Một số vấn đề về hệ phái khất sĩ việt nam.
Trang 1NGƯỜI PHÁP VỚI VẤN ĐỀ THẾ MẠNH CỦA MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN
- Trần Đình Hằng
1 Người Việt: miền Trung chỉ có ruộng đồng
Với truyền thống nông nghiệp lúa nước bền chặt, trên hành trình đi về phương Nam, người Việt nhanh chóng tiếp quản những vùng đất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các lưu vực sông Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà
khi định vị các ngôi làng "cổ" ở nam Hoành Sơn, trước và sau Ô châu cận lục, nổi
bật tính mật tập ở đó, như sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương ở Thừa Thiên 1 Từ đó, chí ít là từ thời chúa Nguyễn, thậm chí cho đến thời hiện đại, phương
thức đầu tiên, phổ biến để giải quyết vấn đề "nhân mãn" ở đây là "xiêu giạt vào Nam" - đích lý tưởng với vựa lúa châu thổ Mékong và (1) tiến về phía tây để khai thác vùng "lâm lộc", hoặc (2) đi về phía đông, chiếm lĩnh vùng cát nội đồng sát
biển; nhưng tất cả vẫn làm nông nghiệp, dù rất khó khăn, khắc nghiệt (làng Mỹ Lợi điển hình, xem thêm Lê Văn Thuyên, Lê Nguyễn Lưu, 1999) mà sẵn sàng bỏ qua nhiều nguồn lợi lâm, thổ, hải sản phong phú, rất có giá trị thương mại, đặc biệt là ngoại thương - thế mạnh đặc thù trong nền kinh tế các quốc gia/tộc người tiền trú2
1 "Trong cuộc mở mang xuống phía nam, người Lào và người Việt đã tránh né những vùng núi
hiểm trở, có hại cho sức khỏe và không hấp dẫn về kinh tế để đi theo những đồng bằng thấp và những thung lũng sâu" và từ thế kỷ XIV, các cư dân ở vùng miền núi phía nam liên tục bị bao vây
về phía đông và phía tây bởi những dân tộc khác , bị đẩy vào các vùng chân núi và sâu trong các vùng núi (Clive J Christie, 2000: 155)
Và thực sự, "Người An Nam chỉ có một ký ức mơ hồ rằng xứ sở của họ đang ở xưa kia đã từng có một
dân tộc khác sinh sống Phần nhiều họ quên tên của dân tộc ấy, và họ gọi dân tộc ấy là Mọi, Người Man rợ, Người rừng " (Cadière, L., 1905: 195)
2 Cơ sở chính để luận giải cho vấn đề này là lý thuyết Mandala với “Hệ thống trao đổi ven sông”
trên cơ sở nền tảng thương mại: Sức sống của các tiểu quốc dựa trên hai trung tâm trao đổi lớn, một ở cửa cảng (xuất khẩu) và một ở miền thượng du (nguồn hàng, chủ yếu là sản vật, có lợi thế
so sánh rất lớn trong trao đổi, đặc biệt là trầm hương, các loại hương liệu, ngà voi, sừng tê ) (xem thêm các nguồn tài liệu trích dẫn, trình bày và phân tích, trong Trần Đình Hằng, 2005a)
Trang 2Có thể thấy trên nhiều phương diện, ở đây, người Việt đã có sự/quá trình kế thừa ở mức cao nhất tất cả những gì đã có của các cộng đồng tiền trú, nhưng trừ ra,
cái tạm gọi là "tư tưởng kinh tế", mà suy cho cùng, đó chính là phát xuất từ sự sai
lệch/lệch pha của hai nền tảng kinh tế xã hội hoàn toàn khác nhau; dẫn đến nhiều hệ quả, hệ lụy, cả trong chính sách cũng như tình hình, thực trạng phát triển kinh tế xã hội của nước nhà qua các thời kỳ lịch sử:
(1) Nông nghiệp là trên hết, là nguồn lực chính của ngân sách quốc gia3 Từ đó, coi nhẹ các nguồn lợi miền biển và dù ở cạnh, nhưng các làng nông hầu như quay lưng lại với biển/đầm phá4; thậm chí có nhiều làng "bán nông bán ngư" bởi tính chất
bấp bênh của cả hai nền kinh tế Còn các làng ngư trong quan niệm phổ biến của xã hội cổ truyền, luôn bị miệt thị nặng nề (xem thêm Từ Chi, Phạm Đức Dương, 1996; Nguyễn Duy Thiệu, 2002)
(2) Điểm nổi bật trong chính sách "Ky my" là phủ dụ và trấn trị lúc cần thiết5
Ở cả miền núi lẫn miền biển, suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chức năng an ninh luôn được đặc biệt ưu tiên chú trọng Thời phong kiến, nguồn lợi lâm, thổ, hải
3 Dù rằng tiềm lực đó không mấy dồi dào Ngay như xứ Đàng Trong thời chúa Nguyễn phồn thịnh, mà ngân sách quốc gia cũng cho thấy rất rõ điều đó Sổ sách kê khai thu nhập hàng năm, từ Bính Dần đến Nhâm Thân (1746 - 1752), có năm thu vào chỉ hơn 338.100quan, mà chi đến hơn
364.400quan; có năm thu hơn 423.300quan mà chỉ chi 369.400quan, “đại khái thu vào cũng đủ
chi ra; nếu tiền không đủ hoặc thiếu 2, 3 vạn thì hằng năm lấy bạc phát thay” (Lê Quí Đôn, 1977:
236)
Đất nước sống nhờ nông nghiệp Thậm chí đến cuối thời Nguyễn, một nghị chuẩn năm Đồng
Khánh II (1887) còn cho biết: "Ngạch thuế của nước ta từ trước đến nay chỉ trưng thu về đinh
điền cùng sản vật, còn bến đò, chợ phố thì chưa có thuế, vì cuộc sống của nhân dân ta vốn nghèo nàn chật vật, cho nên khoan giảm thuế má để có ích cho dân" (QSQ triều Nguyễn, 2005: III: 63)
4 Như trường hợp làng Phong Lai (xã Quảng Thái, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), đầm phá chỉ được khai thác chức năng thực phẩm (cá tôm) và phân bón (rong) Trên một sinh cảnh khắc nghiệt nhưng người nông dân vẫn có sự ứng xử đặc biệt, đa tình huống để hình thành những nông phẩm đặc trưng: lúa, khoai và đặc biệt là thuốc lá (Trần Đình Hằng, 2005c)
5 Theo từ nguyên, "Ky" là con ngựa bị buộc đầu, "My" là con trâu bị thắng đai; có nghĩa là lấy ân
ý mà đối đãi, để cho được tự do, ràng buộc bằng phép tắc mà không thể phóng túng, nhưng phải ứng dụng vào thực tế một cách khéo léo, có nghệ thuật (Từ Hải, 1947: 1068/2 Cám ơn Lê Đình
Hùng, cán bộ Phân Viện NCVHTT tại Huế đã cung cấp tài liệu này) Ky my thường được dẫn dịch là "cai trị lỏng lẻo", nhưng đáng chú ý là "Quyền phế trí": có thể tự lập hoặc phế vua (Lê Tắc,
2002: 126)
Trang 3sản thuần túy chỉ là những cống phẩm6 mang chức năng sử dụng mà chưa thực sự trở thành hàng hóa có lợi thế trao đổi lớn, như ở thời kỳ Champa Cũng cần lưu ý
thêm là cho đến thời Nguyễn, ngoài một số nơi như cửu châu ky my ở Quảng Trị,
miền núi nói chung vẫn được cai quản rất lỏng lẻo, chủ yếu thông qua giới hạn và
chỉ dừng lại ở hệ thống tuần ti vùng giáp ranh và là vùng "Man thuộc", với định
danh rất chung chung, mơ hồ, trên bản đồ, là Man động, sơn Man Mãi cho đến năm Đồng Khánh thứ II (1887), vùng miền núi Thừa Thiên mới bắt đầu chính thức được quản lý (QSQ triều Nguyễn, 2005: III: 36)
Sở dĩ chúng tôi đặt vấn đề như vậy là để thấy được phần nào tư tưởng kinh tế của người Việt trên mảnh đất miền Trung, trong tương quan so sánh với các quốc gia/tộc người tiền trú , nhằm nhấn mạnh đến cái nhìn chiến lược của người Pháp
2 Người Pháp: Miền Trung - không trông chờ ở đồng bằng, mà là miền núi
2.1 Trường Sơn - Tây Nguyên trong tổng thể Đông Dương
Tiềm năng, vị trí chiến lược của miền Trung nói chung và Trường Sơn - Tây Nguyên nói riêng chỉ được nổi bật khi đặt trong bối cảnh Đông Dương, hay nói
chính xác hơn, là trong "chiến lược Đông Dương" Và người Pháp khi đến Việt
Nam, để có được điều đó, cũng phải qua một quá trình trải nghiệm lâu dài, cam go,
mà trọng tâm, là xác định xứ sở "người Thượng" ở miền Trung, từ một vùng ngoại
vi của các triều đình bản địa trước đó, trở thành một địa bàn chiến lược, khi mà Trường Sơn - Tây Nguyên được đặt trong một khung cảnh rộng lớn hơn, là cả Đông Dương
6 Sự thần phục đó mang đậm tính biểu trưng Sớ của Tiết Tống (Thái thú Giao Chỉ và Hiệp Phố
đời Ngô) có nói: "Các quan huyện yên vỗ chỉ thị uy khiến phục tùng, thâu lấy thuế ruộng chỉ đủ
nhu dụng mà thôi, còn việc cung nạp các loại thổ sản như trân châu, hương liệu, ngà voi, sừng
tê, san hô chim anh vũ, lông trĩ, công, các vật lạ, là để làm của báu, chứ không bắt họ nạp thuế nhiều để bổ ích cho Trung Quốc" Trong thư của Lưu Thiên Hộ (Lưu Hưởng), Trung thư
tỉnh Xu Mật viện khiến chức Vạn Hộ, gửi vua An Nam năm Diên Hựu III (1316) nhấn mạnh: "Từ
xưa, nhà Hán đặt ra chín quận, nhà Đường đặt làm 5 quản, nước An nam là một quận hay quản nói trên, tức là một xứ mà thanh giáo Trung Quốc đã lan tràn tới Duy có nước An nam là nơi ky
my, vẫn được hưởng quyền phế trí, ơn khoan hồng của triều đình so với các tiểu quốc khác, đã hơn nhiều rồi Huống chi dâng đồ tịch và cống hiến phẩm vật, sự phân biệt giữa thượng quốc và hạ quốc xưa nay vẫn rõ rệt, cống phẩm của quí quốc vẫn bạc mà triều đình trả lại rất hậu, như vậy, cái ân huệ yên vỗ của triều đình cũng rất đầy đủ" (Lê Tắc, 2002: 126, 133)
Trang 4Đầu thế kỷ XIX, Pháp dựa vào những quan hệ đặc biệt mà họ thiết lập được
với triều Nguyễn để "xây dựng những mối quan hệ ngoại giao và thương mại đặc quyền với Việt Nam và để quyền hoạt động truyền giáo được bảo vệ"7
Từ năm 1858 - 1886, nước Pháp dựa vào vũ lực để củng cố quyền lực: thiết lập chế độ thuộc địa ở Nam bộ, bảo hộ ở Campuchia rồi chế độ bảo hộ ở Bắc và Trung kỳ8 Không như Anh ở Miến Điện, người Pháp không loại bỏ chính thể đương thời và cai trị Việt Nam một cách trực tiếp, trừ Nam bộ, mà chủ trương cai trị thông qua nhà Nguyễn và chính quyền thuộc địa
Trong giai đoạn đầu, mối quan tâm chính của Pháp ở Trường Sơn - Tây Nguyên là xác định giới hạn của quyền lực Việt Nam (mà Pháp thừa hưởng) và tìm hiểu tình hình chung của vùng này (bằng nhiều đoàn thám hiểm), những mối quan hệ chính trị đang tồn tại, mức độ xâm nhập của các thế lực khác, đặc biệt là Xiêm9 Năm 1893, tầm quan trọng chiến lược của vùng người Thượng cơ bản đã bị thay đổi, khi Pháp giành quyền kiểm soát bờ đông sông Mékong từ Xiêm, sau đó lập một chính quyền Pháp ở Nam Lào Pháp đã kiểm soát được cả hai phía của Trường Sơn và tổ chức chính quyền Việt Nam của họ trở thành tổ chức chính quyền Đông
Dương Từ đó, "vùng người Thượng không còn là ngoại vi nhà nước thuộc địa nữa mà trở thành một vùng biên giới có tầm quan trọng chiến lược Đồng thời, nó cũng trở nên quan trọng hơn nhiều về mặt kinh tế" Cuối thế kỷ XIX, chính quyền Paul
Doumer thực hiện chiến lược Đông Dương và điều này phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng mạng lưới giao thông đông tây giữa ba vùng, và Trường Sơn - Tây
Nguyên "là chìa khóa của mạng lưới đó" (Clive J Christie, 2000: 159)
2.2 Những biểu hiện cụ thể
7 Nửa đầu thế kỷ XIX, khi mối quan hệ này xấu đi, việc cấm đạo gắt gao thì hậu quả là Giáo đoàn Kontum được thành lập năm 1851, ngay ở phía bắc lãnh thổ người Giarai, ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của nhà Nguyễn (Clive J Christie, 2000: 159)
Được thành lập từ năm 1862, Hội Truyền giáo Kontum nổi tiếng dưới tên gọi Hội Truyền giáo
Bahnar (Mission des Bahnar), chỉ tổ chức ở vùng cao Sé San (Haute Sé San), giữa người Sédang
và người Jarai, đội quân tiền phong của sự can thiệp của người Pháp (Nyo, 1937)
8 Việc đánh chiếm Sài Gòn ngày 17/2/1859 đã quyết định sự thiết lập của người Pháp ở Nam kỳ và hiệp ước ngày 11/8/1863 đã cho phép người Pháp bảo hộ Cambodge (Nyo, 1937)
9 Từ năm 1884 - 1887, họ mở rộng sự xâm chiếm trên tất cả các thung lũng Sé Tchépon, Sé Bang Hien và đến ở Moula Poumok nằm giữa Srè Pok và Sé San, mà ngày nay nổi tiếng dưới tên gọi Veune Sai (Nyo, 1937)
Trang 52.2.1 Vấn đề thuế tuần ty
Qua các nguồn tài liệu, có thể thấy rằng một vấn đề còn nhiều bỏ ngỏ trong nghiên cứu hiện nay là vai trò của người Hoa ở miền Trung, nhất là trong thương mại Tuy nhiên ở đây, chúng tôi chỉ đặc biệt quan tâm đến người Pháp, cũng với cách đặt vấn đề tương tự: một cái nhìn sắc sảo, không giống người Việt
Thông thường thì nhà nước phong kiến quản lý miền núi thông qua hệ thống tuần ty và về sau, lại theo phương thức đấu thầu lĩnh trưng, theo từng năm, để nộp thuế, bằng tiền, hoặc bằng sản vật Nhiều tư liệu cho thấy hoạt động này thực sự
không mấy hấp dẫn đối với người Việt, dù rằng triều đình ngầm "ưu tiên" trước cho họ Và hầu như toàn bộ hoạt động này, trước sự "thờ ơ" của người Việt, sau đó,
đều nằm trong tay các tư bản người Hoa10 và người Pháp Cụ thể là:
+ Khoản 4 trong Hòa ước Patenôtre nhấn mạnh quyền lợi thông thương của Pháp tại các cửa biển miền Trung, trừ cửa Thị Nại đã mở buôn bán, thì hai cửa Đà
10 Ví như năm Đồng Khánh III (1888), thuế 6 sở đầu nguồn Quảng Nam (Tĩnh Sơn, Thu Bồn, Chiên Đàn, Vu Gia, Lỗ Đông, Cu Đê) và thuế thổ sản, ngạch cũ 537 lạng 6 đồng 7 phân 7ly 3hào bạc/năm Có Hoa thương Lương Liễu Thôn xin lãnh trưng một năm, có đơn Bang trưởng xác
nhận, thuế nộp bằng bạc tính ra tiền chừng 9495 quan, do trước đó, "6 nguồn này, hiện không có
ai lãnh trưng"
Cũng năm đó, ở Bình Định, khách buôn người Thanh là Lâm Á Nghi, Phùng Tính Sơ được lãnh trưng 3 năm thuế sản vật đầu nguồn thượng du (Phương Kiều, Lộc Động, An Tượng, Hà Thanh,
Thạch Bàn và Ô Kiêm), với mức 5.000quan/năm do trước đó, "yết thị và sức cho đấu giá nhưng
không có người nào xin trưng"
Ở Phú Yên, các loại thuế đầu nguồn cùng đầm, vũng "đã tuân theo sức cho đấu giá nhưng không
có người nào xin lãnh trưng Duy có nhóm 4 khách buôn Hàn Đức Nguyên thuộc bang Quỳnh Châu có đơn xin chiếu theo các hạng lệ thuế ngạch cũ"
Năm Thành Thái I (1889), hai hiệu buôn người Hoa là Anh Xương và Nghĩa Hòa đệ đơn xin nhận trưng thuế cau khô ở Quảng Nam, mỗi năm nộp 2 vạn quan, chia làm 4 quí để nộp cho tỉnh, nộp trước trưng thu sau
Cũng trong năm, thuế cau khô ở phủ Thừa Thiên mãn hạn, đã tư cho phủ yết thị và thông sức cho đấu giá Hiệu buôn Lợi ích xin trưng thuế, mỗi năm nộp 11.300quan
Tháng 8, Lý Hành Ký người Hoa xin trưng thuế quế hai tỉnh Nam - Ngãi, hàng năm nộp 3 vạn quan tiền và thu thuế xuất cảng 2,5%
Thành Thái năm thứ II (1890), ba nguồn Long Đại, Long Niễu, Cẩm Lý và Nguồn Sái (Quảng Bình) hết hạn lĩnh trưng, người buôn nhà Thanh là Trần Kiến Thịnh xin chiếu giá 1.134quan, chia làm 4 quí, Bang trưởng Trần Hợp Thành nhận thực (QSQ triều Nguyễn, 2005: 38, 45 - 46, 71 - 72)
Trang 6Nẵng (Quảng Nam) và Xuân Đài (Phú Yên) cần định thêm điều lệ mở cửa buôn bán Còn các cửa biển khác về sau nếu xét thấy lợi ích thì cùng bàn định để mở thêm buôn bán Nước Đại Pháp cũng có đặt quan chức ở các cửa mở thêm để buôn bán, phải theo lệnh quan Khâm sứ ở Kinh (QSQ triều Nguyễn, 2005: III: 50) + Năm Đồng Khánh III (1887), khách buôn người Tây là Đô Phối xin lãnh trưng thuế sản vật hai tỉnh Thanh - Nghệ, ước tính bằng bạc là 6.471 đồng, tương
đương 45.247quan tiền, "nghĩ nên cho viên ấy được lãnh trưng cả, để tiện vì chỉ một mối" (QSQ triều Nguyễn, 2005: III: 61)
+ Năm Thành Thái I (1889), nước Pháp và Đại Nam đã ký nghị định thư về các điều khoản liên quan đến thuế quế ở Quảng Nam và Quảng Ngãi, mà tinh thần chủ yếu là đồng ý cho Nha Thương chính Đông Dương và Nha Ngoại ngạch thuế đứng bao thầu mua bán toàn bộ vỏ quế ở hai tỉnh, mỗi năm nộp 5 vạn đồng bạc,
"được độc quyền mua quế ở các chủ quế để bán lại cho khách buôn hoặc người khác" (Khoản 1) và Nha ấy được tùy tiện thiết lập kho lưu trữ và sở tuần canh, lâu
dài hoặc tạm thời, tại đâu cũng được (Khoản 4) Trong tỉnh Quảng Nam, tại xứ Trà
My sẽ lập sở chính để trữ quế bì và các vật hạng mua mà đổi quế, quan Chánh cục sẽ lãnh coi sở chính này Còn các sở trữ quế khác thì tùy tiện mà nghĩ lập Quan trú Đà Công sứ sẽ phái 40 binh tuần lên đồn trú tại Trà My để bảo trợ cho người làm việc trong Cục, lại phái một Chánh tuần lên coi Tại Trà My, cũng phải đặt một nhà dây thép, trích người các sở dây thép lên làm việc (QSQ triều Nguyễn, 2005: III: 37 - 38, 42)
2.2.2 Những đợt thám sát và mở mang, phát triển mạng lưới giao thông
Rõ ràng là trong bối cảnh Đông Dương, Trường Sơn - Tây Nguyên đã trở thành trục xương sống và để kiểm soát, phát triển, việc thám hiểm và xây dựng mạng lưới giao thông đóng vai trò tiên quyết, sau khi kể từ cuối thế kỷ XIX, Pháp bắt đầu chính qui hóa tổ chức chính quyền ở đó, vạch rõ ranh giới tỉnh, quốc gia
Năm 1898, hệ thống Các lái chấm dứt (Clive J Christie, 2000: 159)
Để đấu tranh chống lại những đợt xâm lấn của người Xiêm, từ biên giới Trung Hoa cho tới biên giới Cambodge, dưới sự điều hành của Auguste Pavie, tổ chức hàng loạt đợt khảo sát quân sự và đo vẽ bản đồ, đặc biệt là một bản đồ Đông Dương đầy đủ và nhiều hành trình dọc ngang
Một nhóm trong đó đã được gửi đến phía bắc Cambodge, thử nghiệm việc xâm nhập nội địa qua lưu vực sông Sé Kong, Sé San, Srè Pok, do đại uý Cupet, Cogniard và trung uý Dugast chỉ huy Ngày 22/1/1891, Cupet khởi hành từ Kratié đến Kontum và
Trang 7nhóm họp với Cogniard, Dugast đi từ Quy Nhơn, Đà Nẵng; thanh tra M Garnier khởi hành từ Huế và xa hơn về phía bắc, đại uý De Malglaive và Tunnelet-Faber thám sát vùng Sé San, Sé Bang Hien
Năm 1893, một hành động vũ lực đáng chú ý của người Pháp ở trung Trung bộ, một lữ đoàn 750 lính bảo an của thanh tra Garnier, từ Quảng Trị, đánh bật người Xiêm ở Sé Tchépon, Sé Bang Hien và chiếm được sông Mékong, nơi mà đội quân của Bastard-Thoreux đến từ Cambodge, đã chiếm lấy Stung Treng
Sau vụ ám sát Thanh tra Grosguerin, Toàn quyền Đông Dương gửi hai pháo thuyền đến cửa sông Mé Nam vào tháng 7/1893, bắn phá Pak Nam và Bangkok, Đường biển Thái Lan bị phong tỏa và từ Hiệp ước 30/10/1893, người Pháp chiếm hữu hoàn toàn từ hữu ngạn Mékong Vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và Cambodge hoàn toàn trở thành xứ thuộc Pháp
Năm 1895, vùng đất mới được phân chia thành hai khu vực hành chính: Thượng Lào (lỵ sở Luang Prabang) và Hạ Lào (lỵ sở Khône) Hạ Lào bao gồm các vùng đất nằm ở giữa sông Mékong và dãy Trường Sơn: kiêm quản Stung Treng, Attopeu và Saravane Từ ngày 6/2/1895, thủ đô Lào đặt ở Vientiane
Năm 1904, người Pháp đã thiết lập một đồn trạm hành chính ở Médrac, phía tây Ninh Hoà (thủ phủ Nha Trang) để quản lý người Thượng ở Khánh Hoà và Đắc Lắc Ngày 7/8/1904, thanh tra Odend’hal11 - phụ trách đoàn khảo cổ học bị ám sát
ở vùng người Jarai Một toán quân 34 lính bảo an và 225 dân vệ, do Công sứ Đắc Lắc chỉ huy, tiến lên Trung Nguyên của người Jarai và thiết lập đồn Plai Tour Thanh tra Vincilioni kế tục điều hành mọi hoạt động, thiết lập ngày càng nhiều đồn bốt dã chiến và xâm nhập vùng đất một cách có hiệu quả
Tỉnh Đắc Lắc được tách ra từ Lào, từ đó độc lập và sáp nhập vào An nam ngày 22/11/1904 Tương tự, tỉnh Kontum được thiết lập vào tháng 7/1905 để quản lý phần đất đai Bình Định rồi lại bị bãi bỏ vào năm 1907 và biến đổi trong sự uỷ quyền quản lãnh Quan hành chính Henri Ma tre hoàn thành công việc khảo sát và xâm nhập Đắc Lắc và xứ người Thượng Radé từ năm 1906 -1908
Việc nghiên cứu sơ đồ đường lát đá qua Lang Biang - Đắc Lắc mới được dẫn đến từ năm 1897 - 1899, khảo sát vùng người Thượng và thiết lập tỉnh Đồng Nai Thượng (ngày 01/11/1899, tỉnh lỵ Djiring); rồi khi người Pháp từ bỏ việc vượt qua
11 Đây là một nhân vật nổi tiếng mà bước đường khảo sát, khám phá của ông kéo dài từ đèo Lao-Bảo ở Quảng Trị cho đến Kon-Tum (Enjolras, F., 1932)
Trang 8bức tường thành chân dãy Trường Sơn, nó đã bị bãi bỏ (1903), sáp nhập vào Phan Thiết và Phan Rang (về sau tái lập, tỉnh lỵ tại Đà Lạt) Từ năm 1908 - 1914, Henri
Ma tre thám sát và tổ chức vùng hậu cứ Kratié Ông ta đã thiết lập ở Phnong Bouneur, vào năm 1910, một sự uỷ quyền ở Bou Pou Sra Năm 1914, ông tử trận trong trận phục kích của Pu Trang Lung (Nơ Trang Long) ở làng Noong - Bou Nor (Nam kỳ) Tháng 01/1915, quan hành chính Truffot vùng Kratié bị ám sát lúc tiến hành khảo sát ở vùng đông bắc Srè Chis (Nyo, 1937)
Như vậy, có thể thấy bằng những biện pháp hòa bình lẫn vũ lực, từng bước, người Pháp đã xâm nhập được vào xứ sở người Thượng, làm tiền đề cho việc đầu
tư xây dựng đường sá và phát triển kinh tế vùng đất này
Người Pháp đồng thời đầu tư xây dựng hai hệ thống trục đường là Bắc - Nam (Quốc lộ Hà Nội - Sài Gòn) qua miền Trung ở vùng đồng bằng, và Đông - Tây (với nhiều tuyến đường nối miền núi - đồng bằng)12
Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến một số trong hệ thống trục đường đông - tây, mà ở đó, người Pháp đã đặc biệt chú ý khai thác những tuyến đường đã từng có và phát huy tác dụng trong lịch sử các cộng đồng tộc người bản địa, mà
12 Với 6 cung đoạn, được tiến hành khảo sát từ năm 1897:
(1) Hà Nội - Vinh, 333km
(2) Vinh - Huế, 375km, được khảo sát từ năm 1897, bởi đại úy pháo binh Bernard và ông cũng là người chỉ huy thi công đoạn Vinh - Quảng Trị; còn đoạn Quảng Trị - Huế, bởi kỹ sư công chánh M Gentil Quá trình khảo sát được tiến hành từ năm 1895, với sự tham gia trực tiếp của Toàn quyền Rousseau, rồi M Doumer, từ năm 1897
(3) Huế - Tourane, 105km, với chi phí lên đến 10.900.000francs Việc đấu thầu được tiến hành ngày 22/7/1901, với thời hạn thi công 3 năm; thực tế là mãi tới tháng 1/1902, công trình mới được tiến hành (4) Tourane - Quinhơn, 302km, khởi công từ năm 1897, do đại úy pháo binh Gatard điều hành (5) Quinhơn - Khánh Hòa, 192km, lộ trình này được nghiên cứu trước khi hoàn thành tuyến đường sắt
ở Qui Nhơn, vào năm 1900, bởi đại úy Buvignier
(6) Khánh Hòa - Sài Gòn, 590km, dự án này có hai tuyến đường: (1) nối liền Phú Yên - Khánh Hòa - Sài Gòn và (2) Khánh Hòa - lên cao nguyên Lang Biang; sau nhiều đợt khảo sát dưới sự điều hành của kỹ sư Blim, trong một dãy núi giữa Lang Biang và miền duyên hải, lập tức người ta quyết định một hành trình khoảng 600km Sài Gòn - Tam Linh - Djiring - Khánh Hòa, với một sự phân nhánh từ Djiring - Lang Biang
Khởi đầu dự án Sài Gòn - Tam Linh bởi kỹ sư Courtin, với sự phối hợp của các lữ đoàn quân sự (132km, chi phí 12.700.000francs) (De Bay, Le capitaine, 1912a: 9 - 10, 12, 14, 16)
Trang 9minh chứng là con đường thuộc địa số 14 (Quảng Nam) và tuyến Lao Bảo - Lào (Đường 9)13
+ Tuyến đường Phan Rang - Lang Biang rất được người Pháp quan tâm nghiên cứu, chuẩn bị cho việc khai thác cao nguyên Lang Biang và nó đã được khởi công, do Công sứ Garnier, rồi đại úy Guinet tiếp nối
+ Quá trình nghiên cứu điều kiện kinh tế Lào cũng giúp cho người Pháp nhiều ý tưởng xây dựng, từng bước, nhiều kênh rạch và tuyến đường giao thương nối liền Sam Pa Na - Savannaket cho tới tuyến đường bộ Vinh - Huế - Tourane; mặt khác, nối vùng Bassac và Saravane đến Tourane Tuyến giao thương trực tiếp từ Quảng Trị - ải Ai Lao - Savannaket cũng được nghiên cứu kỹ dù với nhiều điều kiện khó khăn, và con đường thứ hai là từ Vinh - La Khone Người ta cũng bước đầu thám hiểm, khảo sát về thủy lộ nối liền các thung lũng miền thượng sông Gianh và sông Sé Bang Fai
+ Tuyến đường Tourane - Bassac - Sài Gòn ghi dấu công lao của M de Lanessan, nhất là đoạn Tourane - Attopeu (khoảng 235km, băng qua dãy Trường Sơn), trong những năm 1894 - 1895 Từ Tourane - Bassac dài 378km và Tourane - Bassac - Sài Gòn dài 770km (De Bay, Le Capitaine., 1912a: 17 - 19)
v.v
Trường Sơn - Tây Nguyên bắt đầu chuyển biến từ việc phát triển mạng lưới giao thông, mà gắn liền là bắt đầu quá trình khai phá và phát triển nông nghiệp tại các vùng thích hợp, nhất là cao nguyên Đắc Lắc: Cấp đất cho các công ty thương mại, kinh tế đồn điền phát triển và lần đầu tiên, gây nên làn sóng định cư của
13 Rõ ràng, người Pháp đã khảo sát rất kỹ và kế thừa thiết thực huyết mạch giao thông "truyền thống"
này để nâng cấp, kiến tạo, xây dựng trở thành con đường thuộc địa số 14 (Enjolras, F., 1932)
Ải Ai Lao là tuyến thông thương huyết mạch, sớm, trong lịch sử vùng đất bắc miền Trung, song song với thủy lộ Hiếu Giang, ra Cửa Việt Hồi cuối thế kỷ XIII, quân Nguyên đã từng mượn Champa tuyến đường này để đánh thốc Đại Việt từ phía nam: Tháng 3/Ất Dậu (1285), nguyên soái Toa Đô đem 50 vạn quân từ Vân Nam qua nước Lão Qua, thẳng đến Chiêm Thành, hội với quân Nguyên ở châu Ô Lý rồi cướp châu Hoan, châu Ái (Toàn thư, 1998: II: 55)
Chúa Nguyễn đặc biệt quan tâm xây dựng ải Ai Lao, rồi dinh Ai Lao (Nhâm Tuất - 1622), như một tiền đồn phên dậu và càng khơi dậy tuyến thông thương xuôi ngược vốn rất sôi động, trong chiến lược Ky my đối với vùng đất phía tây đặc biệt quan trọng này (QSQ triều Nguyễn, 1962: 50)
Trang 10người Việt tại đây, với các quan chức nhỏ, công nhân đồn điền, người làm vườn (Clive J Christie, 2000: 160), mà ở phần sau, chúng tôi sẽ đi sâu làm rõ
2.2.3 Đồn điền và việc trồng thử nghiệm, phát triển các loại cây công nghiệp
Việc giao đất công (đồn điền, không vượt quá 500ha) ở Trung kỳ, căn cứ theo các điều khoản trong nghị định ngày 8/4/1899 của Toàn quyền Đông Dương (xem thêm De Bay, Le Capitaine., 1912b: 17) Thêm vào đó là sự ra đời và hoạt động ngày càng mạnh mẽ của các hiệp hội kinh tế - các nhà tư bản tài chính Pháp, trên nhiều lĩnh vực14 Đó là những điều kiện tiên quyết, cho sự hiện diện của các nhà tư bản Pháp đầu tư trên vùng đất này, với nhiều yếu tố rất mới, từ bắc cho tới nam Trung bộ
Thanh Hóa và Hà Tĩnh là những vùng phát triển mạnh mẽ ngành chăn nuôi, đặc biệt với nhiều đàn gia súc mà sản phẩm được xuất ra Hà Nội, Hải Phòng Đại úy kỵ binh M des Michels, đã xây dựng một trung tâm nuôi ngựa, gia súc lấy thịt và ông cũng đã mua ở Hà Tĩnh một nhượng địa khoảng một ngàn hecta để nhân giống nhiều loại cây trồng Người Pháp cũng thiết lập ở vùng rừng Hà Tĩnh, Quảng Bình, nhiều trạm khai thác và tái sản xuất các loại cây công nghiệp, như cao su
Cây cao su được trồng thử nghiệm ở vùng núi Trung kỳ trong một đợt khảo sát từ Tourane đến Attopeu, vào năm 1895 Hai năm sau, thiếu tá Tournier, tư lệnh Lao Bảo, đã gửi một mẫu thu được ở vùng giữa Khong và Lao Bảo, cho giám đốc Bưu điện Đông Dương và chất lượng của nó được đánh giá như sản phẩm của vùng núi Thái Nguyên Từ năm 1898, một thương gia Pháp, M Chaussé, đã đến Thượng Lào, mua với giá 45 đồng bạc/tạ (tương đương 112fr./50 - 60 kg) và chỉ hai năm sau, mức giá đã vọt lên đến 160đồng/tạ Tuy nhiên, việc xuất khẩu mủ cao su từ Vinh, qua cảng Hải Phòng lại ẩn dưới nhãn mác Tonkin Lượng cao su xuất khẩu ở đây năm 1899 là 28.000kg, tăng nhanh trong năm sau, với 194.000kg; trong đó, chỉ tính riêng từ Hà Tĩnh, đã lên đến khoảng hàng nghìn kg/năm, kể từ năm 1901
14 Hiệp hội Lâm nghiệp Vinh (trong đó có MM Menge et Cie), thử nghiệm trồng rừng ở vùng sông Cả và sông Ngàn Phố, vốn được Nam triều nhượng cho Jean Dupuis năm 1888, xây dựng nhà máy diêm, xưởng cưa ở Bến Thủy và còn xuất sang Pháp nhiều gỗ lim qua cảng Vinh Hiệp hội bông vải Đông Dương (ở Thanh Hóa), thử nghiệm trồng bông và thu mua sản phẩm của nông dân
Hiệp hội Công nghiệp và Thương mại Đông Dương có được nhiều khu đất rộng ở vùng núi Hà Tĩnh, đầu tư nhân giống nhiều loại cây, như cao su v.v (Debay, Le Capitaine.,1912b: 6)