Lỗ Tấn là một nhà văn có ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc, cótrách nhiệm, và luôn tâm niệm viết văn để góp phần chạy chữa bệnh trạng tinhthần cho ngời dân đang từng ngày bị đầu độc
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin chân thành cảm ơn
sự hớng dẫn tận tình chu đáo của thầy giáo: Lê Thời Tân , cùng với các thầy cô trong tổ văn học Nớc ngoài - khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Vinh, tháng 5 năm 2007
Sinh viên: Hồ Nhân Tâm
Phần I: Mở đầu
I Lý do chọn đề tài:
1 Trong tiến trình lịch sử văn học Trung Quốc có nhiều những cột mốc
đáng nhớ bởi ảnh hởng và tầm quan trọng của nó Và một trong những cộtmốc đó chính là Lỗ Tấn
Lỗ Tấn là một nhà văn vĩ đại của nền văn học Trung Quốc hiện đại, thếnhng Lỗ Tấn còn là một nhà chính trị, nhà t tởng, nhà cách mạng lớn của nhândân Trung Hoa Tài năng, bản lĩnh, nhân cách của Lỗ Tấn đã là tấm gơngsáng cho lớp lớp các thế hệ độc giả của ông noi theo
Trang 2Lỗ Tấn là một nhà văn có ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc, cótrách nhiệm, và luôn tâm niệm viết văn để góp phần chạy chữa bệnh trạng tinhthần cho ngời dân đang từng ngày bị đầu độc bởi các thứ văn hóa nô dịch, magiáo, thần quyền, hủ tục… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l-ợng đồ sộ các tác phẩm trên hầu hết các thể lọai văn học nh: Truyện ngắn, tiểuthuyết, kịch, thơ, và cả tạp văn.
Trớc tác của Lỗ Tấn đề cập tất cả các khía cạnh, phạm vi trong cuộcsống xã hội Trung Hoa đờng thời với một cái nhìn độc đáo sắc sảo, nhạy bén
Lỗ Tấn đã đóng góp một phần quan trọng cho nền văn hóa mới của TrungQuốc- một nền văn hóa có sự kết hợp hài hòa giữa nét tốt đẹp của văn hóatruyền thống với tinh hoa văn hóa nhân lọai Chính vì vậy mà Chủ Tịch MaoTrạch Đông – Lãnh tụ của giai cấp vô sản Trung Quốc đã có đánh giá chân
xác đối với Lỗ Tấn “Lỗ Tấn là vị chủ tớng của phong trào cách mạng văn hóa
Trung Quốc, ông không những là nhà văn hào vĩ đại mà còn là nhà t tởng và nhà cách mạng vĩ đại Ông rất cứng rắn, ông không xu nịnh và luồn cúi bao giờ, đó là đức tính quý báu nhất của nhân dân một nớc thuộc địa Trên mặt trận văn hóa, Lỗ Tấn là đại biểu cho đại đa số toàn thể dân tộc Ông là một anh hùng dân tộc xung phong vào trận địa của kẻ thù một cách chính xác nhất, nhiệt tình nhất Phơng hớng của Lỗ Tấn là phơng hớng của nhà văn hóa mới của dân tộc Trung Hoa ” (Mao Trạch Đông, Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới).
2 Khi nhắc tới sự nghiệp văn chơng của Lỗ Tấn độc giả đa phần quantâm đến các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, đó cũng là
điều dễ hiểu, dễ chấp nhận, bởi lẽ đây là những tác phẩm đã tạo dựng sựnghiệp văn chơng của Lỗ Tấn, đánh dấu sự xuất hiện của Lỗ Tấn với mộttiếng nói không ngừng lớn mạnh Tuy nhiên còn một mảng sáng tác khác rấtthành công và không kém phần quan trọng, có khối lợng tơng đối lớn và đặcbiệt chiếm gần 2/3 thời gian sáng tác và số lợng tác phẩm của ông Đó chính
là tạp văn với 87 bút danh khác nhau gồm 650 bài in thành 16 tập: Nấm mồ,
Gió nóng, Hoa cái, Hoa cái tiếp theo, Nhặt cánh hoa tàn, Cỏ dại, Mà thôi, Tam nhàn, Hai lòng, Nam xoang bắc điệu, Viết tự do giả, Cho bàn gió trăng, văn học viền hoa, Thả giới đình I, Thả giới đình tập II, Thả giới đình tập cuối.
Đó thực sự là một di sản khổng lồ trong sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn,cho nền văn học cách mạng Trung Quốc Tạp văn của Lỗ Tấn đó chính là vũkhí đấu tranh sắc bén, hiệu quả trong hoàn cảnh cấp thiết nhng vẫn đậm chấtnghệ thuật với ngôn ngữ phong phú, hình tợng điển hình và các thủ pháp nghệ
Trang 3thuật đặc sắc.Và một điều đặc biệt là “Tạp văn Lỗ Tấn ”đã trở thành ví dụ
đ-ợc dẫn cả trong từ điển Tiếng Việt khi giải nghĩa mục từ “Tạp văn ” Điều đó
đủ chứng tỏ rằng ở thể loại tạp văn thì Lỗ Tấn là số một
Tuy nhiên có một thực tế đó là hiện nay các công trình nghiên cứu về
tạp văn của Lỗ Tấn hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức “giới thiệu” những bài văn.
Nghĩa là chỉ giúp cho ngời đọc tiếp cận với thể văn này của Lỗ Tấn một cáchthuận lợi hơn chứ cha thực sự đi sâu vào nghiên cứu những giá trị tiềm ẩntrong đó
3 Qua việc tiếp xúc với một số ít tác phẩm văn chơng của Lỗ Tấn, nhất
là các tác phẩm thuộc thể loại Tạp văn, tự bản thân tôi đã có một mối thiệncảm và thích thú với những bài viết này Trớc những lý lẽ, lập luận, dẫnchứng, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật đặc sắc… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l thực sự đã tạo dựng trong tôimột niềm đam mê
Quả thực Tạp văn Lỗ Tấn chỉ dành cho những độc giả chân chính vìqua đó ngời ta thu lợm đợc nhiều điều bổ ích cho bản thân Và nó xứng đáng
đợc nhận những lời nhận xét đánh giá mà từ trớc tới nay các vị giáo s, học giả,nhà chính trị, và toàn thể quần chúng nhân dân Trung Hoa, và thế giới đãdành cho nó Đặt vị trí mình trong t cách một độc giả bình thờng cảm mến
Tạp văn Lỗ Tấn và muốn góp thêm một chút “hơng vị” để cùng chia sẽ những
suy nghĩ hiểu biết của mình với mọi ngời nhằm tạo nên một sự đồng cảmtrong thởng thức nghệ thuật Tạp văn
Với tất cả những lý do khách quan, chủ quan nh đã trình bày ở trên,chính vì vậy bản thân tôi chọn đề tài này để làm khóa luận tốt nghiệp Đại họccho bản thân
II Lịch sử nghiên cứu Tạp văn Lỗ Tấn ở việt nam:
Lỗ Tấn đặt bút viết những bài tạp văn đầu tiên vào năm 1907, và bài tạpvăn cuối cùng ông viết một ngày trớc khi mất Nh vậy là sự nghiệp Tạp văncủa Lỗ Tấn có bề dày gần 30 năm (1907 – 1936), với 650 bài Tạp văn đã inthành 16 tập
1 Về các công trình dịch thuật:
ở Trung Quốc, năm 1933 Cù Thu Bạch đã biên soạn và đề tựa tạp văn
Lỗ Tấn Đây là một tuyển tập tạp cảm Lỗ Tấn ra đời sớm nhất ở Trung Quốc
Tạp văn của Lỗ Tấn đã đợc dịch và viết nhiều ở các nớc nh: Nga, Anh,Pháp vào những năm 30 của thế kỷ XX
Trang 4Thế nhng Lỗ Tấn và Tạp văn của ông đến Việt Nam tơng đối chậm,
ng-ời Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với tác phẩm của Lỗ Tấn là Hồ Chủ tịch Trong
cuốn “Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” , tác giả Trần Dân Tiên có viết “ông thích đọc Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Quốc cũng nh
thích đọc Shakespeare bằng tiếng Anh” Đó là vào khoảng thời gian 1924 –
1927
Ngời Việt Nam đầu tiên dịch Tạp văn Lỗ Tấn là giáo s Đặng Thai Mai
Năm 1943 ngoài việc cho đăng bản dịch A.Q chính truyện của Lỗ Tấn còn cho đăng một số bài Tạp văn trong tập “ Cỏ dại”.
Sau Đặng Thai Mai, nhất là sau ngày nớc Cộng hòa nhân dân TrungHoa thành lập (1949) ở Việt Nam đã xuất hiện một phong trào dịch, giớithiệu, nghiên cứu Lỗ Tấn rất sôi nổi, rầm rộ Năm 1955 ông Phan Khôi dịch
Tạp văn Lỗ Tấn ( NXB Văn nghệ) Bản dịch thành công đến mức sau này Tạ
Trọng Hiệp đã hết lời ca ngợi : “ May thay cho văn hóa ta, cho ngôn ngữ ta,
ngời dịch Lỗ Tấn mà tôi cho là thành công nhất không phải Đặng Thai Mai –
là ngời có công giới thiệu tên tuổi Lỗ Tấn ở Việt Nam những năm 30, 40 Không phải những ngời về sau nh ông Giản Chi ở trong Nam, ông Trơng Chính ở ngoài Bắc mà riêng cá nhân tôi Tạ Trọng Hiệp thì tôi đánh giá–
rằng trên đời này Lỗ Tấn nếu cần đợc dịch ra tiếng Việt thì Lỗ Tấn rất cần Phan Khôi gặp mình và dịch mình Cái phép lạ, ơn chúa, ơn trời đã khiến cho Phan Khôi gặp Lỗ Tấn ” (Tạ Trọng Hiệp, Phan Khôi ngời xa lạ).
Năm1963, Trơng Chính tuyển dịch 261 bài tạp văn, in thành 3 tập, dới
nhan đề: Tạp văn tuyển tập, NXB Văn học HN 1963.
NXB Văn học phát hành Tuyển tập tạp văn này đợc sắp xếp theo trình
tự thời gian từ 30/10/1926 đến 17/10/1936 Cho đến nay thì đây vẫn đợc xem
là công trình dịch thuật Tạp văn Lỗ Tấn lớn nhất Việt Nam
Đến năm 1998 trên cơ sở 261 bài tạp văn đã đợc dịch này Trơng Chính
chọn ra 114 bài, sắp xếp theo chủ đề, in thành cuốn Lỗ Tấn - Tạp văn (NXB
Giáo dục ấn hành)
Nh vậy cho đến nay, ở Việt Nam mới đợc biết đến hơn 2/3 tổng số cácbài tạp văn của Lỗ Tấn
2 Về các công trình nghiên cứu Tạp văn của Lỗ Tấn:
Trang 5Đặng Thai Mai không những là ngời có công đầu tiên trong việc pháthiện, tìm tòi, phiên dịch mà còn là ngời đã đa ra những nhận xét vô cùng sâusắc, chân xác, đầy sức thuyết phục về thi pháp Lỗ Tấn Những nhận xét đúc
rút của ông về Lỗ Tấn cho đến nay vẫn cha ai có thể vợt qua đợc: “Nếu ta
muốn tìm một vài nhà văn trên văn đàn thế giới để so sánh với Lỗ Tấn thì có
lẽ ta không phải nghĩ ngay đến Xecvantec hoặc Banzac Trên trờng kỳ lịch sử, lối văn tả chân cũng đã diễn tiến thay đổi theo hoàn cảnh xã hội và lịch sử.
Có lẽ ta nên nhắc lại tên Đoxtoiepxky và Goorki thì đúng hơn”(Lơng Duy
Thứ, Lỗ Tấn tác phẩm và t liệu, NXB GD, 1997, tr 12)
Trong cuốn Lợc sử văn học hiện đại Trung Quốc 1919 - 1927, (NXB
ST, HN 1958), Đặng Thai Mai đã có những nhận xét tổng quát về những đặc
điểm cơ bản của Tạp văn Lỗ Tấn Đặc biệt ông đã nhìn nhận, đánh giá Tạpvăn Lỗ Tấn trong xu thế phát triển chung của loại văn này ở Trung Quốc
Đồng thời ông cũng khẳng định vị trí quan trọng không thể thiếu đợc của Tạp
văn Lỗ Tấn trong bối cảnh văn học Trung Quốc thời bấy giờ: “Về số lợng
cũng nh về phẩm chất, Tạp văn của Lỗ Tấn quả có một ý nghĩa tiêu biểu cho cả một hình thức văn học và cả một thời đại” (Đặng Thai Mai, Lợc sử văn học hiện đại Trung Quốc, NXB ST, HN 1958, tr 188).
Năm 1959 Lê Xuân Vũ xuất bản cuốn Lỗ Tấn chủ t– ớng của cách mạng văn hóa Trung Quốc, (NXB VH, HN 1959) Cuốn sách này dành không
ít trang cho mảng sáng tác Tạp văn của Lỗ Tấn, Lê Xuân Vũ đã đa ra hệ thốngluận điểm khá đặc sắc cụ thể của Tạp văn Lỗ Tấn và chứng minh hệ thốngluận điểm ấy một cách sinh động, không kém phần hấp dẫn Ông đã nhìn thấy
đợc tinh thần chiến đấu triệt để của Tạp văn Lỗ Tấn, thấy đợc vai trò của Tạpvăn trong việc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và đặc biệt
thấy đợc tinh thần quốc tế vô sản tỏa sáng rực rỡ trong Tạp văn Lỗ Tấn: “Xét
về quan hệ đối với toàn thế giới mà nói, Lỗ Tấn cũng là kẻ kiên quyết phản
đối chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh đế quốc, hết lòng trung thành với sự nghiệp dành tự do và bảo vệ hoà bình thế giới” ( Lê Xuân Vũ, Lỗ Tấn “chủ t- ớng của cách mạng văn hóa Trung Quốc ”, ( NXB VH, HN 1959, tr 177)
Trong công trình nghiên cứu công phu này, Lê Xuân Vũ cũng đề cậptới rất nhiều đặc điểm về mặt nghệ thuật của Tạp văn Lỗ Tấn Và điều thú vịcủa cuốn sách là tác giả của nó đã nhìn nhận, phân tích những đặc điểm nghệthuật Tạp văn trong sự đối sánh với các thể loại khác nh: Tiểu thuyết, thơ ca,kịch
Trang 6Năm 1960 những bài giảng của giáo s Lý Hà Lâm đã đợc in thành
cuốn sách mang tựa đề: Lỗ Tấn - thân thế- t tởng –sáng tác Đây là một tậpbài giảng vô cùng quý giá về Lỗ Tấn Trong công trình này, Lý Hà Lâm đã lýgiải một cách thấu đáo về nguồn gốc, nguyên nhân ra đời của Tạp văn Lỗ Tấn,
ông cũng thấy đợc tính chính trị trong chủ đề, tính t tởng đặc sắc của Tạp văn
Lỗ Tấn , ông nói “Lỗ Tấn sáng tác tạp văn không xuất phát từ khái niệm trừu
tợng mà chính là đã xuất phát từ hiện tợng cụ thể của xã hội Lỗ Tấn có tài khai thác những vấn đề có ý nghĩa to lớn ở trong hiện tợng xã hội cụ thể”(Lý
Hà Lâm, Lỗ Tấn - thân thế- t tởng -sáng tác, NXB GD, HN 1960, tr 175) Tiếp
đó, Lý Hà Lâm đã đa ra những nhận định sâu sắc và nhiều dẫn chứng sinh
động để chứng minh cho các đặc điểm tính hình tợng, tính điển hình, muachâm biếm, thành phần trữ tình trong nghệ thuật tạp cảm của Lỗ Tấn
Đến năm 1988 Lơng Duy Thứ và Nguyễn Khắc Phi cho xuất bản Giáo
trình văn học Trung Quốc , (NXB GD) Đây là công trình nghiên cứu đồ sộ,
công phu về văn học Trung Quốc, trong đó có một phần đề cập tới Tạp văn LỗTấn Bằng con mắt nghiên cứu, phê bình sắc sảo của mình, Lơng Duy Thứ đãgọi tên các đặc điểm về nội dung của Tạp văn Lỗ Tấn một cách rất chính xác
Đồng thời ông đã đa ra những kiến giải mang tính khái quát nhất về đặc điểmnội dung đó của Tạp văn Lỗ Tấn
Năm 1997, Lơng Duy Thứ cho xuất bản Lỗ Tấn tác phẩm và t– liệu,
trong đó có tập hợp nhiều t liệu về cuộc đời Lỗ Tấn, về Tạp văn Lỗ Tấn Nổi
bật có các bài Lời tựa tuyển tập tạp cảm Lỗ Tấn của Cù Thu Bạch và bài viết mang tính cảm nhận chủ quan rất lớn của Trần áng: “ Lỗ Tấn và Tạp văn ”.
Đây là hai bài viết đã thể hiện đợc những đánh giá rất sắc sảo, tinh tế về vị tríTạp văn trong sự nghiệp văn học Lỗ Tấn
Năm 1998 Phơng Lựu xuất bản “ Lỗ Tấn nhà lý luận văn học– ” Tuytrong công trình này, hình thức tạp văn của Lỗ Tấn không đợc nói đến nhiềunhng Phơng Lựu đánh giá rất cao những đóng góp của Tạp văn Lỗ Tấn cho
nền văn học Trung Hoa hiện đại: “ Chúng ta thấy rõ thêm thể loại Tạp văn
nhờ thực tiễn sáng tác của Lỗ Tấn đã vơn đợc vị trí quan trọng trên văn đàn Trung Quốc hiện đại” (Phơng Lựu, Lỗ Tấn nhà lý luận văn học, – NXB GD,
HN – 1998, tr 283) Hầu hết t liệu cho cuốn sách đều đợc rút ra từ chính Tạp
văn của Lỗ Tấn
Còn có một số bài báo, tạp chí cũng có đề cập đến Tạp văn của Lỗ Tấn,
chẳng hạn nh: Bài Âm vang Lỗ Tấn của Lơng Duy Thứ, đăng trên tạp chí văn
Trang 7học số 6/1991; bài “Đi theo con đờng của Lỗ Tấn, dòng văn học phản tỉnh
dân tộc ra đời những gần đây ở Trung Quốc ” của Lê Huy Tiêu, đăng trên tạp
chí văn học số 4 /1995 Cả hai ông đều thấy đợc sức mạnh chiến đấu của Tạpvăn Lỗ Tấn và cũng không quên nhấn mạnh đến sức truyền cảm mãnh liệt dothể văn này mang lại
Mặc dù có rầt nhiều các công trình đề cập tới Tạp văn của Lỗ Tấn nhvậy nhng hầu hết đều chỉ mới dừng lại ở mức độ giới thiệu, đánh giá theochiều rộng chứ cha thực sự tìm hiểu theo chiều sâu những lớp ý nghĩa khácnhau mà Lỗ Tấn thể hiện trong Tạp văn của mình
III Mục đích yêu cầu:
Luận văn này nhằm vào hai mục đích cơ bản đó là:
1 Giới thiệu một cách cơ bản nhất về thể loại Tạp văn và những vấn đềliên quan đến Tạp văn của Lỗ Tấn Qua đó nhằm cung cấp cho ngời xemnhững hiểu biết chủ yếu khi theo dõi Tạp văn Lỗ Tấn Hay nói một cách dễhiểu hơn đó là những vấn đề mang tính chiều rộng trong Tạp văn Lỗ Tấn
2 Tuy nhiên mục đích chính của chúng tôi là nhằm đi sâu vào việc tìmhiểu những giá trị ẩn chứa bên trong Tạp văn Lỗ Tấn mà cụ thể ở khoá luậnnày đó chính là : Quan điểm văn học nghệ thuật bộc lộ ra trong mảng sángtác của đại văn hào
Điều này sẽ giúp cho chúng ta có đợc cái nhìn sâu sắc hơn về từng vấn
đề trong Tạp văn Lỗ Tấn và đồng thời cũng gợi mở một hớng nghiên cứu tìmhiểu mới về Tạp văn của Lỗ Tấn
Nh vậy có thể thấy rằng mục đích yêu cầu của đề tài này đó là vừa thểhiện đợc cái nhìn bao quát tác phẩm Tạp văn của Lỗ Tấn, đồng thời phải có đ-
ợc những cảm nhận sâu sắc từ những bài văn này
IV Phơng pháp nghiên cứu và phạm vi khảo sát:
1 Phạm vi khảo sát:
Do hạn chế về trình độ ngoại ngữ của bản thân chính vì vậy mà phạm vikhảo sát tác phẩm cho đề tài này của chúng tôi chỉ dừng lại ở 261 bài Tạp văncủa Lỗ Tấn đã đợc Trơng Chính dịch sang tiếng Việt và biên soạn trong 3 tập
với đầu đề: Tạp văn tuyển tập, (NXB VH, HN 19630) Sau đó vào năm 1998
thì một lần nữa Trơng Chính biên tập lại với 114 bài đợc tuyển chọn từ 3 tập
sách trên nhng đã đợc sắp xếp theo từng chủ đề riêng với tên sách là: Lỗ Tấn
Tạp văn , (NXB GD, HN 1998).
Trang 82 Phơng pháp nghiên cứu:
Vì đề tài của chúng tôi không chỉ nhằm cung cấp những đặc sắc Tạpvăn của Lỗ Tấn mà còn chú trọng vào khai thác những phơng diện chiều sâucủa những vấn đề cụ thể, chính vì vậy mà trong quá trình thực hiện chúng tôi
đã sử dụng đến nhiều phơng pháp nghiên cứu nh: khảo sát, thống kê, phân tích,
so sánh, tổng hợp để làm cho các đặc điểm của từng vấn đề hiện lên một cách
cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu
V Cấu trúc khóa luận:
Khóa luận này của chúng tôi ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận ,thìcấu trúc phần Nội dung chính đợc gồm có hai chơng :
Chơng I: Lỗ Tấn và thể loại Tạp văn – Một bối cảnh tri thức tổng quát.Chơng II: Quan điểm văn học biểu hiện trong Tạp văn của Lỗ Tấn
Phần II: Nội dung chính Chơng I: Lỗ Tấn và thể loại Tạp văn - Một bối cảnh tri thức tổng quát:
I Bản lĩnh nhân cách của một nhà văn chân chính
1 Lỗ Tấn sinh năm 1881, tại thành Thiệu Hng, tỉnh Chiết Giang, trongmột gia đình họ Chu thuộc dòng dõi phong kiến sỹ đại phu đang trên đà suytàn Thuở nhỏ theo học Hán văn, lớn lên do ý muốn mở mang tầm nhìn củabản thân mà theo đuổi Tây học Ông từng học nghề khai khoáng, sau chuyểnsang học nghề y với mong muốn chữa trị phần xác cho đồng bào một nớc ốmbệnh
Nhng rồi trong một lần tình cờ ông thấy đợc cảnh tợng những ngời
đồng bào của mình đang đứng xem cảnh lính Nhật chém đầu một ngời Trung
Quốc Ông cảm thấy “Bị xúc phạm dữ dội, rất đỗi kích động và nhận rõ thêm
rằng dân một nớc mà tinh thần còn nhu nhợc tê liệt thì thân thể dù có khỏe mạnh chăng nữa cũng trở nên đớn hèn vô dụng” ( Phơng Lựu, Lỗ Tấn nhà lý luận văn học, tr 406)
Đó là bớc ngoặt đa Lỗ Tấn đến với con đờng văn nghệ vì theo ông hồi
đó thì: “Điều chúng ta cần phải làm trớc là biến đổi tinh thần họ …Muốn biến Muốn biến
đổi tinh thần họ tất nhiên không gì bằng văn nghệ” ( Trơng Chính, Lỗ Tấn Tạp văn, tr 452).
Trang 9Trong quãng thời gian 30 năm cầm bút của mình (1906 - 1936) Lỗ Tấn
đã để lại một khối lợng đồ sộ các tác phẩm của mình ở đủ mọi thể loại:
Truyện ngắn: Đó là những tác phẩm đặt nền móng cho sự nghiệp vănchơng của Lỗ Tấn, và đó là cũng là lĩnh vực mà ông gặt hái đợc nhiều thành
công nhất Truyện ngắn Lỗ Tấn gồm 3 tập: “Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện cũ
viết lại” Trong đó có những kiệt tác đề cập đến hàng loạt các vấn đề nhân
sinh xã hội to lớn nh: Thuốc, Cố hơng, Lễ cầu phúc, Tiếc thơng những ngày
đã mất,Li hôn, Khổng ất Kỷ, Luồng ánh sáng… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l
Văn xuối tự sự: Thể hiện một sự lớn mạnh trong ngòi bút phê phán hiện
xã hội của Lỗ Tấn các các tác phẩm nh: Nhật ký ngời điên, AQ chính truyện
thực sự đã gây tác động mạnh mẽ đối với ngời đọc Đó là những trung thiêntiểu thuyết (truyện vừa), thế nhng năng lực phản ánh cuộc sống, khả năng baoquát vấn đề, cũng nh hình thức nghệ thuật của tác phẩm đã đạt đến độ hoànhảo
Thơ ca: Tuy ông tự nhận mình là ngời không có khả năng làm thơ nhngtrong quá trình hoạt động văn nghệ của bản thân , Lỗ Tấn cũng đã có sự tìmhiểu, nghiên cứu một cách khá sâu sắc thơ ca của các nhà thơ cổ điển TrungQuốc đặc biệt là tác phẩm của Đào Uyên Minh (Đào Tiềm), Đỗ Phủ… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối lCó lẽvậy mà tâm hồn thơ của ông đã đợc kích thích để ông sáng tác những bài
trong tuyển tập thơ: Dạ thảo.Tập thơ này cha đợc dịch ra tiếng Việt đầy đủ mà
chỉ mới đợc chọn dịch những bài tiêu biểu trong tập
2 Đạt đợc những thành tựu to lớn nh thế nhng không phải trong quátrình sáng tác Lỗ Tấn đợc ngồi yên để viết, cũng không phải đợc đi lại tự do,
mà quá trình sáng tạo của Lỗ Tấn thực sự là một quá trình vừa lao động nghệthuật vừa đấu tranh Bởi một điều đơn giản rằng thời đại Lỗ Tấn sống chế độxã hội đơng thời là một thời đại, một xã hội đầy biến động với những điềungang trái vô lý ở bất cứ đâu, trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của con ng-
ời đều có những việc làm bất nhân, trái tự nhiên Nhất là trong lĩnh vực vănhọc nghệ thuật thì điều đó càng đợc thể hiện một cách tinh vi xảo quyệt đòihỏi những nghệ sỹ muốn giữ đợc ngòi bút chân chính của mình thì nhữngphải có tài năng mà còn phải có nhân cách, bản lĩnh thì mới giữ đợc thiên lơngcủa ngời sáng tác
Khi đi sâu tìm hiểu những sáng tác của Lỗ Tấn thì đa phần các nhànghiên cứu đều thống nhất chia sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn ra làm 3 giai
đoạn khác nhau đó là:
Trang 10Giai đoạn từ 1881đến 1918.
Giai đoạn từ 1918 đến 1927
Giai đoạn từ 1928 đến 1936
Việc phân chia nh thế tuy chỉ mang tính chất tơng đối song nó có những
u thế rõ nét trong việc xem xét từng vấn đề cụ thể liên quan đến cuộc đời vàtác phẩm của Lỗ Tấn Với chúng tôi cách phân chia giúp nhìn rõ nét các biểucủa nhân cách, bản lĩnh ngời nghệ sỹ Lỗ Tấn
Nh chúng ta đã biết thời gian Lỗ Tấn sống là quãng thời gian đen tối và
đau thơng của nhân dân và đất nớc Trung Hoa, lãnh thổ bị chia năm sẻ bảy,nhân dân bị đầu độc u muội, các thế lực phản động mọc khắp mọi nơi Trongbối cảnh đó thì những nghệ sỹ mang t tởng tiến bộ, một lòng, một dạ lo lắng
đấu tranh cho sự an nguy của dân tộc mình nh Lỗ Tấn, thì đã trở thành đối
t-ợng “ u tiên ” số 1 cho sự tấn công hàng loạt của kẻ thù
2.1 Nhân cách bản lĩnh của Lỗ Tấn trong thời kỳ đầu tiên gắn với hành
động, việc làm của một ngời trí thức mới trớc sự vây ráp của hệ ý thức phongkiến, mà giáo lý Nho học là nền tảng cơ sở
Trung Quốc là một nớc mà ở đó chế độ phong kiến đã trị vì hàng ngànnăm lịch sử, bao trang sử đẫm máu và nớc mắt đã gắn chặt với các triều đạithịnh – suy khác nhau, nhng nhìn chung thì nhân dân lao động dù ở thời đạinào, dới sự trị vì của bất cứ ông vua nào cũng đều là những ngời cực khổnhất Chế độ phong kiến lấy đạo Nho của Khổng Tử làm nên ở tảng t tởng chomình nhng cùng với thời gian những điều hay trong học thuyết đó dần dần bịbiến đổi, mai một, rồi mất hẳn Điều còn lại sau cùng đó là một bộ giáo lý vớihàng loạt các điều khoản ràng buộc, chế ớc quyền của mỗi con ngời để nhằmmục đích thống trị một cách dễ dàng nhất Đến đời Tống với sự biên soạn củaTrình Hạo và Chu Hy thì Khổng giáo chỉ còn là những giáo lý tiêu cực phục
vụ đặc lực cho việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền Đến đời Thanh thìchính quyền dần đi vào con đờng mục nát, giáo lý đó càng trở nên phản động
Và nó đã chứng minh một điều rằng: Đó là thứ thuốc độc đã đầu độc khôngbiết bao nhiêu thế hệ ngời Trung Quốc
Lỗ Tấn là con đẻ của chế độ phong kiến, cũng bị sự tác động của đức
Khổng Tử , xã hội đó muốn Lỗ Tấn sẽ là một “ đứa con ngoan”, một bề tôi
trung toàn tâm toàn ý phục vụ, chịu để cho chúng mặc sức dẫn dắt đầu độc.Nhng không, cơn mộng mỵ ngàn năm của ngời dân Trung Quốc đến Lỗ Tấn
Trang 11thì đã thức tỉnh, cặp mắt dẫu còn nhiều bỡ ngỡ nhng đã sớm nhận ra kẻ thùcủa mình và ông đã chĩa mũi giáo nhọn, thanh gơm sắc vào những kẻ đanggiơ nanh vuốt, đang vo ve quanh mình Lỗ Tấn đã phá một cách mạnh mẽ,hiệu quả vào lô cốt phong kiến đang xuống cấp trầm trọng với những khẩuthần công han rỉ nhng vẫn còn nhả đạn Đó là những lễ giáo phong kiến tróibuộc ngời trong các mối quan hệ bất bình đẳng.
Điều này nói ra tởng chừng nh đơn giản, nhng thực chất đây là mộtcuộc đấu tranh hết sức khó khăn đối với Lỗ Tấn Bởi lẽ Lỗ Tấn là một ngời cótình cảm sâu nặng và luôn cảm thấy có trách nhiệm đối với đất nớc, với đồngbào của ông Ông say mê tìm hiểu lịch sử nớc nhà, ham thích tác phẩm củacác bậc nghệ sỹ tiền bối Một ngời có nhân cách nh Lỗ Tấn mà phải chịu làm
kẻ phản nghịch chống lại giai cấp xuất thân của mình đó quả là điều không dễdàng gì đối với ông Nhng cũng chính vì những tình cảm cao đẹp đó mà buộclòng ông phải lên tiếng đả kích, phê phán, châm biếm vào những cái hủ lậubất bình đó Ông lên án chế độ phong kiến, giáo lý Nho học không phải vớidụng tâm mu cầu danh lợi cho mình, mà ông muốn triệt tiêu nó để làm chonhân dân lao động trở nên tỉnh táo hơn, khỏe mạnh lên
Các tác phẩm tạp văn tiêu biểu nh: Quan niệm của tôi về tiết liệt, Bàn
về tháp Lôi Phong đổ , Ngày nay chúng ta làm cha nh thế nào, Nôra đi rồi thì sao, Chuyện Phiếm cuối xuân …Muốn biến
2.2 Trong xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến của Trung Quốc lúc bấygiờ thì những con ngời nh Lỗ Tấn không chỉ đối mặt với chế độ phong kiến
mà còn phải đối mặt trớc những âm mu thủ đoạn của bọn đế quốc xâm lợc.Những tên đế quốc này chúng thừa hiểu rằng: Để chiếm đợc nớc thì dùng vũlực, còn để trị nớc thì phải dùng văn hóa t tởng
Chính vì vậy mặt trận văn hóa t tởng đã đợc chúng hết sức chú trọng,chúng đã đào tạo, nuôi dỡng cả một hệ thống những tên bồi bút tay sai nhằmphục vụ cho việc truyền thứ văn hóa nô dịch, gây nên cảm giác tự ty vong bản
ở mỗi con ngời nhằm triệt tiêu ý chí phản kháng của họ Để làm đợc điều đóthì chúng đã không từ bỏ bất cứ một âm mu thủ đoạn nào, từ mua chuộc, lôikéo, dụ dỗ với những đặc quyền đặc lợi khó mà từ chối, đến những hành độngkhủng bố uy hiếp dã man dành cho những ngời không làm theo ý của chúng
Bọn bồi bút đơng thời đã ra sức công kích Lỗ Tấn và tác phẩm của ôngmột cách trắng trợn, thô thiển nhất Chúng sẵn sàng vu khống, bẻ cong, bópméo sự thật, tìm mọi cách để lăng mạ nhà văn của chúng ta Trong con mắt
Trang 12của chúng Lỗ Tấn thực sự là một cái gai mà chúng muốn sơm nhổ bỏ, mọi lờinói, việc làm của Lỗ Tấn đều bị chúng săn tìm chộp lấy và quàng vào đónhững lời lẽ xứng đáng của kẻ vô học.
Nhng rồi tất cả những đòn đánh của bọn chúng chẳng qua cũng chỉ làtiếng kêu vo ve của lũ ruồi nhặng lo sợ bị dọn mất miếng mồi Nó không hềlàm rung chuyển ý chí t tởng của một nhà nghệ sỹ lớn nh Lỗ Tấn, trái lại LỗTấn đã bình tĩnh đón nhận những đòn đánh đó rồi phân loại nó ra để có những
cú đáp trả tơng xứng nhất: Đối với những kẻ cố tình chủ mu thì ông đập lạimột cách không thơng tiếc; Đối với những kẻ bị lôi kéo mà hùa theo thì ôngdùng những lời lẽ lý giải chân tình để tự chúng nhận ra cái sai lầm của chúng
mà tỉnh ngộ lại; Còn đối với những kẻ tỏ ý hoài nghi thì Lỗ Tấn đã chứngminh cho họ thấy, đã chỉ ra cho họ biết chân tơng của những vấn đề mà họphân vân… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l
Cuộc đấu tranh với những tên tay sai, đế quốc này quả thực không đơngian, bởi vì tất cả những kẻ đứng ra đối đầu với Lỗ Tấn đều có học vấn cao,chúng cũng đợc đào tạo trong những ngôi trờng Tây, đợc tiếp thu kiến thứcmới, và tự bản thân chúng cũng có ảnh hởng ít nhiều đối với xã hội Nhữngchỉ vì nhân cách, phẩm chất con ngời của chúng có vần đề nên đã chấp nhậnlàm những điều càn quấy Phải là ngời có tài năng và bản lĩnh vững vàng thìmới có thể phản bác lại đợc những luận điệu đủ mọi sắc thái của sự xảo trá
đó Không chút nao núng lo sợ Lỗ Tấn đã giữ vững đợc lập trờng tranh đấucủa mình, nhất là sau khi ông đợc trang bị những hiểu biết cơ bản về chủnghĩa Mác - Lênin thì dờng nh những đợt phản kích và tấn công của ông vàobọn đế quốc và các thế lực tay sai càng trở nên mạnh mẽ và hiệu quả hơn Lúcnày ông không còn đơn độc mà phía sau ông đã nhận đợc sự ủng hộ của nhiềunghệ sỹ, trí thức, và nhất là thành niên Cho nên ông càng ngày càng trở nênnguy hiểm đối với chúng
Không khuất phục đợc Lỗ Tấn trên lĩnh vực văn hóa t tởng, chúngchuyển sang tìm cách thủ tiêu con đờng sống của ông, chúng đã tiến hànhphong tỏa, đóng cửa các tòa soạn, nhà in có liên quan tới ông; Chúng giải tán
đóng cửa các trờng học có Lỗ Tấn tham gia giảng dạy… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối lNhững việc làm đóchỉ chứng tỏ đợc một điều đó là sự bất lực, thất bại của chúng trớc một nhâncách thời đại Nh một cánh chim bằng trong gió bão càng thấy rõ sức mạnhcủa bản thân, Lỗ Tấn đã thản nhiên coi thờng những việc làm hèn mạc đó Nh-
ng đồng thời ông cũng cảm thấy tiếc thơng cho những kẻ có tài năng đợc đàotạo chu đáo mà lại đi làm những việc đáng khinh ôm chân kẻ thù
Trang 13Qua cuộc đấu tranh này ông cũng có lời khuyên đối với các bạn trẻ làhãy chú tâm học tập rèn luyện, nhng cũng phải không ngừng trau dồi nhâncách đạo đức cho bản thân mình, nếu không thì cũng sẽ chỉ là những thứ công
cụ để cho kẻ khác sử dụng mà thôi
Các tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài này gồm có: Hẵng khoan phepơle
đã, Ghi theo cảm hứng, Ba loại trùng mùa hè, Con chó bất tài của nhà t vản chạy tang, Chúng ta không bị lừa nữa đâu…Muốn biến
2.3 Thêm một thế lực nữa mà Lỗ Tấn cần phải vợt qua đó chính làchính quyền Quốc dân Đảng Nhà nớc Trung Quốc phong kiến Mãn Thanh đãsụp đổ sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo.Trong hoàn cảnh u tối của nớc nhà, Lỗ Tấn cũng nh nhiều ngời khác mongmuốn có sự thay đổi, vào cách mạng Tân Hợi đã phần nào đáp ứng đợcnguyện vọng đó của họ, thế nên Lỗ Tấn đã dành nhiều hy vọng vào cuộc cáchmạng này
Thế nhng chính bản thân ông lại đã sớm thất vọng về cuộc cách mạng,
đơn giản đó là vì sau cuộc cách mạng, một thể chế Nhà nớc mới ra đời, nhngcái Nhà nớc mới đó cũng chẳng làm gì để đa đất nớc Trung Quốc đi lên nhmong mỏi của ông Cách mạng đi qua mà xã hội Trung Quốc vẫn không có gìthay đổi, ngời dân vẫn cực khổ, vẫn bị đàn áp bóc lột, vẫn bị giảm hãm trongvòng u tối; Đất nớc thì vẫn nghèo nàn lạc hậu, các bè Đảng vẫn tiếp tục tranhquyền đọat vị nhằm thỏa mãn cơn khát quyền lực của một nhóm ngời
Thực trạng đó đã sớm bị Lỗ Tấn phát hiện ra, và ông đã phản ánh nómột cách chân thực vào trong các sáng tác của mình dới những hình thức thểloại khác nhau Những sáng tác đó hoặc chỉ rõ sự sai lầm của những ngời làmcách mạng, hoặc đã lột bỏ bộ mặt thật của chính quyền Quốc dân Đảng Dùvới mục đích nào thì nó cũng đã làm ảnh hởng, làm tổn hại đến uy thế củaTrung Hoa dân quốc Do vậy Lỗ Tấn đã trở thành mục tiêu hành đầu cần
quan tâm
“ ” mà những nhà lãnh đạo Quốc dân “u ái ” dành cho ông Quốc
dân Đảng không chỉ tung ra những nhân vật trí thức để công kích nhằm hạ bệ
Lỗ Tấn trên giấy bút mà chúng còn đem cả quân đội, cảnh sát, lẫn du côn đến
để tiêu diệt sinh mạng của ông Nh vậy đối mặt với bọn này thì không những
Lỗ Tấn bị tấn công bằng ngòi bút, mà cả đến tính mạng của bản thân ông vàngời thân cũng luôn bị đe dọa Lỗ Tấn và gia đình thờng xuyên phải đi lãnhnạn, nhiều nơi ông ở, làm việc đã bị đập phá thậm chí thiêu hủy, nhiều ngờibạn của ông đã bị sát hại vì tội che chở cho ông
Trang 14Nguy hiểm là thế nhng Lỗ Tấn vẫn không hề nao núng, ông tiếp tục
chiến đấu tới cùng với bọn chúng Các bài viết Tạp văn nh: Bỗng nhiên nghĩ
tới, Những lời vụn vặt, Kỷ niệm chị Lu Hòa Trân … Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l
Nh vậy ngày khi chuyển sang hoạt động văn nghệ thì Lỗ Tấn không chỉ
có tài năng mà điều quan trọng, cái đã giúp ông đứng vững đó chính là nhâncách – bản lĩnh của một ngời nghệ sỹ chân chính Nguồn sức mạnh đó ông
có đợc chính là bởi ông đã đứng từ lập trờng của nhân dân lao động , lập ờng đó cùng với cái nhìn tiến bộ của bản thân, và sau này còn đợc trang bịthêm học thuyết của Mác – Lênin đã giúp Lỗ Tấn có đợc suy nghĩ đúng đắn,hành động hiệu quả, trở thành lơng tâm của thời đại đầy bão tố
tr-Sở dĩ đến hôm nay mỗi lần nhắc tới Lỗ Tấn và những sáng tác của ông
độc giả khắp nơi đều dành cho ông một sự tôn trọng và yêu mến chân thành,
đó chính là bởi sự cảm phục trớc nhân cách và bản lĩnh của một nghệ sỹ lớnsống trong sự vây ráp và tấn công của hàng lọat các thế lực phản động thù
địch Lòng dũng cảm, ý chí kiên cờng cũng với nhiệt huyết của một ngời luôn
lo lắng đến vận mệnh đất nớc, đến vận mệnh của đồng bào mình đã giúp ông
đứng vững trớc kẻ thù Nhân dân Trung Hoa đã cảm phục gọi ông là: “Linh
Tiếng Việt đến từ “ Tạp văn ” cũng có cách lý giải của riêng mình nh:
Từ điển Tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh ( NXB Văn hóa thông tin, tr
842) đã giải thích: “Tạp văn : Nhiều loại văn lẫn lộn”.
Trang 15Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Nh ý, NXB VHTT, tr 1495) giải thích:
“Tạp văn : Loại văn gồm nhiều thể tài linh họat nh đoản thiên,tiểu phẩm, tùy
bút”.
Từ điển Tiếng Việt ( Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng 2006, tr 892) viết: “
Tạp văn: Một loại Tạp văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao“
gồm những bài bình luận ngắn, tiểu phẩm tùy bút …Muốn biến ”
Định nghĩa về Tạp văn thực sự phong phú đa dạng, phản ánh các quan
điểm của đông đảo các nhà nghiên cứu văn học khác nhau
1.1 Từ điển thuật ngữ văn học, (NXB ĐHQG, 2000 ) định nghĩa về Tạp
văn nh sau: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có
tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện xã hội ” (Tập thể tác giả, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG 2000, tr 247).
Còn trong Từ điển văn học (tập 2) NXB KHXH HN 1984 lại có tới hai
định nghĩa về Tạp văn:
Định nghĩa 1: “Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính nghệ thuật.
Phạm vi của Tạp văn rất rộng bao gồm tạp cảm, tùy cảm, tiểu phẩm, bình luận ngắn …Muốn biến Đặc điểm nổi bật là ngắn gọn ” (Tập thể tác giả, Từ điển văn học
(tập 2) NXB KHXH HN 1984, tr 333)
Định nghĩa 2: “Tạp văn là một bộ phận lớn của nhà văn Trung Quốc
Lỗ Tấn, viết theo một thể loại đặc biệt bao gồm những bài cảm nhỏ, luận văn, tùy bút, th từ, hồi ức …Muốn biến” ( ( Tập thể tác giả, Từ điển văn học (tập 2) NXB KHXH HN 1984, tr 333).
Trơng Chính trong lời giới thiệu Tạp văn tuyển tập, NXB Văn học, HN
1963 cũng đa ra cách hiểu của mình về Tạp văn nh sau: “ Tạp văn là một thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn trong ba mơi năm hoạt động văn học của ông, nhng thật ra không phải là một thể loại mới Xét nguồn gốc và phong cách của
nó thì Tạp văn chính là kế thừa và phát triển hình thức tản văn trong văn học
cổ điển Trung Quốc ” (Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học, HN 1963, tr
6)
Lơng Duy Thứ thì cho rằng : “Tạp văn là một thể loại văn học nảy sinh
từ quộc cách mạng văn hóa Ngũ Tứ, là thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn qua hai
Trang 16mơi năm hoạt động văn nghệ”(Lơng Duy Thứ, Giáo trình văn học Trung Quốc, NXB GD, HN 1997, tr 208)
Góp thêm một cách hiểu nữa về Tạp văn, Dơng Tấn Hào viết: “Theo
nghĩa đen thì hai chữ Tạp văn dùng để chỉ những thể văn đoản thiên không“ ”
đồng một thể với các tập thi ca, tản văn, tiểu thuyết và bi kich đã thịnh hành
từ xa Ngày nay bản chất thứ tạp văn đã biến tớng và danh từ đó hiện giờ đã chuyên chỉ lối văn đoản thiên những thiên tạp trở nên giàu về tính cách tranh
đấu ” (Đặng Thai Mai, Tạp văn trong văn học Trung Quốc ngày nay, NXB
Mới, 1945, trang 21)
Lê Xuân Vũ thì có cách định nghĩa tơng tự nh Trơng Chính , ông viết:
“ Tạp văn là một hình thức văn học mới, nảy mầm từ cách mạng văn học và t
tởng Ngũ Tứ, là thành tựu đặc biệt của Lỗ Tấn trong văn nghệ, là kết tinh của
ba mơi năm chiến đấu văn học của ông Tạp văn hoặc Tạp cảm là tên“ ” “ ”
do chính Lỗ Tấn đặt cho nó ” ( Lê Xuân Vũ, Lỗ Tấn “ Chủ tớng của cách mạng văn hóa Trung Quốc , ” NXB Văn hóa, HN 1959, tr 143)
Tất cả các định nghĩa, các cách hiểu về Tạp văn đã nêu trên đều đã gọi
đợc đúng tính chất và đặc điểm cơ bản nhất, khái quát nhất về thể loại Tạpvăn nói chung Nhng chúng tôi cho rằng định nghĩa ngắn gọn nhất, dễ hiểu
nhất, sâu sắc nhất về Tạp văn phải kể tới định nghĩa của Lỗ Tấn: “Thật ra
Tạp văn không phải là hàng mới bây giờ, tr
văn chơng, nếu xếp loại, thì có loại để mà xếp, bất kể thể gì, mọi thể đều xếp vào một chỗ cả, thế là thành Tạp “ ” ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3),NXB Văn học HN 1963, tr 229) Đây là một lời giải thích hay nhất về Tạp
văn của Lỗ Tấn Căn cứ vào đó mà xét thì chữ “ Tạp” trong “ Tạp văn ” là một
sự kết hợp tuyệt vời, hài hoà, nhuần nhuyễn giữa nhiều thể khác nhau Đókhông phải là một sự gán gép gợng ép, khập khiễng, mà cũng không phải là sự
xào xáo “ một mớ hỗ lốn” khác nhau mà là sự nối kết chặt chẽ các gam màu,
đờng nét trong một bức tranh mang tính nghệ thuật cao Theo đó, chúng tacũng rút ra đợc một kết luận quan trọng là: ngoài truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ
ra thì mọi sáng tác của Lỗ Tấn đều xếp vào một loại dới tên gọi chung: Tạp
văn Do đó thể tài Tạp văn của Lỗ Tấn muôn hình muôn vẻ, bao gồm những
bài cảm nghĩ vụn vặt (tạp cảm), luận văn bút chiến, diễn thuyết, tùy bút, th từ ,bình luận thơ văn, khảo cứu văn học, nhật ký, hồi ký thơ bằng văn xuôi… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối lLúc
đầu, Lỗ Tấn có ý chia ra hai loại tạp cảm và tạp văn Tạp cảm bao gồm nhữngbài mang đậm màu sắc trữ tình, Tạp văn bao gồm những bài nghiêng nhiềuhơn về thuyết lý, nhng sau này ông đều xếp chúng dới một tên gọi chung là
Trang 17Tạp văn Điều đó hoàn toàn hợp lý vì có một điều chúng ta không thể phủnhận đợc rằng ngay cả những bài luận văn, bút chiến của ông phần thuyết lýcũng không lẫn át nổi màu sắc trữ tình đậm nét bởi vì Lỗ Tấn viết văn bằngtất cả tâm hồn mình Nh vậy, nói gọn lại thì Tạp văn Lỗ Tấn là thể văn không
bị hình thức gò bó, nội dung không có gì không đề cập đến Tạp văn Lỗ Tấn
có suy luận nhng không phải là văn chính luận, nó cũng không phải là tiểuthuyết vì nó vẫn lấy nghị luận làm chính Tạp văn Lỗ Tấn luôn luôn có sự kếthợp hài hòa giữa hai yếu tố bình luận và văn nghệ Đứng về phía mặt phát biểuthẳng ý kiến của mình mà nói thì Tạp văn Lỗ Tấn tơng đối gần với văn bìnhluận, đòi hỏi có thứ tự, có lớp la của luận văn Song phơng thức triển khailôgíc của nó thì không hoàn toàn giống với văn bình luận phổ thông, vì nó làtác phẩm nghệ thuật
1.2 Có ngời quan niệm rằng: Tạp văn là một hình thức văn học mới nảymầm từ phong trào Ngũ Tứ và là một hình thức do Lỗ Tấn sáng tạo Thực ra
không phải nh vậy Vì ngay Lỗ Tấn cũng đã nói: “ Kỳ thực tạp văn cũng
không phải là món hàng mới mẻ gì của ngày nay, mà ngày x“ a cũng đã có rồi ” ”(Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr
229) Xét về nguồn gốc và hình thức biểu hiện thì Tạp văn Lỗ Tấn chính làthể văn đã kế thừa và phát triển hình thức tản văn trong văn học cổ điển TrungQuốc
Trong dòng chảy bất tận của lịch sử văn học Trung Hoa thì tản vănluôn luôn thể hiện sức sống mạnh mẽ của nó Đầu tiên phải kể đến văn xuôi
lịch sử và văn xuôi ch tử Văn xuôi lịch sử tiêu biểu là Tả truỵên, Quốc ngữ,
Chiến quốc sách; văn xuôi ch tử tiêu biểu là Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử,
Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử Đặc điểm cơ bản của văn xuôi thời kỳ này làthể hiện tính biện luận rất mạnh mẽ và tình cảm mãnh liệt, lời lẽ hoa mỹ,dùng nhiều ngụ ngôn ví von và kết cấu vô cùng chặt chẽ
Sang đời Hán, nổi lên tác phẩm Sử ký của T Mã Thiên với quy mô đồ
sộ và kết cấu chặt chẽ, dù là mô tả cảnh vật hay khắc họa tính cách nhân vật,trữ tình nghị luận đều rất thành công
Đến đời Đờng, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đã đa văn xuôi phục hồi lạisức sống và địa vị của mình Ngôn ngữ trong tản văn của Hàn Dũ và LiễuTông Nguyên mới mẻ, dản dị và sinh động Họ đã kéo chọn những cách nóigiàu sức biểu hiện trong ngôn ngữ toàn dân đơng thời tạo nên sức hấp dẫn chotác phẩm của mình
Trang 18Còn tiểu phẩm Minh – Thanh “ là một dạng quan trọng của văn xuôi
thuần văn học, văn tiểu phẩm thời kỳ này hấp thu cái tinh túy của văn xuôi
Du ký đời Đờng lại hòa nhập chất hài hớc ý nhị của văn bút ký Ngụy Tấn,–
Nam Bắc triều có sức hấp dẫn nghệ thuật rất độc đáo– ” (Tập thể tác giả,
Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, NXB Thế giới 2000, trang 13).
Nh vậy, đặc điểm của tản văn Trung Quốc là rất dồi dào chất liệu hiệnthực, hình thức biểu hiện sinh động, giàu tính hình tợng Lỗ Tấn đã kế thừanhững nét đẹp và bằng một lối đi riêng, ông đã tạo ra những tòa lâu đài Tạpvăn có kiến trúc rất đặc biệt mà không cầu kỳ, đơn giản nhng có sức cuốn hútvô cùng mạnh mẽ Lỗ Tấn rất yêu Kê Khang, ông đã lần lợt bảy lần hiệu đính
Kê Khang tập Tạp văn của Lỗ Tấn chịu ảng hởng rất nhiều từ sáng tác của Kê
Khang Bởi vì trong hầu hết cá sáng tác của mình, Kê Khang thờng có lý lẽthấu triệt, rõ ràng, giàu tính lôgic, vừa giản dị, nghiêm nhặt vừa giàu chất thơ:
“Luận văn của Kê Khang hay hơn Nguyễn Tịnh, t tởng mới mẻ, thờng thờngchống đối những thuyết cũ đời trớc, chỗ lợi hại của Kê Khang là hay nghị
luận” (Phơng Lựu, Lỗ Tấn nhà lý luận văn học, NXB GD,HN 1998, tr190) Lỗ
Tấn đã học tập và hớng tới vẻ đẹp mà tiểu phẩm đời Đờng Ông nhân thấy rõ “
Cuối Đờng, thi phong suy đồi mà văn tiểu phẩm sáng chói Những bộ Sàm Th của La ẩn cơ hồ toàn là lời phản kháng và phẫn nộ Bì Nhật Hu và Lục Quy Mông tự cao là ẩn sỹ …Muốn biến Nh ng xem những bài văn tiểu phẩm trong Bì tử văn tẩu và Lạp trạch trùng th thì họ cũng cha quên thiên hạ, chính là một làn ánh sáng, một mũi nhọn trên con đờng đất mịt mù ” (Phơng Lựu, Lỗ Tấn nhà lý
luận văn học, NXB GD,HN 1998, tr 188).
Quả thực, văn tiểu phẩm của Lỗ Tấn cũng chính là một làn ánh sáng,mọt mũi nhọn trên con đờng đất mịt mù Đó chính là bó đuốc soi đờng, khích
lệ mọi ngời vơn tới ánh sáng Theo Phơng Lựu thì khi Lỗ Tấn viết tạp văn ông
“chịu ảnh hởng nhiều nhất của văn nghị luận thời Ngụy Tấn” (Phơng Lựu, Lỗ
Tấn nhà lý luận văn học, NXB GD,HN 1998, tr 188) Lỗ Tấn đã nhận ra các
sáng tác thời kỳ này có màu sắc khác hẳn thời kỳ trớc Các tác phẩm ảnh hởng
rõ rệt của t tởng Lão Trang, màu sắc cá tính rấy nổi bật các tác phẩm biết đềcập tới nhiều hiện trạng đen tối của xã hội, biết đả phá xã hội và ớc muốn xâydựng một xã hội công bằng hơn Đó là xét về nội dung
Về mặt hình thức, chính sự buông lỏng khong tuân theo quy định ngặtnghèo của văn chơng bát cổ, lời văn trong sáng ít rờm rà song cực kỳ chặt chẽsúc tích và giàu sức thuyết phục đã thực sự làm Lỗ Tấn yêu thích say mê.Tacũng nhận thấy tất cả các đặc điểm đó đã đợc biểu hiện một cách rõ nét hơn
Trang 19bao giờ hết trong Tạp văn của Lỗ Tấn: “Lấy tạp cảm của Lỗ Tấn mà nói, phân
tích lý lẽ chặt chẽ, hành văn cuồn cuộn, đôn hậu, chất phác ẩn trong thanh cao nghiêm ngạt, khoáng đạt ở trong giản dịgọn gàng Những điều này đại để chịu ảnh hởng văn chơng Ngụy Tấn ”.(Tập thể tác giả, Lịch sử văn học hiện
đại Trung Quốc, NXBGD,HN 1999, trang335) Lỗ Tấn đã sử dụng bút pháp
châm biếm, thủ pháp so sánh, phản ngữ mợn xa nói nay để thể hiện chiều sâucủng nh sức công phá mãnh liệt trong Tạp văn của mình Đó là nét đẹp đợcchắt lọc từ chính những nét tinh túy nhất mà thể loại tản văn truyền thốngTrung Quốc đã đem lại cho Tạp văn Lỗ Tấn
Nhiều ngời cho rằng:Tạp văn là một thể văn mới do Lỗ Tấn sáng tạo ra.Thực chất đây là một cách nói cực đoan để khẳng định sự phát triển , sáng tạo
độc đáo của Lỗ Tấn khi viết thể văn này Rõ ràng là phong trào sáng tác Tapvăn sau Ngũ Tứ vô cùng rầm rộ với nhiều cây bút nổi tiếng Nhng chỉ có LỗTấn mới nâng Tạp văn lên đỉnh cao nhất của Tạp văn Trung Quốc Đó là một
đỉnh cao mà ở thời ông sống cũng nh các thời kì văn học sau này cha ai có thểvợt qua nổi Vì thế chúng ta cũng không hề ngạc nhiên khi bắt gặp nhiều cuốn
từ điển ngoài định nghĩa về thể tạp văn nói chung thì các soạn giả còn dànhnhiều giấy mực để định nghĩa Tạp văn Lỗ Tấn Điều này nói lên rằng tên tuổi
Lỗ Tấn đã gắn liền với Tạp văn Nhắc đến Tạp văn ở bất cứ thời đại nào cũngkhông thể không kể tới Lỗ Tấn Ông đã biết tận dụng triệt để nghệ thuật tạpcảm Ngoài những nét đẹp kế thừa đợc từ tản văn truyền thống, Ông còn sángtạo ra cho những bài Tạp văn của mình các đặc điểm rất riêng không thể lẫnvới bất cứ ai và cũng không thể lấy ai ra để so sánh đối chiếu Nhận xét về
điều này, Trơng Chính Viết “Lỗ Tấn đã nâng Tạp văn lên hàng một hình thức
văn học có giá trị nghệ thuật ngang hàng với hình thức văn học khác (” (Trơng
Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 19) Quả thực,
đến Lỗ Tấn thì Tạp văn mới có sức thuyết phục, cảm hóa đối với ngữnh ngờikhó tính đã từng nhiều lần công kích Tạp văn; Đến Lỗ Tấn thì Tạp văn mớinhìn nhận nh một thể văn hiên ngang bớc chân vào tòa lâu đài đồ sộ với baothể loại văn học cao quý của nền văn học Trung Hoa Tạp văn chính là cuộc
đời, là linh hồn, là cốt cách, là t tởng của Lỗ Tấn; Nếu không có Tạp văn thìcũng không thể có một Lỗ Tấn vĩ đại nh ngày nay
2 Quá trình viết Tạp văn của Lỗ Tấn:
Tại sao Lỗ Tấn lại chuyển từ sáng tác truyện ngắn sang sáng tác Tạpvăn ? Và đặc biệt càng về giai đoạn cuối đời Lỗ Tấn càng chỉ tập trung sángtác thể văn này?
Trang 20Lý giải về điều này Cù Thu Bạch đã phát biểu rất đầy đủ và sâu sắc: “
Tạp cảm của Lỗ Tấn thực tế là một loại Luận văn xã hội loại“ ” –
Feuillection chiến đấu Nếu ai nghĩ đến tình hình gần hai m
liền có thể hiểu đợc nguyên nhân phát sinh của loại văn này Đấu tranhxã hội dữ dội và khốc liệt khiến cho nhà văn không thể khoan thai đem t tởng và tình cảm của mình hun đúc trong sáng tác, biểu hiện trònh hình tợng và điển hình
cụ thể đợc ; Đồng thời, áp lực cờng bạo tàn khốc cũng không cho phép ngôn luận của nhà văn dùng hình thức thông thờng ” ( Lơng Duy Thứ, Âm vang Lỗ Tấn , Tạp chí văn học, tháng 6/1991, tr 18).
Theo đó thì nguyên nhận đầu tiên trớc nhất phải kể đến đó là tính chất
đặc biệt của thời đại Lỗ Tấn: rối ren, phức tạp
Sau triều đại Gia Khánh nhà Thanh, xã hội Trung Quốc đã ở đêm trớccủa sự tan rã do suy yếu, các mâu thuẫn trong nớc gay gắt cha từng có, khắpnơi tiềm ẩn nguy cơ xã hội Phe cực đoan trong chính phủ nhà Thanh ngumuội thối nát Từ năm 1840 đại bác của chủ nghĩa t bản nớc ngoài phá tancánh cổng của chế độ phong kiến bế quan tỏa cảng, mở màn lịch sử cận đạiTrung Quốc Xã hội Trung Quốc từ đây có những biến chuyển rất to lớn: Cơcấu gia cấp thay đổi, giai cấp vô sản, t sản mại bản xuất hiện; mâu thuẫn giữachủ nghĩa đế quốc với dân tộc Trung Hoa, giữa chế độ phong kiến với quầnchúng nhân dân trở thành mâu thuẫn chủ yếu trong lịch sử phát triển củaTrung Quốc cận đại Để cứu vãn vận mệnh nguy vong của dân tộc, nhân dânTrung Quốc đã tiến hành hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác
từ Thái Bình Thiên Quốc đến Cách mạng Tân Hợi Năm 1919 cuộc vận độngNgũ Tứ đã nổ ra - đây là một cuộc vận động ái quốc đồng thời cũng là cuộcvận động văn hóa có t tởng cách mạng triệt để Giai cấp công nhân lần đầutiên bớc lên vũ đài chính trị Sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập(1/7/1921) những cuộc tranh đấu của giai cấp công nhân nổ ra mạnh mẽ, từgiữ 1925 bắt đầu cuộc chiến tranh Bắc phạt tiêu diệt phần lớn các tập đoàn
quân phiệt do bọn đế quốc nuôi dỡng lên để thực hành thủ đoạn “ Dùng ngời
Hoa trị ngời Hoa” Cũng từ khi ấy bọn Tởng Giới Thạch, Uông Tinh Vệ do
bọn đế quốc Anh, Mỹ, Nhật sai khiến đã làm phản Chúng tiến hành cuộcchính biến Sau khi chiến tranh cách mạng lần một thất bại, Tởng Giới Thạchlại thi hành chính sách khủng bố trắng tiêu diệt lực lợng cách mạng tiến bộ
Đồng thời với chính sách “ Quân sự vi tiểu” (bao vây tiểu trừ bằng vũ lực)
chúng đã thi hành chính sách vây quét văn hóa Chính quyền bè lú Tởng
Trang 21khủng bố các nhà văn tiến bộ, đóng cửa báo chí tiến bộ, hãm hại các phần tửyêu nớc.
Thời kỳ Lỗ Tấn sống là thời kỳ đem tối nhất trên mặt trận văn hóa ởTrung Quốc với sự đấu tranh của rất nhiều phe phái khuynh hớng, luồng t tởngkhác nhau Cùng một lúc trên văn đàn Trung Quốc có các phái văn học phongkiến, văn học mại bản, văn học bồi bút của Quốc dân Đảng Nhiều kẻ côngkhai phá hoại, gây rối gây nhiễu văn hóa nh: Hồ Thích, Trần Độc Tú, HồPhong, Lâm Ngữ Đờng… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l Các cuộc đấu tranh về mặt t tởng diễn ra liên miêngay gắt nhất là cuộc đấu tranh t tởng vô sản với t tởng t sản phản động Cuộc
đấu tranh giai cấp diễn ra gay go và căng thẳng mọi thứ tự do dân chủ đều bị
cớp đoạn Đặc biệt là sau cách mạng Tân Hợi “Dới sự áp bức bóc lột tận tẹ
của đế quốc và trong tình thế cha rẽ do bọn quân phiệt phong kiến trong nớc gây nên, nớc Trung Hoa muốn thoát lý cái nạn nổi lọan ngoại xâm, tất cả phải đem những t tởng dân chủ và phơng pháp cải cách xã hội mà rót và khối
ốc đại chúng Các nhà trung kiên của phong t tởngào cải cách vừa viết lại vừa lo làm việc để mà sống; Họ bắt tay vào công tác hàng ngày để mà tổ chức, huấn luyện quần chúng ở các nông thôn, các xởng máy và có lúc phải vác sung đi lên tiền tuyến cùng quân đội nữa ” (Đặng Thai Mai, Toàn tập (tập
2 ), NXB Văn học HN, 1997, tr 170).
Trong bối cảnh xã hội đặc biệt nhiễu nhơng ấy, Lỗ Tấn cũng nh baonhiêu nhà văn tiến bộ khác không có nhiều thì giờ để hun đúc lên những trờngthiên tiểu thuyết, những tác phẩm vĩ đại dài hơi Với sự trạng biến đổi khôn l-ờng trong từng khỏang khắc mà nhà văn còn ngồi mà hun đúc lên những tác
phẩm vĩ đại thì có khác gì là “đem dao mổ bò đi cắt cổ gà ” Với Lỗ Tấn tình
trạng xã hội Trung Quốc càng trở nên hủ bại đen tối thì ông càng tập trung trílực, tài năng nhiệt huyết của mình vào Tạp văn Ngòi bút của Lỗ Tấn đã lianhanh theo sự biến động của xã hội để phản ánh nhanh chóng, kịp thời đấutranh và đã kích Trớc sự kiện tháp Lôi Phong ở Hàng Châu bị đổ, Lỗ Tấn viết
ngay hai bài Tạp văn : “ Bàn chuyện pháp Lôi Phong đổ ”, “ Lại bàn chuyện
pháp Lôi Phong đổ ”; trớc phong trào thanh nên trờng nữ s phạm Bắc Kinh bị
khủng bố, Lỗ Tấn đã cho ra đời “Kỷ niệm quên đi”, “Kỷ niệm chị Lu Hòa
Trân” để lên án kẻ thù và tởng nhớ những ngời trẻ tuổi trung kiên Trong lúc
cấp bách, Lỗ Tấn mà viết đợc những tác phẩm dài hơi thì cố nhiên rất tốt
Nh-ng tình thế đặc biệt khẩn trơNh-ng, các cuộc đấu tranh diễn ra Nh-ngày càNh-ng nóNh-ngbỏng không cho phép Lỗ Tấn ngồi yên mà gửi gắm t tởng, tình cảm vào hàngngàn trang văn mà ông phải viết nhanh, viết kịp, viết gọn, viết sâu Lý giải về
Trang 22điều này Lỗ Tấn đã nói: “ Huống chi gữa lúc gió cát đập vào mặt, hùm sói
từng đàn, ai còn có nhiều thì giờ nhàn rối để thởng ngoạn cục hổ phách treo ở nhài quạt, chiến nhẫn đeo tay bằng phỉ thúy Muốn cho vui con mắt thì họ cần
có những kiến trúc to lớn đứng sừng sững giữa gió cát, kiên cố, vĩ đại, bất tất phải tinh xảo nh thế kia, mà muốn cho thỏa lòng, thì họ cần một mũi giao, mọt khẩu súng, sắc nhọn và thiết thực, bất tất phải tao nhã làm gì ” ((Trơng
Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 434) Chính vì
vậy mà Tạp văn Lỗ Tấn là trang nhật ký ghi tất cả các sự kiện nóng hổi diễn
ra trên đất nớc Trung Hoa Nó là một tấm gơng soi xã hội với tất cả màu sắc,thanh âm và những đờng nét vô cùng đa dạng phức tạp Lỗ Tấn đã mở từng
đợt phê bình xã hội rất rộng lớn từ công kích lễ giáo, quốc túy, những cănbệnh tinh thần, vấn đề phụ nữ, nhi đồng, thanh niên, giáo dục, đến các vấn đềchống đế quốc, phong kiến, chống càn quét văn hóa, chống phản động Quốcdân Đảng, cổ vũ cho một nền văn nghệ mới tiên tiến Về điều này, Lỗ Tấn đã
từng nói: “ Vấn đề đa ra bình luận phần lớn là những vấn đề nhỏ, nên không
có gì đáng nói, mà nguyên nhân vì sao viết cũng quên mất rồi nhng cứ xem văn chơng còn lại đấy, thì trừ mấy bài bàn phiến có bài vì cầu tiên, tính tọa
đấu quyền mà viết, có bài vì bọn quan liêu cũ thời đó từ hào có bài vì cái “ bảo tồn quốc túy mà viết, có bài vì những bức tranh đã kích trên tờ Thời” “
báo Thợng Hải mà viết” ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2), NXB Văn
học HN 1963, tr 188) Và Lỗ Tấn khẳng định khả năng bám sát cuộc sống: “
Giống nh con ong hút nớc tôi chỉ bò qua bò lại trên chỗ đất bùn”(Trơng
Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2 ), NXB Văn học HN 1963, trang 228) “So
với một đài thiên văn cao lớn thì Tạp văn quả chỉ giống nh công việc của chiếc kính hiển vi bé nhỏ Nó soi nớc bẩn, soi đờm mủ, có lúc nghiên cứu vi trùng, có lúc mổ xẻ ruồi nhặng Đối với các nhà học giả cao siêu thì nó bé nhỏ, bẩn thịu, thậm chí đáng ghét nữa, nhng đối với bản thân ngời làm thì cũng một công việc nghiêm túc có quan hệ đến nhân sinh ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2), NXB Văn học HN 1963, tr 17) Và Lỗ Tấn cũng không
quên khẳng định chừng nào hiện trạng xã hội còn đầy rẫy những cảnh tợng
chớng tai gay mắt thì Tạp văn còn có tác dụng: “ Dù không căn cứ vào chủ
nghĩa nào cũng có thể sinh ra tạp cảm Tạp cảm vô cùng vô tận chính bởi vì những hiện tợng nh thế nhiều quá” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3),
NXB Văn học HN 1963, tr 243)
Có nhiều ngời cũng không lý giải nổi tại sao Tạp văn Lỗ Tấn lại chỉ códung lợng vẻn vẹn một vài trang giấy, luôn luôn phải dùng lối nói bóng gió,
Trang 23châm biếm, phản ngữ, khúc bút, phúc bút? Đồng thời có nhiều ngời ngạcnhiên không hiểu vì sao Lỗ Tấn lại dùng tới 87 bút danh khác nhau khi viếtTạp văn? Điều này cũng có lý do từ hiện trạng xã hội Trung Quốc hay nói cụthể hơn là chính sách vây quét, khủng bố, nô dịch văn hóa của bọn đế quốc,quân phiệt phản động đã không cho ngời cầm bút phản ánh cuộc sống dớihình thức thông thờng nh truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ ca Lúc này ngời cầmbút cần phải tìm cho mình một hình thức văn học thích hợp.
Đó là thời đại mà ngời ngời ra đờng gặp nhau chỉ giám hỏi thời tiết
nh-ng nh-ngời đợc hỏi cũnh-ng chỉ giám cả cời rằnh-ng “ hôm nay thời tiết ra sao …Muốn biến …Muốn biến ha
ha …Muốn biến ” Bời vì nói “ nóng” sẽ bị bắt vì ám chỉ cách mạng đang lên, bảo “ ha lạnh” thì cũng không thoát vì ám chỉ chính quyền đang đông cứng; Đó là thời
đại mà mọi ngời không ai dám nói, dám cời, dám khóc, dám chửi, dám
đánh… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l Và văn chơng thì không còn đất để sống, không còn bầu không khí
mà thở “ văn chơng bây giờ không thể có cốt khí đợc, thí dụ gửi bài đến cho
một mục nào đó trên báo, trớc hết ngời biên tập mục ấy rút vài cái xơng, rồi tổng biên tập cũng rút vài cái, nhân viên kiểm duyệt thấy lạ rút thêm vài cái nữa ”((Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr
181) Và bọn vây quét văn hóa đánh vào những tờ báo mà Lỗ Tấn gửi Tạp văn
đến: “ Phàm những tờ báo tôi gửi bài đăng thì chỉ có hai ba kỳ gửi lúc đầu
không hề gì, nhng nếu cứ gửi liên tiếp không gián đoạn, thì tờ báo không sống
đợc lâu” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr
182) Chính vì thế Lỗ Tấn phải đau xót thốt lên: “ Thế là tôi lại giận mình
sinh ra hơi muộn, sao không sinh ra sớm hơn chừng hai mơi năm vào cái thời
mà ngời ta còn đợc cời đợc nói Quả thật tôi sinh ra không gặp thời ở một thời
đại đáng nguyền rủa và ở một địa phơng đáng nguyền rủa” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 248) Trong bối cảnh đặc
biệt ấy, Lỗ Tấn không thể chọn hình thức cũ là một thiên truyện ngắn, mộtthiên tiểu thuyết để đả kích tố cáo, phê bình, bình luận đánh giá sự kiện xãhội, chính trị Nếu làm nh thế chỉ khiến cho bọn phản động đem hết oai quyền
ra để áp bức uy hiếm Mà thực ra Lỗ Tấn cũng khồng cần đem đại đội binhmã bắt đại bác vào kẻ thù, cùng không cần hô hào với thái độ trịnh trọng
Ông chỉ cần vận dụng một lối công kích rất nhẹ nhàng, chỉ cần dùng ngón “
bằng xao trắc kích” để đánh kẻ thù Chiến cụ cũng không cần nặng nề, lỉnh
kỉnh, đắt đỏ mà chỉ cần “ Một vài ngọn giáo cụt, mấy khẩu súng ngắn” cũng
có thể tiêu diệt địch trong chớp mắt Văn tiểu phẩm muốn tồn tại thì phải là“
mũi dao nhọn, là khẩu súng ngắn có cùng với ngời đọc mở con đờng sống
Trang 24bắng máu Tất nhiên nó cũng làm cho ngời ta thích thú và nghỉ ngơi, nhng đó không phải là những tiểu bài thiết và cũng không phải là lời vuốt ve an ủi,“ ”
không phải là sự tê liệt , nó làm cho ngời ta thích thú và nghỉ ngơi, nó bồi
bổ , chuẩn bị cho ngời ta làm việc và chiến đấu ” (Trơng Chính, Tạp văn
tuyển tập (tập 2), NXB Văn học HN 1963, tr 436) Nh vậy tính chất đặc biệt
đầu tiên của Tạp văn Lỗ Tấn mà ta phải kể tới là tính chất chiến đấu phê bình.Ngọn dao ấy đợc mài cực sắc để đâm một lần là trúng mạng mỡ của kể địch;khẩu súng ngắn ấy ngắm bắn chính xác để bắn một lần làm kẻ địch chết ngaykhông kịp trở tay Ngọn dao găm và khẩu súng ngắn ấy không kiêng nể bất kỳ
ai cả Đối tợng của nó có thể là những thói h tật xấu, những sự trạng h hỏng,những kẻ địch dấu mặt hay lộ mặt, những kẻ ăn ở hai lòng hay a dua nịnh hót,tất cả đều bị phóng tới bởi mũi dao găm, bắn tới bởi luồng đạn của Tạp văn LỗTấn Tạp văn Lỗ Tấn cũng không phải là thứ văn tuyển chửi ngời nh một số kẻphê bình đánh giá, nó cũng không phải công cụ để trả thù vặt cá nhân, mà đó
là những bài luận văn có tính chất xã hội T tởng Tạp văn của Lỗ Tấn là t tởngtiên tiến của thời đại Ông xuất phát từ lòng yêu nhân dân, yêu dân tộc thathiết nên khi thì viết lên những lời văn rất nồng ấm chân tình, khi thì viết lênnhững tiếng thét phẫn nộ trớc các thế lực bạo tàn, khi lại thẳng thắn mổ xẻ,phê bình những thói h tật xấu của đồng bào mình Đồng thời với cách lập luậnrất rõ ràng mạch lạc, vơí cách đa ra dẫn chứng cụ thể sống động, Tạp văn LỗTấn đã tạo ra một sức hút mãnh liệt với ngời đọc
Hình thức gọn nhẹ của tạp văn thích hợp với ngòi bút của Lỗ Tấn và
cũng là thứ “thức ăn dễ tiêu” cho “quần chúng làm lụng vất vả, lại thiếu cả
kiến thức phổ thông”(Dơng Tấn Hào) Trong mỗi bài tạp văn thì nhà t tởng,
nhà cách mạng, nhà văn Lỗ Tấn luôn luôn tồn tại ở một thể thống nhất trong
sự gắn bó hòa quyện chặt chẽ với nhau Tạp văn Lỗ Tấn là sự kết hợp giứa tduy lôgic và t duy hình tợng, giữa chất thơ và chất chính luận, giữa lý trí vàtình cảm, giữa khả năng khái quát cao và các vấn đề cụ thể, giữa lối đánh đòntrực tiếp với cũng nh cách châm biếm gián tiếp sâu cay, giữa lối nói đầy tínhbác học và cách nói dễ hiểu của quần chúng nhân dân Qua Tạp văn Lỗ Tấn
có thể hiểu đợc cách mạng văn hóa Trong Quốc từ những năm Ngũ Tứ (1919)
đến trớc cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, thấy đợc
“linh hồn đại chúng Trung Hoa”
Tạp văn là thể loại đợc Lỗ Tấn yêu thích sử dụng và sử dụng nhiều,trong một khoảng thời gian dài chính vì vậy có thể nói việc sáng tác tạp văncủa Lỗ Tấn là cả một quá trình Và quá trình đó chúng ta cũng có thể chia
Trang 25thành từng giai đoạn khác nhau dựa vào các tiêu chí nh lập trờng t tởng,nộidung chủ đề tác phẩm của Lỗ Tấn :
Giai đoạn trớc năm 1927: Đây là thời kỳ Lỗ Tấn bắt đầu viết những bàiTạp văn đầu tiên, và chịu ảnh hởng bởi học thuyết tiến hóa của Darwin và t t-ởng siêu nhân của Nitsơ Nội dung chủ yếu của những bài tạp văn này đó làchống phong kiến, chống đế quốc, phê phán các chứng bệnh tinh thần của ng-
ời dân Trung Quốc
Giai đoạn sau năm 1927: Đây là thời kỳ mà Tạp văn Lỗ Tấn đã có tiếngnói nhất định, đã thực sự trở thành một vũ khí lợi hại Những tác phẩm Tạpvăn thời kỳ này có sự biến chuyển trên phơng diện lập trờng sáng tác : Lỗ Tấn
đã từ quan điểm tiến hóa sang quan điểm giai cấp, từ lập trờng dân chủ sanglập trờng vô sản
Tuy từng giai đoạn khác nhau Lỗ Tấn viết Tạp văn dới những ảnh hởngkhác nhau về t tởng, về ý thức nên dẫn đến đề tài, chủ đề phản ánh cũng khácnhau Nhng tựu chung lại thì những bài Tạp văn của ông đều toát lên mộtkhông khí đấu tranh phê phán trực tiếp, trực diện nhằm thẳng vào đối thủ, chỉmặt vạch tên không dấu diếm quanh co Chính lẽ đó đã tạo nên sức mạnhcũng nh uy thế vô song của thể loại văn chiến đấu này
Lỗ Tấn là nhà văn viết Tạp văn xuất sắc nhất, và thể loại Tạp văn cũngnhờ Lỗ Tấn mà đạt đến đỉnh cao
III Nội dung cơ bản và vị trí Tạp văn trong sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn
1 Nội dung Tạp văn của Lỗ Tấn:
Sức mạnh, vẻ đẹp của Tạp văn Lỗ Tấn chính là nằm ở tinh thần đấutranh không khoan nhợng, với tinh thần đó ngòi bút của Lỗ Tấn đã đề cập tớihầu hết các vấn đề quan trọng, bức bách nhất trên các lĩnh vực trên các lĩnhvực kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối ltính chất thời sự luôn nóng hổi tronghơn 650 bài Tạp văn của ông Đọc Tạp văn Lỗ Tấn ngời ta dễ dàng cảm nhận
đợc bức tranh lịch sử xã hội suốt mấy ngàn năm hình thành phát triển của đấtnớc Trung Hoa Chúng ta cũng dễ nhận thấy đợc sự chuyển biến về mặt tinhthần của ngời dânTrung Quốc từ phong trào Ngũ Tứ đến trớc chiến tranhchống Nhật; Đồng thời cũng thấy đợc sự phát triển về mặt t tởng của Lỗ Tấn
từ chỗ chịu ảnh hởng quan điểm tiến hóa luận của Nitsơ (trớc 1927), sangsáng tác trên lập trờng Cách mạng vô sản với quan điểm giai cấp rõ ràng và
tinh thần chủ nghĩa tập thể Tạp văn của Lỗ Tấn có thể coi là cuốn “Bách khoa
Trang 26toàn th” về xã hội Trung Quốc, chính vì thế mà bất cứ sự kiện gì liên quan đến
đất nớc con ngời Trung Hoa đều đợc ông phản ánh một cách khá tỉ mỉ, cụ thể,sinh đông, hấp dẫn Do vậy nội dung Tạp văn Lỗ Tấn hết sức phong phú đadạng mà chúng ta có thể chia thành các vấn đề cơ bản nh sau:
1.1 Chống đế quốc, phong kiến:
Trong tổng số 261 bài Tạp văn của Lỗ Tấn đã đợc dịch ra tiếng Việt thì
số lợng bài viết về đề tài chống đế quốc, chống phong kiến tơng đối lớn79/261 (Chiếm 30%) Trong đó có 20 bài về đề tài chống phong kiến, 59 bài
về đề tài chống đế quốc Tất cả các bài này nằm rải rác trong cả 16 tập Tạpvăn của ông Những bài văn đợc chọn dịch đó đều là những bài viết khá điểnhình của Lỗ Tấn về đề tài chống phong kiến, chống đế quốc, chúng ta có thể
kể ra đây một số bài trong đó:
Về đề tài chống phong kiến có: Quan niệm của tôi về tiết liệt, Bàn
chuyện tháp Lôi Phong đổ, Bàn về các loại ảnh chụp, Chuyện phiếm cuối xuân, Trớc đèn tùy bút, Ông thánh Môđéc…Muốn biến
Về đề tài chống đế quốc có: Vòng sinh mệnh của ngời Trung Hoa, Lấy
mọi trị mọi, Bàn về chạy nạn, Chỗ chết, Soát bia…Muốn biến
1.1.1.Trong nền văn học Trung Quốc nói chung và trong sáng tác của
Lỗ Tấn nói riêng đã có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài chống phong kiến Lỗ
Tấn trong hai tập truyện ngắn đặc sắc: Gào thét, Bàng hoàng đã miêu tả một xã hội “ ăn thịt ngời” Đó là một xã hội ngột ngạt tối tăm với bao kiếp ngời bé
nhỏ đáng thơng đang phải sống trong sự quằn quại rên xiết với những nhânvật nh : AQ, Tờng Lâm, Nhuận Thổ… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l
Viết về đề tài chống phong kiến Lỗ Tấn tập trung bút lực của mình vàoviệc phản ánh, bộc lộ quan điểm ở các vấn đề sau:
Đấu trạnh chống lễ giáo phong kiến: Đây là khía cạnh đầu tiên và cũng
là khía cạnh chủ yếu đợc Lỗ Tấn đề cập trong đề tài chống phong kiến Lễgiáo phong kiến chính là công cụ đắc lực phục vụ cho âm mu của giai cấpthống trị, nó là con dao mềm giết ngời từ từ, là gông cùng đày đọa con ngờihết ngày này qua năm khác, hết thời đại này sang thời đại khác mà họ không
hệ hay biết: “bọn chúng sớm bố trí vào đấy có giàu có nghèo có lớn có bé, có
trên có dới” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963,
tr 127)
Trang 27Cái nham hiểm độc ác của lễ giáo phong kiến đợc Lỗ Tấn đi sâu vàophân tích mổ xẻ với hàng lọat những biểu hiện ở các hiện tợng, thực trạngtrong xã hội Trung Quốc đơng thời Khảo sát những bài Tạp văn viết về đề tàinày của Lỗ Tấn ta có cảm giác dờng nh ông không bỏ sót một biểu hiện nàocủa lễ giáo đạo đức phong kiến
Trớc hết ngòi bút Lỗ Tấn đánh phá mạnh mẽ vào quan niệm: “Tiết
liệt”của giáo lý phong kiến, ông đã chỉ rõ cho chúng ta thấy rằng đây chẳng
qua là một thứ giáo lý nham hiểm hòng trói buộc giao hãm khát vọng hạnhphúc của cá nhân phụ nữ mà cụ thể là những góa phụ Tiếp đó ông đánh vào
tập tục “bó chân “ một nhận thức sai lầm về cái đẹp, đây thực sự là một hủ tục
cần xóa bỏ bởi nó đi ngợc lại với phát triển lành mạnh của cơ thể con ngời
Từ những biểu hiện cụ thể nh trên của lễ giáo, đạo đức phong kiến hủbại lạc hậu thì Lỗ Tấn đã tìm đến cội nguồn của những giáo lý là xuất phát từhọc thuyết của Khổng Tử Học thuyết của khổng tử có mặt tích cực và tiêucực, nhng theo năm tháng những yếu tố tịch cực đã dần bị giai cấp thống trị
đánh chìm chỉ còn lại những mặt tiêu cực thì bị lợi dụng, và nó trở thành “
Hòn gạch gõ cửa” cửa mở rồi thì chúng sẵn sàng vứt gạch đi
Chống phong kiến Lỗ Tấn còn trực tiếp tố cáo chế độ thống trị tàn
nhẫn Qua các bài Tạp văn nh: “ Bàn chuyện tháp Lôi Phong độ, Chuyện
phiếm cuối xuân, Trớc đèn tùy bút …Muốn biến ” thì chúng ta thấy rõ cơ cấu hoạt động
của bộ máy thống trị phong kiến ở Trung Quốc là một chế độ thâm hiểm, bạotàn mà ông lấy hình ảnh con ong eo lng để hình tợng hoá Những chế độ nàycòn độc ác hơn cả con ong eo lng vì rằng con ong châm nọc độc cho con sâuxanh sống nhng không cử động đợc, thì chế độ phong kiến lại đầu độc t duycon ngời vì vậy con ngời vẫn hoạt động đợc những lại không biết suy nghĩ
Chế độ phong kiến là một toà tháp mà ở trong đó đã diễn ra biết baonhiêu bữa tiệc thịt ngời, nhng đến thời Lỗ Tấn thì nó đã rạn nứt và đứng trớcnguy cơ sụp đổ Với cặp mắt của một nhà t tởng tiến bộ thì ông biết trớc tòatháp ấy nhất định sẽ đổ, và điều đó phù hợp với quy luật của tự nhiên
1.1.2 Bên cạnh chống phong kiến thì Lỗ Tấn cũng không khoan nhợngtrớc kẻ thù của dân tộc đó là bọn đế quốc xâm lợc Sau chiến tranh thuốcphiện (1840) các nớc đế quốc nhảy vào Trung Quốc và nó cùng với giai cấpphong kiến tạo thành hai gọng kìm nô dịch siết chặt cuộc sống của nhân dânTrung Hoa
Trang 28Tạp văn Lỗ Tấn là tiếng thét phẫn nộ trớc cảnh giết ngời không ghê tay,thái độ bạo ngợc coi rẻ mạng sống con ngời của bọn đế quốc Bọn chúng đãkhông từ bỏ một thủ đoạn nào để đàn áp, đày đọa, tiêu diệt ngời dân TrungHoa, mà thủ đoạn dã man nhất đó là chúng lập ra các nhà tù kiểu phát xít mà
Lỗ Tấn gọi mỉa mai là “ Nhà tù văn minh, Nhà tù kiểu Tây” ở đó bọn chúng
đã tổ chức một cách có tầng bậc, tra tấn vừa khôn khéo vừa dã man, chính nhà
tù kiểu này đã “ phát minh” ra hàng lọat các kiểu hành hình mới cha hề xuất hiện trong lịch sử nhà tù Trung Hoa “riêng về mặt hình phạt, tôi mới hiểu đợc
Trung Quốc hiện nay có: 1 Rút mày, 2 Cỡi ghế hổ, 3 Giẫm đòn gán, tức là bắt tội phạm quỳ xuống lấy một thanh sắt để treo trên eo chân hai ngời lực lợng
đứng hai đầu dần dần tăng lên tám ngời, 4 quỳ trớc vòng lửa, tức là lấy những vòng sắt đốt đỏ lên để giữa đất, bắt tội phạm quỳ lên trên, 5 còn có một kiểu gọi là ăn tức là đổ n“ ” ớc ớt + dầu hỏa + giấm rợu vào mũi …Muốn biến ” (Trơng
Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 445) Ngoài các kiểu tra tấn đó thì còn có cách tra tấn bằng điện: “ Thợng Hải có tra điện, bớc
lên toàn thân đau xé, ngất đi, một lúc tỉnh dậy lại tra cho đến khi , răng lung lay hết, thần kinh tê dại không sao bình phục đợc nữa” (Trơng Chính, Tạp văn
tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, trang 18)
Chế độ nhà tù tàn bạo cha phải là tất cả tội ác của bọn đế quốc, mà bọnchúng còn dã man tàn bạo hơn nhiều với những cách mà chúng sử dụng để
giữ yên xã hội ,
“ ” sinh mạng của những ngời dân Trung Quốc bị chúng xem
nh cỏ rác Chính vì vậy mà chúng ngang nhiên thực hiện các vụ thảm sát đốivới những con ngời tiên tiến của xã hội, cũng nh đối với dân thờng Với sự hỗtrợ đắc lực của những vũ khí đạn tối tân
Thâm độc hơn nữa là bọn đế quốc còn thực hiện chính sách “dùng ngời
Hoa trị ngời Hoa”, chúng đã nuôi dỡng dung túng một đội ngũ những tên tay
sai ngời bản xứ để thực hiện ý đồ “ nồi da nấu thịt” gây nên cảnh huynh đệ
t-ơng tàn, vì vậy nên mới có chuyện “ học trò Thợng Hải mua máy bay, còn học
trò Bắc Bình đào hầm trú ẩn” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB
Văn học HN 1963, tr 84)
Trang 29Dới ngòi bút Lỗ Tấn đế quốc phong kiến hiện lên với sự kết hợp chặtchẽ thành một cỗ máy cai trị tàn bạo nhất Giờ đây ngời Trung Quốc khôngchỉ bị giết bằng con dao mềm của lễ giáo hủ tục phong kiến, mà còn bị giếtbởi súng đạn ngoại quốc Chính vì thế mà Lỗ Tấn đã dõng dạc khẳng định
rằng : “ Nếu là cho cắn ngời thì tôi thấy đều thuộc loại nên đánh cả” (Hãy
khoan phepơlê) Điều này thể hiện một tinh thần đấu tranh chống phong kiến
đế quốc rất sâu sắc, triệt để không khoan nhợng Đây là một tinh thần đấutranh cha từng thấy trong lịch sử văn học Trung Quốc trớc Lỗ Tấn Đặc biệt ởgiai đoạn sau năm 1927 khi Lỗ Tấn đã đợc tiếp thu t tởng Mác thì tinh thần
đấu tranh này đã mang màu sắc khoa học biện chứng thực sự Lỗ Tấn đã chỉ rarằng đấu tranh không chỉ là mù quáng xông vào đánh địch mà muốn tính hànhcuộc đấu tranh đợc triệt để và lâu dài thì nhất định phải xây dựng đợc lực lợngtốt về chất, dồi dào về số lợng
1.2 Phê phán bệnh trạng xã hội:
Lỗ Tấn sống suốt cả đời mình trong sự gắn bó mật thiết với nhân dân,
ông hiểu thấu niềm đau, nỗi khổ cũng nh cảnh đời bất hạnh của họ, nhng đồng
thời ông cũng nhận thấy những nhợc điểm cố hữu, những “bệnh trạng” làm
cho họ khổ Và ông đã chỉ rõ những căn bệnh ấy ra với một thái độ chân thànhmong tìm đờng chữa trị Nếu nh trong truyện ngắn, Lỗ Tấn đã mổ xẻ nhữngcăn bệnh tinh thần của nhân dân Trung Hoa thông qua các hình tợng bất hủ
nh: AQ, Khổng ất Kỷ, Tờng Lâm, Nhuận Thổ… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l thì đến Tạp văn với bút pháp
đặc biệt ông đã trực tiếp phê bình , bài bác, công kích để trực tiếp chữa bệnhthông qua những con bệnh đã đến kỳ nguy hiểm
Trong tổng số 261 bài Tạp văn đợc dịch ra Tiếng Việt thì đã có tới 71(chiếm 27,2%) bài đề cập đến vấn đề này Qua những bài viết đó chúng ta cóthể thấy đợc những căn bệnh của ngời dân Trung Quốc nguy hiểm đến mứcnào, trở thành kẻ thù ác liệt đi ngợc của tiến trình phát triển của dân tộc và xu
thế đi lên của nhân loại Các bài viết nh: Bàn qua về bộ mặt của ngời Trung
Quốc, Số mệnh, Ông thầy học đầu tiên của tôi, Ba hồn của hạ giới, Đẻ non và tuyệt nòi, Bàn về các loại ảnh chụp …Muốn biến Thực sự là những bài viết thấu lý đạt
tình, cái lý ở đây chính là việc Lỗ Tấn đã chỉ đúng những căn bệnh trong tinhthần mà ngời dân Trung Quốc mắc phải, còn cái tình ở đây chính là việc ông
đã đứng trên lập trờng của nhân dân để nói chuyện một cách nhiệt tình, chânthành với ý nguyệt bảo vệ, giáo dục chữ không phải công kích, thóa mạ khiếncho mọi ngời thấy chằng còn cơ hội nào mà sửa chữa đi lên nữa
Trang 30Căn bệnh tinh thần của ngời Trung Quốc theo Lỗ Tấn đó chính là bảothủ trì trệ, mê muội tê liệt a dua mù quáng, tự kiêu, tự mãn, lai căng, khiếp nh-
ợc trớc quyền lực… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l Nguyên nhân dẫn đến nhng căn bệnh này chính là bởi sựtiêm nhiễm các loại vi rút của xã hội phong kiến, và nọc của xã hội thuộc địa
1.2.1 Mê muội tê liệt:
Đây là căn bệnh đợc Lỗ Tấn mổ xẻ qua rất nhiều bài Tạp văn nh : Sự
lợi hại của điện, Sự suy tàn của bộ Âu phục, Đồ chơi, Bàn qua về bộ mặt của ngời Trung Quốc, Số mệnh, Ông thầy học đầu tiên của tôi…Muốn biếnSự mê muội tê liệt
nằm trong bất cứ một hoạt động nào của ngời dân Trung Quốc từ toán, y, lý,
số
Sự mê muội đợc thể hiện trong các tập tục lạc hậu mà Lỗ Tấn xót xa chỉ
ra những chuyện nghịch lý vẫn diễn ra thờng ngày: “Ngoại quốc dùng thuốc
súng làm đạn chống địch Trung Quốc lại dùng làm pháo thờ thần, ngoại quốc dùng kim làn bàn để đi biển Trung Quốc lại dùng xem phong thủy, ngoại quốc dùng thuốc phiện chữa bệnh Trung Quốc dùng thay cơm…Muốn biến”(Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 18) Nghịch lý đó thất
thoát từ sự u mê ngu dốt mà ra Ngời Trung Quốc theo Lỗ Tấn còn là nhữngngời mê tín dị đoan bậc nhất, đây là một căn bệnh trầm kha khó chữa nó dờng
nh đã ăn sâu bén rễ trong đầu óc của con ngời từ đời ông sang đời cha đến đời
con, đời cháu: “Ngời đã chết nhng ngời sống vẫn phải đốt cho một cái nhà
giấy có đủ cả bàn đánh bài, khung thuốc phiện” còn có các vị đạo sỹ có thể ra
tay để trừ số mệnh hẩm hiu của ngời, còn tin vào bừ chú thần thánh hơn cả tinbản thân mình
Đặc biệt căn bệnh này còn đợc thể hiện rõ trên các khuôn mặt của ngờiTrung Quốc, Lỗ Tấn đã nhanh chóng chụp lấy những gơng mặt điển hình này
Đầu tiên là khuôn mặt của ngời lớn “Mỗi khi họ thấy cái gì thờng ít gặp, hoặc
1 ngời đàn bà đẹp, hay là nghe chuyện gì đến say mê thì cằm họ cứ dần trễ xuống làm cho cái miệng há hốc ra ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2),
NXB Văn học HN 1963, tr 54); Đến khuôn mặt trẻ con thì: “ mày cụp lại,
mắt nhìn sấp, cứ khom lng lùi bớc” , “ mặt xanh lè gây gò nấp sau lng ngời lớn nhìn vẻ sợ sệt khéo nép” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB
Văn học HN 1963, tr 206) Cứ nhìn vào những gơng mặt đó chúng ta ngày naykhông khỏi xót xa cho một thời con ngời ngu dốt suy nhợc, u mê, tăm tối, đờ
đẫn, và điều đau xót hơn nữa nó lại trở nên quen thuộc, phổ biến có sự ditruyền tởng nh không có điểm dừng và tồn tại trong bất cứ còn ngời nào Cho
Trang 31nên Lỗ Tấn đã kết luận: “Chúng ta rất dễ biến thành nô lệ, và sau khi biến
thành nô lệ vẫn hết sức vui mừng” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1),
NXB Văn học HN 1963, tr 120)
1.2.2 Bảo thủ, trì trệ:
Một căn bệnh tinh thần khác của ngời dân Trung Quốc đợc Lỗ Tấn mổ
xẻ nữa đó là sự bảo thủ trì trệ Trong các bài Tạp văn nh: Ba hồn của hạ giới,
Ghi theo cảm hứng, Đẻ non và tuyệt nòi, Ngày nay chúng ta làm ca nh thế nào…Muốn biếnThì Lỗ Tấn đã chỉ ra triệu chứng của bệnh này nh thế nào? và nguyên
nhân dẫn đến căn bệnh đó chính là bắt nguồn từ nguyên tắc đạo đức màKhổng Tử đề ra Theo đó thì bậc dới bao giờ cũng thấp kém hơn bậc trên, ngời
trẻ phục tùng ngời già: “ Có một hạng ngời từ bé đến lớn cũng đã sống một
cách không lấy gì làm lạ, nhng từ lớn đến già lại sinh ra hơi kỳ quặc, từ già
đến chết lại kỳ quặc hơn Họ muốn choán hết đờng đi của thanh niên, hút hết không khí của thanh niên ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB
Văn học HN 1963, tr 197)
Ngời Trung Quốc còn là những ngời dị ứng, khó chịu trớc cái mới và
không sẵn sàng tiếp nhận chúng: “ Các vị đều nói: Không thể đi về Đông,
hoặc Tây, hoặc Nam, hoặc Bắc Cuối cùng tôi thấy đợc điều dấu kín trong lòng họ : Chẳng qua là không nên đi đâu cả mà thôi” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2), NXB Văn học HN 1963, tr 292) Nh vậy, mãi mãi ngời
Trung Quốc dậm chân tại chỗ, ôm kh kh cái cũ xa đã trở nên lạc hậu đó là
những cái mà hàng triệu ngời Trung Quốc gọi là: Quốc hồn, quốc túy
Những cái quốc hồn đó theo Lỗ Tấn thì “ trong cái quốc hồn của Trung
Quốc đại khái có hai thứ hồn:Quan hồn, và phỉ hồn” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 305) Vậy thực chất cái quốc hồn
đó là sự thống trị dã man tàn bạo của chế độ phong kiến và giặc cớp
Còn cái đợc tôn vinh là Quốc túy thực chất đó là những hủ tục nh: bó
chân, để đuôi sam, hút thuốc phiện, nạn đa thê Sự bảo thủ đến mức: “Dẫu
rằng chỉ là một cái nhọt nếu có mọc trên thân ngời Trung Quốc cũng phải ca tụng hết lời ” Trớc thực tế những tri thức, đạo đức, phẩm hạnh, t tởng tiến bộ
đã trở thành trào lu của thế giới mà cứ kh kh bảo tồn những khuôn phép tập
tục cũ rích đợc bắt đầu bằng chữ “Quốc” thì ngời Trung Quốc sẽ bị diệt vong trong một sớm một chiều Vì vậy Lỗ Tấn khẳng định: “Muốn chúng ta bảo
tồn quốc túy thì quốc túy cũng phải có thể bảo tồn đợc chúng ta” (Trơng
Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 195).
Trang 321.2.3 Tự kiêu tự mãn:
Tự kiêu tự mãn cũng là một căn bệnh phổ biến trong xã hội Trung
Quốc thời bấy giờ, trong bài: Bàn về các lọai ảnh chụp, Lỗ Tấn đã đa ra
những lời bình luận cụ thể xác đáng về chứng bệnh tự lừa dối mình, tự thỏamãn mình, tự ru ngủ mình của ngời Trung Quốc Thông qua cách thức và thóiquen chụp ảnh của ngời Trung Quốc ta có thể thấy rõ họ nghĩ gì về bản thân
mình: “ phổ biến hơn là chụp hai kiểu, mỗi kiểu một cách phục sức, một điệu
bộ, rồi hợp lại chụp làm một, hai mình nh chủ khách hoặc nh thầy tớ đặt tên
là Nhị mã đồ Nh“ ” ng nếu một mình ngồi vắt mảng lên, một mình nữa đê tiện
đáng thơng hại lại quỳ trớc mình đang ngồi thì lại đặt tên gọi khác Cẩu kỷ“
đồ ” ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr
94)
Đây quả là kiểu chụp ảnh chỉ có ngời Trung Quốc mới nghĩ ra đợc, nóxuất phát từ sự tiêm nhiễm quá nặng chủ nghĩa quốc hồn, quốc túy và là kếtquả của chế độ nô dịch văn học của bọn phong kiến đến quốc đã xô đẩy ngời
vào chỗ chỉ biết ngồi mà ngắm mình: “ngời Trung Quốc đang phát triển lòng
tự lừa dối Tự lừa dối cũng không phải là cái mới của thời đại bây giờ, chẳng qua bây giờ nó càng ngày càng rõ, bao trùm lấy tất cả mọi thứ mà thôi ” (Tr-
ơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 267) Mắc
căn bệnh này ngời Trung Quốc luôn tự cảm thấy bản thân mình là hơn tất cả
và họ chẳng cần biết rõ cuộc sống của ngời khác nh thế nào
1.2.4 A dua mù quáng:
Bách tính Trung Quốc còn mắc phải một chứng bệnh rất khó chữa trịkhác, đó là bệnh a dua mù quáng Nguyên nhân của căn bệnh này chính làxuất phát từ sự u mê, ngu muội và tâm lý khiếp nhợc trớc quyền lực Lỗ Tấn
đã vẽ lên dáng dấp của cuộc sống tự đánh mất mình, không có lập trờng vững
vàng trớc những biến cố của xã hội : “ Bách tính Trung Quốc thì đứng ở giữa,
lúc chiến tranh chính họ không biết họ về phe nào Giặc đến thì họ thuộc khoe khoang, tất nhiên bị cớp bóc giết hại: Lính tráng đến họ đáng lý ra là ngời nhà rồi, nhng vẫn bị cớp bóc giết hại, hình nh họ thuộc về phe giặc” (Tr-
ơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 121) Những
biểu hiện của căn bệnh a dua mù quáng rất đa dạng và nhiều cung bậc, đó có
thể là thói ngồi lê mách lẻo, phao tin đồn nhảm “Dân thành phố xa nay thích
nghe tin không hay của ngời ta, nhất là tin không hay của những ngời không quen biết” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963,
Trang 33tr 354); Đó là căn bệnh thô tục, thiếu văn hóa đến nỗi câu chửi tục “ mẹ nó” trở thành câu cửa miệng của rất nhiều ngời quá nhiều thế hệ: “Tức là “mẹ nó”
sẽ bủa vây khắp trên dới, tứ bề dù là giữa lúc thái bình” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 150)
Tất cả các căn bệnh mê muội tê liệt, từ kiêu tự mãn, bảo thủ trì trệ, adua mù quáng Trong thực tế không phải tồn tại một cách độc lập mà chúng
có sự kết hợp chặt chẽ với nhau và cùng song song tồn tại, bổ sung cho nhau.Chính sự ô hợp này là nguồn gốc sâu xa dẫn đến những bài học đầy đau xót
phải đánh đổi bằng cả máu và nớc mắt: “ Giữa đờng có ngời mắc bệnh nguy
kịch ngã xuống xe đâm bị thơng, hầu hết mọi ngời quan đờng xúm lại xem thậm chí có ngời lấy làm vui thích, nhng rất ít ai chịu đa tay ra giúp một tý ”
(Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 356).
Chính vì những căn bệnh này mà “Trung Quốc xa nay ít có những vị
anh hùng thất bại, ít có những ngời phản kháng dẻo dai, ít có những nhà võ thuật quyết chiến, ít có những kẻ khóc truy điệu ngời làm cách mạng, thấy triệu chứng thắng thì vồ nhau đến, thấy triệu chứng thua thì ùa nhau bỏ chạy”
(Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 289)
Bằng ngòi bút châm biếm sâu cay, xuất phát từ lập trờng nhân dân chânchính, từ lòng yêu nớc, yêu dân tộc sâu sắc Lỗ Tấn đã miêu tả, mổ xẻ nhữngcăn bệnh phổ biến của xã hội Trung Quốc thời ông sống Lỗ Tấn đã nguyện
làm ngời “ca sỹ” để hát những khúc hát lạc điệu của đồng bào mình cho đồng
bào mình nghe Với một niềm tin tởng vào tơng lai bừng tỉnh của cả dân tộckhi các căn bệnh tinh thần dần chữa khỏi
1.3 Đấu tranh chống bọn bồi bút chó săn:
Sức mạnh và cũng là vẻ đẹp của Tạp văn Lỗ Tấn chính là đợc tạo nênbởi những cuộc đấu tranh t tởng trực diện Vì thế khi đề cập những nội dungquan trọng trong Tạp văn của ông chúng ta không thể không đề cập đến nộidung: Chống bọn bồi bút chó săn Trong tổng số 261 bài Tạp văn của Lỗ Tấn
đã đợc dịch ra Tiếng Việt thì có tới 40 bài (chiếm 15,3%) đề cập đến vần đề
này Những bài Tạp văn nh: Ba hồn của học giới, Văn học thời cách mạng,
Văn học cách mạng, Rutxô và khẩu vị , Sự biến đổi của bọn lu manh, Dịch cứng nhắc và tính giai cấp của văn học, Con chó bất tài của nhà t bản chạy tang, Những chàng Đông Kisốt mới của Trung Hoa Dân Quốc, Bàn về hạng ngời thứ 3, Nghệ thuật của anh hề nhì …Muốn biến Thực sự là những bài bút chiến
mạnh mẽ, hiệu quả, là những đòn khoá hiểm hóc vào những kẻ vung tay múa
Trang 34chân, khuơ môi múa mép, hòng hớng ngời đi vào những hiểu biết, suy nghĩlệch lạc.
Đọc những bài Tạp văn ngời đọc có thể dung cụ thể cuộc đấu tranh t ởng và cuộc bút chiến giữa Lỗ Tấn với các cây bút bên kia chiến tuyến nh HồPhong, Ngô Trĩ Huy, Hồ Thích, Lâm Ngữ Đờng, Sài Nguyên Bồi, Lơng ThựcThu… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l trong suốt khoảng thời gian từ 1919 đến ngày ông mất 1936
t-Nội dung đấu tranh chống bọn bồi bút cho săn là một nội dung khôngxuất hiện ở truyện ngắn của Lỗ Tấn, mà chỉ có ở Tạp văn với những đặc điểmnổi trội đã đáp ứng đợc yêu cầu của cuộc đấu tranh đây cam go thử thách,không khoan nhợng này Cuộc đấu tranh đầu tiền của Lỗ Tấn trên lĩnh vựcnày là đấu tranh chống bọn phục cổ phong kiến nh phái Giáp Dần, phái HọcHành… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l phong trào Ngũ Tứ vừa nhóm lên thực hiện chủ trơng xây dựng mộtnền văn hóa mới ở Trung Quốc tiến bộ hơn, quần chúng hơn, mà điển hình làdùng ngôn ngữ bạch thoại để sáng tác văn học Thế nhng ngay lập tức đã bịnhững tên phục cổ này lên tiếng phản đối, công kích, chống lại văn bạch thoại,ủng hộ văn ngôn Gần nh ngay lập tức Lỗ Tấn đã vạch ra chỗ dốt nát khônghiểu văn ngôn của chúng, chủ trơng cựu học cũng không xứng mà công kích
văn hóa mới thì chỉ là trò đùa với mọi ngời mà thôi: “ Rõ ràng là ngời thời
nay, hít thở không khí thời nay mà lại cứ khiên cỡng dùng danh giáo nát rồi, ngôn ngữ chết cứng, ra sức mạt sát hiện tại, đó đều là những kẻ giết hiện tại, giết hiện tại cũng có nghĩa là giết tơng lai” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập
(tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 203) Tiếp đó ông còn chỉ rõ: “ từ nay quả
thực chúng ta chỉ có hai con đờng: một là ôm lấy cổ văn mà chết, 2 là bỏ cổ văn đi mà sống ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2), NXB Văn học HN
1963, tr 128)
Cuộc tranh luân giữa văn ngôn và văn bạch thoại vừa chấm dứt thì Lỗ
Tấn đã bớc ngay vào với cuộc đấu tranh mới: “Nếu trong cuộc tranh luận đó
ánh hồi quang quá yếu ớt trớc lúc tắt thở của phong trào phục cổ của văn học phong kiến đã không xứng đáng là địch thủ của nên văn học mới, thì bọn t sản phái hữu từ trong mặt trận văn hóa mới phân hóa lại nguy hiểm hơn nhiều” (Lê Xuân Vũ, Lỗ Tấn chủ t“ ớng của cách mạng văn hóa Trung Quốc ,
” NXB Văn hóa, HN 1959, tr 195)
Những tên phản động nh Hồ Thích đã phán đoán đợc xu thế phát triểncủa xã hội, và ảnh hởng của chủ nghĩa Mác ngày càng to lớn trong đời sốngtinh thần nhân dân Trung Quốc, nên chúng đã tập trung vào đây để mà công
Trang 35kích Với các chiêu bài nh: “ Chính phủ ngời tốt, Hạng ngời thứ ba” bọn
chúng mong muốn sẽ dụ dỗ, lôi kéo, lừa bịp đợc mọi ngời Thế nhng Lỗ Tấn
đã đập tan những luận điệu xảo trá này của bọn chúng: “ duy chỉ có cái phơng
thuốc chính phủ ngời tốt thì những tên kê trên đơn không phải là tên thuốc
mà là chữ to tớng thuốc tốt và là chủ tr“ ” “ ơng của mấy vị làm ra vẻ danh y”
Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2), NXB Văn học HN 1963, tr 340).
Để phá tan âm mu của chúng đòi hỏi Lỗ Tấn phải hết sức nhạy bén, tinh
tế khi nhận ra bản chất của những luận điệu phản động đó và gọi đúng tên củachúng ra Dới ngòi bút của Lỗ Tấn bọn bồi bút chó săn thực chất chỉ là nhữngcon chó biết cách nịnh hót và nâng nịnh hót lên thành nghệ thuật; là lũ ruồi
nhặng vo ve; là những kẻ làm loạn nền văn nghệ: “Mặt mũi không lấy gì làm
xuất chúng, tài cán không có gì kinh ngời thế mà không đầy một tháng đã làm loạn cả một vùng”(Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 3), NXB Văn học HN
1963, tr 316).Trong cuộc đấu tranh này Lỗ Tấn đã đứng trên lập trờng nhândân mà vạch trần bản chất phản động xảo quyệt, vô liêm sỉ, nịnh hót luồn cúicủa chúng Đồng thời với t tởng của một nhà vô sản chân chính Lỗ Tấn đãkêu gọi mọi ngời đứng lên chống lại các luồng t tởng phản động tiêu cực đó
1.4.Đấu tranh cho thắng lợi cử văn học vô sản:
Đấu tranh vì sự thắng lợi của nền văn học vô sản cũng là một đề tài hoàntoàn cha xuất hiện trong truyện ngắn của Lỗ Tấn Lỗ Tấn đã sử dụng hìnhthức tạp văn để bảo vệ cho một nền văn học mới nảy nở và phát triển.Viết vềnội dung này trong số 261 bài đã đợc dịch ra Tiếng Việt thì đã có tới 57 bài(chiếm 21,8%) đề cập đến vấn đề này
Chuyển sang nội dung này chúng ta dễ dàng nhận thấy một sự thay đổibút pháp trong cách viết của Lỗ Tấn, nếu nh ở những nội dung trên đó là mộtngòi bút châm biếm đả kích sắc nhọn sâu cay, thì đến nội dung này ngòi bút
Lỗ Tấn lai nâng niu trìu mến, tràn ngập lòng yêu thơng Giữa vòng vây hãmcủa kẻ thù Lỗ Tấn vẫn cất cao tiếng nói khẳng định vị trí của nền văn học vô
sản: “Văn học vô sản là ngời đại diện chân chính và duy nhất của nền văn
Trang 36học mới Trung Hoa” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 2), NXB Văn học
HN 1963, tr 260) Một số bài tiêu biểu và nội dung này mà chúng ta có thể liệt
kê ra đây: Vài nét khái quát về văn học mới hiện nay, Chúng ta cần có nhà
phê bình, Văn học cách mạng vô sản Trung Quốc và những giọt máu tiên phong, Văn nghệ và cách mạng, Trớc khi có thiên tài, Sách thanh niên cần phải đọc, Chúc mừng sự giao lu văn tự giữa hai nớc Trung Nga – Nga… …Muốn biến
Trớc hết Lỗ Tấn phủ nhận những thứ văn học “Đợc kiếm chỉ huy của
một phe yểm hộ, chửi địch thủ của mình, Một thứ văn học trên mặt giấy biết bao nhiêu chữ: đánh …Muốn biến đánh; giết giết; hoặc máu ”(Trơng Chính, Tạp văn
sự soi sáng của chủ nghĩa Mác thì có rất nhiều ngời phải đổ máu mới có đợc
sự nghiệp văn học đó Nội dung và hình thức của nền văn học đó thì Lỗ Tấn
cho rằng: Tác phẩm mang phẩm chất, nội dung cách mạng không phải nằm“
ở khẩu hiệu cái đuôi giả thêm vào cuối tác phẩm, mà là cuộc sống chân thực, cuộc chiến đấu sôi nổi, mạch máu đang đập ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển
tập (tập 3), NXB Văn học HN 1963, tr 462).
Nh vậy nội dung của tác phẩm văn nghệ ấy phải mang tính cách mạng
và tác phẩm văn nghệ ấy cũng phải tạo cho mình một hình thức đăc biệt cuốnhút Đối với một nền văn nghệ tiên tiến thì cũng phải xây dựng đợc đội ngũnhững ngời cầm bút có tinh thần trách nhiệm và viết bằng cả trái tim đầy nhiệthuyết của mình Song song với nó là xây dựng đội ngũ những nhà phê bình lýluận văn học chân chính đi theo tiếng gọi của nghĩa Mác
Những luận điểm trên đó mà Lỗ Tấn đa ra chính là cơ sở, là căn cứvững chắc để ông tiến hành công kích phản bác lại những luận điệu phản đôngcủa kẻ thù hòng âm mu bóp chết tiêu diệt những mầm mống củanền văn họcvô sản Đó là những tác phẩm, những bài văn mang đậm màu sắc thù hằn,thóa mạ, bêu xấu những nhà văn vô sản và tác phẩm của họ, mà Lỗ Tấn là
tâm điểm, là “u tiên” số một của bọn chúng Trong cơn cuồng loạn những tên
lý luận phê bình văn học phản động đã không từ một thủ đoạn nào : Từ việcchúng đa ra luận điệu văn học siêu giai cấp; kêu gọi sáng tác cầu kỳ kiểucách; Dụ dỗ mua chuộc lôi kéo những nhà văn cách mạng: Chủ trơng lý luộn
Trang 37phê bình theo kiểu “tầm chơng trích cú”… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l đến việc rao giảng chê bai phủnhận các tác phẩm văn học Nga xô, cho rằng các nhà văn vô sản bị mua
chuộc bởi bánh mỳ đen nên viết tầm bậy; Thậm chí chúng còn xuyên tạc, có
tính nói sai sự thật các tác phẩm văn học vô sản nhằm bôi đen, làm bẩn các tácphẩm đó để hạ thấp giá trị của nó
Nhng tất cả những điều đó đều đã bị Lỗ Tấn thẳng tay phản kích, khinhu khi cơng ông đã kiên trì đấu tranh không mềm lòng với một trái tim nóng
và một cái đầu lạnh Lỗ Tấn đã làm cho những tên học giả đó trở thành mộtthứ vô dụng, một đồ bỏ đi Và thực tế về sau đã chứng minh những luận điểm
mà Lỗ Tấn đa ra cũng nh lý lẽ của ông là một trong những cơ sở quan trongviệc xây dựng một nền văn học vô sản Trung Quốc, cũng nh trong cuộc đấu
tranh chống lại bọn “ Tứ nhân bang ” trong đại cách mạng văn hóa
(1965-1976)
2 Vị trí Tạp văn trong sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn:
Sau phong trào Ngũ Tứ (4/5/1919) trên rất nhiều tờ báo ở Trung Quốcxuất hiện một thể văn mới, cái mà về sau đợc gọi là Tạp văn Hầu hết các nhàvăn qua cuộc thử lửa trong phong trào Ngũ Tứ đều có viết Tạp văn, và Tạp văn
đã trở thành một phong trào rầm rộ ở Trung Quốc, nó trở thành một thể văn dễ
a của nhiều ngời cầm bút Đánh giá một cách khách quan thì thể loại Tạp vănnói chung và Tạp văn Lỗ Tấn nói riêng chỉ đợc nhìn nhận đánh giá, đặt đúng
vị trí, và giá trị của nó là trong thời gian gần đây Còn đờng thời thì nó không
đợc xem trọng, ngời ta còn tỏ ra khinh miệt và muốn xóa bỏ nó ra khỏi tiếntrình phát triển của văn học Trung Hoa Họ coi Tạp văn là biểu hiện của sự
xuống dốc của nhà văn cho nên kiên quyết không đa vào “ Khu rừng văn
nghệ”, cho Tạp văn là nguyên nhân làm cho văn học Trung Quốc không có
đ-ợc những tác phẩm vĩ đại chỉ vì sự thịnh hành của một thể văn dở sống dở
chín Có ngời trực tiếp chỉ trích Lỗ Tấn “ Trong các nhà viết tạp cảm của
Trung Quốc mang nhãn hiệu lâu đời nhất tất nhiên phải kể đến Lỗ Tấn Cái bút pháp thầy kiện của ông ta cay độc lắm, có nhiều chỗ ngời khác không kịp
đợ ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 9);
Lại có kẻ phủ nhận hoàn toàn giá trị Tạp văn Lỗ Tấn: “ Ông Lỗ Tấn ! bây giờ
ông đã gần già rồi Ông hãy nhớ lại cái thời oanh liệt của ông trớc kia; nay
ông lịch duyệt nhiều, quan sát sâu sắc kinh nghiệm cuộc đời phong phú ông càng nên làm thế nào hăng hái lên mà sáng tác nhiều tác phẩm vĩ đại hơn AQ chính truyện ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN
1963, tr 9)
Trang 38Đó là lời lẽ của những tên phản động và bọn chúng đã đợc Lỗ Tấn cho
những bài học đích đáng bằng những lời phát biểu sắc nét: “Tôi càng vui với
sự phát triển của Tạp văn ngày nay đợc xem sự rãng rỡ của nó Thứ nhất dới tác Trung Quốc càng hoạt bát và càng náo nhiệt Thứ hai làm cho những lũ không ra trò trống gì phải thụt đầu Thứ ba làm cho những tác phẩm nghệ thuật vị nghệ thuật qua sự so sánh với Tạp văn sẽ càng lộ rõ cái t ớng mạo dở sống dở chết của nó”.
Còn đối với những ngời ủng hộ Tạp văn, và viết Tạp văn dù rằng độingũ này là tơng đối lớn, và bài viết của họ cũng đã đạt đợc những thành côngnhất định chẳng hạn nh đối với các tác giả: Lý Đại Chiêu, Cù Thu Bạch, DiệpThiệu Duân, Mao Thuẫn… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l Nhng tất cả những tên tuổi đó cha ai dựng nổingọn cờ văn học bằng thể loại Tạp văn Phải đến Lỗ Tấn với khả năng cảmnhận cuộc sống đặc biệt tinh tế nhạy cảm, với thiên tài văn chơng, ông đã tạonên những đỉnh cao mà không cây bút nào có thể làm đợc khi sáng tác thể vănnày Lỗ Tấn đã dựng lên một tòa lâu đài đồ sộ bằng chính thể loại Tạp văn, mà
nh Đặng Thai Mai đánh gía thì “Về số lợng cũng nh về phẩm chất, Tạp văn Lỗ
Tấn quả có một ý tiêu biểu cho cả một hình thức văn học và cả một thời đại”
(Đặng Thai Mai, Lợc sử văn học hiện đại Trung Quốc, NXB ST, HN 1958, tr
188)
Với Lỗ Tấn, Tạp văn là một ngời bạn đồng hành thủy chung của ôngtrong nghiệp văn gần 30 năm cầm bút kể từ bài viết đầu tiên bằng Tạp văn vào
năm 1907 đến bài viết cuối cùng có tựa đề : Một vài việc nhân nói về ông
Thái Viên mà nhớ đến, đợc ông viết một ngày trớc khi mất (17/10/1936) Thế
nhng Tạp văn Lỗ Tấn chỉ thực sự sắc sảo, trở thành thứ vũ khí đắc lực và đạt
đến đỉnh của thể loại này thì hầu hết những bài viết trong vòng gần 20 năm(1919 – 1936 ), và càng về sau thì nó càng có độ chín và càng trở nên vôcùng lợi hại Với hơn 650 bài viết đợc tập hợp trong 16 tập, đây thực sự là một
di sản văn học đồ sộ của cá nhân Lỗ Tấn và toàn thể nền văn học nhân dânTrung Hoa; Nhng số lợng lớn các tác phẩm Tạp văn cha phải là yếu tố quyết
định đến ngôi vị “ chủ soái ” của nền văn học trong Tạp văn Lỗ Tấn, mà nhân
tố quyết định đó là ở chỗ đây đều là những “tác phẩm nghệ thuật có giá trị
văn học rất cao không kém gì tiểu thuyết, thơ, kịch ” (Trơng Chính, Tạp văn tuyển tập (tập 1), NXB Văn học HN 1963, tr 16).
Trong 30 năm cầm bút hoạt động văn học Lỗ Tấn đã thành công vàthành danh bởi các sáng tác thuộc các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch,thơ Và độc giả biết đến Lỗ Tấn , quen thuộc với ông trong các sáng tác thuộc
Trang 39những thể loại đó, những nhận vật nh: AQ, Tờng Lâm, Nhuận Thổ, Khổng ất
Kỷ… Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối l đã trở thành những điển hình nghệ thuật bất hủ không những trong lãnhthổ Trung Hoa mà là điển hình của toàn nhân loại Thế nhng đó không phải làthể loại đợc Lỗ Tấn tập trung sáng tác nhiều nhất, mà chính Tạp văn mới làthể loại a thích, thể loại có khối lợng tác phẩm lớn, gắn trọn 2/3 thời gian sángtác của Lỗ Tấn đợc ông tạp trung vào viết Tạp văn nhất là từ năm 1927 đến
1936 thì ông viết đều đặn hơn và gần nh chỉ có những bài Tạp văn thờng trựctrên bàn làm việc của ông
Nói tất cả những điều trên cũng nhằm nhấn mạnh một điểm rằng trong
sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn thì Tạp văn giữ một vai trò và địa vị quan trọngkhông thua kém gì một thể loại khác Có thể rằng với một ngời có tài năng cónhân cách bản lĩnh nh Lỗ Tấn , trong khoảng thời gian 20 đó ông dành choTạp văn nếu ông tập trung vào một thể loại khác thì biết đâu ông sẽ tạo nên đ -
ợc một số tác phẩm đáng kể, một số điển hình nào đó xuất sắc hơn các tácphẩm và điển hình mà ông đã có Nhng Lỗ Tấn đã không làm nh vậy bởi vì
ông viết văn, làm nghệ thuật không phải để cho mình mà ông mong muốnthông qua đó để gòp phần chạy chữa bệnh tình cho nhân dân, cũng để đấutranh, tuyê truyền cho những t tởng tiến bộ, cho sự thắng lợi của cách mạng … Chính vì lẽ đó mà sáng của Lỗ Tấn có một khối lVả lại trong cái thời buổ gấp gáp, kẻ thù luôn rình rập quanh mình, thì Lỗ Tấn
đâu có đợc thời gian yên ổn để mà nghiền ngẫm, để mà nung nấu, những cảmxúc, hứng thú của mình về một điều gì đó Trái lại Lỗ Tấn phải tỉnh táo tìm ra
vũ khí đấu tranh của mình để tả xung hữu đột, chấp nhận: “Cứ đứng ở chôn sa
mạc mà xem cát bay đá chạy, vui thì cời vang buồn thì gào to, giận thì chửi mắng, dù đá sỏi có làm cho thân thể nham nhở, vỡ đầu chảy máu” (Trơng
Chính, Lỗ Tấn Tạp văn , NXB GD, HN 1998, trang 480).
Nh vậy khối lợng tác phẩm đồ sộ chất lợng nghệ thuật cao, phản ánhnhững nội dung phong phú đa dạng, bằng một bút pháp độc đáo linh họat Tạpvăn quả thực là một di sản văn học có vị trí đáng kể trong sự nghiệp văn họccủa Lỗ Tấn Chính vì vậy điều cốt yếu đối với mỗi chúng ta cần phải làm sao
để những bài Tạp văn của Lỗ Tấn đợc đặt đúng vị trí của nó
Chơng II:
Quan điểm văn học biểu hiện trong Tạp văn của Lỗ Tấn:Khi tìm hiểu tiếp xúc với Tạp văn của Lỗ Tấn hầu hết mọi ngời đều cảmnhận đợc một không khí đấu tranh quyết liệt bền bỉ, của Lỗ Tấn không khoan