Như vậy, nói đến “ý cảnh” tức là chúng ta nói đến mối quan hệ giữa tình cảm chủ quan của nhà thơ và sự vật khách quan được miêu tả trong một tác phẩm nghệ thuật.. Tình là do tiếp xúc với
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
ý cảnh nghệ thuật trong thơ Tống biệt của Lý Bạch
Mai Đức Hán (a)
và mỹ học cổ điển Trung Hoa Trong bài viết này, từ việc tìm hiểu khái niệm ý cảnh nghệ thuật, chúng tôi vận dụng để khám phá đặc sắc ý cảnh nghệ thuật trong thơ Tống biệt của Lý Bạch, nhà thơ thiên tài đời Đường Đó là sự tương sinh giữa tình và cảnh, là sự giao dung tình cảnh đến mức tuyệt đối, “tả cảnh nhập thần” Từ đây thấy
được cái “duyên” riêng trong thơ tống biệt Lý Bạch: “Cảnh” - trong sáng, phi phàm, luôn vận động đầy sức sống; Tình - lưu luyến, bịn rịn nhưng không bi lụy.
1 ý cảnh nghệ thuật (cũng có khi
được gọi bằng những thuật ngữ khác:
Tình cảnh, Cảnh giới ) là một phạm
trù thẩm mỹ quan trọng của nghệ thuật
và mỹ học cổ điển Trung Hoa “ ý ” là tư
tưởng và tình cảm chủ quan của nhà
thơ “Cảnh” là đối tượng được miêu tả,
tức sự vật khách quan Như vậy, nói
đến “ý cảnh” tức là chúng ta nói đến
mối quan hệ giữa tình cảm chủ quan
của nhà thơ và sự vật khách quan được
miêu tả trong một tác phẩm nghệ
thuật Mối quan hệ này biểu hiện trên
hai phương diện
Cảnh sinh tình, tình sinh cảnh, tình
cảnh giúp nhau cùng nảy nở (tình cảnh
tương sinh) Đó là một mặt của mối
quan hệ giữa tình và cảnh Tình là do
tiếp xúc với cảnh mà có và đến lượt nó,
nhờ có sự dung hòa tình cảm của tác giả
mà cảnh trở thành một hình tượng
nghệ thuật đầy sức sống Tình là do
cảnh mà nảy sinh, cảnh nhờ tình mà
truyền cảm Tình cảnh tương sinh lẫn
nhau, đó là trạng thái của nhà thơ khi
tiến hành cấu tứ nghệ thuật
Một mặt khác của mối quan hệ giữa
tình và cảnh là cảnh trong tình, tình
trong cảnh, tình cảnh lồng vào nhau,
cảm thụ chủ quan và đối tượng khách quan hòa nhập vào nhau (tình cảnh giao dung) Dĩ nhiên sự kết hợp này không phải là kết hợp với nhau một cách máy móc, mà là một sự thống nhất, chan hòa vào nhau thành một chất như nước với sữa, như hai mặt của một tờ giấy Cảnh do ý thẩm thấu vào
mà hiện ra một ánh màu độc đáo, ý từ cảnh hiện ra, biến thành cái cụ thể có thể cảm thụ được Điều này không phải tác giả nào cũng đạt được mà chỉ có ở những tác giả thật sự tài năng Đây là giai đoạn thứ hai, là đặc điểm được biểu hiện ra của hình tượng nghệ thuật đã hoàn thành
“ ýcảnh" không phải chỉ là một yêu
cầu bức thiết trong sáng tác của nhà thơ, mà còn là một tiêu chuẩn thẩm mỹ rất được coi trọng trong việc thưởng thức, đánh giá văn nghệ trong truyền thống của Trung Quốc Mọi người thường xem có ý cảnh hay không và lấy
đó làm thước đo trong việc đánh giá một tác phẩm hay hay dở Đúng như Vương Quốc Duy trong “Nhân gian từ thoại”
đã viết: “Văn chương hay, hay không hay, tức là xem có “ý cảnh” hay không
và ở cái độ sâu rộng của nó mà thôi” [4, tr.128]
Nhận bài ngày 09/11/2007 Sửa chữa xong ngày 05/12/2007
Trang 2Mai Đức Hán ý cảnh nghệ thuật trong thơ Tống biệt Lý Bạch, tr 11-18
2 Vận dụng lý luận ý cảnh vào soi
chiếu thơ Tống biệt của Lý Bạch, chúng
tôi mong muốn từ góc nhìn này mà thấy
được đặc sắc của mảng thơ Cũng cần
phải nói rõ, tại sao chúng tôi lại chọn
thơ Tống biệt của Lý Bạch trong khi
ông còn viết rất nhiều về những đề tài
khác? Tống biệt là một đề tài lớn trong
thơ ca cổ điển Trung Hoa Người Trung
Hoa thời cổ rất thích đi xa vì đi là để mở
rộng chân trời hiểu biết, mở rộng giao
du Với họ “quảng giao” trở thành một
giá trị văn hóa, đạo đức rất quan trọng
Đồng thời họ lại cũng rất sợ đi xa vì đi
xa là phải chia tay với những gì thân
thuộc nhất để dấn thân vào một không
gian mới lạ, rơi vào cảnh lữ thứ, tha
hương Những cuộc chia ly bản chất của
nó là buồn Hơn thế trong điều kiện lúc
bấy giờ, quan san cách trở, phương tiện
giao thông còn khó khăn, nhiều khi chia
ly cũng chính là tử biệt, trong giờ phút
chia ly, con người đã dự cảm trước được
những bất trắc trên hành trình sắp tới,
cuống quýt lo âu, cố gắng níu kéo để rồi
khi không níu giữ được thì buồn bã, sầu
tủi Chính điều kiện đó làm cho những
cuộc ly biệt hơn bao giờ hết là cơ hội để
con người phơi tỏ tình cảm với nhau, tạo
mảnh đất màu mỡ cho thơ ca sinh
dưỡng và phát triển Lý Bạch cũng vậy
Ông nổi danh trên thi đàn đời Đường là
một hồn thơ lãng mạn cuồng phóng Đi
nhiều, quen biết lắm nhưng không nơi
nào lưu giữ được bước chân lãng du của
ông Trong cuộc đời Lý không hiếm
những cuộc ly biệt Tình cảm vốn ứ tràn
trong tâm hồn lãng mạn, cuồng phóng
của ông được dịp tuôn trào thành những vần thơ trác tuyệt ở đây cũng cần lưu ý đến phương thức thể hiện tình cảm của con người Phương Đông thời cổ khi chia ly Họ không quen trực
tỏ những nỗi luyến lưu sầu nhớ của mình mà bao giờ cũng ký thác một cách kín đáo, tinh tế sau những bức tranh thiên nhiên Thơ Tống biệt của Lý Bạch không nằm ngoài quy luật chung đó ở một trình độ cao hơn, tình - cảnh trong thơ Tống biệt của ông bao giờ cũng có sự kết hợp hết sức hài hòa, do vậy rất thuận lợi để chúng tôi vận dụng lý luận
ý cảnh nghệ thuật để tìm hiểu
2.1 Chúng tôi thống kê trong “Thơ
Đường” [5], Lý Bạch có 11/ 69 bài thơ trực tiếp viết về đề tài Tống biệt: “Tặng Uông Luân”, “Tống khách quy Ngô”,
“Tống Dương sơn nhân quy Tung Sơn”,
“Tống Trương xá nhân chi Giang
Đông”, “Tống hữu nhân”, “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”, “Kim Lăng tửu tứ lưu biệt”,
“Tống hữu nhân nhập Thục”, “Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân”, “Tảo phát Bạch Đế thành”,
“Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” Các nhân vật tham dự cuộc ly biệt ở đây một bên là hóa thân của thi nhân với một bên là bạn thân của ông hoặc một
địa danh mà cảnh vật nơi đó đã gắn bó sâu nặng
2.2 Cũng cần lưu ý thêm về vấn đề tạo “cảnh”, cơ sở quan trọng để tạo nên
“ý cảnh” trong một tác phẩm Đương nhiên “cảnh” là do các ý tượng cá biệt
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
tạo nên nhưng không phải ý tượng nào
cũng có thể tạo tác thành “cảnh” mà chỉ
những ý tượng có thể gợi mở rất nhiều ý
tượng từ một ý tượng ban đầu (tượng
ngoại chi tượng - ý tượng ở ngoài ý
tượng), hình thành không gian hoàn
chỉnh và liên tục thì mới có thể trở
thành “cảnh” Từ đây, cảnh sinh tình,
tình sinh cảnh mới có thể hình thành “ý
cảnh”
“Kim Lăng tửu tứ lưu biệt” có ba ý
tượng tạo cảnh: gió, liễu, dòng nước
Các ý tượng đó có quan hệ mật thiết với
nhau, bổ sung cho nhau: Gió thổi hoa
cây liễu thơm phức của hàng (Phong
xuy liễu hoa mãn điếm hương) Chính
từ quan hệ này mà không gian được
rộng mở theo làn gió thổi, theo sự lan
tỏa của hương liễu Và đâu chỉ bó buộc
trong không gian cửa hàng mà trong
cảm nhận của độc giả, sự lan tỏa của
hương liễu là vô tận Thêm vào đó, dòng
sông ở đây không đứng yên mà trôi
chảy về phía đông để hòa nhập vào biển
cả rộng lớn (đông lưu thủy) Như vậy
các ý tượng cụ thể đã nương dựa nhau,
bổ sung cho nhau hình thành một
không gian bao la rộng lớn Không gian
ly biệt ấy thẫm đẫm tình cảm của con
người Gió thổi đưa hương hoa liễu lan
tỏa khắp không gian cũng giống như cô
gái đẹp đất Kim Lăng ép rượu mời
khách để khách say vùi trong men
rượu, say vùi tình cảm con người, để
tình cảm ấy vương vấn mãi bước chân
của người du khách trên suốt hành
trình xa thẳm Sự trôi chảy về phía
đông của dòng sông hay chính là sự
tuôn chảy tình cảm trong tâm hồn người du khách đối với cảnh và người trong giờ phút ly biệt
Có những bài thơ, không gian ly biệt được dựng lên thoạt tiên tưởng chừng nhỏ hẹp nhưng ngẫm kỹ, từ giới hạn ban đầu ấy, không gian giãn nở đến không cùng Chúng ta hãy xem xét hai câu thơ đầu trong “Tống hữu nhân”:
“Thanh sơn hoàng Bắc quách, Bạch thủy nhiễu Đông thành” (Núi xanh chắn ngang vùng ngoại ô phía Bắc,
Nước trắng lượn quanh khu thành phía Đông)
Với “hoành” (chắn ngang) và
“nhiễu” (lượn quanh) của núi và nước, hai ý tượng gợi tả một không gian ở giữa bị giam hãm, bó buộc Đúng là có không gian hữu hạn do sự vây kết của núi và nước nhưng bên ngoài không gian ấy lại gợi mở ra một không gian mênh mông Dãy núi phía bắc ngoại thành hùng vĩ, chạy dài tới tận chân trời Núi mênh mông thăm thẳm tiếp liền nhau, người ta chỉ còn thấy sắc xanh của núi, ranh giới và hình thể của chúng bị nhòe mờ Sắc xanh ấy hòa với màu xanh của trời càng giãn nở một không gian bao la Dòng sông được tái hiện từ phía xa chỉ thấy dáng vẻ và màu trắng bật nổi của nó cũng góp phần gợi mở một không gian mênh mông, hư ảo Không gian ấy được tiếp nối mở rộng thêm bằng các ý tượng: “cô bồng”, “phù vân”, “lạc nhật” Cỏ bồng, loại cỏ sau khi khô chết bị gió cuốn đi vạn dặm, áng mây nổi nênh trên nền
Trang 4Mai Đức Hán ý cảnh nghệ thuật trong thơ Tống biệt Lý Bạch, tr 11-18
trời bao la, bóng chiều tà dâng lên phủ
trùm vạn vật Tất cả cộng hưởng để tạo
nên sự mênh mông của không gian chia
biệt Không gian cũng đẫm tình người
trong cuộc chia tay “Cô bồng”, “phù
vân” chính là những hình ảnh ẩn dụ về
người ra đi Nó diễn tả cái cô đơn, nổi
nênh trên hành trình vạn dặm của
người lữ khách, đồng thời nó cũng diễn
tả tình cảm của người ở lại đối với người
ra đi Phải có sự thấu hiểu, đồng cảm
như thế nào người đưa tiễn mới dự cảm
được nỗi cô lẻ của người đi trên hành
trình dằng dặc
“Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng” là bài thơ tống
biệt nức tiếng của Lý Bạch Bài thơ tiễn
bạn mà chỉ tả cảnh, không tả tình Đầu
tiên là giới thiệu không - thời gian chia
biệt:
“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương
Châu”
(Bạn cũ rời khỏi lầu Hoàng Hạc, ở
phía tây,
Xuôi xuống Dương Châu giữa tháng
ba mùa hoa khói)
Cuộc chia tay diễn ra ở phía tây lầu
Hoàng Hạc Thời gian chia tay vào
tháng ba có hoa khói Hai chữ “yên hoa”
thể hiện cực kỳ sinh động cảnh liễu rủ
xõa xuống một vùng phía dưới con sông
như khói Cả một mảng hoa đẹp tràn
đầy sức xuân Suốt cả một vùng nam
bắc con sông lớn đều tràn ngập sắc
xuân
Hai câu cuối nhà thơ đã vẽ nên bức
họa tuyệt diệu bằng ngòi bút của mình
Nhà thơ đứng trên lầu Hoàng Hạc nhìn
ra xa Dưới tầm mắt của tác giả hiện lên cảnh sông nước bao la, bầu trời xanh biếc tỏa ánh sáng xuống Một cánh buồm trắng đơn côi tuy nhỏ nhưng tươi sáng ấn tượng kết đọng lại ở hình
ảnh dòng Trường Giang cuồn cuộn trôi chảy Không gian bao la khoáng đạt Tuy nhiên, ẩn chứa trong bức tranh thiên nhiên ấy là tình bạn thắm thiết
Dù không có một dòng nào trực tả tình cảm nhưng người đọc vẫn như thấy hiển hiện một đôi mắt đăm đắm dõi theo cuộc hành trình của bạn khi xảy ra cuộc chia biệt ánh mắt đầy lưu luyến
đã phát hiện ra sự cô đơn lẻ loi của cánh buồm trong không gian mênh mông, cũng chính là sự lẻ loi của người bạn trên hành trình vạn dặm Dòng Trường Giang cuồn cuộn chảy trôi là hình ảnh thực cũng là dòng sông tâm trạng đang tuôn chảy trong tâm hồn cả người đi lẫn kẻ ở Tình cảm đối với bạn
bè của nhà thơ ở đây là vô hạn hoàn toàn tương thích với khung cảnh mênh mông khoáng đạt của thiên nhiên ở
đây tình đã hóa cảnh
Như vậy, chúng ta thấy trong thơ tống biệt Lý Bạch, tình cảnh tương sinh (cảnh sinh tình, tình sinh cảnh) và quan trọng hơn, tình cảnh trong thơ tống biệt của Lý luôn có sự xoắn bện vào nhau đến mức khó tách biệt, đã đạt tới trình độ “tả cảnh nhập thần”, đúng như Nghiêm Vũ, đời Tống, trong
“Thương Lang thi thoại” đã viết: “Điểm tuyệt diệu nhất của thơ chỉ có một, đó là nhập thần Thơ mà đạt tới chỗ nhập
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
thần thì tận thiện, tận mỹ! Không thể
thêm thắt gì được nữa! Duy chỉ có Lý
Bạch, Đỗ Phủ đạt được mà thôi Những
người khác có lẽ hiếm lắm” [4, tr.211]
Chính vì đạt tới trình độ “tả cảnh nhập
thần”, đem tư tưởng tình cảm của mình
chan hòa làm một với đối tượng miêu
tả, đạt tới chỗ “ta và vật chan hòa vào
nhau” (vật ngã giao dung) mà thi tiên
vừa truyền được cái thần của cảnh và
cũng truyền được cái thần của chính
bản thân, tạo nên cái độc đáo riêng
không thể bắt chước được của ý cảnh
trong thơ ông nói chung và thơ Tống
biệt nói riêng
2.3 Vậy tính độc đáo của ý cảnh
nghệ thuật trong thơ Tống biệt của Lý
Bạch ở đây là gì? Trước hết chúng ta
thấy cảnh trong thơ Lý Bạch không
trau truốt, phù hoa như thơ ca lục triều,
không nhã đạm như tranh thủy mặc
của Vương Duy mà nó mang một vẻ đẹp
trong sáng phi phàm Điều đó trước hết
thể hiện ở việc sử dụng màu sắc Màu
sắc trong thơ Tống biệt của Lý Bạch
phần lớn là màu tươi sáng Đó là màu
sáng bạc của dòng nước, màu tươi sáng
rực rỡ của hoa đào bung nở, màu xanh
mát của những rặng liễu ven bờ trong
“Tống khách quy Ngô” Đó là màu sáng
trong mát của ánh trăng, màu tía của
hoa xương bồ, màu trắng của con rồng,
màu xanh của bầu trời trong “Tống
Dương sơn nhân quy Tung sơn” Trong
những gam màu tươi sáng ấy ta thấy
nổi lên hai gam màu tác giả ưa dùng
nhất Đó là màu xanh của núi non cây
cỏ, xanh biếc của bầu trời và màu trắng
bạc của dòng nước hai gam màu xuất hiện với tần số khá cao trong thơ Tống biệt Lý Bạch tạo nên vẻ trong sáng của cảnh được mô tả
Nếu việc sử dụng những gam màu tươi sáng tạo vẻ tươi mát của cảnh sắc thì việc sử dụng những nét đại bút lại tạo nên vẻ đẹp kỳ vĩ, khoáng đạt của cảnh sắc Thi tiên ít khi đi vào miêu tả những cảnh thực một cách cụ thể, chi tiết như Đỗ Phủ:
“Oanh vàng gù cách tổ Cá trắng nhảy tung rong”
(Đỗ Phủ, Tuyệt cú - bài 2)
Lý Bạch thường tái hiện cảnh bằng
đôi ba nét chấm phá thanh thoáng có ý nghĩa dựng lên cả một khung cảnh khoáng đạt Cảnh vật hiện lên qua những nét chấm phá thường được đặt trong mối quan hệ đối lập cao độ: những kích thước khổng lồ đối lập với kích thước vô cùng nhỏ bé, cái cực nhanh đối lập với cái cực mạnh tạo nên những
ấn tượng vô cùng mạnh mẽ Xin dẫn một vài ví dụ:
- “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”
(Bóng cánh buồm lẻ loi xa lẩn trong khoảng không xanh biếc)
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
- “Cô bồng vạn lí chinh”
(Cỏ bồng trơ trọi sẽ lênh đênh xa muôn dặm)
(Tống hữu nhân)
- “Thiên thanh nhất nhạn viễn Hải khoát cô phàm trì”
Trang 6Mai Đức Hán ý cảnh nghệ thuật trong thơ Tống biệt Lý Bạch, tr 11-18
(Trời trong sáng, một cánh nhạn
xa vời
Bể rộng, chiếc buồm lẻ loi chầm
chậm)
(Tống hữu nhân nhập Thục)
Vẻ kỳ vĩ, khoáng đạt của cảnh trong
thơ Tống biệt Lý Bạch còn được tạo nên
bởi cảnh trong thơ ông luôn luôn cựa
quậy sức sống, luôn vận động hướng về
miền xa, về nơi cao rộng đến không
cùng Độc giả bất kỳ ai đều rất dễ nhận
thấy trong thơ Tống biệt của Lý Bạch có
hình ảnh khá nổi bật - hình ảnh dòng
sông Dòng sông ở đây không bao giờ
tĩnh lặng mà luôn luôn vận động đầy
sức sống Sự vận động này có khi được
mô tả trực tiếp như dòng sông thao
thiết chảy trôi tới tận chân trời trong
“Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng” Cũng có khi sự vận
động được diễn tả kín đáo hơn như
trong “Tảo phát Bạch Đế thành”:
“Triêu từ Bạch Đế thái vân gian
Thiên lý Giang Lăng nhất nhật
hoàn”
(Sáng từ biệt thành Bạch Đế trong
làn mây rực rỡ
Một ngày vượt ngàn dặm về tới
Giang Lăng)
Câu đầu miêu tả cảnh từ biệt buổi
sáng ở thành Bạch Đế Thành Bạch Đế
trên đỉnh núi, bên sông, sáng sớm đầy
mây phủ Mặt trời lên chiếu vào mây,
đám mây có năm màu Nhìn xa, thành
Bạch như ẩn trong đám mây ngũ sắc
Câu sau tác giả đem đối lập hai chữ
“thiên lí” và “nhất nhật” đã nói lên vẻ
đẹp của tốc độ Lộ trình từ thành Bạch
Đế tới Giang Lăng rất xa (thiên lý)
nhưng thời gian thực hiện cuộc hành trình lại rất mau chóng (nhất nhật) Qua đó mặc dù không nói đến độ dốc cũng như tốc độ chảy của dòng nước nhưng tự nhiên qua cách diễn tả, người
đọc cảm nhận được cái thế bay vọt nghìn dặm của con thuyền, tốc độ tuôn chảy phi thường của con sông và cũng
là niềm phấn khích của tâm trạng con người
Vẻ đẹp độc đáo của cảnh rất thích hợp để thể hiện đặc trưng riêng của tình người trong thơ tống biệt Lý Bạch
Đọc thơ tống biệt của những tác giả khác, chúng ta cảm nhận được tình cảm bạn bè thắm thiết nhưng có phần bi thương trong giờ phút chia tay:
“Bi quân lão biệt lệ triêm cân Thất thập vô gia vạn lý thân Sầu kiến chu hành phong hựu khởi Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân” (Thương anh tuổi già vẫn phải ly biệt (tôi) rơi lệ thấm khăn
Xa xôi muôn dặm tấm thân 70 tuổi không nhà
Buồn thấy thuyền vừa đi, trời lại nổi gió
Giữa đám sóng bạc đầu có con người bạc đầu)
(Bạch Cư Dị, Lâm giang tống Hạ Chiêm)
“Dương tử giang đầu dương liễu xuân
Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đình vãn Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần”
(Bên sông Dương tử, dương liễu
đượm màu xuân
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007
Hoa dương liễu làm cho người qua
sông buồn đến chết
Vài tiếng sáo vi vút ở đình ly biệt
buổi chiều hôm
Anh đi tới vùng sông Tiêu Tương,
tôi đi tới đất Tần)
(Trịnh Cốc, Hoài thượng biệt hữu nhân)
Nhưng với Lý Bạch, trong bất kỳ
cuộc chia ly nào, tình cảm của ông cũng
thể hiện thật đằm sâu, có buồn, có lưu
luyến bịn rịn nhưng không bao giờ bi
lụy
ở “Tống khách quy Ngô” cuộc chia
biệt diễn ra trong một khung cảnh
trong sáng, tâm hồn con người trong li
biệt thật thoải mái Chén rượu tiễn đưa
đã cạn, không quyến luyến nhau được
mãi, khách dứt áo ra đi nhẹ nhàng:
“Tửu tận nhất phàm phi”
(Cạn chén rồi, một lá buồm đi như
bay)
Người ở lại cũng xác định một thái
độ dứt khoát:
“Biệt hậu vô dư sự
Hoàn ưng tảo điếu ky”
(Chia tay rồi, không còn có việc gì
Phẩy tấm đá ngồi câu cá)
Tất nhiên những vần thơ như thế
này thật hiếm bởi nó được viết lúc nhà
thơ ít trăn trở vì hoài bão chưa thực
hiện được
Trong “Tống Trương xá nhân chi
Giang Đông”, nhà thơ chia tay Trương
Hàn chính lúc gió thu thổi Gió thu lạnh
lẽo gợi dậy nỗi sầu muộn trong lòng
người li biệt Hơn thế nỗi sầu của người
chia ly thấm thía hơn khi cảm nhận
được nỗi cô đơn của người bạn trên dặm
đường trường:
“Hải khoát cô phàm trì”
(Bể rộng, chiếc buồm lẻ loi chầm chậm)
Cộng thêm dự cảm về những bất trắc đương đón đợi phía trước, về ngày
đoàn tụ khó thành:
“Thương ba diểu nan kỳ”
(Sông lạnh thăm thẳm khó hẹn ngày gặp mặt)
Nỗi sầu đến đây tưởng như nhấn chìm thi nhân Nhưng không:
“Ngô châu như kiến nguyệt Thiên lí hạnh tương ti”
(Đất Ngô châu ví như nhìn thấy vừng trăng
May chăng cũng nhớ đến nhau, ở nơi xa nghìn dặm)
Đất Ngô châu tuy xa nhưng vầng trăng chung vẫn còn đấy Nhìn trăng lại nhớ đến người Xa xôi dù có ngàn vạn dặm, không gặp mặt nhưng vẫn luôn hướng về nhau, vẫn nhớ nhau Chính tình cảm bạn bè thắm thiết đã cứu rỗi con người, đưa con người thoát khỏi sự bi lụy
Làm nên vẻ đẹp độc đáo của ý cảnh nghệ thuật trong thơ Tống biệt của Lý Bạch chính là do phong cách của nhà thơ Giữa một xã hội phong kiến đầy những bó buộc, quy định trật tự khe khắt, Lý Bạch nổi bật lên với một cái tôi cuồng phóng luôn quẫy đạp, vượt thoát khỏi mọi ràng buộc tù túng để tìm về với bản ngã đích thực của chính mình Chính cái tôi gai góc đầy cá tính mạnh
mẽ ấy đã phổ vào thơ tạo nên hương sắc riêng cho ý cảnh nghệ thuật của ông trong vườn hoa đa hương sắc đương thời
Trang 8Mai §øc H¸n ý c¶nh nghÖ thuËt trong th¬ Tèng biÖt Lý B¹ch, tr 11-18
Tµi liÖu tham kh¶o [1] Ph¹m H¶i Anh, Tø tuyÖt Lý B¹ch, LuËn ¸n tiÕn sÜ Khoa häc Ng÷ v¨n, Tr−êng §¹i häc s− ph¹m Hµ Néi, 1997
[2] TrÇn Lª B¶o, ý c¶nh nghÖ thuËt trong th¬ cæ Trung Quèc, Héi th¶o khoa häc, ViÖn v¨n häc, th¸ng 12 n¨m 2004
[3] NguyÔn ThÞ BÝch H¶i, Thi ph¸p th¬ §−êng, NXB ThuËn Hãa, 1995
[4] Kh©u ChÊn Thanh, Lý luËn v¨n häc nghÖ thuËt cæ ®iÓn Trung Quèc (Mai Xu©n H¶i dÞch), NXB Gi¸o dôc, Hµ Néi, 1994
[5] TËp thÓ t¸c gi¶, Th¬ §−êng (2 tËp), NXB V¨n häc, Hµ Néi, 1997
Summary
Artistic scene - idea in Ly Bach’S “See off” poetry
Artistic scene - idea is an important aesthetic category of Chinese classical art and aesthetics In this article, from the study of Artistic scene-idea in the “See Off” part of Ly Bach - a poetical genius of Tang dynasty It is the concord between feeling and scene, the absolute harmony of feeling and scene, “an entrancement description” From that, we can see the “unique charm” in Ly Bach's poetry: “scene”
- be pure, extraordinary, active and full of vitality; “feeling” - be attached, remembered but never be mournful