mười một trang nghiên cứu về tạp văn, với những nhận định rất sâu sắc về quan niệm văn học,
về vai trò, vị trí của thể loại này trong văn học hiện đại Trung Quốc: “Cũng như trong tiểu thuyết, tạp văn của Lỗ Tấn rất giàu màu sắc trữ tình và châm biếm” Tác giả cho rằng: “Qua việc tìm hiểu chúng ta thấy rõ thêm thể loại tạp văn nhờ thực tiễn sáng tác của Lỗ Tấn đã vươn lên vị trí quan trọng trên văn đàn Trung Quốc hiện đại” [30, 281 - 283]
Trang 8Năm 2005, Nhà xuất bản văn học cho in cuốn Hiện đại Trung Quốc - nhìn từ Thượng Hải do Vương Văn Anh chủ biên, (Phạm Công Đạt dịch, Lê
Sơn hiệu đính) Tác giả đã nhận xét: “Tạp văn của Lỗ Tấn có một sức thu hút mạnh về mặt văn học, có một giá trị nghệ thuật độc đáo” “Cho nên giá trị văn học tạp văn của Lỗ Tấn là không thể nghi ngờ Tạp văn của Lỗ Tấn là một
sự kết hợp hoàn mỹ giữa logic lí luận và logic hình tượng, là sự kết hợp hoàn
mỹ giữa thơ ca và chính luận” [1, 253- 257]
Ngoài các cuốn sách đã dẫn còn có một số bài báo nghiên cứu về tạp văn Lỗ Tấn và quan niệm văn học của Lỗ Tấn trong tạp văn
Trên Tạp chí văn học số 10 /1969 có bài nhan đề Tạp văn - Vũ khí chiến đấu của Lỗ Tấn của giáo sư Lương Duy Thứ Nhà nghiên cứu đã đưa ra những
nhận xét xác đáng về đặc sắc của thể tạp văn của Lỗ Tấn: “Viết tạp văn Lỗ Tấn
đã khéo léo kết hợp chính luận và văn nghệ, tận dụng tính hình tượng sinh động
cụ thể của văn, vốn kiến thức uyên bác về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, cũng như phương pháp tư duy khoa học của mình tạo thành một thể loại văn độc đáo, có sức chiến đấu mạnh mẽ và sức thuyết phục sâu sắc” [59] Đặc biệt Lương Duy Thứ đã đề cập đến quan niệm của Lỗ Tấn về sứ mệnh của nhà văn thể hiện trong tạp văn: “Có nhà văn nhà thơ lớn nào mà sự nghiệp lại không gắn với những yêu cầu cấp bách của thời đại sự nóng hổi đang chi phối vận mệnh tổ quốc, nhân dân hàng giờ hàng phút” Lỗ Tấn đã nhắc nhở các nhà văn “phải hòa mình vào dòng thác cách mạng” Bởi vì, “từ trong suối chảy ra là nước, từ trong huyết quản chảy ra máu”, cho nên nhà văn muốn có tác phẩm cách mạng thì bản thân cũng phải thực là nhà cách mạng” “Đối với Lỗ Tấn, tắm mình trong suối cách mạng là yếu tố duy nhất tạo nên sức sáng tạo của nhà văn”
Ở bài viết Âm vang Lỗ Tấn, giáo sư Lương Duy Thứ nhấn mạnh: “Tạp
văn - một sáng tạo độc đáo của Lỗ Tấn với đặc trưng “dao găm súng ngắn” ứng chiến kịp thời” [61]
Chân Lương (Trung Quốc) trong bài Thánh nhân số một của Trung Quốc đăng trên báo Văn nghệ số 4 năm 2008 (Nguyễn Hải Hoành dịch) cho
biết trong một cuộc tọa đàm Mao Trạch Đông từng nói: “Tôi khuyên các đồng
Trang 9chí nên đọc tạp văn của Lỗ Tấn Lỗ Tấn là đệ nhất thánh nhân của Trung Quốc” Khi nói đến sức mạnh của tạp văn Mao Trạch Đông cho rằng “Tạp văn ấy có sức mạnh là nhờ có thế giới quan chủ nghĩa Mác” và “Các bài tạp văn thời kỳ cuối của Lỗ Tấn có sức mạnh sâu sắc nhất, không có tính phiến diện; đó là vì khi ấy Lỗ Tấn đã nắm được phép biện chứng” [26].
Tác giả Nguyễn Vũ có bài Lỗ Tấn, người chiến sĩ tiền phong đã đấu tranh không mệt mỏi để xây dựng nền văn học vô sản Trung Quốc, đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 7 năm 1961 Tác giả đã mượn ý của Cù Thu
Bạch để khẳng định quan niệm của Lỗ Tấn về nhà văn và sáng tác: “Cuộc đấu tranh xã hội vô cùng kịch liệt và cấp bách khiến cho nhà văn không thể ung dung cô đúc tư tưởng và tình cảm của mình vào trong sáng tác và thể hiện thành những hình tượng và điển hình cụ thể” Để tránh bệnh công thức sơ lược trong sáng tác thì “các nhà văn phải bám sát thực tế đời sống, phải hiểu
rõ thực tiễn cách mạng, phải gần gủi với giai cấp công nhân” [74]
Các bài viết khẳng định tính chiến đấu của tạp văn và tư tưởng, quan niệm văn chương cũng như phong cách nghệ thuật của Lỗ Tấn trong tạp văn
Trong bài Lỗ Tấn với chúng ta và bài Tạp văn - vũ khí chiến đấu của Lỗ Tấn,
Lương Duy Thứ đã phần nào đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa tính văn nghệ và tính cách mạng của tạp văn Lỗ Tấn Ở Lỗ Tấn quan niệm văn học
và cách mạng gắn kết chặt chẽ Theo tác giả “đặc điểm xác định giá trị văn học của tạp văn Lỗ Tấn trước hết vẫn là tính hình tượng của nó” [59]
Các công trình nghiên cứu về tạp văn của Lỗ Tấn đã tìm hiểu một số phương diện của nội dung và hình thức của nó Lỗ Tấn xem tạp văn là vũ khí xung kích trên mặt trận văn học, phê phán bệnh trạng xã hội, đấu tranh chống bọn bồi bút chó săn Tạp văn Lỗ Tấn sắc sảo, tinh tế giàu sức truyền cảm, tính hình tượng, tính trữ tình, u- mua châm biếm Các bài viết cũng khẳng định sức mạnh chiến đấu của tạp văn Lỗ Tấn và những đóng góp của tạp văn Lỗ Tấn cho nền văn học mới và cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Trung Hoa Tuy nhiên vẫn cần tìm hiểu một cách hệ thống quan niệm văn học của Lỗ Tấn
Trang 10trong tạp văn Công việc này sẽ giúp chúng ta đánh giá toàn diện hơn giá trị tạp văn của Lỗ Tấn và góp phần đánh giá sự nghiệp văn học của ông.
3.3 Chỉ ra mối quan hệ giữa quan niệm văn học của Lỗ Tấn ở tạp văn
và ở tác phẩm văn chương thuộc các thể loại khác
3.4 Chỉ ra sự kế thừa và cách tân của quan niệm này đối với truyền thống quan niệm văn học Trung Quốc
4 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu các văn bản tạp văn Lỗ Tấn được tập hợp trong sách Lỗ Tấn - Tạp văn, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2003.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến như thống kê - phân loại, tổng hợp phân tích trong đó chú trọng phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh
Luôn chú trọng đặc thù của đối tượng nghiên cứu Tạp văn là những văn bản, ở đó tác giả trực tiếp biểu lộ tư tưởng, tình cảm của mình phần lớn là
về những vấn đề thời sự Lỗ Tấn là một văn hào nên tạp văn của ông được viết bằng một tài năng văn chương lớn nên giàu giá trị thẩm mỹ
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong bốn chương:
Chương 1 Tạp văn trong sự nghiệp văn chương của Lỗ Tấn
Chương 2 Quan niệm về nhà văn
Chương 3 Quan hệ giữa văn học và cách mạng
Chương 4 Quan niệm về một số thể loại, lĩnh vực, phạm trù thẩm mĩ
Trang 11Chương 1 TẠP VĂN TRONG SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA LỖ TẤN
Lỗ Tấn đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, gồm nhiều thể loại Trước khi nghiên cứu quan niệm văn học của Lỗ Tấn trong tạp văn, cần có sự tổng quan về loại văn bản này trong sự nghiệp trước tác của văn hào
1.1 Thể tạp văn
1.1.1 Khái niệm tạp văn
Tạp văn là một thể văn học độc đáo, có những điểm tương đồng với tản văn, bút ký, tạp bút, tạp cảm Có nhiều tài liệu định nghĩa tạp văn
Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm: “Tạp văn là những áng văn tiểu
phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh
và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội” [57, 247]
Từ điển văn học (tập 2), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm
1984 định nghĩa: “Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính nghệ thuật Phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tùy cảm, tiểu phẩm, bình luận ngắn Đặc điểm nổi bật là ngắn ngọn Trong cổ văn Trung Quốc, có nhiều bài tạp văn có tư tưởng tiến bộ, nghệ thuật cao Từ Ngũ Tứ, tạp văn trong văn học Trung Quốc phát triển như một vũ khí trọng yếu trong đấu tranh chính trị, văn hóa và nghệ thuật” “Tạp văn là một bộ phận lớn của văn học Trung Quốc, Lỗ Tấn viết theo một thể loại đặc biệt bao gồm những bài cảm nghĩ nhỏ, luận văn, tùy bút, thư từ, nhật kí, hồi ức” [50, 333]
Ở Từ điển văn học (bộ mới), do Nhà xuất bản thế giới ấn hành năm
2004 định nghĩa: “Tạp văn một thể loại thuộc tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý nghĩa văn học” [18, 1601]
Đỗ Hải Ninh xem tạp văn như một dạng nhỏ của tản văn: “Tản văn là một loại ngắn ngọn hàm súc, với khả năng khám phá đời sống bất ngờ, thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm tác giả bao gồm cả tạp văn, tùy bút, văn tiểu phẩm” [38, 19]
Trang 12Theo Lỗ Tấn: “Thật ra “tạp văn” không phải là hàng mới bây giờ, trước kia đã có rồi Phàm là văn chương, nếu xếp loại, thì có loại để mà xếp, bất kể thể gì, mọi thể đều xếp vào một chổ cả, thế là thành “tạp” [48, 768].
Giáo sư Lý Hà Lâm trong công trình: Lỗ Tấn- thân thế- tư tưởng- sáng tác khẳng định “tạp văn là một hình thức do Lỗ Tấn sáng tác, vì Lỗ Tấn đã
phát triển hình thức này đến đỉnh cao nhất của nó, hơn nữa lại có những đặc điểm độc đáo của bản thân ông Nói tới nguồn gốc và phương pháp của tạp văn, thì tạp văn của Lỗ Tấn chính là kế thừa và phát triển hình thức tản văn của nền văn học truyền thống Trung Quốc” [22, 169]
Trương Chính trong lời giới thiệu cuốn Tạp văn tuyển tập (tập 1), quan
niệm “Tạp văn là một thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn trong ba mươi năm hoạt động văn học của ông, nhưng thật ra không phải là một thể loại văn học mới ” [43, 6]
Các quan niệm trên đã nêu được những đặc điểm cơ bản nhất của thể tạp văn Thứ nhất, tạp văn là một sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều thể loại, chẳng hạn tạp cảm, tùy cảm, tiểu luận, bình luận ngắn, thư từ, nhật ký, hồi ức Chữ “tạp”, phản ánh điều này Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh ở đây là tạp văn không phải là sự xáo xào, gán ghép nhiều thể loại Tạp văn không phải thuần túy là văn chính luận mặc dù nó có yếu tố bình luận, bởi vì nó còn mang đậm tính nghệ thuật Tạp văn cũng không phải là tác phẩm thuần văn chương Nó khác với các thể loại khác như thơ, truyện, tiểu thuyết ở chỗ lấy nghị luận làm chính Vì thế, đặc điểm của tạp văn nói chung là sự kết hợp giữa bình luận và văn nghệ Hay nói như nhà phê bình Trương Chính, đó là những bài văn nghị luận có tính nghệ thuật cao
Thứ hai, xét về nguồn gốc, tạp văn xuất hiện từ rất sớm, từ thời đại Thương, Chu và vì thế nó là một thể văn truyền thống của Trung Quốc Nhiều người cho rằng, đến Lỗ Tấn thì thể tạp văn mới hình thành là không đúng Lỗ Tấn chỉ phát huy những truyền thống tốt đẹp của tản văn truyền thống, một thể loại chứa đựng tính hiện thực dồi dào, bằng một lối đi riêng cho phù hợp với nhu cầu cấp bách của thời đại, sáng tạo nên thể loại tạp văn kết hợp giữa
Trang 13sáng tác văn chương và nghị luận với ngôn ngữ cô đúc, hàm súc, giàu tính trữ tình để nêu lên quan điểm của mình trước những vấn đề, hiện tượng xã hội đương thời.
Bằng tài năng, bản lĩnh của một nhân cách lớn, Lỗ Tấn đã đưa thể tạp văn vươn lên vị trí quan trọng trên văn đàn Trung Quốc hiện đại Và chính tạp văn khẳng định tên tuổi nhà văn, nhà cách mạng, nhà tư tưởng Lỗ Tấn Cho nên nói đến thể tạp văn là nghĩ đến Lỗ Tấn, là một thể văn Lỗ Tấn có kế thừa
và phát huy cao độ
1.1.1.1 Đặc điểm của thể tạp văn là ngắn gọn và sắc bén, vừa thể hiện
được tư tưởng sâu sắc và hoàn thành nhanh chóng được nhiệm vụ chiến đấu Tạp văn cơ bản là văn chính luận, nên rất phù hợp với đấu tranh chính trị
Về mặt thể loại văn học, tạp văn được coi là một thể kí văn học Nó là
kí chính luận, cùng với một số các dạng tiểu phẩm văn học, tạp kí Tạp văn cũng
có đầy đủ các đặc trưng của văn chính luận: tính lôgic, tính trữ tình và u - mua châm biếm
Khi sáng tác, người nghệ sĩ cần nắm được đặc điểm của thể loại Đó là điều cần thiết, sẽ tìm được lối biểu hiện tư tưởng của mình Tạp văn, ngoài những đặc điểm của thể văn chính luận, cần phải có hình tượng sinh động và tính chất trữ tình Đó là những thoáng suy tư, là sự bất ngờ độc đáo, đậm dấu
ấn cá tính sáng tạo Bởi lẽ đó, từng trang tạp văn của Lỗ Tấn là sự hun đúc bằng cả tấm lòng và bằng sự trải nghiệm của chính mình mà viết nên Tạp văn
có thể thể hiện trên mọi vấn đề, lĩnh vực, hiện tượng của xã hội đương thời
Trong bối cảnh rối ren, đen tối “cả dân tộc Trung Quốc đang mãi ngủ mê trong cơn mộng mị” của những năm đầu thế kỷ hai mươi, thì tạp văn rất thích hợp để thức tỉnh nhận thức và tình cảm cách mạng Tạp văn với tính ưu thế, ngắn ngọn, lại tự do về nội dung và hình thức, rất năng động, linh hoạt là “dây thần kinh cảm ứng” là “tay chân công thủ” Ưu thế phản ánh kịp thời những vấn đề, hiện tượng của xã hội một cách sâu sắc, như phê phán, công kích những mặt trái của hiện thực đời sống, phơi bày được căn bệnh của chế độ cũ Vấn đề đặt ra là trong khuôn khổ ngắn gọn, chỉ vẻn vẹn vài trang giấy, khoảng hơn nghìn từ, làm
Trang 14thế nào để biểu đạt được ý đồ, tư tưởng của nhà văn? Có lẽ không gì hơn việc diễn đạt bằng hình tượng nghệ thuật, hoặc ngôn ngữ có tính hình tượng Chẳng
hạn như bài “Hẵng khoan phe pơlê đã” (Lỗ Tấn - đăng trên tạp chí Mãng nguyên
tháng 1/1926) Nội dung tư tưởng của nó là sự rút ra qua sự thất bại của cách mạng Tân Hợi, bên cạnh đó còn thể hiện tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để Với nhiệt tình cách mạng và bút pháp điêu luyện, Lỗ Tấn đã tạo được sự thành công như ý muốn Tác giả dùng hình tượng “chó bông”, “chó của nhà tư bản”,
“đánh chó khi đã rơi xuống dưới nước”, “loại người thứ ba”, để lột mặt nạ của bọn bồi bút tay sai một cách hiệu quả
1.1.2 Tạp văn Trung Quốc trước Lỗ Tấn
Để hiểu rõ hơn về thể tạp văn, chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc và quá trình phát triển của nó trong lịch sử văn học trước Lỗ Tấn Tạp văn đã xuất hiện và tồn tại, phát triển rất sớm trong lịch sử văn học cổ điển Trung Quốc
Trong Lỗ Tấn thân thế tư tưởng sáng tác, giáo sư Lý Hà Lâm viết: “Về
nguồn gốc và phương thức của tạp văn, thì tạp văn của Lỗ Tấn đã kế thừa và
phát triển hình thức tản văn của văn học truyền thống Trung Quốc” [169] Về
sự kế thừa này, chính Lỗ Tấn đã nói: “Kỳ thực tạp văn cũng không phải là món hàng mới mẻ gì của ngày nay, mà ngày xưa cũng đã có rồi” [48, 768] Tạp văn xuất hiện sớm dưới hình thức là tản văn thời đại Thương, Chu Đến thời Chiến Quốc chia làm hai loại: tản văn lịch sử và tản văn chư tử Nội dung
tư tưởng của văn xuôi thời kỳ này là thể hiện tính biện luận, ngôn ngữ hàm súc, ví von với bố cục chặt chẽ
Sang đời Đường, tản văn tách rời trước tác lịch sử và triết học (văn, sử, triết bất phân), trở thành sáng tác độc lập và đạt được những thành tựu rực rỡ, gắn liền với những tên tuổi tiêu biểu như Liễu Tông Nguyên, Hàn Dũ đến Âu Dương Tu, Tô Thức Họ đã mang lại sức sống mới cho tản văn, phong cách đa dạng, với lối diễn đạt phóng khoáng, văn từ gần gũi, giàu âm điệu mang sắc thái trang nhã Chính điều đó đã tạo nên sự cực thịnh của tản văn
Đến đời Nguyên, bên cạnh thơ ca, từ, tạp kịch và tiểu thuyết, tản văn cũng đã xác lập được vị trí, nhưng so với tản văn đời Đường, đời Tống kém
Trang 15hơn nhiều Tuy tản văn đời Nguyên cũng có một số tác giả nổi tiếng, nhưng nhìn chung tác phẩm trữ tình tả cảnh rất ít, phần lớn là văn thực dụng, thuyết
ca công đức là chủ yếu, chứ nội dung tự do nói lên tư tưởng tình cảm cá nhân dường như ít được đề cập Một số tác giả tiêu biểu như Đái Biểu Nguyên, Triệu Mạnh Phủ Tản văn của họ trong sáng, ngôn ngữ sinh động
Tản văn thời Minh - Thanh có bước đột phá mạnh Tản văn đời Minh - Thanh không xuất hiện tác gia kiệt xuất như bát đại gia Đường - Tống, nhưng
số lượng tác phẩm ưu tú không ít, lấy đề tài rộng rãi, thủ pháp biểu hiện cũng tương đối đa dạng, ít nhiều chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết, ngụ ngôn, văn bát
cổ Đặc biệt là văn tiểu phẩm cuối Minh là một sự đột phá quan trọng trong lịch sử phát triển tản văn Trung Quốc Từ quan niệm về tản văn đến thực tiễn sáng tác đều có biến hóa rõ rệt Có thể nói văn tiểu phẩm Minh- Thanh “là một dạng quan trọng của văn xuôi thuần văn học, văn tiểu phẩm thời kì này, hấp thụ cái tinh túy của văn xuôi du kí từ thời Đường, lại hòa nhập cái hài hước ý nhị của văn bút kí Ngụy, Tấn, Nam - Bắc triều có sức hấp dẫn nghệ thuật rất độc đáo” [33, 16] Văn tiểu phẩm Minh, Thanh đã có bước đột phá lớn, có nhiều tìm tòi mới mẻ, phá vỡ bộ mặt cũ kỹ, tạo nên sự biến đổi lớn Trên cơ sở này mở ra dòng chảy của tạp văn về sau
Tản văn hiện đại Trung Quốc phát triển trên cơ sở hấp thụ trào lưu tư tưởng bên ngoài và tiếp nhận truyền thống, hình thức phong phú đa dạng, có thể là tạp cảm, bình luận ngắn, tùy bút, tốc tả, du ký, thư từ, nhật ký v.v Các nhân tố vốn có của tản văn: là sự giao thoa nghị luận, trữ tình và tự sự Nội dung của tản văn chứa đựng tính hiện thực rất dồi dào Về nghệ thuật, nổi bật
là tính điển hình, tính hình tượng rất sinh động Những đặc điểm của tản văn trong suốt trường kỳ của văn học cổ điển Trung Quốc đã được văn hào Lỗ Tấn kế thừa và phát huy Từ một loại văn có tính chất nghị luận ở trong nền văn học truyền thống của Trung Quốc, thích ứng với nhu cầu đấu tranh Thể văn này có vị trí cực kỳ quan trọng trên lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc Đặc biệt là sau cuộc vận động văn học Ngũ Tứ (từ 1917 - 1921), tạp văn phát triển rầm rộ, có một vai trò vị trí khá đặc biệt trên văn đàn, trở thành thể ưa
Trang 16thích của các văn sĩ Tạp văn lần lượt xuất hiện trên các tờ báo Tân thanh niên, Bình luận hàng tuần, Thần báo, Thái Bạch Trên chuyên mục như Tùy cảm lục (Ghi chép tùy hứng) lần lượt đăng tải tạp văn của Trần Độc Tú, Lưu
Bán Nông, Lỗ Tấn viết công kích “bệnh trạng” xã hội của chế độ phong
kiến Những bài viết sắc sảo của Lỗ Tấn trên mục Ghi chép tùy hứng của Tân thanh niên đả kích sắc bén phái ngoan cố khoác loác bảo tồn quốc túy
Với thể tạp văn trong giai đoạn mới, mỗi văn sĩ tìm cho mình một lối riêng
Lỗ Tấn, Cù Thu Bạch, Mao Thuẫn, Lý Đại Chiêu trọng hiện thực, xem hiện thực là nội dung chủ yếu trong văn phong của mình Số khác như Úc Đạt Phu, Băng Tâm xu hướng trữ tình Chu Tác Nhân, Lâm Ngữ Đường lại có xu hướng cá nhân chủ nghĩa
Ở giai đoạn này, tạp văn là vũ khí chiến đấu chống phong kiến, chống
đế quốc, chống bọn bồi bút chó săn, phê phán bệnh trạng xã hội, đấu tranh cho văn học vô sản Tác giả tiêu biểu là Lỗ Tấn, Lý Đại Chiêu, Cù Thu Bạch
Tạp văn gắn với tên tuổi Lỗ Tấn Bằng tài năng và nhân cách lớn, ông
đã đưa tạp văn thành một thể loại văn học có vai trò và vị trí đáng kể trong văn học Trung Quốc hiện đại, đúng như lời nhận xét của giáo sư Đặng Thai Mai: “Về số lượng cũng như về phẩm chất, tạp văn của Lỗ Tấn quả có ý nghĩa tiêu biểu cho cả một hình thức văn học và cả một thời đại” [33, 188] Có người cho rằng tạp văn là một thể văn của Lỗ Tấn, là một hình thức nghệ thuật
do Lỗ Tấn sáng tác nên là vì vậy
1.2 Tạp văn của Lỗ Tấn
1.2.1 Quan điểm sáng tác tạp văn
Lỗ Tấn viết văn với mục đích thức tỉnh nhân dân Trung Quốc, dùng văn học để cải tạo xã hội, cải tạo nhân sinh, mà trước hết là chữa bệnh mê muội về tinh thần cho quốc dân Vì thế, Lỗ Tấn chưa bao giờ xem nhẹ việc trau dồi kiến thức, kỹ thuật viết văn Thể tạp văn từng bị nhiều người đương thời xem thường, với Lỗ Tấn đã trở thành một thể văn độc đáo, có được vị trí quan trọng Theo Lỗ Tấn “thật ra tạp văn không phải là một món hàng mới mẻ
mà trước kia đã có rồi Phàm là văn chương, nếu xếp loại thì có loại để mà
Trang 17xếp nếu là biên niên thì cứ theo năm tháng sáng tác, bất kể thể gì, mọi thể đều xếp vào một chỗ cả, thế là thành “tạp” [48, 768] Tạp văn rõ ràng không phải
là một thể loại văn học mới mẻ, nó đã có từ Thương, Chu nhưng xét về nội dung thì những bài văn cổ vẫn chưa thoát khỏi cái đạo lý “trung hiếu tiết nghĩa” của các nhà nho hay những tâm tư về nhân tình thế thái Cái mới của tạp văn Lỗ Tấn chính là tính chiến đấu sắc nhọn, tư tưởng tình cảm của tác giả được bộc lộ trực tiếp phù hợp với quần chúng lao động
Lỗ Tấn viết tạp văn vì chiến đấu cho lý tưởng, vì thế “văn tiểu phẩm muốn tồn tại thì phải là mũi dao nhọn, là khẩu súng, có thể cùng với bạn đọc
mở một con đường sống bằng máu” [48, 490] Với tinh thần “nhìn thẳng vào hiện thực nhân sinh” của tác giả nên tạp văn Lỗ Tấn chứa đựng sức chiến đấu rất dũng mãnh, nó giống như “bó đuốc, có người đụng đến phải bỏng” và
“đòn nào cũng đánh trúng mạng mỡ của kẻ địch, hễ đánh là thắng” Lỗ Tấn cho rằng tạp văn muốn tồn tại được thì phải liên hệ mật thiết với thời đại, phải luôn “giãy giụa và chiến đấu”, bởi vì nó bắt mầm từ cuộc “cách mạng văn học”
và cuộc cách mạng tư tưởng Trước kia “những bộ Sàm thư của La Ẩn cũng cơ
hồ toàn là lời phản kháng và phẫn nộ”, những bài văn tiểu phẩm đó “chính là một làn ánh sáng, một mũi nhọn trên con đường đất mịt mù” Đến “tiểu phẩm cuối Minh phóng đãng hơn, nhưng không phải toàn là ngâm trăng vịnh gió, trong đó
có bất bình, có châm biếm, có công kích có phá hoại” [48, 489] Vì “cát bụi tát vào mặt mũi, lang sói kết thành từng đàn” thì nhất định phải chiến đấu
Lỗ Tấn cho rằng tạp văn của mình “chỉ một gậy” có thể đánh chết tươi
kẻ địch, nhưng nếu “bình luận quá giản đơn khái quát” thì dễ “gây hiểu lầm
vô tình hoặc xuyên tạc cố ý” Cho nên tạp văn, theo Lỗ Tấn: “Tất nhiên nó cũng làm cho người ta thích thú và nghỉ ngơi, nhưng đó không phải là ''tiểu bài thiết” (thú chơi nhàn nhã) và cũng không phải là lời vuốt ve, an ủi, không phải là sự tê liệt; nó làm cho người ta thích thú và nghỉ ngơi, nó bồi bổ, chuẩn
bị cho người ta làm việc và chiến đấu” [48, 490]
Lỗ Tấn cho rằng viết tạp văn cần phải sinh động, có ích và phải làm xúc động tình người Nghĩa là ngoài châm biếm, công kích, còn có sức truyền
Trang 18cảm mãnh liệt nữa Tạp văn cũng phải dồi dào tình cảm, cảm xúc Chính luận
và thơ, lý lẽ và hình tượng, bao giờ Lỗ Tấn cũng xem trọng các yếu tố ấy và kết hợp chúng rất nhuần nhuyễn trong tạp văn Đối với Lỗ Tấn, sáng tác tạp văn không phải là việc dễ dàng vì, “so với một đài thiên văn cao lớn thì tạp văn quả chỉ giống như công việc của một chiếc kính hiển vi bé nhỏ Nó soi nước bẩn soi đờm mũi, có lúc nghiên cứu vi trùng, có lúc mổ xẻ ruồi nhặng Đối với các nhà học giả cao siêu, thì nó bé nhỏ, bẩn thỉu, nhưng đối với bản thân người làm, thì cũng là một công việc nghiêm túc, có quan hệ đến nhân sinh và cũng không phải dễ dàng làm đâu” [43, 16]
Với Lỗ Tấn thì tạp văn cũng là nghệ thuật và điều đó đã được minh chứng trong sáng tác của ông Những bài tạp văn của Lỗ Tấn đã khiến cho những “học giả cao siêu” cảm thấy cay cú lại chính là những tác phẩm nghệ thuật
Tạp văn của Lỗ Tấn đúng là “mũi dao nhọn” là “khẩu súng”, nhưng nhà văn lại chủ trương “phải làm cho đối thủ do đó mà bị thương đến phải chết, trong lúc đó bản thân mình không có hành vi đê tiện, người ngoài đứng xem cũng không thấy gì là bẩn thỉu, đó mới là bản lĩnh và tài năng của nhà văn chiến đấu” Dù có phẫn nộ đến đâu cũng không thể cứ chửi bới kẻ thù như
“bà già độc ác lắm lời”, vì quan niệm của Lỗ Tấn xem văn chương là vũ khí phê phán, chứ không phải “sự phê phán bằng vũ khí” Để bốc trần bộ mặt thật của bọn bồi bút tay sai đế quốc và phê phán thực trạng xã hội, tố cáo sự tàn bạo của giai cấp thống trị, Lỗ Tấn không gào thét như “một bà già độc ác lắm lời”, như “thầy kiện cay độc”, mà nhà văn tạo nên những hình ảnh liên tưởng Chẳng hạn ông viết: “cái gọi là văn minh Trung Quốc kỳ thực chỉ là bữa tiệc thịt người bày ra, cho bọn nhà giàu hưởng thụ, mà cái gọi là nước Trung Quốc
kỳ thực chỉ là cái bếp để để sữa soạn bữa tiệc thịt người đó” Với sự tinh tế, tài năng chỉ bằng vài hình ảnh cụ thể, Lỗ Tấn làm rõ được bản chất của lễ giáo phong kiến Nhiều bài tạp văn có sức công phá rất mạnh mẽ, hơn nữa còn kích thích “dây thần kinh” khiến những người đang ngủ mê cũng phải thức tỉnh
Bằng tài năng, Lỗ Tấn đã đưa thể tạp văn có vị trí quan trọng trên văn đàn Trung Quốc “Bản thân nó có đầy đủ hai yếu tố chính luận và văn nghệ Hai yếu
Trang 19tố này có tác động lẫn nhau và đều vươn tới một vẻ đẹp hài hòa” [7, 232] Đọc tạp văn của Lỗ Tấn, chúng ta thấy quả đúng không chỉ là “mũi dao nhọn” là
“khẩu súng” mà còn “làm cho người ta thích thú và được nghỉ ngơi”, như nhiều lần ông đã nhấn mạnh khi phát biểu quan điểm của mình về tạp văn
1.2.2 Quá trình viết tạp văn của Lỗ Tấn
Lỗ Tấn bắt đầu viết tạp văn từ năm 1907 Trong tập Nấm mồ, ta thấy có
bốn bài viết bằng văn ngôn khi ông còn ở Nhật Bản Kể từ năm 1918 ông mới
viết liên tục, bằng bạch thoại, cho đến khi từ trần (năm 1936) Bài Mấy câu chuyện về ông Thái Viêm mà nhớ đến, ông viết trên giường bệnh ngày 17
tháng 10 năm 1936, đúng hai hôm trước khi mất Tạp văn Lỗ Tấn góp lại
thành 16 tập: Nấm mồ, Gió nóng, Hoa cái, Hoa cái tiếp theo, Nhặt cánh hoa tàn, Cỏ dại, Mà thôi, Tam nhàn, Hai lòng, Nam xoang Bắc điệu, Viết tự do giả, Cho bàn gió trăng, Văn học biền hoa, Thả giới đình, Thả giới đình tập II, Thả giới đình tập cuối.
Gần như sau ba tập tiểu thuyết, Lỗ Tấn chỉ viết tạp văn Theo Cù Thu Bạch, nguyên nhân xã hội của tạp văn Lỗ Tấn là: “Cuộc đấu tranh xã hội kịch liệt khẩn cấp khiến nhà văn không thể ung dung hun đúc tư tưởng tình cảm của mình vào sáng tác, biểu hiện nó trong những điển hình và hình tượng cụ thể Đồng thời, áp lực tàn khốc và thô bạo cũng không cho phép nhà văn dùng những hình thức ngôn luận thông thường Tài năng u-mua của nhà văn đã giúp họ dùng hình thức nghệ thuật để biểu hiện lập trường chính trị của họ, sự quan sát xã hội sâu sắc của họ, lòng đồng tình của họ đối với cuộc đấu tranh của quần chúng” [10, 193]
Không phải Lỗ Tấn không có những dự định viết những tác phẩm lớn
để lại cho đời sau, nhưng vì tạp văn phản ứng những sự biến hàng ngày trong
xã hội một cách trực tiếp hơn, mau chóng hơn Lỗ Tấn nhận thấy chỉ có thể văn này mới đáp ứng kịp thời những nhu cầu mà thời đại bão táp đã đề ra cho văn học Ông nói: “Bây giờ thời buổi cấp bách biết bao nhiêu, nhiệm vụ của nhà văn là, đối với sự vật có hại, phải lập tức phản ứng và đấu tranh Nhà văn phải là bộ thần kinh để cảm ứng, là chân tay để công thủ Ôm ấp những tác
Trang 20phẩm lớn, trù tính đến nền văn hóa tương lai, cố nhiên rất tốt, nhưng đấu tranh cho hiện tại, cũng là đấu tranh cho các nhà văn chiến đấu hiện tại và tương lai, bởi vì mất hiện tại thì làm gì có tương lai” [48, 769]
Lỗ Tấn viết nhiều tạp văn nhất trong thời kỳ ở Thượng Hải Từ tháng
10 năm 1927, khi đến Thượng Hải, Lỗ Tấn chuyên tham gia vào phong trào văn học, mở đầu cho cuộc đấu tranh trực tiếp và hiệu quả của ông Cho đến ngày từ trần 19 tháng 10 năm 1936, trong khoảng thời gian gần 10 năm ông đều ở Thượng Hải Trong thời gian hơn 9 năm, ông đã viết 9 tập tạp văn Nội dung tạp văn Lỗ Tấn rất phong phú, đề tài rộng, đề cập đến các vấn đề chính trị, xã hội, văn học, nghệ thuật Có thể chia tạp văn của ông ra làm hai thời kỳ: thời kỳ trước và sau 1928 Tinh thần chủ yếu của tạp văn thời kỳ trước
1928 là triệt để phản phong Ông lên án tội ác của chế độ đẳng cấp, đạo đức luân lý, phong kiến, làm nổi rõ bản chất “ăn thịt người” của nó qua các bài
như Quan niệm của tôi về tiết liệt, Ngày nay chúng ta làm cha như thế nào, Dạo bút dưới đèn Đặc biệt là trong bài Dạo bút dưới đèn, tác giả đã khái
quát lịch sử mấy nghìn năm của chế độ phong kiến là một “bữa tiệc dài dằng dặc” và “người Trung Quốc là vật hy sinh cho bữa tiệc đó” Cái gọi là “văn minh phong kiến Trung Quốc” kỳ thực là “những bữa tiệc thịt người để thết bọn giàu sang”; Trung Quốc chẳng qua là “cái nhà bếp để sửa soạn những bữa tiệc thịt người” đó mà thôi Cho nên Lỗ Tấn kêu gọi: “Quét sạch bọn ăn thịt người, đập tan nát bữa thịt người; phá hủy căn nhà bếp ấy đi” [10, 195]
Ông dùng nhiều bài tạp văn ví dụ các bài Thử xét học hành, Trả lời ông K.S để đáp lại những luận điệu của bọn phục cổ phong kiến Lỗ Tấn
cũng vạch trần tội làm chó săn cho phong kiến và đế quốc của phái “Hiện đại bình luận”
Năm 1926, bọn đế quốc cấu kết với chính quyền quân phiệt phong kiến gây ra thảm án “Ngày 18 tháng 3”, tàn sát dã man những học sinh biểu tình chống chính sách đầu hàng bán nước của chính phủ Lỗ Tấn đã phẩn uất tột
độ Trong đau thương ông đã viết một loạt các bài tạp văn Kỷ niệm chị Lưu Hòa Trân, Hoa hồng không hoa II lên án tội ác đẫm máu của bọn đế quốc
Trang 21và tập đoàn quân phiệt Tạp văn của Lỗ Tấn trước 1928, thể hiện tinh thần phản phong triệt để Ông đã đứng trên lập trường cách mạng để công kích đến cùng kẻ thù của tổ quốc, nhân dân.
Sau 1928, tạp văn của Lỗ Tấn ngày một nhiều và trở thành vũ khí chiến đấu chủ yếu của nhà văn Những bài tạp văn thời kỳ này đều được viết với thế giới quan Mác - Lê nin Ông không chỉ vạch trần ung nhọt của xã hội cũ, vạch mặt bọn thống trị phản động mà còn thấy rõ được bản chất của sự vật, quy luật phát triển của cách mạng Đây là giai đoạn ông viết nhiều tạp văn nhất “Qua một thời gian thử thách trong chiến đấu, cách sử dụng vũ khí của ông cũng ngày càng linh hoạt hơn, khéo léo hơn, mãnh liệt hơn Xét về tính tư tưởng cũng như tính nghệ thuật, tạp văn thời kỳ sau đều hơn hẳn tạp văn thời kỳ trước” [10, 197] Kế thừa truyền thống chiến đấu của tạp văn thời kỳ trước, phục vụ nhiệm vụ cách mạng đặt ra, tạp văn thời kỳ sau của Lỗ Tấn đã chĩa mũi nhọn vào kẻ địch chính: phong kiến, đế quốc, chính quyền phản động Quốc dân đảng và bọn văn sĩ khuyển ưng của chúng Ông đã lật tẩy bộ mặt
bán nước của bọn Quốc dân đảng qua các bài: Bài văn và đầu đề, Quan hệ chiến lược Trong các bài tạp văn Văn học cách mạng vô sản Trung Quốc và những giọt máu tiên phong, Kỷ niệm để quên đi, Hiện trạng giới văn nghệ của Trung Quốc tối tăm Lỗ Tấn tỏ là một chiến sĩ vô sản kiên định đấu tranh
không khoan nhượng với chế độ thối nát, có lòng thương xót và kính mến vô hạn đối với các chiến sĩ cộng sản đã hy sinh vì sự nghiệp cao cả
Lỗ Tấn đã dùng ngòi bút sắc bén của mình vạch trần các luận điệu xuyên tạc và bản chất hại dân của các tập đoàn văn nghệ phản động như phái
Tân nguyệt qua các bài: Nhiệm vụ và vận mệnh của “văn học dân tộc”, Nhiệm
vụ của nhà phê bình trong nhóm Trăng mới, Bàn về hạng người thứ ba
Sự gắn bó keo sơn với Đảng cộng sản và với chủ nghĩa cộng sản góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu cho tạp văn thời kỳ sau của Lỗ Tấn Với nội dung xã hội chủ nghĩa phong phú và nghệ thuật ngày càng điêu luyện, những bài tạp văn thời kỳ sau của ông có thể được coi là những tác phẩm hiện thực
xã hội chủ nghĩa của nền văn học mới Trung Quốc “Cùng với những tạp văn
Trang 22thời kỳ đầu, toàn bộ tạp văn của Lỗ Tấn quả là một bộ “bách khoa toàn thư”
về cuộc sống xã hội và lịch sử cách mạng Trung Quốc mấy mươi năm sau Ngũ Tứ; đồng thời nó cũng là bộ sách khá đầy đủ và sâu sắc về cuộc đời vĩ đại của một văn hào vĩ đại” [10, 200]
1.2.3 Vai trò, vị trí của tạp văn trong sự nghiệp văn chương của Lỗ Tấn
Trong suốt đời cầm bút, văn hào Lỗ Tấn đã dành nhiều thời gian và tâm huyết cho tạp văn Cho đến ngày trước khi mất trên bàn làm việc của ông vẫn còn những trang tạp văn về những vấn đề thời sự nóng hổi Thể văn này
đã chiếm hơn hai phần ba sáng tác của Lỗ Tấn trong ba mươi năm hoạt động văn nghệ, bao gồm 650 bài, thu thập trong 16 tập
Tạp văn của Lỗ Tấn đa dạng về thể thức, ví dụ bình luận, diễn thuyết, truy điệu, bình luận về thơ văn, phê bình Lỗ Tấn chia làm hai loại: tạp cảm
và tạp văn Tạp cảm gồm những bài trong đó phần trữ tình nhiều hơn, tạp văn
là những bài phần thuyết lý nhiều hơn, nhưng về sau ông đều xếp chung lại thành tạp văn cả Bởi vì ngay cả những bài luận văn bút chiến của ông, đều có phần thuyết lý và phần trữ tình Lỗ Tấn viết văn bằng cả tâm hồn, cho nên văn của ông, bất cứ thể loại nào cũng chứa chan tình cảm, cảm xúc
Tạp văn là một thể văn chính thức được nẩy sinh từ cuộc vận động cách mạng văn hóa Ngũ Tứ (1917-1921), là thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn về phương diện văn học, là kết tinh của 30 năm hoạt động văn học của ông Cù Thu Bạch - người bạn tri âm tri kỷ luôn sát cánh bên Lỗ Tấn nhận định: “Thể văn tạp cảm sẽ vì Lỗ Tấn mà trở thành tên gọi thay cho những luận văn có tính chất văn nghệ - Feuilleton chiến đấu” [63, 18]
Thời kỳ đầu, tạp văn là một thể văn bị nhiều người đương thời xem thường, xem đó là sự “sa bút” của nhà văn Họ than phiền rằng: “Trong khoảng mười năm gần đây, văn học Trung Quốc không hề sáng tác được một áng văn nào có thể gọi là kiệt tác, tác phẩm vĩ đại nữa Họ buộc cho các nhà văn cách mạng cái trách nhiệm đó Họ gọi tạp văn, là một lối văn tạp nham” [35, 169] Ngoài ra họ còn lên án Lỗ Tấn: “Trong các nhà viết tạp cảm của Trung Quốc mang nhãn hiệu lâu đời nhất tất nhiên phải kể đến Lỗ Tấn Cái
Trang 23bút pháp thầy kiện của ông ta cay độc lắm” [35, 9] Thực tiễn sáng tác của Lỗ Tấn đã phủ nhận tất cả những luận điệu kinh rẻ “thứ văn tiểu phẩm” thời bấy giờ Có một số người còn chế giễu, mỉa mai gọi ông là “nhà tạp cảm” Họ
không hiểu rằng những bài tạp văn như Những chàng “Đôngkysốt” mới của Trung Hoa dân quốc, Văn học thời cách mạng hay là Văn học và mồ côi
khiến họ cảm thấy cay cú ấy lại chính là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc Từ phong trào Ngữ Tứ, thể tạp văn đã được người ta chú ý và đã phát triển đến một trình độ cao, được nhìn nhận và đặt đúng vị trí của nó trong nền văn học Các
nhà văn tiến bộ đã lập ra các tờ tạp chí như: Mang chủng, Thái Bạch, để ủng hộ
tạp văn, nhưng chưa có cây bút nào gây được âm vang với thể văn này, phải đến Lỗ Tấn; tạp văn mới trở thành một thể văn có giá trị và có được vị trí mới trong nền văn học hiện đại Trung Quốc Tạp văn là một thể văn linh hoạt, dễ viết, những để viết hay và có sự cuốn hút thì không phải dễ, cho nên Lỗ Tấn rất chú trọng “Viết xong thế nào tôi cũng xem lại hai lần, tự mình thấy trục trặc thì thêm bớt mấy chữ”, “chỗ có thể bỏ bớt được, tôi quyết không cố thêm vào, khi viết không ra, tôi cũng quyết không cố mà viết” [48, 742 -744] Bản lĩnh và tâm huyết, nên Lỗ Tấn đã viết được văn bản tạp văn xuất sắc và thể loại này chiếm
vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn học của nhà văn
Lỗ Tấn sáng tác văn học vì mục đích cải tạo xã hội, vì đất nước, vì nhân dân, vì sự thắng lợi của cách mạng vô sản Đối với ông, văn học là một vũ khí sắc bén tấn công kẻ thù Vì sự cấp bách của sự nghiệp cách mạng mà Lỗ Tấn tìm đến với tạp văn Chín năm cuối đời ông chỉ viết tạp văn Tạp văn của Lỗ Tấn trở thành “dây thần kinh để cảm ứng, tay chân để công thủ” chống bọn phản cách mạng Hơn nữa nó rất thích hợp với những hoàn cảnh chiến đấu khẩn trương của nhà văn trên mặt trận văn học Tạp văn là một thứ vũ khí sắc bén trong tay Lỗ Tấn, góp phần to lớn vào sự nghiệp văn học, cũng như sự nghiệp cách mạng của ông nhằm xây dựng nền văn hóa văn nghệ của giai cấp vô sản Trung Quốc
Trong cuộc đời viết văn của mình, Lỗ Tấn sáng tác và thành công ở nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, nghiên cứu, dịch thuật, thư từ, nhật ký Tuy
nhiên ông dành phần lớn thời gian và trí lực cho tạp văn Từ Nấm mồ đến Thả
Trang 24giới đình tập cuối đã cho thấy quá trình phát triển tư tưởng trong sáng tác của
Lỗ Tấn, từ hiện thực cách mạng đến hiện thực xã hội chủ nghĩa và cho thấy
“linh hồn dân tộc Trung Quốc” trong đó
Tạp văn còn là nơi để Lỗ Tấn biểu lộ trực tiếp quan niệm văn học của mình Quan niệm này có sự thống nhất cao độ với quan niệm văn học ở những thể loại khác Đó là quan điểm được đúc rút, từ tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Quan niệm văn học trong tạp văn của Lỗ Tấn cho chúng ta có cái nhìn đa diện và sâu sắc hơn về tư tưởng văn học của nhà văn thiên tài này Nhất là những ý kiến đánh giá, bình phẩm trực tiếp về quan niệm nhà văn, về quan niệm văn học và cách mạng, hay một số thể loại, phạm trù thẩm mỹ khác Điều đó có ý nghĩa khẳng định vai trò và vị trí của tạp văn trong sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn nói riêng và vị trí của nó trong nền văn học Trung Quốc hiện đại và thế giới
1.2.4 Những nhân tố tạo thành quan niệm văn chương của Lỗ Tấn trong tạp văn
1.2.4.1 Những biến động lớn của thời đại
Thời Lỗ Tấn sống là thời kỳ lịch sử Trung Quốc có nhiều biến động lớn Cuộc đời Lỗ Tấn trải dài trên hai giai đoạn lịch sử: cận đại (từ 1840 đến 1911) và hiện đại (từ 1911 - 1949) Đó là những năm tháng đầy rối ren, phức tạp Sau cuộc chiến tranh Nha phiến năm 1840 với các nước đế quốc, xã hội Trung Quốc đã biến chuyển rất lớn, biến Trung Quốc trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân phải chịu bao thảm cảnh của hai tầng áp bức phong kiến và đế quốc Để cứu vãn vận mệnh nguy vong của dân tộc, quần chúng đã nhiều lần oanh liệt vùng lên đấu tranh nhưng đều thất bại Sau cuộc chiến tranh Nha phiến thì xã hội Trung Quốc thay đổi lớn Chủ nghĩa tư bản thâm nhập, câu kết với chế độ phong kiến, để bóc lột nhân dân lao động, kìm hãm xã hội Trung Quốc trong lạc hậu Chính sự thâm nhập đó nên cơ cấu giai cấp thay đổi, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản xuất hiện
Thời kỳ này phong trào vận động theo khuynh hướng dân chủ tư sản
sôi nổi Đầu tiên cuộc vận động cải lương Bách nhật duy tân (Chính biến Mậu
Trang 25Tuất 1898), do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu chủ xướng Khang Hữu Vi dâng thư cho vua Quang Tự nhưng bị phe thủ cựu của Từ Hy Thái hậu dìm đi Không nản lòng, ông tiếp tục dâng thư, viết báo và được vị vua trẻ tuổi có tư tưởng cấp tiến này chấp thuận Nhà vua ban ra mấy trăm đạo chiếu cải cách quốc gia Tuy nhiên, chỉ được 100 ngày, cuộc chính biến thất bại.
Đến năm 1911, cách mạng Tân Hợi nổ ra và dành được thắng lợi, lật đổ được chế độ phong kiến, thiết lập nhà nước dân chủ tư sản, đem lại niềm hi vọng cho người dân về thay đổi xã hội, thay đổi cuộc sống hiện tại Song sau
3 năm thành lập, chính quyền trung ương rơi vào tay tên quân phiệt phương bắc Viên Thế Khải Năm 1916, Viên Thế Khải xưng vua, lập lại chế độ phong kiến Về sau Đoàn Kỳ Thụy nắm được chính quyền, Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn chiến dai dẳng Sự thất bại của cách mạng Tân Hợi đã đẩy xã hội Trung Quốc vốn dĩ bế tắc lại càng bế tắc
Năm 1917, cách mạng tháng Mười thắng lợi ở Nga Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, giai cấp vô sản dành được chính quyền, mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân dân lao động Âm vang của cuộc cách mạng vĩ đại này, đã thức tỉnh nhân dân lao động Trung Quốc đứng lên làm cách mạng tự giải phóng Với sự kiện Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời (7/1921), giai cấp vô sản đã thực sự trưởng thành bước lên vũ đại chính trị, nắm giữ vai trò lãnh đạo
Sau khi Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời, mặt trận thống nhất cách mạng giữa Đảng cộng sản và Quốc dân đảng được thành lập (gọi tắt là Quốc Cộng), đoàn kết rộng rãi lực lượng chống đế quốc phong kiến Năm 1925 nổ
ra cuộc chiến tranh Bắc phạt nhằm tiêu diệt các tập đoàn phong kiến quân phiệt Đến đầu năm 1927, giữa lúc quân cách mạng đang thừa thắng tiến công thì bọn phản động Quốc dân đảng, do Tưởng Giới Thạch cầm đầu, được các
đế quốc giật dây làm phản Chúng tiến hành cuộc chính biến, thanh trừ đảng viên cộng sản Mặt trận thống nhất bị phá vỡ, cuộc nội chiến cách mạng lần thứ nhất thất bại
Nội chiến cách mạng lần thứ hai từ 1927 đến 1937 Sau khi nội chiến cách mạng lần thứ nhất thất bại, bọn Tưởng Giới Thạch cấu kết với đế quốc,
Trang 26xây dựng nền thống trị phát xít, ra sức vây quét, khủng bố lực lượng cách mạng và vây quét về mặt văn hóa.
Những biến động dữ dội của thời đại đã có tác động mạnh mẽ đến văn học, làm thay đổi nhiệm vụ và khuynh hướng thẩm mỹ của nó, đòi hỏi văn học phải chuyển đổi đối tượng thẩm mỹ, nhiệm vụ, chức năng Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười và dưới ánh sáng huy hoàng của chủ nghĩa Mác, cuộc vận động Ngũ Tứ (1919) đã bùng nổ, mở ra một kỷ nguyên tươi sáng trên tất cả mọi lĩnh vực văn hóa, văn học
Cuộc vận động Ngũ Tứ về cơ bản là phong trào chống phong kiến, chống đế quốc Về văn học, đó là phong trào đổi mới học thuật, tiến hành
“cách mạng văn học”, chống lại quan điểm tư tưởng của Khổng giáo Nội dung của văn học nhằm phản đế, phản phong, chống chế độ phong kiến, chống lễ giáo phong kiến Về hình thức, dùng văn bạch thoại, phản đối dùng văn ngôn Cuộc đổi mới văn học hồi đó do các học giả có tư tưởng tiến bộ
khởi xướng trên tạp chí Tân thanh niên Dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng
mác-xít, cuộc vận động cách mạng văn học ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhất là từ khi Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời Phong trào văn học mới phát
triển rầm rộ, Hội nghiên cứu văn và Sáng tạo xã ra đời Năm 1930, Đảng thành lập Hội liên minh các nhà văn cánh tả Trung Quốc (gọi tắt là Tả liên) ở
Thượng Hải Lỗ Tấn và Cù Thu Bạch xây dựng và lãnh đạo tổ chức này Tả liên đã nêu cao ngọn cờ văn học vô sản Dưới sự lãnh đạo của Tả liên, phong trào văn học vô sản phát triển mạnh và lập ra các hội nghiên cứu văn học, xuất bản hơn mười tạp chí Quốc dân đảng trấn áp phong trào cách mạng Chúng nghiêm cấm sách báo tiến bộ, đóng cửa hiệu sách báo, hạn chế xuất bản Ngoài ra còn bắt bớ, giam giữ bí mật, giết hại nhà văn cách mạng
Lỗ Tấn sống và viết văn trong bối cảnh xã hội đầy biến động dữ dội đó
Nó đã tác động đến việc lựa chọn thể loại và quan niệm sáng tác tạp văn của ông Thời đại lịch sử đó đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách Lỗ Tấn cũng như bao nhà văn tiến bộ khác không viết những tác phẩm dài hơi Xã hội Trung Quốc càng trở nên hủ bại đen tối, Lỗ Tấn càng tập trung thời gian và tâm
Trang 27huyết vào tạp văn, bởi lẽ “Lỗ Tấn là một nhà văn luôn canh cánh dùng trước tác của mình để cứu dân, cứu nước”.
1.2.4.2 Bản lĩnh, nhân cách và tài năng của một nhà văn lớn
Lỗ Tấn sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881 trong một gia đình quan lại phong kiến sa sút ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang Ông nội làm quan ở triều đình nhà Thanh Năm Lỗ Tấn 13 tuổi thì ông nội bị cách chức, hạ ngục Thân sinh Lỗ Tấn thi đỗ tú tài nhưng không ra làm quan, về sau mang bệnh nặng, không thuốc chữa chạy nên mất sớm Mẹ là Lỗ Thụy một người phụ nữ hiền lành, trung hậu kiên nghị, có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng Lỗ Tấn Thuở nhỏ Lỗ Tấn học ở quê nhà, thị hiếu văn chương của ông hình thành từ rất sớm Hoàn cảnh gia đình sa sút, đã tạo cho ông có điều kiện gần gủi với con em nông dân lao động Năm 18 tuổi, Lỗ Tấn đến Nam Kinh thi vào Thủy
sư học đường, hai năm sau lại thi vào Lộ khoáng học đường Đây là những trường tây, dạy cho học sinh những kiến thức khoa học mới Nhà trường góp phần làm cho Lỗ Tấn có tầm nhìn xa thấy rộng và tin tưởng vào khoa học tiến
bộ Ông đã tiếp thu được nhiều kiến thức, và chịu ảnh hưởng sâu sắc thuyết
tiến hóa của Đácuyn qua cuốn Thiên diễn luận của Hớtlây Lỗ Tấn luôn luôn
ca ngợi sự đổi mới, phản đối tình trạng hủ bại, căm ghét truyền thống đồi trụy
Năm 1902, Lỗ Tấn sang Nhật học nghề y với mộng rất đẹp: “định bụng tốt nghiệp, về nước sẽ chạy chữa cho những con bệnh bị lừa bịp như cha tôi” [48, 617] Nhưng rồi một hôm, sau giờ học, ông xem một đoạn phim chiếu cảnh người Nhật chém đầu một người Trung Quốc vì làm gián điệp, mà những người Trung Quốc khác lại đứng xem với vẽ mặt ngây ngô, đần độn, không hề tức giận hay xấu hổ Ông cảm thấy họ đã mất hết tính người, tinh thần đã chai sạn Điều đó làm cho Lỗ Tấn suy nghĩ và có nhận thức mới: “Dân
mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng đi chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người ta đưa ra chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi Còn như đau ốm mà có phải chết đi ít nhiều thì chưa hẳn đã là bất hạnh Cho nên, điều chúng tôi cần phải làm trước hết là biến đổi tinh thần họ và theo tôi
Trang 28hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ” [48, 617- 618] Sau đó, Lỗ Tấn từ bỏ nghề thuốc, trở về nước, kinh qua nhiều công việc khác nhau Ông dùng văn nghệ như là vũ khí chiến đấu sắc bén với bè lũ tay sai phản động, ác bá và thức tỉnh dân tình đang mê ngủ Cuộc đời sự nghiệp sáng tác và quá trình phát triển tư tưởng của Lỗ Tấn có
thể chia làm ba thời kỳ: 1.Thời kỳ trước cuộc vận động Ngũ Tứ (1881 - 1918): thời kỳ của nhà ái quốc Lỗ Tấn 2 Thời kỳ 1918 - 1927: từ tiến hóa luận đến
giai cấp luận, từ một người dân chủ cách mạng đến một chiến sĩ cộng sản
3 Thời kỳ 1928 - 1936: Thời kỳ của nhà văn học vô sản, người chiến sĩ cộng
sản Lỗ Tấn
Lỗ Tấn là nhà văn có “trước tác đẳng thân” (sách cao bằng người), sáng tác của ông đủ mọi thể loại: truyện ngắn, thơ ca, kịch, dịch thuật, thư từ, nghiên cứu, biên khảo, nhật ký, đặc biệt là tạp văn Có thể nói ở mảng đề tài nào, ở thể loại nào ông cũng biểu lộ tài năng và sự uyên bác Các tác phẩm của ông từ truyện ngắn đến tạp văn, từ thơ đến kịch và các tác phẩm dịch, khảo cứu đều thấm đượm tinh thần hiện đại và tính dân tộc
Để có được thành quả đó, trước hết ở Lỗ Tấn hội tụ đủ bản lĩnh nhân cách và một tài năng của một nhà văn lớn để vững chãi trước những biến động
dữ dội của thời đại, trước quỷ kế của kẻ thù trên mặt trận văn nghệ Thời kì
Lỗ Tấn sống là thời kì đen tối nhất trong đời sống văn hóa tư tưởng ở Trung Quốc, với sự đấu tranh của rất nhiều phe phái, khuynh hướng tư tưởng khác nhau diễn ra liên miên găy gắt Trên văn đàn cùng một lúc xuất hiện các phái văn học phong kiến, văn học mại bản, văn học bồi bút của Quốc dân đảng
Với tài năng xuất chúng và bản lĩnh của của một nhà văn hóa lớn, Lỗ Tấn trước tiên tuyên chiến hệ ý thức phong kiến và đế quốc Trung Quốc là một nước mà chế độ phong kiến đã ngự trị hàng thế kỷ Lễ giáo và đạo đức phong kiến bắt nguồn từ học thuyết của Khổng Tử; Lễ giáo phong kiến là công cụ tối ưu của giai cấp thống trị để duy trì chế độ đẳng cấp, kìm kẹp nhân dân trong kiếp nô lệ Đó là “con dao mềm giết hại không biết bao nhiêu người, mà bản thân họ cũng không hay biết” [67, 138] Lỗ Tấn sinh ra trong
Trang 29chế độ phong kiến, nhưng tắm mình trong tình cảm chân thành và hồn hậu, ông “bú sữa sói rừng” mà lớn lên, dần dần trở thành “đứa con bất hiếu’’ của giai cấp phong kiến “bề tôi hai lòng” của đẳng cấp thân sĩ Lỗ Tấn đã công phá mạnh mẽ vào lô cốt phong kiến Ông cho rằng giai cấp phong kiến là
“những xác chết” và chúng đang cố tình duy trì nền thống trị xác chết ấy Vì vậy “nhiệm vụ cấp bách trước mắt của chúng ta là: một, phải sinh tồn, hai, phải no ấm, ba, phải phát triển Nếu có những gì trở ngại cho tiền đồ ấy thì bất
luận là cổ hay kim, người hay quỷ đều đập đổ tuốt” Các bài: Tùy bút dưới đèn, Quan niệm của tôi về tiết liệt, Chuyện phiếm cuối xuân Làm kẻ phản
nghịch chống lại giai cấp xuất thân của mình, điều đó chứng tỏ Lỗ Tấn có bản lĩnh, nhân cách của một nhà văn, nhà tư tưởng tiến bộ
Sau chiến tranh thuốc phiện năm 1840, các nước đế quốc bắt đầu xâm lược Trung Quốc Giai cấp phong kiến Trung Quốc cấu kết với đế quốc, biến Trung Quốc thành một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến Từ đây chống phong kiến và chống đế quốc gắn chặt với nhau, trở thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Lỗ Tấn nhà văn cách mạng chân chính, ngòi bút của ông không những chống phong kiến, mà còn chống đế quốc triệt để Sau vụ thảm sát Ngũ tạp (1925), phong trào chống đế quốc lên cao, Lỗ Tấn đứng về phía học sinh trực tiếp tham gia biểu tình chống đế quốc Tinh thần này được thể
hiện rõ trong các bài tạp văn Kỷ niệm chị Lưu Hòa Trân, nhất là bài Hẵng khoan Phe pơlê đã
Với nhân cách của một nhà văn lớn, với bản lĩnh và tài năng, Lỗ Tấn đấu tranh chống bọn bồi bút chó săn Nhận thức được rằng “với thanh gươm, yên ngựa có thể cướp được thiên hạ, song không thể trị được thiên hạ”, để thực hiện âm mưu nô dịch tư tưởng văn hóa, bọn đế quốc, quân phiệt, tay sai
đế quốc đã tạo ra cho mình một đội ngũ văn nhân bồi bút, dùng văn hóa tư tưởng để phá hoại văn hóa tư tưởng Chúng công kích vu khống, bóp méo sự thật, xuyên tạc nhằm hạ bệ Lỗ Tấn và các nhà văn tiến bộ Với lập trường kiên cường, Lỗ Tấn không sợ hiểm nguy, không hề nao núng trước thủ đoạn của
“hạng người thứ ba” Những đòn đánh của chúng không lay chuyển được tư
Trang 30tưởng, nhân cách lớn Lỗ Tấn Với tài năng, bản lĩnh của một nhà văn lớn, Lỗ Tấn đã vững vàng phản bác lại những luận điệu tinh vi của chúng Các bài tạp văn của Lỗ Tấn đã chỉ rõ bộ mặt tàn bạo, quỷ quệt của chúng, chỉ cho mọi người cùng thấy để từ nay “chúng ta không bị mắc lừa nữa” Chính quyền Tưởng Giới Thạch đã lập ra các nhóm văn sĩ bồi bút tay sai Lỗ Tấn đã vạch trần, luận điệu giả dối phản động của chúng Cho dù mang nhãn hiệu khác nhau, bản chất chó săn của bọn chúng cũng chỉ là một Hạng người thứ ba
“chẳng qua là một lũ”, những “con mèo xu nịnh” Cái gọi là “Phê bình văn nghệ” của Lương Thực Thu chỉ là một cách “đánh hơi phỉ”, giúp chính quyền
phản động truy nã các nhà văn tiến bộ Còn bọn “văn học dân tộc” ca ngợi
truyền thống của người da vàng, nhưng mục đích chính là cổ động chống Liên
Xô, chống cộng sản Vạch trần bộ mặt thật của bọn “chó săn” là một chủ đề
chính của tạp văn Lỗ Tấn Đọc tạp văn của ông, chúng ta thấy được hình
tượng rõ nét với bản chất gian xảo, phản động của bọn chó săn bồi bút (Nghệ thuật anh hề nhí, Ba loại trùng mùa hè, Con chó bất tài của nhà tư bản ''chạy tang” ).
Qua cuộc đấu tranh chống sự vây quét văn hóa, tư tưởng của kẻ thù, bảo vệ nền văn học vô sản còn non trẻ, Lỗ Tấn trở thành văn hoá vô sản vĩ đại Tài năng xuất chúng đã giúp Lỗ Tấn đứng vững như tượng đài Ông có được sức mạnh đó chính là bởi một tấm lòng “trung với nước, hiếu với dân”, luôn lo lắng trăn trở đến vận mệnh tổ quốc, đến quốc dân đồng bào Có được bản lĩnh đó do Lỗ Tấn thấm nhuần lí luận văn nghệ mác xít và tiếp thụ được truyền thống dân tộc, do nhà văn được tôi luyện trong cuộc đấu tranh giai cấp
và dân tộc đương thời
Trang 31Chương 2 QUAN NIỆM VỀ NHÀ VĂN
Nhà văn là chủ thể quan trọng nhất của các thời đại văn học bởi họ là người sáng tạo ra tác phẩm văn chương Bởi vậy quan niệm về nhà văn là một trong những nội dung chủ yếu của quan niệm văn học của Lỗ Tấn
2.1 Những phẩm chất của nhà văn trong thời đại mới
2.1.1 Cần cù, yêu nghề và phải nỗ lực rèn luyện, học tập
Qua tạp văn, Lỗ Tấn đã thể hiện quan niệm của mình về phẩm chất của nhà văn trong thời đại biến động dữ dội, thời đại đấu tranh cách mạng nhằm dành chính quyền về tay giai cấp vô sản Là một nhà văn vĩ đại, lại luôn đứng trong dòng vận động dữ dội của xã hội Trung Quốc, đứng về phía Đảng cộng sản, đấu tranh cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Quan niệm về phẩm chất nhà văn của Lỗ Tấn có nhiều điểm mới mẻ
Trước hết, theo Lỗ Tấn, nhà văn phải cần cù và rất yêu nghề mới có thể vượt qua được những khó khăn của nghề cầm bút, phải nổ lực rèn luyện, học tập không ngừng để hiểu biết cuộc đời không ngừng thay đổi và có thể đáp ứng nhu cầu của bạn đọc
Trong bài Không nên viết như thế kia, Lỗ Tấn đã trao đổi chân tình về
kinh nghiệm viết văn Một trong những băn khoăn của nhiều nhà văn trẻ là
“nên viết như thế nào?” Hiểu rõ điều này, Lỗ Tấn đã cùng chia sẻ những kinh nghiệm viết văn, cũng là chia sẻ những khó khăn của nghề cầm bút với các cây bút trẻ: “sáng tác vốn không có bí quyết gì để có thể nói nhỏ một câu là truyền ngay lại cho người khác được Nếu không, thì có bí quyết đó là có thể đăng quảng cáo, thu tiền học, mở lớp bảo đảm ba ngày luyện thành nhà văn” [48, 563] Bản chất của công việc viết văn không phải nằm ở kỹ thuật hay bí quyết như các lĩnh vực hoặc nghề nghiệp khác Bên cạnh tài năng thiên phú, nghề văn đòi hỏi người cầm bút phải khổ công rèn luyện trau dồi không ngừng Lỗ Tấn đã chỉ ra rằng một trong những phẩm chất cần có của nhà văn
Trang 32để đạt đến thành công là sự cần cù và nỗ lực hết mình trong lao động: “Hãy xem thật nhiều tác phẩm của nhà văn lớn” Theo Lỗ Tấn, việc học tập kinh nghiệm người khác, nhất là những nhà văn tài năng là việc cần làm thường xuyên của người viết văn Việc đọc tác phẩm của các nhà văn lớn không chỉ giúp nhà văn có thêm kinh nghiệm sáng tác mà còn khơi thêm khát vọng sáng tạo cho mỗi người Chính vì vậy, Lỗ Tấn luôn mong muốn các nhà văn trẻ luôn biết vượt lên hoàn cảnh, vượt lên những thành tựu của thế hệ trước bằng việc học hỏi từ họ những kĩ thuật và nhiệt huyết sáng tạo Bản thân Lỗ Tấn là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần cầu thị trong sáng tạo văn chương.
Từ kinh nghiệm bản thân, Lỗ Tấn rút ra được nhiều bài học quý báu cho công việc viết văn Một trong những điều tâm đắc nhất của Lỗ Tấn là nhà văn phải luôn ý thức được trách nhiệm đối với xã hội, bản thân và với những
gì mình viết Ông tâm niệm rằng viết văn không thể không “sợ có hại cho bạn đọc Vì thế viết văn tôi thường càng cẩn thận hơn, càng do dự hơn”, và đối với nhà văn “viết cái gì là một vấn đề, viết như thế nào lại là một vấn đề khác” Người viết văn phải tự rèn luyện cây bút của mình để sao cho mỗi lần đặt bút viết đều cảm thấy có sức mạnh từ bên trong Sức mạnh ấy có được từ việc nhà văn luôn xác định một cách nhất quán trách nhiệm của mình đối với cuộc sống một cách tự nguyện và chân thành
Theo Lỗ Tấn thì việc rèn luyện kỹ thuật viết văn cũng như việc viết văn nói chung là một quá trình gian lao, đòi hỏi nhà văn “thứ nhất là kiên nhẫn, thứ hai là nhận chân, thứ ba là nhẫn trường” [10, 163] Điều đó có nghĩa là yêu cầu nhà văn phải nỗ lực không ngừng, không được tự mãn, phải thận trọng, có tinh thần trách nhiệm và thực sự cầu thị và không được lùi bước trước những gian nan thử trách Có thể nói đó là những yêu cầu cơ bản về tinh thần và thái độ trong việc rèn luyện nghề viết Lỗ Tấn chủ trương các nhà văn trẻ phải phát huy tính năng động sáng tạo Bên cạnh đó ông cũng khuyên ngăn ngừa tính tự mãn tự phụ: “tôi gặp không ít các nhà văn thanh niên, nói chung căn bệnh lớn nhất của họ là thấy mình còn trẻ nên tự cho là đáng quý và tốt đẹp nhất” Không tán thành điều đó, Lỗ Tấn khuyên các nhà văn trẻ phải luôn
Trang 33nâng cao tinh thần học hỏi Ông nêu lên phương hướng: “Phàm những nhà văn lớn được mọi người công nhận, thì toàn bộ tác phẩm của họ chứng minh nên viết như thế nào rồi” [48, 563] Đó là cách trả lời thiết thực nhất, chứ quyết không nên tin vào những loại sách như “phương pháp viết tiểu thuyết”, hay “cách viết tiểu thuyết” Ông nói, muốn thực sự biết “nên viết như thế này”, thì cũng phải biết thêm “không nên viết như thế kia” để có hướng đi đúng Về quan niệm này, Lỗ Tấn tán thành quan điểm của Vêxêraep trong
cuốn Nghiên cứu Gôgôn rằng: “Nên viết như thế này thì phải xem tác phẩm
nhà văn đã hoàn thành rồi mà lĩnh hội , muốn biết “không nên viết như thế kia”, có lẽ hay nhất là học tập bản thảo tác phẩm đó khi chưa viết xong Ở đây, nhà nghệ sĩ dùng những cái cụ thể mà bày cho chúng ta, giống như ông ta chỉ vào mỗi hàng mà nói với chúng ta: Anh hãy xem ! chỗ nào phải bỏ đi, chỗ nào phải rút gọn lại, chỗ này nên thay đổi, vì không được tự nhiên Chỗ này phải trang sức một chút làm cho hình ảnh thêm nổi” [48, 564]
Theo Lỗ Tấn, quan trọng nhất đối với nhà văn là phải nỗ lực rèn luyện
về tư tưởng chính trị, bởi đây là một điều kiện hết sức căn bản để tạo nên một kiểu nhà văn mới, một nền văn học mới, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Lỗ Tấn luôn quan tâm đến vấn đề khắc phục tư tưởng tư sản, xây dựng tư tưởng cách mạng cho nhà văn Trong xã hội Trung Quốc cũng như trong giới văn nghệ cách mạng trước đây, giai cấp tiểu tư sản chiếm phần lớn Sau phong trào Ngũ Tứ, những người có tư tưởng tiến bộ như Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Cù Thu Bạch v.v đã chuyển biến sang lập trường vô sản, còn đại đa số mặc dầu cũng dấn thân vào công cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, nhưng tư tưởng tình cảm và thói quen của chủ nghĩa cá nhân vẫn còn Lòng tin của họ đối với chủ nghĩa cộng sản rất trừu tượng Chi phối hành động của họ là những rung cảm có tính bản năng của chủ nghĩa cá nhân Đây
là trở ngại từ thời Tả liên, lúc mà nền văn học vô sản Trung Quốc thực sự hình
thành Những người đề xướng văn học vô sản trong nhóm Sáng tạo và Thái dương, chưa hiểu đầy đủ tính chất lâu dài, gian khổ của việc rèn luyện tư
tưởng nhà văn tiểu tư sản, “còn như văn học cách mạng triệt để mà nhóm
Trang 34Sáng tạo đề xướng - văn học vô sản - tất nhiên lại càng chỉ là một cái đề mục
Bài thơ của Vương Độc Thanh, từ trong tô giới Thượng Hải nhìn cuộc bạo động Quảng Châu xa xôi mà bên này cũng cấm, bên kia cũng cấm, “Pong, Phong Phong”, chữ in cứ to dần ra, chỉ chứng tỏ rằng ông ta từng bị kiểu chữ trên màn ảnh và bảng rao hàng của hiệu bán tương Thượng Hải làm cho cảm
động, ông ta có chí bắt chước bài Mười hai chiến sĩ của Blôc, nhưng không đủ
sức và tài” [48, 370] Chưa thấy được bản chất của nghệ thuật vô sản, đối với
họ sự chuyển biến tư tưởng và tình cảm từ giai cấp này sang giai cấp khác là bước nhảy rất dễ diễn ra: “Từ giai cấp này chuyển sang giai cấp khác, tất nhiên là chuyện có thể có được, nhưng hay hơn hết là, ý thức như thế nào, cứ nói thẳng ra, để cho đại chúng xem, biết là thù hay là bạn, rõ ràng phân minh Không nên trong đầu còn để lại bao nhiêu rác rưởi cũ, nhưng cố ý che giấu, rồi đóng kịch, chỉ vào mũi mình, nói: “Chỉ có ta đây là giai cấp vô sản!” [48, 371] Lỗ Tấn không tán thành, ông “không tin tưởng những nhà văn học cách mạng ở nhà tây mà nói, chỉ có tôi nắm được vững ý thức vô sản cho nên tôi là người vô sản chân chính” [43, 100] Lỗ Tấn nghiêm khắc phê phán tính “bản lề”, dễ thỏa mãn, bệnh ảo tưởng và ông chỉ rõ tác hại của tư tưởng tiểu tư sản đối với nền văn học cách mạng, “mặc dù tác phẩm chỉ công kích xã hội cũ, nhưng nếu không biết rõ khuyết điểm, không nhìn thấu căn bệnh, thì cũng có hại cho cách mạng” [48, 446] Phần lớn những nhà văn tiểu tư sản trí thức đều muốn đi theo cách mạng Do thân thế và thế giới quan của họ nên tính “cố hữu” là rất phổ biến, đó là cuộc đấu tranh giằng xé giữa hai con đường cá nhân và tập thể luôn diễn ra trong các nhà văn tiểu tư sản đi theo văn nghệ vô sản Lỗ Tấn thấy được việc tu dưỡng tư tưởng của các nhà văn tiểu tư sản cần lâu dài Ông phản đối lối đột biến, một lối chuyển biến dễ dàng: “Khi cuộc vận động văn học cách mạng bắt đầu sôi nổi, có nhiều nhà văn tư sản bỗng chuyển sang, lúc đó thì ta dùng thuyết đột biến để giải thích hiện tượng
ấy Đột biến là nói, lúc A sắp biến thành B, các điều kiện đã đầy đủ rồi, chỉ thiếu một nữa mà thôi; điều kiện ấy xuất hiện là biến thành B Cho nên bề ngoài tuy giống đột biến, kỳ thực không phải đột biến Nếu không có điều
Trang 35kiện đầy đủ thì dù tự mình nói đã biến rồi, thực tế vẫn chưa biến Cho nên có một số nhà văn học cách mạng tư sản bỗng một buổi chiều tự xưng là ''đột
biến'' sang, nhưng không bao lâu lại đột biến về” [48, 444 - 445] Lỗ Tấn
không thừa nhận loại văn học chỉ tỏ lòng bất mãn đối với xã hội cũ của giai cấp tiểu tư sản đã tự phong là văn học cách mạng Ông yêu cầu các nhà văn trẻ cần phải vũ trang bằng tư tưởng, lí luận của giai cấp cách mạng, có như thế mới sáng tác được văn học cách mạng Và sự chuyển biến đó là phải thật sự, phải trải qua sự rèn luyện gian khổ, bằng sự trải nghiệm thực tế của bản thân, ông nói “nếu muốn tiêu trừ tính chất ấy, phải thay đổi về ý thức ấy” và “phải
do kinh nghiệm quan sát, suy nghĩ tìm tòi mới được, không chỉ nói suông mà
có thể chuyển biến” Để làm điều đó, muốn thay đổi được ý thức thì tác giả phải là người cách mạng, “thì bất cứ viết chuyện gì”, “đều là văn học cách mạng cả”
Lỗ Tấn không chỉ nêu vấn đề rèn luyện tư tưởng, mà còn cho rằng:
“Chủ nghĩa Mác -Lê nin là chìa khóa để giải quyết mọi khó khăn, khuyên các nhà văn thanh niên phải xem nó là vũ khí để rèn luyện tư tưởng” [30, 101] Nghĩa là chỉ khi nào nắm được thế giới quan Mác -Lê nin, thì nhà văn mới có thể nhận thức sâu sắc những quy luật phát triển của cuộc sống
Tư tưởng văn nghệ của Lỗ Tấn và những ý kiến của ông về văn học và cách mạng là phù hợp với quan điểm của Đảng cộng sản Trung Quốc, thể hiện tinh thần chiến đấu cao trong quá trình vươn lên đỉnh cao của tư tưởng vô sản Điều này là kết quả tất yếu ở con người Lỗ Tấn, một nhà văn sớm có lý tưởng phục vụ cách mạng, phục vụ lợi ích của quần chúng Không những đề ra phương châm “văn học phục vụ dân sinh”, “văn học phục vụ cách mạng” mà ông còn xác định cụ thể văn học phải “tuân lệnh” đường lối chính trị của giai
cấp vô sản Trong bài tựa viết cho tập Gào thét năm 1922, Lỗ Tấn khẳng định:
“Riêng về phần tôi, tôi vẫn cho rằng hiện nay, tôi không còn phải là người có điều gì bức thiết lắm, không nói ra không được, nhưng hoặc giả, bởi vì chưa thể quên hết những nỗi quạnh hiu đau khổ của mình từ trước, nên có lúc
không thể không Gào thét lên mấy tiếng, để an ủi những kẻ dũng sĩ đang bôn
Trang 36ba trong chốn quạnh hiu, mong họ ở nơi chiến khu được vững tâm hơn Còn
như tiếng Gào thét của tôi hùng dũng hay bi ai, đáng ghét hay đáng buồn cười,
điều đó tôi không hơi đâu nghĩ đến Nhưng đã gào thét, thì phải gào thét theo mệnh lệnh của vị chủ tướng Cho nên đôi khi tôi không ngại ngùng viết những điều xấu xa với sự thực” Tư tưởng của Lỗ Tấn là ngọn cờ tiên phong giúp cho nhiều nhà văn lúc đó nhận ra được hướng đi đúng đắn, thoát ra khỏi bế tắc Chỉ có thể tuân theo kỉ luật tự giác, cùng đi với các nhà cách mạng, chứ không thể có một thứ “tuân lệnh” chung chung được: “Có điều mệnh lệnh tôi tuân theo là mệnh lệnh của những người cách mạng tiền phong lúc bấy giờ, cũng là mệnh lệnh tôi vui lòng tuân theo, chứ quyết không phải là thánh chỉ của hoàng thượng, cũng không phải của Kim, Nguyên và những tên đao phủ chính cống” Xuất phát từ đó, sáng tác của Lỗ Tấn toát lên chủ nghĩa nhân đạo cao cả và tinh thần lạc quan cách mạng Tính chất hiện thực và tính chất lãng mạn được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, sinh động trong các truyện
ngắn của tập Gào thét, Chuyện cũ viết lại và nhất là trong các bài tạp văn viết
trong thời gian đó
2.1.2 Trung thực, dũng cảm và phải hòa mình vào dòng thác cách mạng
Theo Lỗ Tấn, nhà văn phải đi sâu vào hiện thực đời sống để sáng tác là yêu cầu bức thiết trong tình hình cách mạng Trung Quốc đang diễn ra sôi nổi với nhiều biến động phức tạp Lỗ Tấn ý thức rất rõ nhà văn vô sản phải bám rễ lấy hiện thực cách mạng, biến ngòi bút thành vũ khí có sức mạnh tiến công kẻ thù
Trong bài Ý kiến về hội liên hiệp các nhà văn cánh tả, Lỗ Tấn viết:
“Tôi cho rằng hiện giờ nhà văn “cánh tả” rất dễ biến thành nhà văn “cánh hữu” Vì sao vậy? Một là, nếu không tiếp xúc với cuộc đấu tranh thực tế xã hội, chỉ ngồi sau cửa kính mà viết văn, mà nghiên cứu vấn đề thì muốn kịch liệt thế nào? Tả thế nào cũng dễ là được lắm Nhưng khi đụng vào thực tế là tan nát ngay Ngồi trong phòng thì rất dễ tán về chủ nghĩa triệt để, nhưng cũng rất dễ “hữu khuynh” [48, 404] Quan điểm này của ông về sau trở thành cương lĩnh đấu tranh thực tế của hội Tả liên Lỗ Tấn phê phán gay gắt thái độ “ngồi
Trang 37sau cửa kính” để sáng tác văn học, công khai lên án những kẻ mang ảo tưởng
về văn học và cách mạng Qua những ví dụ sinh động về các nhà văn nổi tiếng thế giới như Êxinhin, Êrenbua, Piliniat, v.v, tác giả khẳng định rằng chỉ có hoà nhập vào dòng thác của cách mạng, để trang văn đập cùng nhịp đập với hơi thở của quần chúng nhân dân thì nhà văn mới có thể sáng tác được những áng văn bất hủ Lỗ Tấn cũng chỉ trích quan niệm “nhà văn nhà thơ cao quý hơn tất
cả mọi người, công tác của họ cao quý hơn tất cả mọi công tác” [48, 406] Nhà văn, nhà thơ hơn ai hết phải là người làm cho đại chúng hiểu rõ được sự gắn bó máu thịt giữa nhà văn và nhân dân Nếu tách biệt nhà văn khỏi cuộc sống của nhân dân thì cũng đồng nghĩa với việc cắt đứt mạch nguồn sáng tạo văn học
Từ kinh nghiệm bản thân, ông nhắc nhở các nhà văn tiểu tư sản phải hoà mình vào dòng thác cách mạng, vượt ra khỏi hạn chế giai cấp để thành một nhà văn chân chính, cách mạng
Lỗ Tấn có công rất lớn đối với lịch sử phát triển văn học Trung Quốc hiện đại Ông đã nêu lên một tấm gương sáng về tinh thần tiến công liên tục, ý chí bền bỉ dẻo dai trên lĩnh vực văn nghệ Kẻ địch đã phải hoảng sợ trước những bài tạp văn của ông, đến nỗi chúng phải kêu lên: “Ông ta không có một bài nào mà trong đó ông ta không bắn một mũi tên ngầm” Các nhà văn Trung Quốc đương thời có tư tưởng tiến bộ đều kính trọng Lỗ Tấn Rất nhiều người trong số họ được sự chỉ bảo nhiệt tình của ông và trở thành những nhà văn cách mạng có nhiều đóng góp cho cuộc đấu tranh của nhân dân Lỗ Tấn là người có ý thức rất cao trong công tác văn nghệ, đặc biệt ông luôn luôn quan tâm đến vấn đề văn nghệ và cách mạng, văn nghệ và cuộc sống của quần chúng nhân dân Ông đặt ra nhiều vấn đề về tư tưởng, về trách nhiệm của nhà văn, giúp cho họ có cách nhìn đúng đắn để xây dựng một nền văn nghệ chân
chính Trong bài Trương mắt mà nhìn, Lỗ Tấn viết: “Các nhà văn Trung
Quốc, đối với cuộc sống, ít ra là đối với các hiện tượng xã hội, xưa nay phần lớn không có can đảm nhìn thẳng” [48, 283] Tác giả kêu gọi: “Thế giới ngày càng thay đổi, đã đến lúc nhà văn chúng ta cất cái bộ mặt giả đi, hãy chân
Trang 38thành, sâu sắc, can đảm nhìn vào cuộc sống và miêu tả máu và thịt của nó Đáng phải có từ lâu một văn đàn mới mẻ, đáng phải có từ lâu vài ba vị tướng dũng mãnh… Không có những vị chủ tướng đập tan những tư tưởng và những thủ pháp truyền thống kia đi, thì Trung Quốc không thể có một nền văn nghệ mới chân chính được” [48, 289].
Lỗ Tấn nhấn mạnh sự cần thiết phải có văn nghệ cách mạng cũng như
sự cần thiết nhà văn phải có tư tưởng vô sản Ông cho rằng tư tưởng vô sản
mà nhà văn cần có không thể chỉ là sự nhặt nhạnh trong sách vở, nó chỉ có thể nảy sinh trong thực tế đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân Nhà văn phải hoà mình vào trong quần chúng, tự cải tạo tư tưởng, trau dồi lí luận
vô sản “ít nhất cùng phải cùng chung sinh mệnh với cách mạng, hoặc cảm thấy sâu sắc cùng nhịp thở của cách mạng, trước hết phải dùng mắt mình mà đọc bộ sách sống thế gian” Từ đó, những sáng tác đó mới có giá trị: “Muốn viết một tác phẩm văn học cũng thế, không những phải biết thực tế của cách mạng, mà cũng phải hiểu sâu sắc tình hình của kẻ thù, tình hình hiện tại về các phương diện rồi đoán định tiền đề của cách mạng Chỉ có hiểu rõ cái cũ, nhìn thấy cái mới, tìm hiểu quá khứ, đoán được tương lai thì nền văn học của chúng ta mới có hy vọng” [48, 477] Từ vấn đề này, Lỗ Tấn đã khẳng định kiên quyết trách nhiệm nhà văn lúc này là người lính của cách mạng, đi đầu trên mặt trận chống đế quốc và phong kiến, phát hiện ra cái mới, chống cái cũ lạc hậu một cách kiên quyết, triệt để: “Huống hồ bây giờ là lúc bức thiết đến chừng nào! Nhiệm vụ của tác giả là lập tức phản ứng hoặc chống lại những sự vật có hại” [48, 769] Ông còn chỉ rõ qua quá trình tham gia đấu tranh cách mạng, nhà văn mới có một vốn sống phong phú, dồi dào, để tạo nên những tác phẩm có lợi: “Tôi cho vấn đề căn bản là ở chỗ tác giả là một người cách mạng thực sự thì bất cứ chuyện gì, dùng tài liệu gì, đều là văn học cách mạng cả Từ suối chảy ra đều là nước, từ huyết quản chảy ra đều là máu” [48, 331 - 332] Đây chính là con đường đúng nhất của một nhà văn cách mạng, người nghệ sĩ của nhân dân Chừng nào nhà văn còn chưa thực sự lao vào cuộc sống cách mạng sôi nổi đó thì khả năng hiểu biết thực tế của cách mạng để phản ánh vào
Trang 39trong sáng tác không có được Lỗ Tấn cho rằng nhà văn luôn phải có một thế giới quan đúng đắn, am hiểu thực tế cách mạng, miêu tả chân thật cuộc sống trong nhiều chiều của nó Ông cho rằng: “Văn học đại chúng của cuộc chiến tranh cách mạng dân tộc quyết không phải chỉ hạn chế ở những tác phẩm miêu
tả quân nghĩa dũng chiến đấu, học sinh đưa kiến nghị, biểu tình, thị uy, Những tác phẩm đó tất nhiên rất tốt nhưng không nên bó hẹp như thế Nó rộng rãi hơn nhiều, rộng rãi đến mức bao gồm mọi thứ văn học miêu tả ý thức đấu tranh và đời sống Trung Quốc hiện nay Bởi vì vấn đề lớn nhất của Trung Quốc hiện nay, vấn đề chung của tất cả mọi người là vấn đề sống còn của dân tộc Hết thảy mọi sinh hoạt (kể cả ăn, ngủ) đều liên quan đến vấn đề ấy Ví như ăn cơm có thể không liên quan đến yêu đương, nhưng hiện giờ việc ăn cơm, việc yêu đương của người Trung Quốc có liên quan ít nhiều đến bọn xâm lược Nhật Bản… Hiểu được điều đó thì nhà văn quan sát, sử dụng tài liệu như gỡ tơ, đã tìm ra đầu mối, nhà văn có thể tự do viết về công nhân, nông dân, học sinh, gái điếm, kẻ cướp, người nghèo, người sang, bất cứ đề tài nào cũng được; viết ra đều có thể thành văn học đại chúng của cuộc chiến tranh cách mạng dân tộc cả” [48, 581 - 582] Tính tích cực của nhà văn đã được Lỗ Tấn đưa lên hàng đầu, khuyến khích khả năng sáng tạo của người cầm bút Yêu cầu mà Lỗ Tấn đặt ra là thiết yếu, có tính cấp thiết đối với các nhà văn khi họ nhiệt tình đi theo phục vụ cách mạng, cống hiến cho sự nghiệp quần chúng những sáng tác có giá trị
Trong bài Những kẻ giết hiện tại, tác giả phê phán tình trạng thoát li đời
sống của một bộ phận các nhà văn, hoặc là do họ yếu đuối, sợ hãi không dám đối diện với hiện thực cách mạng đang hết sức khẩn trương sôi nổi nhưng cũng đầy thách thức, hoặc là ngòi bút của họ đã bị bẻ cong bởi sức mạnh của đồng tiền
Lỗ Tấn kêu gọi các nhà văn đương thời phải biết, lấy thực tế làm thước
đo cho văn học và chủ trương “sống đã rồi hãy viết” (chữ dùng của Nam Cao): “Các bạn là những người chiến đấu thực tế, là những chiến sĩ cách mạng, tôi cho rằng hiện giờ các bạn chưa cần ham chuộng văn học là phải
Trang 40hơn Đối với chiến tranh, học văn học bây giờ không ích gì, giỏi lắm là làm được thơ chiến đấu, nếu làm được hay, những lúc nghỉ ngơi sau chiến đấu, có thể đem ra xem kể ra cũng thú” [48, 328] Chủ trương hiện thực cách mạng là tiêu chuẩn của văn nghệ của Lỗ Tấn đã khích lệ được nhiều nhà văn trẻ cùng chí hướng nhiệt tình hoà mình vào dòng thác cách mạng Ý thức sâu sắc của một nhà văn vô sản cộng với tài năng xuất chúng đã khiến sự nghiệp văn học
Lỗ Tấn có giá trị to lớn đối với cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ
2.1.3 Có ý thức và khả năng xây dựng những tiêu chuẩn thẩm mĩ, đạo đức mới
Tạp văn Lỗ Tấn là vũ khí lợi hại phản kích lại cuộc tấn công của lí luận văn nghệ phản động, bảo vệ có hiệu quả những thành quả của văn học cách mạng và những nguyên tắc mĩ học mác xít Rất nhiều lần, bằng những bài tạp văn có tính chiến đấu mạnh mẽ, sắc bén, Lỗ Tấn đã đập tan những luận điệu xảo trá của những kẻ phản động núp dưới danh nghĩa nhà văn Chẳng hạn, khi Lương Thực Thu, Hồ Nguyên công kích nguyên tắc tính giai cấp trong văn học và đề xuất quan điểm tính người siêu giai cấp, Lỗ Tấn đã kịp thời viết bài
Dịch cứng nhắc và tính giai cấp của văn học Bài viết này đã chỉ rõ, trong xã
hội có giai cấp, con người thuộc về một giai cấp nhất định và văn học phản ánh đời sống con người cũng không nằm ngoài tính giai cấp đó Ông viết: “Cố nhiên, người ta, ai cũng có nỗi vui, buồn, mừng, giận, nhưng người nghèo quyết không thể có cái sầu não của nhà buôn to lỗ vốn, ông vua dầu mỏ đâu biết mùi vị cay đắng của bà già nhặt than xỉ ở Bắc Kinh, nạn dân vùng đói chắc không trồng hoa lan như cụ lớn nhà giàu nọ, lão Tiêu Đại trong phủ họ Giả không thể nào yêu Lâm Đại Ngọc” [48, 390 - 391]
Lỗ Tấn là nhà văn đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác bởi ông luôn có ý thức và có khả năng xây dựng được những tiêu chí thẩm mĩ, đạo đức trong văn học Không riêng gì truyện ngắn, tạp văn của ông mang một ý nghĩa xã hội rất rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, được đông đảo quần chúng ham thích Trong những sáng tác của mình, Lỗ Tấn đã thể hiện được tài năng và mong muốn cải tạo xã hội Với truyện ngắn, Lỗ Tấn đã tạo ra được