1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm tự học của khổng tử trong luận ngữ ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinh viên đại học vinh trong giai đoạn hiện nay

51 764 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm tự học của khổng tử trong "luận ngữ". Ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinh viên đại học vinh trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Vinh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Trường Sơn
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Cử nhân s phạm giáo dục chính trị
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 192 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinh viên Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay” ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân mình.. Lý do chọn đề t i ài Trong thời đại ngày nay, khi kho

Trang 1

Trờng đại học vinh

Khoa giáo dục chính trị

Nguyễn thị vinh

Quan điểm tự học của khổng tử trong "luận ngữ" ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinh viên đại

học vinh trong giai đoạn hiện nay

khóa luận tốt nghiệp đại học

ngành cử nhân s phạm giáo dục chính trị

Cán bộ hớng dẫn khoá luận:

ThS Nguyễn Trờng Sơn

Vinh - 2010

Trang 2

LờI CảM ƠN

Để hoàn thành khoá luận “Quan điểm tự học của Khổng Tử trong Luận

ngữ” ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinh viên Đại học Vinh trong

giai đoạn hiện nay” ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân mình Tôi đã nhận

đợc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo trong hội đồng khoa họckhoa GDCT, các thầy cô trong tổ bộ môn Triết học Mác – Lênin, sự độngviên, khích lệ kịp thời của gia đình và bạn bè Đặc biệt trong quá trình nghiêncứu đề tài tôi luôn nhận đợc sự quan tâm, hớng dẫn tận tình của Th.S NguyễnTrờng Sơn, ngời trực tiếp hớng dẫn khoá luận cho tôi Nhân đây tôi xin gửi lờicảm ơn tới gia đình đã luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi yên tâm hoàn thànhkhoá luận, cảm ơn những ngời bạn luôn ủng hộ, tin tởng và bên tôi những lúckhó khăn

Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đối với ngời trực tiếp giúp tôihoàn thành khoá luận này Th.S Nguyễn Trờng Sơn Chúc thầy và gia đìnhluôn mạnh khoẻ, công tác tốt và đạt đợc những thành công mới trong cuộcsống

Cảm ơn tất cả mọi ngời, chúc mọi ngời sức khoẻ, may mắn và hạnh phúctrong cuộc sống

Sinh viênNguyễn Thị Vinh

Trang 3

MụC LụC

Trang

PHầN Mở ĐầU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tợng nghiên cứ và phạm vi nghiên cứu 3

5 Cơ sở lí luận và phơng pháp nghiên cứu……… 4

6 ý nghĩa của đề tài……… 4

7 Kết cấu của đề tài……… 4

NộI DUNG 5

Chơng 1: Quan điểm tự học của Khổng Tử trong tác phẩm “Luận ngữ” 5

1.1 Vài nét về Khổng Tử và tác phẩm Luận ngữ“ ”………… 5…

1.1.1 Tiểu sử của Khổng Tử 5

1.1.2 Vài nét về tác phẩm Luận ngữ“ ” 7

1.2 Quan điểm của Khổng Tử trong tác phẩm “Luận ngữ” 8

1.2.1 Học gắn liền với luyện tập, học đi đôi với hành 9

1.2.2 Học phải suy nghĩ 13

1.2.3 Học cái cũ để biết cái mới 15

1.2.4 Học với mọi ngời, ở mọi nơi mọi lúc 17

1.2.5 Học bằng cách phát huy nội lực tự thân 18

1.2.6 Học bằng cách hỏi 20

1.2.7 Học một cách kiên trì, gắng sức 23

1.2.8 Học một cách vui thú 24

Tiểu kết chơng 1 27

Trang 4

Chơng 2: ý nghĩa của vấn đề tự học đối với việc học tập của sinh viên Đại học Vinh trong giai đoạn hiện

nay 28

2.1 Vài nét về nhà trờng và tình hình học tập của sinh viên trờng Đại học Vinh 28

2.1.1 Vài nét về trờng Đại học Vinh 28

2.1.2 Tình hình học tập của sinh viên Đại học Vinh 30

2.1.3 Một số hạn chế 31

2.1.4 Nguyên nhân 35

2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc tự học của sinh viên Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay 37

2.2.1 Phơng pháp học ở lớp 41

2.2.2 Phơng pháp tự học ở nhà 42

2.2.2.1 Có kế hoạch tự học khoa học, hợp lí 42

2.2.2.2 Cố gắng thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bớc trớc mọi trở ngại 43

2.2.2.3 Sắp xếp thời gian tự học 45

2.2.2.4 Có phơng pháp tự học hợp lí 47

2.2.2.5 Bảo đảm các điều kiện cho tự học đạt hiệu quả 49

Tiểu kết chơng 2 52

Kết luận 53

Tài liệu tham khảo 54

Trang 6

PHầN Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề t i ài

Trong thời đại ngày nay, khi khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trựctiếp, kinh tế tri thức trở thành nền kinh tế chủ đạo một quốc gia muốn pháttriển nhanh, mạnh, bền vững thì tất yếu phải tiếp cận, vận dụng nhuần nhuyễn,sáng tạo nền kinh tế tri thức đó vào hoàn cảnh lịch sử-cụ thể của đất nớc mình.Muốn vận dụng tri thức đó thì phải có một đội ngũ trí thức có năng lực tựnghiên cứu, tự sáng tạo… Lực lợng đó không thể không tính đến những thanhniên sinh viên- những chủ nhân tơng lai của đất nớc

Sinh viên các trờng Đại học, Cao đẳng là một trong những nguồn lực quýbáu của đất nớc, là lực lợng lao động đợc đào tạo có trình độ chuyên môn;nguồn lực này sẽ đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng, phát triển

đất nớc, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức Chính vì vậy, việc đào tạotầng lớp sinh viên đủ đức, đủ tài luôn là yêu cầu cấp thiết trong quá trình pháttriển đất nớc Muốn làm đợc điều đó thì chúng ta phải đẩy mạnh công tác giáodục bồi dỡng cho thế hệ trẻ động lực tinh thần và năng lực hoạt động thựctiễn, có khả năng tự học tập, tự nghiên cứu, tự chiếm lĩnh tri thức một cách th-ờng xuyên, liên tục và suốt đời, đúng nh lời dạy của Bác Hồ: phải lấy tự họclàm cốt

Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để tạo lập kỉ năng tự học, tự nghiên cứu chosinh viện có hiệu quả? Có nhiều con đờng khác nhau để đạt mục đích, mộttrong những con đờng nhanh nhất, hiệu quả nhất – theo chúng tôi- là tìm vềquá khứ, tiếp thu có chọn lọc những t tởng tiến bộ của các nhà t tởng vĩ đạitiền bối theo tinh thần: ôn cố nhi tri tân (ôn cũ để biết mới và tìm cái mới

trong cái cũ) của Khổng Tử Và tinh thần đó không ở đâu tri thức tự học

phong phú nh ở tác phẩm “Luận ngữ”

Với quan điểm đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Quan điểm tự học của

Khổng Tử trong Luận ngữ“ ” và ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinhviên trờng Đại học Vinh hiện nay”

Trang 7

giả nổi tiếng ngời Nhật Bản Michiô Morishima, Di Ng Thuần với bài viết “ảnh ởng của Nho giáo đối với văn hoá truyền thống của Hàn Quốc” trong cuốn “Nhohọc quốc tế thảo luận luân văn tập 1889”

h-ở Việt Nam, Nho giáo đợc giới học thuật quan tâm nghiên cứu h-ở nhiềugóc độ và khía cạnh khác nhau Vì vậy có rất nhiều công trình viết về vấn đềnày: Sào Nam Phan Bội Châu với cuốn sách nổi tiếng “Khổng học đăng”,cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, “Khổng Tử và Luận ngữ” của NguyễnHiến Lê, “Nho giáo và phát triển ở Việt Nam” của GS Vũ Khiêu, “Bàn về đạoNho” của Nguyễn Khắc Viện…v v

Riêng với tác phẩm Luận ngữ“ ”, tác phẩm đợc coi là “Thánh kinh” của

đạo Nho cũng đợc tìm hiểu dới nhiều góc độ nh quan điểm của Khổng Tử vềbản chất con ngời, lí tởng về xã hội tốt đẹp, quan điểm con ngời quân tử củaKhổng Tử, quan điểm giáo dục…Về quan điểm giáo dục của Khổng Tử trong

“Luận ngữ” cũng có nhiều đề tài nghiên cứu nh “Quan điểm giáo dục củaKhổng Tử và ý nghĩa của nó đối với giáo dục thế hệ trẻ ở Nghệ An trong giai

đoạn hiện nay” của Th.S Nguyễn Trờng Sơn- giảng viên khoa GDCT, Trờng

Đại học Vinh; hay bài viết “Tìm hiểu đối tợng giáo dục của Khổng Tử” củaTh.S Nguyễn Trờng Sơn đăng trên Tạp chí giáo dục số 88/2004; Nguyễn ThịKim Chung có bài viết “Mẫu ngời quân tử-con ngời toàn thiện trong “Luậnngữ””(Tạp chí Triết học số 9/2003); “Tìm hiểu phạm trù Lễ trong “Luận ngữ”của Khổng Tử và ý nghĩa của nó trong giáo dục đạo đức cho học sinh ngàynay” đề tài khoá luận của Nguyễn Thị Kiều Miên(2002); “Quan niệm Nhogiáo về con ngời và đào tạo con ngời”-luận văn tốt nghiệp năm 2003 củaNguyễn Thị Hải Yến, sinh viên Đại học Vinh

Đề tài mà tôi thực hiện cũng dựa trên tác phẩm “Luận ngữ” nhng dới góc

độ khác “Quan điểm tự học của Khổng Tử trong Luận ngữ“ ” ý nghĩa của nó

đối với việc học tập của sinh viên Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài mà tôi nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu về t tởng tự học củaKhổng Tử Qua đó làm rõ ảnh hởng và ý nghĩa của nó đối với việc học tập củasinh viên trờng Đại học Vinh hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ hai vấn đề:

Trang 8

Thứ nhất: Phân tích làm rõ quan điểm của Khổng Tử về vấn đề tự học

trong tác phẩm Luận ngữ “ ”

Thứ hai: Làm rõ những giá trị tích cực trong quan điểm của Khổng Tử về

vấn đề tự học trong tác phẩm Luận ngữ“ ” và ý nghĩa của nó đối với việc họctập của sinh viên Đại học Vinh hiện nay

4 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là quan điểm tự học của Khổng Tửtrong tác phẩm “Luận ngữ” và ý nghĩa của nó đối với việc học tập của sinhviên Đại học Vinh hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác phẩm “Luận ngữ” của Khổng Tử chứa rất nhiều t tởng của Nho giáo

và những t tởng đó còn ảnh hởng đến đời sống xã hội trên nhiều bình diệnkhác nhau Nhng trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ khai thác t t-ởng về quan điểm tự học của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc học tậpcủa sinh viên Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lí luận và phơng pháp nghiên cứu

Phơng pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng

Phơng pháp cụ thể - khái quát trừu tợng

Liên hệ giữa lí luận và thực tiễn

6 ý nghĩa của đề tài

Đề tài khoá luận này là công trình nghiên cứu đầu tay của tác giả(với tcách là một sinh viên) Công trình này giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về vấn đề tựhọc và gắn với thực tiễn hiện nay nhằm phát huy tốt hơn tinh thần tự học củasinh viên để trở thành những công dân có ích cho xã hội Đồng thời có thể làmtài liệu tam khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của đề tài

Trang 9

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài gồmhai chơng:

Chơng 1: Quan điểm tự học của Khổng Tử trong tác phẩm Luận ngữ “ ”Chơng 2: ý nghĩa của vấn đề tự học đối với việc học tập của sinh viên Đạihọc Vinh trong giai đoạn hiện nay

PHầN NộI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN ĐIểM Tự HọC CủA KHổNG Tử

Khổng Tử tên Khâu, tự là Trọng Ni, ngời ấp Trâu nớc Lỗ cuối thời XuânThu (làng Xuơng Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay) Cha củaKhổng Tử là Thúc Lơng Ngột, làm quan võ ở nớc Lỗ, từng đảm nhiệm chức Đạiphu Trâu ấp nên đợc gọi là “Trâu Thúc Ngột” Thúc Lơng Ngột cới Thi Thị sinh

đợc chín ngời con gái không có con trai Sau đó ngời thiếp sinh đợc một ngời contrai tên là Mạnh Bì nhng có tật ở chân, không gánh vác đợc việc thờ phụng Vềgià ông cới ngời vợ trẻ là Nhan Trng Tại và sinh đợc Khổng Tử Theo truyềnthuyết, Khổng Tử khi sinh ra trên đầu gồ, giữa lõm, bà mẹ Nhan Thị lại đi cầu tự

ở núi Ni Khâu mà mang thai Khổng Tử, vì thế mà cha mẹ đặt tên Khổng Tử làKhâu, tự là Trọng Ni Khi Khổng Tử lên 3 tuổi thì ngời cha bị bệnh qua đời, bà

mẹ đa con rời khỏi Trâu ấp đến c trú tại làng Quyết của quốc đô Khúc Phụ

Khổng Tử từ nhỏ đã thông minh, hiếu học Trong các trò chơi tuổi thơKhổng Tử thờng bày các đồ tế lễ, bắt chớc lễ nghi cúng tế của ngời lớn Năm

11 tuổi từng học Chu Lễ với Lỗ Thái S, đến năm 12 tuổi đã nắm vững nhiều trithức văn hoá, đợc ca ngợi là “bác học hiếu lễ”(học rộng chuộng lễ nghĩa) Đếnnăm 19 tuổi thì Khổng Tử thành gia thất rồi ra nhận chức uỷ lại, coi sự gạtthóc ở kho, sau lại làm T chức lại coi việc nuôi bò, dê để dùng vào việc cúng

tế Sinh thời ông ôm ấp một hoài bão lớn về chính trị, muốn đem tài năng trítuệ của mình ra thực hành giúp nớc nhng không đợc triều đình tin dùng Vì

Trang 10

thế, ông đã đi tới nhiều nớc ở Trung Quốc lúc bấy giờ để truyền bá học thuyếtcủa mình nhng ông không mấy thành công Sau đó ông trở về nớc Lỗ mở tr-ờng dạy học.

Khổng Tử sống trong một thời đại đầy những biến động xã hội, đó làthời đại “vơng đạo suy vi, bá đạo lấn át”, Trật tự của xã hội, lễ cũ của nhà Chu

đang bị đảo lộn mạnh mẽ, nh ông than phiền: Vua không phải đạo vua, tôikhông phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con Đứngtrên lập trờng của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc nhà Chu, ông chủ tr-

ơng lập lại kỷ cơng, pháp chế của nhà Chu trên tinh thần cải tiến nội dung mớisao cho phù hợp, ông tỏ ý muốn kế thừa sự nghiệp của các bậc tiền bối nh VănVơng, Chu Công và theo đó lập lại trật tự xã hội với t tởng nhất quán “Ngôtòng Chu”

Trong cuộc đời của mình, Khổng Tử đã từng tham gia triều chính và đichu du nhiều nớc, nhng tên tuổi của ông đợc ghi vào sử sách không phải ởviệc triều chính đem lại mà chính là sự nghiệp giáo dục Khổng Tử là ngờitiên phong đánh đổ sự lũng đoạn giáo dục của giai cấp quý tộc bằng việc mởtrờng t thục cho con em bình dân, mở rộng giáo dục trong nhân dân Ông chủtrơng “Hữu giáo vô loại”(Dạy học không phân biệt sang hèn)(Luận ngữ - D-

ơng hoá, 39)[9,16] vì thế đã thu hút số lợng lớn môn đồ, đào tạo hàng loạtngời tài có đức kiêm bị Tơng truyền đệ tử lên đến 3000 ngời Cả cuộc đờiKhổng Tử theo đuổi sự nghiệp giáo dục với sự say mê trên tinh thần “Hốinhân bất quyện”(Dạy ngời không chán)(Luận ngữ - Thuật nhi, 27)[9,16] Thựchiện sự nghiệp giáo dục trong một thời gian dài, ông đã tích luỹ kinh nghiệmdạy học phong phú Ông thực hiện: nhân tài thị giáo(dạy học theo từng đối t-ợng), giáo học tơng trởng(dạy và học càng nâng cao trí thức), tuần tự tiệmtiến, tuần tuần thiện dụ(khéo dẫn dắt từng bớc), cử nhất phản tam(nêu ví dụ đểsuy luận)… để lại cho hậu thế hàng loạt phơng pháp giáo dục khoa học quýbáu Ông đợc ngời đời sau phong là “vạn tuế s biểu” Bên cạnh đó ông cócông rất lớn trong việc kế thừa, phát huy và truyền đạt văn hoá cổ đại Ôngchuyên tâm vào việc chỉnh lí th tịch văn hoá nh Thi, Th, Lễ, Nhạc…

Năm 479 TCN, Khổng Tử ốm 7 ngày và qua đời trên quê hơng nớc Lỗ,thọ 73 tuổi Hai năm sau, vua nớc Lỗ cho xây lại ngôi nhà của Khổng Tửthành Khổng Miếu đây là nơi mà các bậc đế vơng trong lịch sử đến tế tựKhổng Tử Ngày nay Khổng Lâm, Khổng Miếu, Khổng Phủ đợc tổ chức giáodục khoa học văn hoá Liên hợp quốc xếp vào di sản thế giới

Trang 11

1.1.2 Vài nét về tác phẩm Luận ngữ :“ ”

Tác phẩm Luận ngữ“ ” đứng đầu trong Tứ Th, tất cả các học giả từ xa đến

nay đều coi Luận ngữ” là kinh của Khổng giáo Sự ra đời của Luận ngữ“ ” có

liên quan mật thiết với sự nghiệp dạy học của Khổng Tử Vì Luận ngữ“ ” lànhững ghi chép lời đối đáp của Khổng Tử với đệ tử cũng nh các đệ tử với nhau

về các sự kiện Sau khi Khổng Tử mất các môn đệ có công biên soạn lại

Luận ngữ“ ” có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống t tởng Nho

giáo Luận ngữ“ ” đợc coi là tài liệu gốc đáng tin cậy nhất để nghiên cứuKhổng Tử Điều này đã đợc học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: “Từ xa đếnnay hầu hết các học giả nghiên cứu về học thuyết Khổng Tử đều dùng cả Tứ

Th lẫn Kinh Th, Kinh Dịch, Khổng Tử gia ngữ…làm tài liệu, nh vậy theo tôikhông phải là tìm hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thờichiến quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộ “Luận ngữ” là đáng tinnhất thì còn bộ nào cũng chứa nhiều t tởng của ngời sau, không phải củaKhổng Tử”[10,7]

Luận ngữ“ ” sau khi ra đời từ trớc thời Chiến quốc đã trải qua nạn chônNho đốt sách của Tần Thuỷ Hoàng, hầu nh bị biến mất Đến thời Tây Hán

“Hiệp th luật” của nhà Tần bị bãi bỏ, triều đình chủ trơng thởng cho ai cócông thu thập và nộp sách Nho cho triều đình Có một số ngời trớc đây đãkhông ngại nguy nan dấu sách, giờ đây hăng hái hiến sách cho triều đình Lúcnày xuất hiện 3 bản “Luận ngữ”: “Lỗ luận ngữ” gồm 20 thiên, “Tề luận ngữ”gồm 22 thiên, “Cổ văn luận ngữ” gồm 21 thiên Bản “Luận ngữ” lu hành phổbiến ngày nay có 20 thiên, khoảng hơn 11000 chữ Mỗi thiên đều lấy hai hoặc

ba chữ đầu đặt tên cho thiên nh: Học nhi, Thuật nhi, Vệ Linh Công… ớc đâyTr

để dễ đọc và nghiên cứu ngời ta chia “Luận ngữ” thành hai phần thợng và hạ:

“Thợng luận” từ Học nhi thiên đệ nhất đến Hơng đảng thiên đệ thập, “Hạ

Luận ngữ” từ Tiên tiến thiên đệ thập đến Nghiêu viết thiên đệ nhị thập Luận

ngữ” là bộ sách có nội dung rất phong phú, hình thức lại rất linh hoạt Ngoài

các phơng diện lớn nh: Văn, sử, triết nhân sinh, giáo dục ra còn đề cập đến rấtnhiều phơng diện khác của đời sống xã hội Sách đợc viết với ngôn ngữ súctích, giàu tính gợi mở nên độc giả dễ dàng tiếp nhận

Luận ngữ

“ ” là bộ sách “truyền gia chi bảo” có tính kinh điển, là linh hồn,

là cội nguồn của dòng văn hóa chính yếu của lịch sử Trung Hoa hơn 2000năm trở lại đây Từ trong “Luận ngữ” có thể tìm thấy các quy phạm về hành vi

đạo đức trong đời sống hàng ngày và cả phơng thức học tập cho đến những

Trang 12

đạo quản lí gia đình, quốc gia, xã hội Vì vậy, Luận ngữ“ ” bộ thánh kinh,thoạt nhìn chỉ là những lời ngắn gọn, những đoạn đối thoại nhỏ nhng hơn

2000 năm nay đã trở thành cuốn sách không thể thiếu của nhiều nhà chính trị,nhiều hiền nhân thi sĩ Ngày nay, chúng ta đối mặt với thời đại của công nghệthông tin thì việc chiêm nghiệm lời dạy của thánh nhân chắc chắn sẽ mang lạilợi ích cho con ngời đơng đại

1.2 Quan điểm tự học của Khổng Tử trong tác phẩm Luận ngữ“ ”

Khổng Tử là nhà giáo dục vĩ đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, ông

đề xớng thuyết “hữu giáo vô loại”(mọi ngời đều có thể đợc dạy, đợc học) rấttiến bộ Ông là ngời đầu tiên mở trờng t cho mọi hạng ngời để đào tạo nhữngcon ngời lơng thiện có lễ nghĩa, nhất là đào tạo một hạng sĩ quân tử có nhân,trí, dũng để làm quan giúp nớc Ông dạy đủ lục nghệ nh chơng trình trờngcông lại thêm sử đời trớc(Th), môn ăn nói(Thi), các thể chế lễ nghi(Lễ)… Ôngchú trọng “nhân tài thị giáo”(có cách giáo dục riêng cho từng ngời và chú ý

đến nhân tài) Đặc biệt Khổng Tử đã đa ra một hệ thống phơng pháp tự học vôcùng hiệu quả

1.2.1 Học gắn liền với luyện tập, học đi đôi với hành:

Khổng Tử viết: “Tri chi giả bất nh hiếu chi giả, hiếu chi giả bất nh lạc chigiả”(Biết đạo lí không bằng thích nó, thích nó không bằng vui làm theo nóhoặc coi nó là một thú vui)(Luận ngữ - Ung Dã, 18)[10,304] Bởi lẽ học màkhông hành thì khó nhớ Chính Lão Tử cũng nói: Những gì ta nghe, ta sẽquên; những gì ta thấy tận mắt, ta có thể nhớ phần nào; chính những gì ta làm

ta sẽ nhớ đời

Trong “Kinh th”: “Biết” không phải là khó, “Làm” mới khó

Châu Hy cũng dạy nh thế: Học rộng điều gì, không bằng biết phần cốtyếu của điều ấy, biết phần cốt yếu của điều ấy, không bằng thực hành điều ấy.Chúng ta đều biết có học mới biết Chúng ta cũng thờng nghĩ rằng đãbiết đợc thì làm đợc Nhng trên thực tế, từ học đến biết và từ biết đến làmkhông phải chỉ là đơn giản gọn gàng, dứt khoát Ngời thầy đầu tiên của đạoNho, đức Phu tử của bảy mơi hai hiền triết và hàng nghìn đệ tử trởng thành rấtcoi trọng luyện tập và rất hứng với luyện tập Và Phu tử tỏ ra rất mong muốnrằng các đệ tử của mình học đến đâu thì thực hành, luyện tập đến đấy ngay,học điều gì thì thực hành điều ấy ngay Những vị hiền triết học với Phu tử ghichép lời thầy và sắp xếp các câu lại thành cuốn “Luận ngữ” gồm 20 thiên đã

tỏ ra thấm nhuần t tởng của thầy khi mở đầu cuốn sách hết sức quan trọng đối

Trang 13

với Nho giáo ấy bằng câu “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”(học mà tậpcho kịp thời, đúng lúc, chẳng phải là thích thú )(Luận ngữ-Học nhi, 1)[10,268]

Phan Bội Châu trong cuốn “Khổng học đăng” đã giải thích ý này: họccho hiểu biết mà đợc đem điều hiểu biết ấy ra thể hiện kịp thời và đúng lúctrong cuộc thì thật là khoan khoái, hứng thú

Nói học để hiểu biết, không phải coi hiểu biết là mục đích cuối cùng Cóhiểu biết mới làm đợc Học để hiêu biết, lấy mục đích cuối cùng mà nói cũngtức là học để hành Thực hành giúp cho thể nghiệm hiểu biết về điều đã học,

do đó mà nối liền học với tri, cũng mở đầu sự ứng dụng những điều hiểu biết

đợc vào hành động do đó mà nối liền tri thức và hành cũng tứclà nối liền họcvới hành

Khổng Tử còn cho rằng “Đức chi bất tu, học chi bất giản, văn nghĩa bất năng

tỉ, bất thiện bất năng cải, thi ngô u dã”( Đạo đức không sửa tiến, học vấn chẳnggiảng tập, nghe đợc điều nghĩa mà không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi, đó lànhững mối lo của ta)(Luận ngữ - Thuật nhi, 3) [10,347]

Đặt vấn đề học và hành theo đúng quan điểm Khổng Khâu chúng ta càngthấy rõ học và hành gắn bó chặt chẽ với nhau, mở đầu và hoàn chỉnh chonhau, đi đôi và phát triển củng cố theo nhau Khổng Khâu đã phân xã hộithành mấy hạng ngời khác nhau, có hạng sinh ra mà biết, có hạng học mà biết,

có hạng khó khăn, khốn khổ mà biết; khi nói đến hành cũng đã phân xã hộithành mấy hạng ngời khác nhau, có hạng cứ tự nhiên yên nhiên mà hành, cóhạng hiểu lợi ích mà hành, có hạng do gắng gợng mà hành Dù mức độ cốgắng là khác nhau, song đến khi đạt kết quả, cụ thể là đã biết đợc rồi và đãthành công rồi thì đều nh nhau, đều là một Cho nên trong toàn bộ xã hội, đại

bộ phận là những ngời có thể học và vợt qua khó khăn, gian khổ để biết đạo,mặt khác cũng đại bộ phận là những ngời có thể hiểu lợi ích và gắng gợng màhành đạo Đồ đệ của Khổng Khâu nói riêng, của Nho giáo nói chung khác vớinhững tín đồ của đạo Phật, đạo Lão, đạo Thiên Chúa…Các tín đồ này hành

đạo phải có tụng niệm kinh kệ, cúng vái cầu nguyện thần linh, ban bùa phépbiến hoá màu nhiệm, và đặc biệt là bao giờ cũng nhằm vào kết quả cao siêucuối cùng trong một thế giới thần bí nào đó Các thánh hiền Nho giáo cùngvới đồ đệ của mình hành đạo và thực hiện những nguyên lí của Nho giáo về

đạo làm ngời bao gồm đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em,

đạo bằng hữu, đạo thầy trò…trong cuộc sống hiện thực nhằm đạt đợc những

Trang 14

kết quả cụ thể cũng trong cuộc sống hiện thực, trong cuộc sống trần gian, làmcho ngời ngời hữu đạo, nhà nhà hữu đạo, nớc này nớc khác hữu đạo, cả thiênhạ hữu đạo

Cha ông ta cũng đã từng nhấn mạnh rằng “Văn ôn võ luyện” “Suy nghĩtức là hành động” Học mà vận dụng đợc điều gì (kể cả nội dung hay phơngpháp) vào công việc hàng ngày của mình thì mới thấy việc học là bổ ích, đómới là mục đích của sự học Rõ ràng rằng ‘học” mà không “hành” thì coi nhkhông học, sự học nh vậy cũng giống nh “nớc đổ đầu vịt”, học xong rồi lạiquên ngay tức khắc Cha ông ta cũng đã từng quan niệm: “Trăm hay khôngbằng tay quen”, ngời lao động xa đã từng quan niệm rằng lý thuyết hay khôngbằng thực hành giỏi Điều đó cho thấy ngời xa đề cao vai trò của thực hành.Trong khi đó những kẻ học thức chỉ biết chữ thánh hiền, theo lối học từ chơngsáo mòn cũ kĩ Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, quan niệm lý thuyết vàthực hành đợc hiểu khác hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể táchrời nhau

Học trớc hết là việc tiếp thu tri thức đã đợc tích luỹ trong sách vở, là nắmvững cơ sở lý luận đợc đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tiếp thunhững giá trị kinh nghiệm của thế hệ trớc Học là trau dồi kiến thức, mở mangtrí tuệ, từng bớc cập nhật sự hiểu biết của mình, không để tụt lùi, lạc hậu Học

là tìm hiểu, khám phá những tri thức của loài ngời nhằm chinh phục thiênnhiên, chinh phục vũ trụ Học thuộc khía cạnh của lý thuyết, lí luận Còn hànhnghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lý thuyết vào thực tiễn đờisống Cho nên học và hành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, học và hành làhai mặt của một quá trình thống nhất, chúng không thể tách rời mà luôn gắnchặt với nhau Chúng ta cũng cần hiểu thêm rằng “hành” vừa là mục đích vừa

là phơng pháp học, một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà takhông vận dụng đợc vào thực tiễn, thì học chẳng để làm gì cả: “Học mà khônghành thì vô ích” Học mà không hành đợc là do học không thấu đáo hoặc thiếumôi trờng hoạt động Nhiều sinh viên hiện nay khi còn ngồi trên ghế nhà tr-ờng không chú tâm học nên khi ra trờng không có kỹ năng về nghề nghiệp.Ngợc lại hành mà không có lí luận chỉ đạo, lý thuyết soi sáng và kinh nghiệm

đã đợc đúc kết dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng khi gặpkhó khăn, trở ngại, thậm chí có khi sai lầm nữa

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói nhiều đến học phải kết hợp với hành,chống lối học vẹt Trong dịp đến thăm trờng Đại học S phạm Hà Nội (21-10-

Trang 15

1964) Bác nói với cán bộ giảng dạy và sinh viên: “Các cháu học sinh khôngnên học gạo, không nên học vẹt…Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực

tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học và hành phải kết hợp với nhau” BácPhạm Văn Đồng cũng đã nhiều lần lên án “lối học h văn, khoa cử” - lối học

điển hình của nền giáo dục phong kiến, đã tồn tại nhiều thế kỷ Hiện nay,chúng ta đang bớc vào thời kỳ CNH-HĐH hơn bao giờ hết đòi hỏi mọi ngờitrong xã hội nói chung, các nhà quản lí giáo dục, các thầy cô giáo và các emhọc sinh, sinh viên cùng cha mẹ các em nói riêng phải hiểu thấu đáo nguyên líhọc đi đôi với hành Tất nhiên, trong một số bài, một số lĩnh vực, muốn thựchiện “học đi đôi với hành” phải có một số điều kiện, nh thiết bị dạy học, sântập, phòng thí nghiệm, đi thực tập…Dần dần nhà trờng sẽ đáp ứng đủ những

điều kiện này để thực hiện nguyên lí “học đi đôi với hành” Nhng ở mọi nơi,

từ trong sách đến cuộc đời, đều có thể dạy và hấp thụ tinh thần học đi liền vớihành, áp dụng những điều học đợc từ nhà trờng, từ các phơng tiện thông tin

đại chúng…vào cuộc sống hàng ngày của bản thân, gia đình

Trong tác phẩm “T bản”, Mác khẳng định học tập kết hợp với lao độngsản xuất là phơng pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phơng pháp duynhất để hình thành con ngời toàn diện Lao động tạo ra nhân cách con ngời.Nhà trờng phải giáo dục, đào tạo ra những con ngời chân chính và có nhâncách tốt Mục tiêu tổng quát của giáo dục là phát triển con ngời toàn diện; đốivới xã hội, phát triển con ngời toàn diện để phát triển kinh tế xã hội, đối vớitừng ngời - để có năng lực nghề nghiệp, để sống và đóng góp cho gia đình,cho cộng đồng

Nền giáo dục Việt Nam cũng đang thực hiện theo nguyên lí học đi đôivới hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn.Luật giáo dục đã ghi: Hoạt động giáo dục phải đợc thực hiện theo nguyên líhọc đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liềnvới thực tiễn, giáo dục nhà trờng kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xãhội

1.2.2 Học phải suy nghĩ

Khổng Tử viết “Học nhi bất t tắc võng, t nhi bất học tắc đãi”(Học màkhông suy nghĩ thì mờ tối dễ mắc sai lầm, suy nghĩ mà không học thì thì nguyhại) (Luận ngữ - Vi chính, 15)[10,285]

Học theo gốc từ, trớc hết vốn có nghĩa là bắt chớc theo Bắt chớc là nghĩ

y theo, nói y theo, làm y theo ngời khác Ngời khác cũng có thể là con ngời

Trang 16

bằng xơng bằng thịt dạy bảo cho mình Ngời khác cũng có thể là sách vở, kinhtruyện của bao nhiêu bậc thầy, bao nhiêu con ngời “tiên tri” và “tiên giác”.Khổng Khâu không coi thờng và bỏ qua ý nghĩa của học là bắt chớc Nhng vịthánh của hàng trăm thế hệ nhà Nho không muốn coi học là một sự bắt chớcngòi khác một cách quá đơn giản Chúng ta nhớ những câu của Phu tử nói rõrằng học là “do mình” và “cầu ở mình” chứ không phải là “do ngời” và “cầu ởngời” Nghĩa là phải có ý chí của mình, công phu của mình, cố gắng của mìnhtrong t duy, trong biện luận và trong thể nghiệm cũng nh hành động Cho nên,học phải gắn liền với suy nghĩ tức là t, với thể nghiệm trong thực tế tức là tập,cũng nh với sự làm việc có tác dụng cụ thể đối với cuộc sống tức là hành

động Quan hệ giữa học với t, giữa học với tập và giữa học với hành càng tốtthì kết quả và thành công của học càng to lớn và quý báu

Trớc hết hãy nói về quan hệ giữa học và t Vị thầy đã từng suốt ngàykhông ăn, suốt đêm không ngủ để suy nghĩ cũng đã do đó mà đi tới khẳng

định rằng nh thế là vô ích Kết luận là cứ phải học phải đợc Nhng ngợc lạihọc lại cũng phải có t thì mới hiểu đợc, nắm đợc nghĩa lí Nghe giảng, đọcsách mà cứ nghe suông, nhớ suông thì không thể nắm đợc, biết đợc, vận dụng

đợc cái đúng và cái tốt, cái hay và cái đẹp, làm thế nào mà tri đạo, đắc đạo vàhành đạo cho đợc Cho nên t phải có học và ngợc học cũng phải có t, KhổngKhâu nói rõ ý ấy trong khi nhấn mạnh rằng “học nhi bất t tắc võng, t nhi bấthọc tắc đãi”[10,285]

Đã nói rằng học là để hiểu biết thì tất nhiên học bao giờ cũng đòi hỏiphải suy nghĩ Học mà không suy nghĩ thì chỉ nhất thời lặp lại nh một cái máyhay nh một con vẹt, không nắm đợc nội dung và ý nghĩa những điều đợc học.Ngợc lại, nếu nh ngày đêm suy nghĩ miên man từ điều này sang điều khác màkhông có thầy, có sách, có trờng lớp, chơng trình thì chỉ loay hoay một mình,không có cơ sở, không có phơng hớng phát triển trí tuệ một cách thiết thực,không những không tiến lên đợc mà còn có thể có hại

Theo Khổng Khâu học thì đợc nghe và qua xem đọc mà có thể lĩnh hội

và hiểu biết một điều gì đó Từ điều ấy lại phải có t duy mới suy ra mà hiểubiết đợc những điều khác nữa Nhấn mạnh t duy trong học tập, Khổng Khâudùng một hiện tợng dễ nhớ và dễ hiểu: “Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát, cửnhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã”(Kẻ nào không phát phẫn

để tìm hiểu thì ta không mở, không giảng cho Ta vén cho một góc rồi mà

Trang 17

không tự suy nghĩ tìm ra ba góc kia thì ta không dạy cho nữa)(Luận ngữ Thuật nhi, 8)[10,348].

“Học mà không suy nghĩ thì dễ mắc sai lầm, suy nghĩ mà không học thìmất nhiều thời gian thậm chí không đem lại kết quả”[10,285] Nh vậy, giữahọc và suy nghĩ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, không phải khinào giữa chúng cũng có mối quan hệ tơng đồng, thống nhất với nhau Hoạt

động học nếu hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm ngồi học trên lớp, ngồi học ở

th viện, ngoài công viên, trong sân trờng, hoặc là một nơi nào đó mà ngời họccảm thấy thuận lợi…cùng với các thao tác, các dụng cụ nh: bàn ghế, sách vở,tài liệu,…chính nhờ những biểu hiện này giúp cho chúng ta phân biệt hoạt

động học so với hoạt động sản xuất, hoạt động nghệ thuật, hoạt động thểthao…Nh vậy, hoạt động học đó chỉ là những biểu hiện bên ngoài, rất dễ nhậnthấy Tất cả những hoạt động học trên không phải bao giờ cũng hớng đích,

đồng tâm, thống nhất với suy nghĩ gắn với mục đích Ví dụ: Học sinh ngồi họctrong lớp tỏ ra rất chăm chú nghe giáo viên giảng bài, nhng cha chắc đã thực

sự suy nghĩ theo vấn đề giáo viên giảng, mà đầu óc lại đang suy nghĩ mơmàng tới một vấn đề khác Điều này chúng ta không thể nhận biết đợc, nhngchính bản thân học sinh là ngời hiểu rõ nhất

Học mà không suy nghĩ thì gọi là học vẹt, học gạo, học mà không hiểubản chất của sự vật hiện tợng Học nh vậy thì sẽ không bao giờ vận dụng đợctri thức vào cuộc sống Ví dụ: Nhiều cậu học trò vẫn thờng đọc làu làu câu

“rắn là một loài bò sát không chân” đọc thuộc nh vậy nhng không hiểu nó làgì Học nh vậy là không suy nghĩ Học mà không suy nghĩ thì mới dừng lại ởnhận thức “cảm tính”, nhận thức sự vật hiện tợng một cách đơn thuần, mới chỉdừng lại ở mức độ tiếp nhận thông tin, còn xử lí thông tin nh thế nào thì phảisuy nghĩ tức là phải “t duy” Cha ông ta đã từng khuyên “đọc dốt 100 trangsách, không bằng đọc kỹ 10 trang” Dốt hay kỹ là có chịu suy nghĩ sâu sắcmột cách có ý thức hay không

Nh vậy, suy nghĩ “t duy” chính là yếu tố quan trọng, thông qua quá trình

t duy mà những nguyên liệu thu đợc từ “học” đợc xử lí, phân tích, mổ xẻ đểtìm ra bản chất của sự vật hiện tợng Không có “t duy” thì những nguyên liệu

ấy chỉ là những thứ vô nghĩa mà thôi Rõ ràng giữa “học” và “suy nghĩ” khôngthể tách rời nhau, mà giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau Học màkhông suy nghĩ thì không biết gì, suy nghĩ mà không học thì mất nhiều thờigian thậm chí là vô ích

Trang 18

1.2.3 Học cái cũ để biết cái mới

Khổng Tử nói “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi s hi”( Ôn lại những điều cũ

mà biết đợc điều mới nh vậy mới có thể làm thầy đợc)(Luận ngữ - Vi chính,11)[10,284] Đây không phải là sự bảo thủ hay hoài cổ Bởi t tởng của Khổng

Tử cũng nh t tởng Nho giáo - khởi thuỷ hoàn toàn xa lạ với sự bảo thủ haysùng cổ mù quáng.“Ôn cố nhi tri tân” ở đây là việc sử dụng quá khứ nh là mộtvốn giúp cho ngời học khám phá ra hiện tại và nhờ đó xây dựng tơng lai

Ngày nay, Tâm lí học đã chứng minh đã chứng minh vai trò của tri thức

cũ trong việc tiếp thu tri thức mới: “Cái mới” phải đợc móc với “cái cũ” thôngqua cơ chế liên tởng Nhờ đó ngời học hiểu đợc sâu hơn Trong thực tế họcsinh nào có vốn tri thức cũ phong phú thì học sinh ấy sẽ tiếp thu tri thức mới

dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn Cônxtantin Đmitreevic Usinxky(1824-1870),nhà giáo dục học vĩ đại ngời Nga khi nói về tính tích cực và tính tự giác, tự lậpUsinxky muốn nói đến việc giáo dục cho cá nhân biết định hớng trong môi tr-ờng xung quanh, biết hành động trong đó một cách sáng tạo, biết tự mìnhnâng cao nền học vấn và sự phát triển của bản thân Ngời giáo viên phải bồi d-ỡng những năng lực trí tuệ của học sinh đối với công tác độc lập, làm pháttriển năng lực và kỹ năng giành lấy kiến thức mới ở học sinh khi không cầngiáo viên Ông rất chú ý đến việc ôn tập của học sinh Từ đó mà ông nhậnthấy tính tất yếu phải bắt buộc ngời học độc lập tìm tòi, suy nghĩ

Sinh viên cần phải nắm đợc nguyên tắc, quy luật chung của nhận thức,khi tìm hiểu môn học nên đi từ cái dễ đến cái khó, đừng bao giờ học “đốt cháygiai đoạn”, học tắt Luôn khởi đầu môn học bằng những yếu tố đầu tiên củamôn học, bằng sự tò mò, lòng ham hiểu biết, tin tởng vào sự cố gắng, nỗ lực

và thành công của mình

Có thể nói rằng trong việc học, kiến thức, kỹ năng, cách học, cách tduy…vừa là mục tiêu cần đạt đến, vừa là công cụ, động lực để đạt đến mụctiêu Ta muốn đạt đến những kiến thức mới thì ta phải vận dụng những kiếnthức cũ; các kiến thức này, vốn là mục tiêu trong lần học trớc, hoặc ta muốn

có kỹ năng mới thì ta phải vận dụng thành thạo những kỹ năng cũ; ta t duy để

đi từ kiến thức cũ đến kiến thức mới thì kiến thức mới là mục tiêu, nhng đồngthời t duy của ta cũng đợc mài sắc thêm Rõ ràng, để có đợc những cái mới thìtrớc hết phải đợc xuất phát trên nền tảng vững chắc của cái cũ

1.2.4 Học với mọi ngời, ở mọi nơi mọi lúc

Trang 19

Khổng Tử từng nói: “Tam nhân hành, tất hữu ngã yên s; trạch kỳ thiệngiả chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi”(Trong ba ngời cùng đi với ta tất có ngời làthầy ta; lựa cái hay của ngời này mà học, xét cái quấy của ngời kia mà sửamình)(Luận ngữ - Thuật nhi, 21)[10,354] “Ba ngời cùng đi”, nghĩa là không

kể ngời nào, bất kỳ ai và bất kỳ ở đâu, lúc nào thấy ai hơn mình, bất kể về

điểm nào, cũng phải xem xét và học theo, thậm chí thấy ai có lỗi lầm, mìnhphải rút kinh nghiệm cho bản thân Đó là học Chỗ khác Khổng Tử lại nói

“Bất sĩ hạ vấn” [10,323] không lấy làm hổ thẹn khi học hỏi kẻ dới mình, dù đó

là ngời thấp kém, nhng có điểm hơn mình, mình phải nghiêm túc học hỏi ngời

ấy Không có gì là xấu hổ cả T tởng này càng có ý nghĩa giáo dục to lớn khi

ông biết dè chừng “bệnh sĩ” vốn cố hữu ở giới tri thức Chính bản thân Khổng

Tử đã làm gơng Ông rất vui mừng khi nhận lời phê bình của ngời khác để sửamình Gặp ai hát hay ông đều nhờ ngời ấy hát lại để ông học hát theo Và luônluôn nhìn ra u điểm ở ngời đối diện, nhất là ở học trò của mình

ở Khổng Tử quan điểm coi trọng học và quan điểm coi trọng dạy là nhấtquán tơng ứng rõ ràng với nhau Học là để biết thì dạy cho ngời khác biếtcũng có ích cho sự hiểu biết của mình, cũng có ý nghĩa và tác dụng củng cố,nâng cao và mở rộng hiểu biết của mình Đúng thế, muốn dạy ngời khác baogiờ cũng phải xác định, kiểm tra sắp xếp cho tốt hiểu biết của mình để diễn

đạt cho rõ, truyền thụ cho sáng tỏ và đúng đắn Ngời học đã hiểu biết điềumình dạy thì mình lại càng phải có hiểu biết thêm rộng hơn để dạy Kinh thnói rằng “dạy là một nửa học”, điều đó xét theo tinh thần cơ bản là đúng Do

đó cần khẳng định rằng ham học và học tốt là một điều tất yếu đối với ngờiquân tử Cho nên học trong gia đình, trong truờng lớp, trong nớc và cả trongthiên hạ ở đâu và trong phạm vi nào, trên địa bàn nào, ngời quân tử Nho giáocũng có nhiệm vụ và trọng trách dạy ngời cả

Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngời đã bôn ba năm châu bố bể để tìm đờng cứunớc, cứu dân tộc từng đi nhiều, thấy nhiều, học nhiều, suy nghĩ nhiều Ngời đã

đúc kết nên chân lí gắn giáo dục với sức mạnh nội tại của một dân tộc Trong

t tởng của ngời luôn đề cao ý chí ham học, học suốt đời, học ở mọi lúc, mọinơi Hồ Chí Minh ý thức rất rõ sự học là vô biên, vô cùng vì: thế giới tiến bộkhông ngừng, ai không học là lùi Nói chuyện tại Hội nghị chuyên đề sinhviên quốc tế tại Việt Nam tháng 9/1961 Ngời thẳng thắn nhận định là “thế hệngời già ở Việt Nam ít đợc học do bị Thực dân Pháp kìm hãm và bản thân ng-

ời cũng chỉ học hết Tiểu học Để có đủ hiểu biết mà tìm đờng cứu nớc, ngời đã

Trang 20

ra sức học tập, chủ yếu là tự học: học ở trờng, học ở sách vở, học lẫn nhau vàhọc ở nhân dân

Khổng Tử suốt đời học tập không biết mệt mỏi và lúc nào cũng sẵn sàngtâm thế học tập với mọi ngời Ngày nay, khi xã hội loài ngời đang có những b-

ớc tiến dài trên con đờng phát triển, khi mà điều kiện “học thờng xuyên và họcsuốt đời” ngày càng mở rộng, thì con ngời sẽ có điều kiện để học tập dớinhiều hình thức khác nhau Vì vậy, học với mọi ngời, mọi lúc mọi nơi sẽ vôcùng quan trọng đối với mọi ngời

1.2.5 Học bằng cách phát huy nội lực tự thân

Khổng Tử luôn khuyến khích học trò học phải tự lực suy nghĩ, suy nghĩthấu đáo một cách độc lập Ông còn luôn đòi hỏi học trò phải phát huy hếtnăng lực tiềm tàng trong mình để tự thân giải quyết vấn đề trớc, rồi ông mớigiúp đỡ cho sau Khổng Tử nói; “Bất viết: “Nh chi hà, nh chi hà giả, ngô mạt

nh chi hà dã dĩ hi””( Ngời nào không biết tự học: “Phải làm sao đây? Phải làmsao đây?”, thì ta chẳng có cách gì chỉ bảo cho ngời ấy đợc)(Luận ngữ - Tử Tr-

đã học với những ai, ở những trờng lớp nào Lớn lên, Khổng Khâu tự mình tìmsách mà học, tìm thầy mà học, tìm nơi mà học là chính Muốn học triết, tìm

đến triết gia; muốn học nhạc thì tìm đến nhạc s; muốn học nghi lễ, tìm đếnnhững ngời nổi tiếng biết rõ nghi lễ Thật là nhiệt tình học tập và chí khí họctập đáng nêu gơng Theo Khổng Khâu, ngời ham học là ngời biết phẫn uất,biết căm tức đối với cái dốt, do đó mà ra sức cố gắng tìm tòi học hỏi để biếtcái cha biết, để suy từ cái đã biết đến cái đang tìm hiểu, để trả lời những câuhỏi tự mình đặt ra trớc các sự vật trong cuộc sống Nói tóm lại tự giác, chí khí

và cố gắng bản thân là đòi hỏi hàng đầu, là yêu cầu cao bậc nhất đặt ra cho bất

kỳ ai muốn học có kêt quả tốt

Hay: “Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát Cử nhất ngung, bất dĩ tamngung phản, tắc bất phục dã”(Kẻ nào không phát phẫn để tìm hiểu thì ta

Trang 21

không mở cho Ta vén cho một góc rồi mà không tự suy nghĩ tìm ra ba góc kiathì ta không dạy cho nữa)(Luận ngữ - Thuật nhi, 8)[10,348] Thì ra cách họctheo Khổng Tử, chẳng những phát huy nội lực để tự thân suy nghĩ tìm ra biệnpháp giải quyết vấn đề, mà còn phải suy nghĩ về cách vận dụng biện pháp,cách thực hiện, cách hành động và hành động đúng một cách tự lực, một cách

Nh chúng ta đã biết, giáo dục về bản chất là một hiện tợng xã hội, lịch

sử, là một quá trình biến yêu cầu khách quan của thời đại thành những phẩmchất năng lực của cá nhân nhằm đào tạo ra những con ngời đáp ứng yêu cầumục tiêu của xã hội Vì vậy, muốn học tập có kết quả trớc hết phải coi trọngtinh thần tự học, ngời học phải huy động nội lực đến mức cao nhất Phơngchâm này không chỉ đề ra cho ngời tự học xa thầy mà đề ra cho cả ngời học cóthầy bên cạnh vì thầy ở bên cạnh cũng chỉ trong vài tiết học mỗi ngày, về nhàcũng phải tự học mà ngay khi thầy ở trớc mặt thì sự cố gắng lắng nghe và

động não cũng rất quan trọng

Tất cả những tác động từ bên ngoài chỉ có thể đạt đợc kết quả khi bảnthân mỗi ngời phải tự chủ động tiếp thu tri thức Nghĩa là bản thân mỗi ngờiphải biết tự khơi dậy những tiềm năng ẩn chứa Mọi ngời nếu nh không biếtlàm “hiện ra” đợc những cái “ẩn” thì những cái ẩn đó vẫn luôn luôn là một

“hộp đen” Ví nh một ngời đi đờng, nếu muốn đi thì phải tự mình đi, còn cứ

để ngời khác chở đi thì anh ta sẽ chẳng bao giờ biết tự đi một mình, cha nói

đến chuyện khám phá ra những con đờng đi mới, thuận tiện hơn đờng đi cũ

Đờng đi và cách đi vẫn là một “hộp đen” đối với anh ta Nh vậy anh ta chaphát huy đợc nội lực tự thân Ngời học phải tự lắng nghe thầy giảng, tự đọcsách, tự ngẫm nghĩ, tự lựa chọn, tự vận dụng, tự phát hiện cái sai, cố phát triển

t duy độc lập thì từ đó mới có thể có t duy phê phán, có khả năng giải quyếtvấn đề và sáng tạo ra cái mới để “học một biết mời” Trong thực tế hai ngờicùng lên lớp nghe thầy giảng nhng sự tiến bộ sẽ khác nhau tuỳ theo sự tự lựccủa từng ngời Nên, Khổng Tử đã nhấn mạnh rằng ngời nào không biết tự hỏi:

Trang 22

“Phải làn sao đây? Phải làm sao đây?”, thì ta không biết cách dạy nào cho

ng-ời ấy hiểu

1.2.6 Học bằng cách hỏi

Khổng Tử viết: “Bất sỹ hạ vấn”(Không thẹn hỏi ngời kém mình)(Luậnngữ - Công Dã Tràng, 14)[10,323] Đây là một phẩm chất tốt đẹp của ngời cầnhọc: Không hổ thẹn khi hỏi ngời dới mình Phải chăng Khổng Tử đã dè chừng

“bệnh sĩ” và muốn tránh cho học trò mình căn bệnh cố hữu này ở giới trí thức.Biết học ở học trò mình là một phẩm chất tốt đẹp ở nhân cách của ngời thầylớn Cha hết lần khác Khổng Tử lại dạy: Tựu hữu đạo nhi chính yên Tìm đếnngời có học để thỉnh ý mà sửa mình cho thêm ngay chính Chẳng những phảitìm hỏi ngời trên, kẻ dới, mà theo Khổng Tử, để học tốt còn phải biết đàm

đạo, thảo luận với bạn bè, với những ngời cùng chí hớng Có vậy mới thấy đợcniềm vui trong học tập “hữu bằng tự viễn phơng lai, bất diệc lạc hồ”

Chúng ta đã thấy học là để biết và dạy là để làm cho ngời khác hiểu biết,

đem điều mình biết truyền thụ cho ngời khác Chúng ta cũng đã thấy “biết”không phải là khâu cuối cùng mà là một khâu phải đạt tới để đi đến hành.Không biết thì không hành đợc là hành sai Cho nên để học và dạy cho đúng

đắn thì phải có tinh thần thận trọng, khiêm tốn và khách quan trung thực,trong mọi trờng hợp cần phân biệt rõ biết và không biết Có ngời hỏi KhổngKhâu về chữ “tri” nghĩa là biết, Phu tử giải đáp: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bấttri, thi tri dã”(Biết điều gì thì nhận là biết, không biết thì nhận không biết, nhvậy là biết)(Luận ngữ - Vi Chính, 17)[10,286] Xét ra, trong cuộc sống thôngthờng, không ít trờng hợp biết mà làm ra không biết, và càng nhiều trờng hợpkhông biết mà làm ra biết Điều đó có hại cho bản thân mình trong học tập và

có thể gây hại cho ngời khác trong giảng dạy Biểu hiện dứt khoát cái biết vàcái không biết một cách đúng đắn và trung thực, nói chung về mặt phơng phápluận là một tinh thần khoa học cần có

Cũng theo tinh thần nói trên, Khổng Khâu đề ra chữ “nghi” rất cần thiếtcho việc tìm hiểu chân lí Có cái biết, có cái không biết và cũng có cái không

dễ khẳng định là biết hay không biết Phu tử khuyên mọi ngời không nên bỏmặc cái “nghi” Trong chín điều “nghi” của ngời quân tử, có một điều là: hễ

có nghi thì nghĩ đến hỏi(nghi t vấn) Đơng nhiên cứ không phải có nghi là hỏi

đợc ngay và cứ hỏi thì rõ đợc ngay Có thể có nghi mà không có nơi hỏi đợc,

và cũng có thể có hỏi mà không sáng tỏ đợc Vậy thì, trong những trờng hợp

nh vậy cái nghi là vấn đề tồn tại, là cái phải để lại Đó là thái độ đúng đắn của

Trang 23

cả ngời học và ngời dạy Về điểm này theo Khổng Khâu: “Đa văn, khuyếtnghi thận ngôn kỳ d, tắc quả vu Đa khiến, khuyển đãi, thận hành kỳ d, tắcquả hối Ngôn quả vu, hành quả hối lộc tại kỳ trung hĩ”(Nghe nhiều điều gìcòn nghi thì để đó, đừng nói; những điều còn lại tin đợc thì khi nói phải thậntrọng, nh vậy sẽ ít lỗi; thấy nhiều điều gì cha yên lòng, còn nghi ngờ thì để đó

đừng làm; làm những điều còn lại, thì khi làm phải thận trọng, nh vậy ít phải

ăn năn lời nói ít lỗi lầm, việc làm ít ăn năn, bổng lộc tự nhiên có ở trong đó)(Luận ngữ - Vi Chính, 18)[10,286]

Cần biết đặt câu hỏi và tìm “thắc mắc” Câu hỏi và thắc mắc là u điểmchứ không phải là nhợc điểm vì nó thúc đẩy chúng ta tìm tòi để tiến triển Tr-

ớc Newton, bao nhiêu ngời đã thấy quả táo đợc tung lên lại rơi xuống Nhngkhông ai đặt câu hỏi “tại sao” nh Newton Nhờ câu hỏi này, Newton mớikhám phá ra định luật sức hút của trái đất

Trong tự học cần tránh “chờ đợi”, có nghĩa là đừng cứ “chờ” thầy côgiảng giải, mà phải chủ động hỏi, không nên phân biệt đó là thầy, là bạn, hay

là học trò của mình Trong cuộc sống ít khi ngời học nghe giảng một lần, đọcsách một lần, hoặc quan sát, xem xét một lần mà hiểu ngay Thờng là trong

đầu phải xuất hiện những câu hỏi Có trả lời đợc những câu hỏi đó mới gọi làhiểu Khi có thầy thì hỏi thầy, không có thầy thì hỏi bạn bè, không có bạn bèthì hỏi sách Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây bản thân ngời học phải tự cốgắng hết mức, nếu vẫn không hiểu thì lúc đó mới nên đi hỏi, nghĩa là phải “tựbiết hỏi mình” trớc đã Sự hỏi mình đó, có thể mất nhiều thời giờ và dù không

đạt đợc kết quả vẫn rất bổ ích vì đó là một quá trình rèn luyện t duy Đồngthời với Khổng Tử, ở phơng Tây có triết gia Socrates cho rằng trong mỗi conngời vốn có sẵn ý tởng Dạy không phải là đa ý tởng từ nơi mình sang ngờikhác Ông tự nhận là đã dùng phơng pháp “đỡ đẻ” của “bà mụ”, giúp cho đứacon sẵn có trong lòng mẹ sinh ra Khi dạy ai, ông đi từ câu hỏi này sang câuhỏi khác, kích thích ngời ta suy nghĩ và trả lời, cuối cùng ngời học hiểu ra bàihọc

1.2.7 Học một cách kiên trì, gắng sức

Khổng Tử khuyên: “Học nh bất cập, do củng thất chi”(Học thì phải gắngsức nh sợ không kịp, học đợc điều gì rồi thì sợ quên mất)(Luận ngữ - Thái Bá,17)[10,367] Khổng Tử ví việc học nh việc đắp núi: “Thí nh vi sơn, vị thànhnhất quỹ, chỉ, ngô chỉ dã Thí nh bình địa, tuy phúc nhất quỹ, tiến, ngô tiếndã”(Nh việc đắp núi, nếu còn thiếu một sọt nữa mà ngừng, là tại ta bỏ vậy! Ví

Trang 24

nh tại đất bằng, tuy mới đổ xuống đợc một sọt mà tiếp tục đổ nữa là tại tamuốn tiếp tục vậy)(Luận ngữ - Tử Hãn, 18)[10,379] để khuyên con ngời cóchí đi học thì đừng ngại đờng xa.

Cụ thể hơn Khổng Tử nói: “Quân tử, thực vô cầu bão, c vô cầu an, mẫn sự nhithận ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vị hiếu học dã dĩ”(Ngời quân tử ănkhông cần đợc đầy đủ, ở không cầu đợc yêu vui, làm việc siêng năng mà thậntrọng lời nói, tìm ngời đạo đức để thụ giáo sửa mình, nh vậy có thể gọi là ngờiham học)(Luận ngữ - Học nhi, 14)[10,275]

Lòng tha thiết với học thờng thể hiện ở một thái độ kiên trì rất đáng chú ý.Sách “Trung dung” của Khổng cấp khuyên ngời ta: Học cho rộng, hỏi cho sát,suy nghĩ cho cẩn thận, biện biệt cho sáng tỏ, thực hành cho dốc lòng dốcsức(Bác học chi, thẩm vấn chi, thân t chi, minh biện chi, dốc hành chi) Nhấnmạnh hơn nữa Khổng cấp còn nói: Hữu phất học, học chi phất năng phất thổdã; hữu phất vấn, vấn chi phất tri; phất thổ dã, hữu phất t, t chi phất đắc; phấtthổ dã, hữu phất biện, biện chi phất minh; phất thổ dã, hữu phất hành hình chiphất dốc, phất thổ dã(Có cái không học thì thôi, cái gì đã học mà không haythì không chịu; có cái không suy nghĩ thì thôi, cái gì đã suy nghĩ mà không đ-

ợc thì không chịu; có cái không biện biệt thì thôi, cái gì biện biệt mà khôngsáng tỏ thì không chịu; có cái không làm thì thôi, cái gì đã làm mà không dốclòng dốc sức làm cho đợc thì không chịu)

Một điểm nữa cần nói về thái độ học tập là sự nghiêm chỉnh ở Thiên

“Học nhi” có câu: “Quân tử bất trọng bất tắc uy, học tắc bất cố”(Ngời quân tửkhông trang trọng thì không uy nghi, học tất không vững, không đạt lí)(Luận ngữ

- Học nhi, 8)[10,272] Trọng là ý nói trang trọng, trân trọng, trịnh trọng; uy là nói

uy nghi, nghiêm chỉnh Đã học là phải trang trọng, trịnh trọng trong mọi trờnghợp, đối với mỗi điều học đều phải nghiêm chỉnh và thành khẩn tiếp thu chovững chắc, không thể học theo lối tuỳ hứng, bông đùa, “tài tử” Và tất nhiên làphải thật chuyên cần, thật chịu khó

Ham học với động cơ vì lí tởng và đạo lí, Khổng Tử tỏ rõ một tinh thần

cố gắng thật cao về mặt thành khẩn mu cầu tri thức và tìm hiểu chân lí TheoKhổng Tử thì điều quan trọng trong tự học là bền bỉ lập chí, phải học không biếtmệt mỏi Học vấn không thể có trong một sớm một chiều mà cần phải có mộtquá trình nhiều năm thu lợm, tích luỹ, việc dành học vấn nh đắp hòn núi cao cứtừng sọt đất mà đắp, ngày lại ngày bền bỉ hòn núi mới cao dần Mọi chuyện đềutheo cái đạo lí ấy cả, nếu không làm đợc nh vậy dù có thành công một chút thì

Trang 25

cũng chẳng có gì đáng kể cả Muốn “tích tụ” đợc thì phải nắm vững ba điều: chếngự đợc mình, quyết tâm lập chí, kiên trì bền bỉ Theo ông một ngời dù trí tuệcao hay thấp chỉ cần có chí hớng và lòng quyết tâm bền bỉ thì sẽ đạt đợc đến đỉnhcao của học vấn

Cả cuộc đời Khổng Tử là sự nỗ lực học tập và cũng cố gắng giúp ngờikhác học tập, mình vừa dạy học sẽ bồi bổ thêm kiến thức cho mình Songtrong quá trình học tập thì phải tập trung suy nghĩ theo ý mới hay, nếu khôngchịu suy nghĩ thì đầu óc sẽ trở nên mờ tối, không phân biệt đợc thị phi, tráiphải

1.2.8 Học một cách vui thú

Khổng Tử đã nhấn mạnh rằng: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?Hữu bằng tự viễn phơng lai, bất diệc lạc hồ?”(Học mà mỗi bữa mỗi tập, chẳngcũng thích ? Có bạn cùng chí hớng ở xa nghe tiếng mà tìm lại để bàn về đạo lívới nhau chẳng cũng vui ?)(Luận ngữ - Học nhi, 1)[10,268]

T Mã Quang cũng đã từng nhấn mạnh rằng: Học mà cha thấy vui thì chagọi là học Sự học dù không khổ công, mà biết học đúng cách thì sẽ dẫn đếnniềm say mê, vui thú Thiếu lòng say mê, vui thú thì sự học ấy cha có kết quảcao Bởi vậy, sau đó Khổng Tử nhắc lại: “Tri chi giả bất nh hiếu chi giả, hiếuchi giả bất nh lạc chi giả”(Biết đạo lí không bằng thích nó, thích nó không bằngvui làm theo nó)(Luận ngữ - Ung Dã, 18)[10,340] Chính vui học là tiền đề củavui sống, là lạc – thú – trí - tuệ, là hạnh phúc s phạm lớn lao của ngời học.Vì vậy Phan Bội Châu nói: Học đạo mà cha biết vui đạo, ví nh ngời ăn mà chabiết say mùi, thời e nếm qua mà mau sinh chán, chẳng làm sao đạt đợc mục

đích mình học Vậy nên đã cầu học, thì tất phải cầu học cho đến vui, đã vuithời say, say thời nghiện…

Học và dạy không phải là những việc miễn cỡng bó buộc vì kế sinh nhaihay là theo một mệnh lệnh nào đó, cũng không phải là những việc ngẫu hứng,tuỳ tiện, gặp chăng hay chớ, hoặc chỉ nhằm đợc tiếng là ngời “hay chữ” “nhàthông thái”…Phu tử nhất định phải làm việc rất nhiều và cũng có lí do chính

đáng để hứng thú, tự hào với đức tính “dạy không mệt mỏi” cũng nh “họckhông chán”

Theo Khổng Tử thì một ngời đi học phải biết rằng có vui say về việc học thìmới tiến bộ nhanh, muốn cho việc học có vui thú thì phải thờng xuyên rènluyện mình: kẻ học đạo lí mà thờng ngày hay luyện tập cho tinh thông, nhuầnnhã, há không lấy đó làm vui sao Khổng Tử cho ngời ham học là ngời biết

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w