1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Lược khảo về cổng ngõ một số ngôi nhà cổ ở huế

12 918 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lược khảo về cổng ngõ một số ngôi nhà cổ ở huế
Tác giả Trần Thanh Hoàng
Người hướng dẫn Phó Viện Trưởng PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Việt Nam Tại Huế
Thể loại bài luận
Thành phố huế
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 522,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lược khảo về cổng ngõ một số ngôi nhà cổ ở huế.

Trang 1

LƯỢC KHẢO VỀ CỔNG NGế MỘT SỐ NGễI NHÀ CỔ Ở HUẾ

Trần Thanh Hoàng Phõn viện Văn húa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế

1 Lời mở

Trong tổng thể văn hoá Huế, có thể coi nhà vườn là những tuyệt tác của kiến trúc sinh hoạt và nghệ thuật tạo cảnh, là kết quả của sự tổng hợp về trí tuệ, sức lực, khả năng kiến trúc, điều kiện xã hội của con người trong một giai đoạn nhất định Nhà vườn như là một trong những sản phẩm văn hoá

đặc trưng cho vùng Huế, là niềm tự hào cho mảnh đất đế đô một thời hưng thịnh Trong toàn bộ những bộ phận cấu thành một khuôn viên nhà vườn thường thấy ở Huế, cổng ngõ - công trình tuy quy mô khiêm tốn, nhưng

đóng vai trò không kém phần quan trọng Cổng ngõ đã thể hiện phần nào danh tính, vị trí xã hội của nhân trong xã hội đương thời Tuy vậy, từ trước

đến nay, cổng ngõ là một trong những tiểu kiến trúc ít được chú ý, đầu tư nghiên cứu Trong khi đó, qua thời gian tồn tại, trước sự xâm thực của tự nhiên và chiến tranh, các công trình nay đang đứng trước nguy cơ biến mất

2 Cỏc loại hỡnh kiến trỳc cổng ngừ

Chính do sự hình thành, phát triển gắn bó với một thời điểm cụ thể, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, cho nên trong từng thời kỳ, kiến trúc cổng ngõ và bình phong cũng có những đặc điểm khác nhau, mang đặc trưng của thời đại Xét về tổng thể, các công trình kiến trúc cổng ngõ của các ngôi nhà xưa ở Huế chủ yếu là dạng cổng vòm, trong đó phổ biến nhất

là phía dưới được trổ một lối đi - dạng cổng vòm đơn thuần, hay ba lối đi - dạng cổng tam quan Dù là dạng thức nào chúng đều có đặc điểm chung về

kỹ thuật, vật liệu xây dựng Mặc dù vậy, giữa các dạng thức này cũng có những điểm khác nhau cơ bản, dễ nhận biết

2.1 Dạng cổng vũm

Trước hết, xét về quy mô, mỗi kiểu thức đại diện cho một thời kỳ lịch

sử với những quan niệm về văn hoá, thẩm mỹ cũng như những thiết chế khác nhau của mỗi thời Dạng cổng vòm đơn thuần là kiểu thức phổ biến trong các công trình thời chúa Nguyễn và giai đoạn đầu của vua Nguyễn

Trang 2

Đồng thời, dạng thức này cũng là quy phạm cho các công trình ở vào đầu thế kỷ XX, khi những ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây lan toả mạnh Tiêu biểu cho dạng cổng này là các tiền môn của các phủ Khoái Châu Quận công, Cẩm Xuyên Vương, Sum Viên, Lạc Tịnh Viên, An Hiên Viên Trong

đó công trình ra đời tương đối sớm và đặc trưng là cổng ngõ của phủ Phước Long Công

Phủ Phước Long Công được xây dựng vào năm 1804 Cổng ra vào của phủ là dạng cổng vòm ngoảnh mặt ra sông Như ý Cổng có kết cấu chắc chắn, trang trí đơn giản, ít cầu kỳ Cổng cao 4m, rộng 3,5m, lòng cổng sâu 2,5m, xây bằng gạch, vôi vữa, nền cổng được lát đá Thanh Phía dưới cổng trổ một lối đi có chiều cao 2m, rộng 1,6m được đóng kín bằng hai cánh cửa

gỗ Phía trên cổng là mảng kiến trúc lượn sóng có dáng hình như một chiếc khánh đá lớn, mặt ngoài có gắn mặt nạ rồng - kiểu thức hổ phù - được đắp nổi kết hợp với trang trí gắn mảnh sành sứ Mặt trong cũng được trang trí hổ phù nhưng được trình bày bằng phương pháp vẽ màu trên nền vôi vữa Phần dưới cổng là những dải hoa văn ô hộc hình vuông, hình chữ nhật nằm ngang Hoạ tiết trang trí trong ô hộc chủ yếu là mai, lan, cúc, trúc biểu trưng cho tứ thời, và một số loại hoa quả khác như lê, đào, phật thủ, lựu Bờ nóc,

bờ quyết của tiền môn có dạng hơi cong hình thuyền, sát mí mái được trang trí hoa văn lan đằng xen kẻ với hồi văn chữ công chạy thành dải bao quanh bốn mặt cổng Trên mặt cổng vòm xuất hiện hai con dơi đeo bám đầu hướng xuống đất dang cánh ôm lấy vòm cổng

Cổng vòm đơn thuần ra đời và phát triển qua một thời gian dài, tồn tại song song với dạng cổng tam quan Khác với những cổng ngõ của các phủ

đệ, dạng cổng này cũng tồn tại phổ biến trong kiến trúc dân gian Tiêu biểu cho thành phần này là công trình ở Lạc Tịnh Viên Lạc Tịnh Viên được Nguyễn Phúc Hồng Khẳng bắt đầu xây dựng từ năm 1879 Lạc Tịnh Viên ban đầu được xây dựng với một ý đồ khác hẳn với những phủ đệ quý tộc

Cổng phủ Phước Long công Cổng phủ Phước Long công ((((ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng))))

Trang 3

khác, cho nên ở đây, những công trình kiến trúc khác đều mang những nét dân dã đặc trưng, hài hoà với thiên nhiên Từ ngoài nhìn vào tiền môn Lạc Tịnh Viên là một công trình nhỏ nhắn, thanh thoát, như tô điểm cho ngôi vườn thêm vẻ hài hoà với phong cảnh thiên nhiên

Cổng vườn Lạc Tịnh Viên có kích thước nhỏ, chỉ cao 3,4m, rộng 9m, lòng cổng sâu 2,4m Cổng có hình dạng như một ngôi nhà rường nhỏ, phía dưới trổ một cổng vòm được đóng kín bởi hai cánh cửa bằng gỗ, hai cánh

được chia thành bốn ô, phía trên trổ hoa văn hình lưới theo motif ô hộc hình thoi, mỗi cánh có kích thước 1,2m x 2m Cổng có mái che lợp ngói âm dương chia thành hai chái Trong kết cấu của cổng có sử dụng nhiều vật liệu gỗ, đặc biệt ở đây đã sử dụng kỹ thuật dựng vì kèo để đỡ mái Để gia cố, các nghệ nhân xưa đã sử dụng kỹ thật xây tường chịu lực bằng cách trổ bốn ô cửa vòm

đối xứng nhau tạo thành các lan can trổ ra phía trước và sau

Để trang trí, ở đây ít lạm dụng các motif cũng như kỹ thuật truyền thống Hoa văn trên cổng tương đối đơn giản, chủ yếu là motif hoa văn hình học cũng như các loại dây leo mang tính cách điệu cao Phía ngoài cổng có gắn tấm biển lớn khắc ba chữ Hán tô son “Lạc Tịnh Viên” Mặt trước của cổng ngõ trang trí hoa văn dây leo uốn khúc zíc zắc theo lối hồi văn Cùng với la thành hai bên, tiền môn của Lạc Tịnh Viên trở thành một tổng thể kiến trúc, tạo thành dáng vòng cung hướng ra ngoài, xen kẽ với những hoa văn trổ lộng chạy thành dải Với kết cấu đơn giản, đặc điểm kiến trúc có nhiều nét khác biệt, công trình này là một bộ phận của “kiến trúc tạo cảnh”

Càng về sau, dạng cổng này có những bước phát triển về nghệ thuật trang trí cũng như kỹ thuật và vật liệu trong xây dựng Về vật liệu xây dựng việc sử dụng xen kẻ giữa vôi vữa truyền thống đồng thời xi măng, gạch nung được sử dụng ngày càng phổ biến Trong nghệ thuật trang trí tính tả chân được thể hiện rõ, các hoạ tiết kết hợp với nhau thành một bức tranh liên hoàn

Cổng Lạc tịnh viên [phía trong] ((((ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng))))

Trang 4

Cổng ngõ Sum Viên của cụ Nghè Đường là một trong những công trình tiêu biểu cho kiến trúc giai đoạn đầu thế kỷ XX Cổng ngõ Sum Viên được xây dựng vào năm 1921 Cổng quay mặt ra sông Hương, rộng 3m, cao 4m, lòng cổng sâu 2m, được xây bằng vôi vữa, xi măng, tường quét vôi sắc hồng nhạt Hai bên cổng có hai đoạn la thành, có dáng hình cuốn thư, mỗi bên dài 3m, nơi cao nhất là 1,8m, nơi thấp nhất là 1,5m, bề dày trung bình 0,45m, ngoài cùng có trụ vuông cao 1,7m Toàn bộ cổng được dựng trên một nền móng cao 40cm Chính giữa trổ một lối đi dạng cửa vòm, được đóng kín bởi hai cánh cửa gỗ dạng thượng song hạ bản truyền thống Nóc mái được trang trí hình hổ phù lồng trong chữ á Các đầu đao được trang trí hình rồng cách

điệu chạy theo hình kỷ hà Mái cổng được lợp ngói trích thuỷ đắp bằng vôi, rìa mái được gắn hoa văn kim tiền xen kẻ với hoa văn mặt gậy như ý Phía dưới, sát rìa mái có các dải hoa văn dây leo bao quanh bốn mặt cổng, hoạ tiết trong dải trang trí này chủ yếu là motif cây quả như mãng cầu, lựu, nho, phật thủ lồng trong những nút thắt dải lụa Phía trên vòm cổng, cả mặt trước và mặt sau, ở các góc trụ được đắp nổi hai con dơi miệng ngậm dải đối xứng nhau đầu quay xuống mặt cổng Chính giữa cổng, ở mặt ngoài, bên dưới mái

là tấm biển đề ba chữ Hán được khắc theo dạng chữ triện “Sum Viên Môn” Hai bên là hoa văn ô hộc trang trí bảo bình, nghiên bút đặt trên cao đê kỷ Hai bên cổng là các trụ đỡ, đầu trụ được trang trí các bức phù điêu đắp nổi hình bát tiên sắp xếp theo từng cặp Chân trụ cũng được đắp nổi các loại quả cây theo thứ tự từ trái qua phải, từ trước ra sau: mãng cầu, phật thủ, lựu, đào

Mặt sau cổng, ở chính giữa là câu đề tự bằng chữ Hán, ghi năm xây dựng công trình “Bảo Đại bát niên, thập nhất nguyệt, thập lục nhật” Hai mặt hai bên của cổng được trang trí những bức tranh phong cảnh mô tả chim hạc trong các tư thế: minh, phi, túc, thực Tất cả các chi tết được bó gọn trong ô hộc có kích thước 0,4m x 1,2m Có thể nói đây là một nét chấm phá

Cổng Sum viên Cổng Sum viên ((((ảnh: Thanh Hoà ảnh: Thanh Hoà ảnh: Thanh Hoàng ng ng))))

Trang 5

như những bức tranh thuỷ mặc rất điêu luyện và có giá trị, thể hiện được nét tài hoa của những người thợ thủ công xưa

Công trình kiến trúc cổng ngõ của ngôi nhà này không chỉ đặc sắc ở phần cổng chính, mà la thành hai bên cũng thể hiện là một bức tranh nghệ thuật tinh tế

Bức tường thành bên trái, nơi sát với cổng chính được đắp nổi nhành mai cách điệu trong kiểu thức “mai hoá long” đang ẩn vờn thấp thoáng sau bức phù điêu chữ Hỷ Phía ngoài là bức tranh phong cảnh với hình tượng

“liễu - mã” ở mảng trang trí nơi tiếp giáp giữa la thành và trụ ngoài được phủ kín bằng hoa văn kỷ hà dạng hồi văn chữ Vạn La thành bên phải cũng

được trang trí với những motif tương tự, đăng đối với bên trái Hai bức la thành này nếu được ghép với nhau sẽ tạo thành một bức bình phong cuốn thư, ở chính giữa là hình tượng song hỷ với song long đang vờn múa Bên trái là motif “liễu - mã”, bên phải là “tùng - lộc”, đây là những kiểu thức trang trí quen thuộc trong trang trí Huế Góc tiếp giáp giữa cổng ngõ và la thành là những dải mây đang uốn lượn theo hình kỷ hà dạng hồi văn

Đây là dạng cổng vòm đặc trưng của giai đoạn đầu thế kỷ XX, với việc

sử dụng nhiều vật liệu xây dựng mới như gạch bản, xi măng Các tiểu tiết trang trí đã trở thành những mảng điêu khắc tạo nên sự duyên dáng và sinh

động hẵn ra cho công trình; chúng không chỉ hoà điệu, tôn tạo tổng thể của kiến trúc, mà còn tồn tại riêng lẻ, độc lập như những tác phẩm nghệ thuật phối hợp Ngoài phương thức đắp nổi, với những hình khối và chi tiết nặng phần tả chân, còn có những dạng phù điêu vôi, sử dụng thủ pháp linh hoạt hơn trên chất liệu này bằng chiếc bay nghề thể hiện nhanh, không trau chuốt hoặc tỉa tót sửa chữa, đó là những nét chấm phá như những bức tranh thuỷ mặc rất điêu luyện

Ngoài ra, trong kiến trúc Huế, dạng cổng vòm được thiết kế theo kiểu trùng lương hay kiến trúc giả lâu (một tầng hai mái) cũng rất phổ biến Tiêu biểu cho dạng thức này đó là công trình ở phủ Cẩm Xuyên Vương Cổng ngõ phủ Cẩm Xuyên Vương nằm chếch về phía bên phải của phủ 15m, quay mặt ra sông Bạch Yến, cổng có dạng giả lâu Nền tầng dưới cao 2,5m, rộng 2m, lòng cổng sâu 1,8m Ngay chính giữa cổng được trổ một lối đi dạng cửa vòm, phía trên sát mí cổng được trang trí hình tượng hai con dơi cách điệu bằng hoa văn hình kỷ hà Phần trên của cổng có chiều cao 1m, rộng 1,2m Tiếp giáp với cổng và la thành hai bên có cặp lân chầu nằm uốn khúc, trườn mình quay đầu ra phía trước Thân của hai con lân được khảm bằng vỏ sò

đều đặn, chân và đuôi để mộc

Trang 6

Nóc mái của cổng là hình tượng lưỡng long triều nguyệt, chếch xuống phía dưới là tấm biển đề năm chữ Hán lớn “Cẩm Xuyên Vương từ môn” tô màu vàng trên nền tường đen Phía trên là dải hoa văn ô hộc bao quanh bốn mặt, trong đó trang trí hoa văn kỷ hà, dây leo , ở bốn góc mái là hệ thống các hồi văn trang trí giao hoá kết hợp với lườn mái đường nóc và bờ quyết đã tạo nên cho kiến trúc này sự mềm mại, nhẹ nhàng hơn Mặt sau cổng, phía trên

được gắn một bức hoành phi lớn bằng vôi nhưng không được trang trí Hai bên tả hữu là những nhành mai, trúc được đắp nổi Hai trụ cổng đắp nổi những câu

đối bằng chữ Hán cùng dòng lạc khoản nhỏ phía dưới được ốp bằng sứ men lam, tuy nhiên, hiện nay những câu đối này đã bị mờ, không nhận diện được mặt chữ Trên các mũ trụ và chân trụ đều được trang trí hoa văn với các motif

về tứ thời, tứ quý

Đây tuy là một công trình có kết cấu đơn giản, trang trí không cầu kỳ nhưng cũng mang trong mình đầy đủ những đặc trưng của kiến trúc truyền thống Huế

2.2 Dạng cổng tam quan

Dạng cổng tam quan là kiểu thức phổ biến trong các công trình phủ đệ quý tộc, quan lại cấp cao Trong kiến trúc Huế, cổng tam quan ít được sử dụng trong tạo dựng nhà vườn truyền thống Đặc điểm này, một mặt do quy mô của công trình quy định, mặt khác, kiến trúc Huế còn chịu những quy phạm của lễ giáo phong kiến rất chặt chẽ Cổng tam quan cũng được chia thành nhiều loại, trong đó có hai dạng chính: tam quan giả lâu và cổ lâu

2.2.1 Tam quan giả lâu

Dạng tam quan có giả lâu phía trên được sử dụng rộng rãi trong các công trình phủ đệ như Vĩnh Quốc Công, Tùng Thiện Vương, Kiến Thái Vương, Tuy Lý Vương, phủ Duyên Phước Công chúa Trong số đó đáng chú ý là công trình cổng ngõ của phủ Kiên Thái Vương

Cổng phủ Cẩm Xuyên Cổng phủ Cẩm Xuyên VVVVương ương ương ((((ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng))))

Trang 7

Cổng ngõ phủ Kiến Thái Vương là dạng tam quan, có giả lâu phía trên Xét về tổng thể có thể chia công trình này thành hai bộ phận, được phân định bằng các mái giả Cổng được dựng trên một nền móng cao 0,5m, được kè đá Thanh xung quanh Dẫn lên cổng là ba bậc tam cấp lên xuống cũng bằng đá Thanh dày 20cm, rộng 60cm Phần thân dưới của cổng có kích thước rộng 8m, cao 4 m, lòng cửa sâu 3m, nền cửa cũng được lát bằng đá Thanh Chính giữa cổng được trổ ba lối vào song song dạng cổng vòm truyền thống Lối giữa rộng 1,5m, cao 2,2m; hai lối hai bên mỗi lối rộng 1,2m, cao 1,5m Cả

ba lối vào đều được lắp 6 cánh cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản tuy nhiên, qua thời gian, hiện nay chỉ còn lối đi giữa còn giữ nguyên vẹn kết cấu này, hai lối bên được bít tạm bằng của bản Giới hạn giữa ba lối ra là bốn bức tường ngăn, được bổ trụ cả hai mặt trước và sau Trên mỗi trụ, trong từng ô hình vuông có trang trí bằng vôi vữa và khảm sành sứ với các đề tài quen thuộc thường thấy ở các bức tranh thủy mặc Từ trái sang phải mặt ngoài có hoa cúc, trái mãng cầu, mai, ngô đồng - phụng ở giữa thân trụ được khắc nổi bốn câu đối bằng chữ Hán, hiện nay đã bị mờ không còn rõ chữ Chạy song song và kết với các mũ trụ thành một dải là những ô hộc hình chữ nhật cũng được trang trí hoa văn, trong đó motif chủ yếu là các loại hoa quả, các điển tích Nho, Lão được đắp nổi bằng vôi vữa xen lẫn với

kỹ thuật khảm gốm lam Nghệ thuật khảm sành sứ được sử dụng chủ yếu để trang trí mặt sau cổng ở đây, những hoa văn “lan đằng” được gắn bằng những mảnh gốm lớn, tận dụng những hoa văn bóng trang trí trên mảnh gốm để ghép lại với nhau thành một dải văn liên hoàn, che khuất những

điểm phối ghép Đề tài chủ yếu trong dải hoa văn ô hộc là những motif quen thuộc như tứ thời, tứ linh, tứ quý Phía trên cửa vòm, sát với góc vuông của các trụ, để làm dịu cảm giác gãy góc hình học đó, các nghệ nhân đã sử dụng tính đăng đối của con dơi để gắn vào tạo nên sự nhẹ nhàng, thanh thoát,

đồng thời cũng gởi gắm vào đó những ước mong, niềm hy vọng của chủ nhân

Cổng phủ Kiên Thái vương Cổng phủ Kiên Thái vương ((((ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng))))

Trang 8

Trên các trụ là bốn lớp mái lô xô theo tầng bậc chạy song song nhau, càng lên cao càng thu gọn lại tạo thành hình tháp cụt Các lớp mái được lợp bằng ngói giả bằng vôi kiểu trích thuỷ Các góc đao hơi lượn lên đắp hình

“con giao” theo các guột cuộn gợi lên hình rồng cách điệu Trên gờ tầng mái thứ hai, được trang trí hai con rồng cuộn khúc đang quay đầu ra ngoài

ở bờ nóc, chúng ta bắt gặp hình tượng quen thuộc là kiểu thức trang trí lưỡng long triều nhật được đắp bằng vôi ở mỗi tầng mái, xen lẫn với những kiểu thức trang trí hình tượng tròn, đắp nổi, đó là những dải hoa văn ô hộc Phía trán cổng là hình tượng hổ phù hình đầu rồng Mặt hổ phù này vừa

được chế tác từ kỹ thuật đắp nổi xen lẫn với kỹ thuật trổ lộng, kết hợp chặt chẽ với khảm sành sứ Chính nghệ thuật trang trí xen lẫn những yếu tố vừa

động, vừa tĩnh, vừa thô, vừa tinh tế đã tạo nên sự nhẹ nhàng, duyên dáng cho chiếc cổng đồ sộ này Hai bên cổng có hai la thành hình vòng cung, mỗi bên dài 5m cao 1,5m, ngoài cùng có trụ vuông cao 3m Tiếp giáp bờ thành

và cổng có hai con lân nằm cuộn khúc trườn mình về phía trước rồi quay

đầu nhìn hướng cổng Thân lân đắp mảnh sành sứ có kích thước đều đặn Qua số lượng rất lớn những ngôi nhà truyền thống xưa của Huế còn lại ngày nay, có thể nhận thấy rằng đó là một hệ thống kiến trúc vừa hội tụ

được những tinh hoa truyền thống lẫn những yếu tố đương đại, vừa mang tính dân tộc, lại vừa thể hiện bản sắc khu vực Huế, bởi vì “tư tưởng chủ đạo của kiến trúc kinh đô Huế nói chung được dựa trên nền tảng kiến trúc của phương Đông và truyền thống dân tộc nói chung”1

Triết lý phương Đông và truyền thống Việt Nam đó chính là dịch lý và thuật phong thuỷ trong xây dựng Để xây dựng một ngôi nhà, lập một khu vườn truyền thống là một quá trình, trong đó công việc chọn địa thế xây dựng đóng một vai trò không nhỏ, thậm chí quan trọng nhất để hình thành một ngôi nhà Quan niệm này không chỉ bó buộc trong tầng lớp quý tộc quan lại lớp trên, nó còn ăn sâu vào trong tiềm thức của mọi tầng lớp, trở thành biểu trưng của văn hoá Huế, cả về mặt tinh thần và vật chất

Ngoài ra dấu ấn văn hoá Trung Hoa cũng để lại rất rõ nét trong văn hoá Huế nói chung, trong kiến trúc nói riêng Thể hiện rõ nhất trong motif, đề tài trang trí Hơn thế nữa, trên mảnh đất có nhiều dấu ấn lịch sử này, văn hoá ấn Độ cũng để lại nhiều dấu tích trong kiến trúc Huế, đặc biệt rõ nét là

ở các tiền môn của ngôi nhà Đó là kết cấu nhiều tầng, nhiều bậc, nhiều cấp, kiểu tháp mái và các ô cửa kín trên trán tam quan trong các công trình phủ

đệ, đặc biệt đầu thế kỷ XIX “Cổng có ô hộc, nhất là tầng mái hợp thành

1

Phan Thuận An: 690 năm kiến trỳc Huế Tạp chớ Huế Xưa & Nay, Hội Sử học Thừa Thiờn Huế, số 14, (trang 81)

Trang 9

kết cấu bên trên của nó là bóng dáng các ngọn tháp Chăm”2 Kết cấu của những tam quan loại này gồm một phần là thân cổng và hai phần ba bên trên

là trán cổng, trán cổng được đắp thành những hình khối, tạo dáng thành nhiều tháp nhà có nóc mái

2.2.2 Tam quan cổ lâu

Dạng cổng tam quan có cổ lâu phía trên trong kiến trúc nhà vườn Huế

là dạng cổng rất hiếm gặp Cổng tam quan dạng này có kích thước rất đồ sộ,

quy mô lớn Trong số các cổng ngõ chúng tôi khảo sát ở các phủ đệ, chỉ bắt gặp loại cổng này ở phủ Đức Quốc Công Phủ Đức Quốc Công được bà Từ

Dũ cho xây dựng vào năm 1849, bao gồm nhiều công trình, trong đó có cõng ngõ tam quan Cổng được thiết kế theo dạng tam quan Tổng thể của cổng ngõ có thể chia làm hai bộ phận: nền tầng dưới và cổ lâu phía trên

- Nền tầng dưới có kích thước: cao 4m, móng cao 10cm, dài 12m, chiều sâu lòng cổng 5m, quanh nền được kè chắc chắn bằng đá Thanh, ở giữa lát gạch vồ Chính giữa cổng được trổ ba lối đi song song dạng cửa vòm truyền thống của kiến trúc Nguyễn, hai lối hai bên rộng 2,1m, cao 2,5m; lối giữa rộng 2,6m, cao 3m Cả ba lối vào đều được đóng kín bằng các cánh cửa gỗ sơn son Các cánh cửa hai bên được tạo bằng những tấm gỗ bản ghép với nhau bằng đinh tán, riêng cánh cổng giữa kết cấu theo kiểu thượng song hạ bản tạo nên sự thông thoáng, giàu tính thẩm mỹ

- Cổ lâu phía trên là một ngôi nhà nhỏ được lợp ngói âm dương, có kích thước: cao 3m; dựng trên nền rộng 2,4m, dài 4,1m, cao 10cm; cổ lâu

được trổ bốn cửa vòm bốn bên, xung quanh được bao bằng các lan can Các

2

Trần Lõm Biền: Huế, Mỹ thuật Nguyễn - những cỏi riờng Tạp chớ Nghệ thuật, số 3/1979 (trang 45)

Cổng phủ Đức quốc công Cổng phủ Đức quốc công !!!! ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng ảnh: Thanh Hoàng

Trang 10

lan can được ốp ngói tráng men Hai bên bên có hai lối bậc cấp đi lên tầng lầu, độ dốc khá lớn Hai bậc cấp mỗi bên có 17 bậc xây bằng gạch bản, mỗi bậc cao 20cm

Ngoài những kỹ thuật xây dựng cổ truyền độc đáo với những chất liệu như gạch vồ, vôi vữa, đá Thanh và ngói âm dương đã tạo nên những nét riêng cho toàn bộ công trình kiến trúc này Phía trên nóc mái được trang trí những hoạ tiết rồng cách điệu với đồ án lưỡng long triều nguyệt Phía dưới

là những dải hoa văn ô hộc hình vuông, hình chữ nhật trang trí chim thú, mục đồng thổi sáo chăn trâu và nhiều cảnh sinh hoạt đời thường khác Trên các đầu đao được trang trí bằng các cặp nghê quay đầu vào nhau Hai bên

bờ nóc xuất hiện hình dơi ngậm kim tiền, trên các vòm cổng là hình hoa lá cách điệu

Tất cả đều được sử dụng kỹ thuật đắp nổi vôi vữa và khảm sành sứ một cách tinh xảo, sắc nét Phía trước cổ lâu khắc bốn chữ lớn bằng Quốc ngữ

“Đức Quốc Công từ”, phía trên có biển đề năm chữ Hán chạm nổi trên nền

đá: “Đức Quốc Công từ môn” Ngoài nghệ thuật trang trí bằng kỹ thuật đắp nổi, ốp mảnh sành sứ, vỏ sò điệp, ở công trình này nghệ thuật trang trí bằng cách tô vẽ màu trực tiếp cũng chiếm một tỉ lệ không nhỏ Tuy nhiên, do đặc

điểm về chất liệu không bền, cho nên hiện nay dấu vết của nó không còn nhiều, chính vì vậy rất khó nhận biết được những motif trang trí, đặc biệt ở bốn góc tháp trên các đầu trụ

3 KẾT LUẬN

Cùng với tổng thể cấu trúc ngôi nhà vườn, cổng ngõ đã tạo nên một không gian văn hóa có tính nghệ thuật và thẩm mỹ hài hòa và thống nhất Nơi đây gắn bó với đời một người, một gia đình, một dòng họ là gạch nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, là nơi di dưỡng tâm hồn, nơi vun đúc vun bồi những tình cảm tốt đẹp của tình bằng hữu, nghĩa gia đình cũng như tình cảm quê hương

Hơn nữa, những công trình cổng thành, ngoài những giá trị thẩm mỹ sâu sắc, nó còn ẩn chứa trong mình những giá trị nhân bản mang đậm phong cách văn hoá Huế Chiếc cổng không chỉ bó gọn trong chức năng là nơi ra vào Đúng như nhận xét của cố quý bà Nguyễn Đình Chi: “ nếu có điều kiện là người Huế thường muốn xây dựng cổng ngõ có mái che, đây không hẳn để tạo sự bề thế cho khu vườn mà còn là nơi trú chân cho khách bộ hành khi gặp cơn mưa bất chợt Những giống cây quen thuộc phủ bóng bên cạnh cửa ngõ nhà vườn Huế như cối, bàng, da không phải ngẫu nhiên được trồng ở đó, nếu như chủ nhân không nghĩ đến chỗ dừng chân nghỉ ngơi phút chốc trong cơn nắng gắt cho khách bộ hành Đó chính là chất nhân văn ẩn

Ngày đăng: 14/11/2012, 11:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w