1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra

15 396 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Tế Katu Truyền Thống Và Một Số Vấn Đề Đặt Ra
Tác giả Lớ Anh Tuấn
Người hướng dẫn Ph.D. Nguyễn Văn A
Trường học Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Việt Nam tại Huế
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2003
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 241,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra.

Trang 1

KINH TẾ KATU TRUYỀN THỐNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

(Nghiên cứu trường hợp xã A Vương, Tây Giang, Quảng Nam)

Lí Anh Tuấn Phđn viện VHNT Việt Nam tại Huế

1 Mở đầu

Vel Katu1 truyền thống là một đơn vị xã hội không triệt để, nhưng là đơn

vị kinh tế hoàn chỉnh, độc lập, trong đó hộ gia đình là những tế bào sản xuất, phản ánh tính tự cung tự cấp (sản xuất và tiêu dùng) của nông nghiệp truyền thống mà canh tác nương rẫy là một trong những hoạt động chủ yếu, không chỉ sinh kế mà còn là phong tục tập quán của đồng bào Katu Tuy nhiên, phương thức canh tác truyền thống chỉ phù hợp trong điều kiện diện tích rừng còn nhiều, mật độ dân cư thưa thớt Ngày nay, áp lực tăng dân số và sự thu hẹp diện tích rừng đã làm cho hệ thống sản xuất của người Katu trở nên mất ổn định, đời sống gặp nhiều khó khăn

Trong chiến lược phát triển kinh tế, nâng cao mọi mặt đời sống cho đồng bào thiểu số vùng cao, việc lấy hộ gia đình - đơn vị kinh tế cơ sở gắn với từng Vel cụ thể là một nhận thức đúng đắn và có ý nghĩa thiết thực Một nghiên cứu trường hợp ở A vương, xã có 98% dân số là người Katu2, thuộc vùng cao tỉnh Quảng Nam, về ảnh hưởng và vai trò của kinh tế truyền thống, góp phần giải quyết những khó khăn đặt ra trong tình hình sản xuất hện nay

2 Kinh tế truyền thống và một số vấn đề đặt ra

2.1 Vai trò của kinh tế nương rẫy

Ở các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc (Tày, Thái, Mường v.v ), canh tác lúa nước sớm phát triển (ruộng bậc thang, mương, phai v.v ) cùng với hệ

1 Câc câch ñọc vă viết khâc: Cơ tu, Cơtu, Cơ Tu…

2 Theo kết quả điều tra dân số năm 2002, tổng số nhân khẩu của xã Avương là 1506 người, trong đó 1472 người Katu và 34 người Kinh; tổng số hộ là 257, trong đó 249 hộ Katu và 8 hộ Kinh (UBND xã A Vương, 2003)

Trang 2

thống tổ chức xã hội tiền nhà nước (Phìa, Tạo, Mường v.v ); Ở vùng Tây Nguyên, nông nghiệp lúa nước cũng có một lịch sử hình thành lâu đời với hệ thống đập thủy lợi quy mô (Chăm, Ê đê) v.v ; đối với người Katu, đại điện cho các tộc người thiểu số ở Trường Sơn, nông nghiệp nương rẫy là loại hình canh tác truyền thống

A Vương là một xã vùng núi của huyện Tây Giang, nằm trên trục đường Hồ Chí Minh, cách trung tâm huyện lỵ Prao khoảng 15 km về hướng Tây Phía Nam giáp với xã Dang; phía Tây giáp với xã Bhalê (tỉnh Quảng Nam); phía Bắc giáp với xã Thượng Long, Thượng Quảng (huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế)

Địa hình ở đây bị chia cắt bởi sông Avương, các khe suối và núi (cao nhất là 1230 mét, nơi thấp nhất trên 500 mét) Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 14.760 ha, nhưng đất nông nghiệp chỉ có 288,20 ha (1,97%,) trong khi đất lâm nghiệp chiếm đến 8.117 ha (55,66%) và đất chưa sử dụng, sông suối, núi đá là 6.325,91 ha (42,15%) 3

Trong đó, diện tích lúa nước rất ít, có thôn không có và chủ yếu tập trung vào canh tác nương rẫy Toàn xã chỉ có 5/8 thôn (Aplố1, Aplố 2, Tà ghê, Apat, và Arec) có ruộng nước do cư trú giữa các thung lũng nhỏ và khe suối Theo số liệu chính thức của xã, diện tích nương rẫy của một số thôn không nhiều Thôn Aplố 1 có 57 hộ nhưng chỉ có 0,75 ha ruộng lúa nước và 28,5 ha rẫy Điều này phản ánh thế mạnh của phương thức canh tác chính là trên đất dốc, và cũng cho thấy nhu cầu cấp bách về ruộng nước

Bảng 1: Tình hình phân bố diện tích canh tác ruộng và rẫy

khẩu

Ruộng (ha)

Rẫy (ha)

3 Đây là một thực trạng khá phổ biến ở các xã vùng cao tỉnh Quảng Nam: xã Tà Lu, diện tích tự nhiên là 7.915 ha, đất nông nghiệp 169 ha, đất lâm nghiệp 5.996 ha, đất chưa sử dụng và sang suối đá là 1.733 ha; Xã Lăng, diện tích tự nhiên là 22.300 ha; đất nông nghiệp chỉ có 322 ha, đất lâm nghiệp là 12.217 ha; đất chưa sử dụng và sông, suối, đá là 9.723 ha; Xã Bhale, diện tích đất tự nhiên 7.100 ha, đất nông nghiệp là 305,895 ha (chiếm 4,31%), đất lâm nghiệp là 3.399,700 ha (chiếm 47,88%), đất chưa sử dụng và sông, suối, đá 3.351,590 (chiếm 47,21%) v.v (Phòng thống kê huyện Hiên, 2002)

Trang 3

Aplố 2 21 126 0,60 21,0

(Nguồn: UBND xã Avương, 2003)

Nếu nương rẫy trồng lúa, ngô, sắn luôn chiếm ưu thế trong tổng diện tích, thì lúa nước chỉ được du nhập vào xã từ những năm 1970 một cách khó khan, do diện tích ruộng hẹp và manh mún Sản lượng thấp, nên lúa nước càng không được người dân quan tâm Năng suất lúa nước thấp do nhiều nguyên nhân: thường xuyên thiếu nước, đất đai cạn kiệt do canh tác lâu ngày lại không bón phân; người dân thiếu kiến thức về kỹ thuật trồng lúa

Nếu diện tích rẫy thường không có sự chênh lệch lớn, thì diện tích lúa nước lại có sự khác nhau đáng kể giữa các nhóm hộ giàu và nghèo Diện tích lúa nước, vườn, đất rừng trong xã tập trung chủ yếu ở các hộ khá và trung bình, dù không lớn nhưng cũng có ảnh hưởng đến năng lực sản xuất của nông hộ, là một trong những nguyên nhân của sự phân lớp giàu nghèo Bởi, trong tình hình hiện nay, rất khó mở rộng diện tích, giải quyết nhu cầu đất ruộng cho vấn đề tách hộ, lại càng không thể phát rừng làm rẫy Năm 2001, xã A Vương có 51 hộ bị xử phạt, chủ yếu là những hộ vừa mới tách, do vi phạm phát rẫy ở những khu vực rừng già, nơi đất tốt, cho năng suất cao Điều đó càng cho thấy vai trò và lợi thế so sánh của rẫy và ruộng

Bảng 2: Tình hình sử dụng đất đai ở xã A Vương

Loại đất Nhóm hộ

nghèo4

Nhóm hộ trung bình

Nhóm hộ khá

4 Có nhiều cách phân loại hộ đói nghèo: căn cứ vào lượng Calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể, (theo Viện dinh dưỡng, những hộ có 1500 - 2100 calo/ngày/người); căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội (tiêu chí thu nhập hoặc chi tiêu bình quân người/tháng-năm, điều kiện và nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, điều kiện tư liệu sản xuất, vốn để dành v.v ) Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng tiêu chí phân loại hộ đói nghèo của Bộ Lao động - thương binh và xã hội (QĐ 1143/2000/QĐ-LĐTBXH, ngày 01/11/2000): hộ có thu nhập 80.000đ/tháng/người nếu ở vùng nông thôn, miền núi và hải đảo; 100.000đ/tháng/người ở vùng nông thôn, đồng bằng; 150.000đ/tháng/người ở vùng thành thị (Bảng 6)

Trang 4

Rừng 1126 1100 1420

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2003)

Gắn với đất đai, tư liệu sản xuất, người dân ở đây đã du nhập thêm nhiều giống mới, tuy nhiên, các giống địa phương, nhất là lúa rẫy, ngô, sắn vẫn

chiếm ưu thế và chưa thể thay thế được

Bảng 3: Các giống cây trồng hiện nay

Giống cây trồng Tiếng Katu Tiếng Kinh

Truyền thống A ruối

A xoi,A blô,

A oong, Tarkoó

Lúa rẫy/lúa ba trăng

Đép Lào Đép àràng Đép lụa Đép aluất

Nếp Lào Nếp ba trăng Nếp bò Nếp than

A âm bhoóc

A âm proon

Ngô nếp Ngô tẻ Thăn (Thăn

achong, thăn đép, thăn nung )

Sắn

Mới nhập Lúa nước Lúa nước

Gió bầu Gió bầu

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2002)

Tình hình đầu tư cây giống vào sản xuất của người dân cũng cho thấy thực trạng trên Những hộ khá đầu tư cho sản xuất lớn hơn, và tập trung vào những giống mới, năng suất cao, đầu tư thâm canh, phân bón, thuốc trừ sâu

Trang 5

như lúa nước, ngô lai, đậu; trong khi những hộ nghèo, đầu tư vào rất dè dặt (và chủ yếu là cây giống rẻ, dễ kiếm, không mất nhiều công sức như ngô, sắn

Bảng 4: Tình hình đầu tư giống cây trồng

Chỉ tiêu ĐVT Hộ khá Hộ trung

bình

Hộ nghèo đói Giống cây trồng

(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Mai, 2002)

2.2 Hoạt động kinh tế nương rẫy truyền thống dựa hoàn toàn vào tự nhiên

Phương thức canh tác nương rẫy truyền thống sử dụng các công cụ lao động thô sơ, giản đơn Do cư trú ở vùng đồi núi, đất canh tác nằm trên địa

hình dốc, cùng với kỹ thuật “phát - cốt - đốt - trỉa” hỏa canh, đồng bào thường

sử dụng các công cụ gọn, cho thao tác, đi lại được tiện lợi, tiết kiệm sức lao động, khả năng sử dụng các công cụ cải tiến cùng sức kéo trâu bò rất hạn chế Trong một chu trình sản xuất (tìm đất, phát, đốt, trồng trỉa, thu hoạch), vai trò của con người hầu như bị lu mờ sau bóng dáng thần linh Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác truyền thống lại giản đơn (phát, đốt rẫy, chọc lỗ tra hạt, tuốt lúa bằng tay v.v ) với các công cụ thô sơ (dao phát, rựa chặt, gậy chọc lỗ, cuốc, gùi v.v ), nên sản lượng thấp và bấp bênh, không tạo được sự chuyển biến về năng suất Sản lượng mùa vụ hoàn toàn phụ thuộc sự ưu đãi của thiên nhiên, vào việc tìm được mảnh đất tốt, không bị thú rừng, thiên tai tàn phá v.v

Trong điều kiện đó, tri thức bản địa trở thành yếu tố quan trọng, với khả năng thích ứng cao sự đa dạng của điều kiện tự nhiên môi trường miền núi, nơi mà mọi hoạt động dựa trên nền tảng của chủ nghĩa kinh nghiệm, tri thức dân gian

Hiện nay, các biện pháp kỹ thuật mới như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, nước tưới, chăm sóc v.v chưa được chú trọng Tập quán canh tác cổ truyền phụ thuộc vào thiên nhiên, làm cho người dân bị động trong mùa vụ, tạo ra sự dễ dãi, thiếu kỷ luật trong thời vụ (cây giống, gieo trồng, thu hoạch, công chăm sóc, công cụ lao động v.v ) Do vậy, khi tiếp xúc với các yếu tố

Trang 6

mới, áp dụng các kỹ thuật sản xuất, giống cây con mới đồng bào vẫn thực hiện theo tập quán canh tác cũ, làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, hiệu quả tư liệu sản xuất (lúa nước, ngô lai)

Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, mức độ trang bị công cụ lao động, áp dụng kỹ thuật mới, đầu tư cây con v.v ngoài sự chi phối của điều kiện tự nhiên, địa hình, tập quán còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của hộ gia đình: càng có điều kiện, mức trang bị và sử dụng càng cao, cách biệt so với những nhóm hộ khó khăn Đây là một thực tế, vì nhóm hộ nghèo đói thậm chí còn chưa đủ ăn, nên khó có thể mua sắm tư liệu sản xuất

Bảng 5: Tỉ lệ trang bị TLSX ở các hộ sản xuất

T

T

khá

Hộ trung bình

Hộ nghèo đói

2 Công cụ SX

1.

2 3 Giá trị TLSX bình

quân

1000

đ

(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Mai, 2002) Số liệu bảng trên cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm hộ trong việc trang

bị các loại công cụ sản xuất phù hợp với đặc điểm sản xuất của từng hộ

Ở những hộ nghèo, mức trang bị tư liệu sản xuất rất thấp, không có chi phí cho việc mua sắm, chủ yếu do họ tự tạo lấy hoặc kế thừa gia sản như dao, rựa, gậy chọc lỗ v.v Công cụ sản xuất thiếu thốn và thô sơ, đã hạn chế năng suất và tiêu hao nhiều sức lao động của người dân, trong điều kiện địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, càng làm cho cuộc sống vốn rất khó khăn càng túng quẫn hơn

Riêng các loại công cụ trồng lúa nước như cày, bừa, cuốc xẻng, liềm gặt, chỉ có ở nhóm hộ khá và trung bình, do có diện tích lúa nước và ý thức đầu tư thâm canh Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những công cụ lao động rẻ tiền, dễ sử

Trang 7

dụng, không đòi hỏi trình độ tay nghề cao hoặc phải thông qua các lớp đào tạo, huấn luyện

2.3 Tính tự cung tự cấp của kinh tế truyền thống

Trồng trọt nương rẫy truyền thống không tạo ra nguồn dự trữ lớn, trở thành hàng hoá trao đổi mà chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phần nào nhu cầu tín ngưỡng Trong một mùa vụ sản xuất, hai lao động nam nữ Katu có thể đảm đương hết các khâu đoạn, cũng như làm ra những sản phẩm tối thiểu đảm bảo cho cuộc sống

Trên rẫy, cây trồng chủ đạo là lúa nhưng ngô, sắn lại trở thành nguồn lương thực chính nhờ sản lượng nổi trội 5 Do vậy, đồng bào phải dựa vào một số sản phẩm khai thác từ rừng như măng, mây, đót, mật ong, thịt thú rừng v.v Tính chất tự túc thể hiện rõ trong vai trò quan trọng của hoạt động săn bắn, hái lượm, khai thác lâm thổ sản, giải quyết sự bấp bênh, thiếu hụt lương thực, nhất là lúc giáp vụ, mất mùa Điều này được thể hiện rõ trong cơ cấu thu nhập của đồng bào ở xã A Vương

Bảng 6: Cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ

Chỉ tiêu ĐVT Hộ nghèo đói Hộ trung bình khá Hộ

2 Thu nhập lao động/năm 1000 1.912 2.720 3.267

c Từ khai thác, săn

bắn

(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Mai, 2002)

Số liệu bảng 6 cho thấy thu nhập bình quân và nguồn thu chủ yếu của các hộ gia đình ở A Vương Thu nhập chính của các hộ xưa nay vẫn từ trồng

5 Năng suất lương thực bình quân năm 2002 của xã như sau: lúa rẫy 13tạ/ha; sắn 70 tạ/ha; sản lượng lương thực bình quân, lúa 50kg/người, trong khi đó sắn 700kg/người (UBND xã

A Vương, 2002)

Trang 8

trọt, chăn nuôi truyền thống vốn không phát triển và hiện nay cũng không được chú trọng khai thác, nên chiếm tỉ trọng ít Ở các hộ nghèo, nguồn thu chính vẫn từ trồng trọt và một phần khai thác, hái lượm Ở các hộ khá, mức thu nhập cao chủ yếu là từ các nguồn như lương, chính sách, chế độ Điều đó cho thấy, thu nhập từ sản xuất chưa chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của đồng bào, đặc biệt là từ buôn bán, trao đổi

2.4 Phân công lao động mang tính chất tự nhiên

Trong xã hội Katu truyền thống, phân công lao động chỉ đơn thuần mang tính chất tự nhiên trên cơ sở giới tính và tuổi tác Tuy nhiên, đó là sự phân công không triệt để và rõ ràng, phản ánh trình độ phát triển kinh tế nương rẫy của xã hội phụ quyền thời kỳ công xã

Năm 2002, số nhân khẩu của toàn xã là 1506 người, trong đó có 34 người Kinh (8 hộ) và 1472 người Katu (249 hộ)

Bảng 7: Phân bố lao động theo ngành nghề

Chỉ tiêu Hộ Nhân khẩu Số lao động

Công nhân viên chức

(Nguồn: UBND xã Avương, 2003)

Thông tin bảng 7 phản ánh, lao động nông - lâm nghiệp vẫn chiếm khối lượng lớn nhất trong cơ cấu lao động Thương nghiệp vốn không có truyền thống, chủ yếu đều do người Kinh đảm trách Số lao động công chức, chủ yếu là nam giới, nhờ có điều kiện học hành và tham gia các hoạt động xã hội so với nữ giới

Hiện tại, hoạt động sản xuất phân theo giới ở xã A Vương thể hiện rõ nét sự phân công lao động truyền thống Phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động sản xuất của gia đình như canh tác nương rẫy, làm cỏ vườn, chăn nuôi, trồng rau, vào rừng lấy các lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho đời sống hàng ngày v.v Nam giới thường đảm nhiệm các công việc nặng nhọc như khai thác gỗ, cày cuốc, phát, đốt rẫy v.v Tuy nhiên, kể cả những hoạt động được coi là nặng nhọc, vẫn có phụ nữ tham gia, nhất là những hộ thiếu lao động

Trang 9

Bảng 8: Phân công lao động trong hoạt động kinh tế truyền thống

Hoạt động Đối tượng 6 Thời gian

Phát rẫy Nam/nữ 1 tháng (tháng 2, tháng 5)

Dọn rẫy Nam/Nữ 15 ngày (tháng 3, tháng 6)

Trồng trỉa Nam/Nữ 10 ngày (tháng 3, tháng 6)

Chăm sóc rẫy (làm cỏ) Nữ/nam Tháng 4, tháng 7

Thu hoạch Nam/Nữ 1 tháng (tháng 7, tháng 10)

Phơi, đóng thùng Nam 1 tuần

Trỉa bắp, trồng sắn Nữ Tháng 1

Bẻ bắp, nhổ sắn Nữ/nam Tháng 5-6

Lấy nước sinh hoạt Nam/Nữ Hàng ngày

Lấy nấm, măng Nữ Thỉnh thoảng (tháng 6,7)

Kiếm củi, hái rau rừng Nữ/nam Quanh năm

Chặt tre, nứa, gỗ Nam Khi cần sửa chữa nhà cửa

(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra, 2003)

6 Nam: chỉ có nam thực hiện, Nữ: chỉ có nữ thực hiện, Nam/nữ: nam thực hiện chính, Nữ/nam: nữ thực hiện chính, Nam/Nữ: cả 2 cùng làm như nhau

Trang 10

Trong bảng phân công lao động theo tính chất công việc và vai trò của giới trong xã hội, cho thấy lao động nữ có mặt trong mọi hoạt động Ngoài ra, nó còn phản ánh sự phụ thuộc khá lớn của đồng bào vào rừng Hầu hết mọi hoạt động liên quan đến sinh kế đều gắn với rừng, và chiếm số giờ lao động lớn nhất

Mặt khác, do tính chất của sự phân công lao động, nên không có sự chuyển hóa trong lao động Đó là sự lãng phí sức lao động do mỗi cá nhân cùng giới đều làm những công việc như nhau theo nguyên tắc ăn đồng chia đều, nên dù đồng bào làm việc rất vất vả nhưng thực tế, tổng thời gian lao động trong một năm/mùa vụ không lớn, năng suất hiệu quả không cao Những hộ gia đình sử dụng tốt nguồn lao động đã tỏ ra có ưu thế vượt trội trong thu nhập, nâng cao mức sống

Ở xã A Vương, bình quân 6,5 khẩu/hộ, khá cao so với toàn huyện (<5 khẩu/hộ) Xét theo từng nhóm hộ, số nhân khẩu/hộ giảm dần từ nhóm hộ nghèo đói đến nhóm hộ khá Trong khi đó, bình quân lao động lại tăng từ 2,25 lao động/hộ ở nhóm nghèo đói lên 2,75 lao động/hộ ở nhóm hộ khá

Bảng 9: Tình hình nhân khẩu và lao động

Nghèo đói Trung

bình

Khá

Bình quân lao động/hộ Lao

động

(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Mai, 2002)

Tình hình đó cho thấy, số người tham gia vào hoạt động sản xuất không phụ thuộc vào số nhân khẩu của hộ gia đình Ngoài ra, những hộ nhân khẩu ít nhưng bình quân lao động cao, bởi thường có 1 thành viên (chủ yếu là nam giới) tham gia vào công tác chính quyền hoặc dạy học Chính điều này đã tạo

ra nguồn thu ổn định từ lương, trợ cấp nên giải quyết được tính bấp bênh, thời

Ngày đăng: 14/11/2012, 11:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình phân bố diện tích canh tác ruộng và rẫy - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 1 Tình hình phân bố diện tích canh tác ruộng và rẫy (Trang 2)
Bảng 2: Tình hình sử dụng đất đai ở xã A Vương - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 2 Tình hình sử dụng đất đai ở xã A Vương (Trang 3)
Bảng 3: Các giống cây trồng hiện nay - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 3 Các giống cây trồng hiện nay (Trang 4)
Bảng 4: Tình hình đầu tư giống cây trồng - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 4 Tình hình đầu tư giống cây trồng (Trang 5)
Bảng 5: Tỉ lệ trang bị TLSX ở các hộ sản xuất - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 5 Tỉ lệ trang bị TLSX ở các hộ sản xuất (Trang 6)
Bảng 6: Cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 6 Cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ (Trang 7)
Bảng 7: Phân bố lao động theo ngành nghề - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 7 Phân bố lao động theo ngành nghề (Trang 8)
Bảng 8: Phân công lao động trong hoạt động kinh tế truyền thống - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 8 Phân công lao động trong hoạt động kinh tế truyền thống (Trang 9)
Bảng 9: Tình hình nhân khẩu và lao động - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 9 Tình hình nhân khẩu và lao động (Trang 10)
Bảng 10: Các giống vật nuôi hiện nay - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 10 Các giống vật nuôi hiện nay (Trang 11)
Bảng 11: Tình hình đầu tư vật nuôi - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 11 Tình hình đầu tư vật nuôi (Trang 12)
Bảng 13: Tình hình và cơ cấu chi tiêu của các hộ - Kinh tế Katu truyền thống và một số vấn đề đặt ra
Bảng 13 Tình hình và cơ cấu chi tiêu của các hộ (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w