1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phan cự đệ và phê bình mác xít

60 1,1K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phan cự đệ và phê bình mác xít
Tác giả Đinh Thị Dung
Người hướng dẫn ThS. Lê Sử
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 316 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, sự đánh giá của các tác giả khác về Phan Cự Đệ có thể đợc ghi nhận trên các điểm sau: - Một nhà phê bình tiêu biểu có phơng pháp và chung thủy với một phơng pháp đó là phơng

Trang 1

Lời cảm ơn ! Trong thời gian làm khoá luận tốt nghiệp, ngoài sự nổ lực của bản thân tôi còn có sự giúp đỡ rất nhiệt tình của thầy giáo ThS Lê Sử, ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi và cũng có sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trờng Đại học Vinh Tôi xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Đinh Thị Dung Mục lục mở đầu 1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 2

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu ……… 4

4 Phạm vi nghiên cứu ……… 4

Trang 2

5 Phơng pháp nghiên cứu ……… 4

6 Cấu trúc của đề tài ……… 4

Chơng I: Quá trình phổ biến, phát triển và đặc điểm của phơng pháp phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam……… 6

1.1 Quá trình phổ biến, phát triển của phơng pháp phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam ……… 6

1.2 Đặc điểm của phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam ……… 13

1.3 Những đóng góp của phê bình xã hội học mác xít cho phê bình văn học ở Việt Nam ……… 16

1.4 Những hạn chế của phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam ……… 20

1.5 Phan Cự Đệ, ngời có đóng góp tích cực trong việc xây dựng lí luận và phơng pháp phê bình văn học theo khuynh hớng xã hội học mác xít …… 22

Tiểu kết chơng I chơng ii: Sự vận dụng phơng pháp xã hội học mác xít vào phê bình văn học của Phan Cự Đệ……… 34

2.1 Phan Cự Đệ với văn học giai đoạn 1932-1945 ……… 34

2.1.1 Công trình “Phong trào thơ mới lãng mạn (1932-1945)” ……… 34

2.1.2 Với Tự lực văn đoàn ……… 43

2.2 Phan Cự Đệ với văn học hiện thực phê phán ……… 46

2.2.1 Về tiểu thuyết “Số đỏ” Vũ Trọng Phụng ……… 46

2.2.2 Về Nguyễn Công Hoan ……… 48

2.2.3 Về Ngô Tất Tố ……… 52

2.2.4 Về Nguyên Hồng ……… 55

2.2.5 Về Nam Cao ……… 58

2.3 Phan Cự Đệ với văn học cách mạng 1930-1945 ……… 59

2.3.1 Về thơ Tố Hữu ……… 59

2.3.2 Phan Cự Đệ với “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh……… 62

2.3 Phan Cự Đệ với văn học Việt Nam 1945-1975 ……… 64

2.3.1 Về Tô Hoài ……… 65

2.3.2 Về Nguyên Hồng ……… 67

2.3.3 Về Nguyễn Đình Thi ……… 70

2.3.4 Về Nguyễn Khải ……… 72

Tiểu kết chơng II Chơng III: Phong cách phê bình của Phan Cự Đệ……… 76

3.1 Sự chung thủy với phơng pháp phê bình xã hội học mác xít ………… 76

3.2 Nhà phê bình có xu hớng tổng kết ……… 79

3.3 Nhà phê bình chú trọng bao quát t liệu và tìm nhiều dẫn chứng ……… 84

3.4 Thiên về t duy khoa học trong phê bình ……… 87

3.5 Về đặc điểm văn phong Phan Cự Đệ ……… 90

Tiểu kết chơng III

Trang 3

kết luận……… 92

tài liệu tham khảo……… 95

Danh Mục viết tắt

1.1 Phan Cự Đệ là một trong những giáo s đầu ngành trong môi trờng đại học Các công trình của

ông có ảnh hởng lớn đến văn học trong nhà trờng Ông đồng thời còn là một nhà phê bình khá tiêu biểu,

có phơng pháp, có phong cách Ông đã đóng góp nhiều công trình có giá trị cho văn học hiện đại ViệtNam Cho đến nay, ông đã có trên dới 30 công trình nghiên cứu, phê bình mà tiêu biểu nhất là Phong tràothơ mới lãng mạn” và “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” Năm 2006, ông đã ra Tuyển tập gồm 3 tập, tậphợp các bài viết có giá trị Tuyển tập dợc đánh giá cao Có thể nói, sự nghiệp phê bình của Phan Cự Đệgắn liền với phơng pháp xã hội học mác xít Ông là ngời thủy chung tuyệt đối với phơng pháp phê bìnhnày; những thành công và hạn chế trong các công trình của Phan Cự Đệ gắn liền với những mặt tích cực

và hạn chế của phơng pháp xã hội học mác xít Tuy nhiên, đến nay, việc nghiên cứu về những đóng gópcủa Phan Cự Đệ cho phê bình cũng nh sự vận dụng phơng pháp xã hội học mác xít trong các công trìnhphê bình của ông cha đợc quan tâm đúng mức Do đó, Hớng vào nghiên cứu Phan Cự Đệ và phê bình xãhội học mác xít hi vọng sẽ có những khám phá mới

1.2 Những công trình phê bình văn học của Phan Cự Đệ tập trung vào nghiên cứu văn học ViệtNam hiện đại Có thể nói, ông là một nhà phê bình cần mẫn, đã có nhiều đóng góp xuất sắc cho hoạt độngphê bình văn học Tìm hiểu về nhà phê bình Phan Cự Đệ còn giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về văn họcViệtNam hiện đại

Trang 4

1.3 Các công trình của Phan Cự Đệ có ảnh hởng đến dạy học văn trong nhà trờng Đại học và Trunghọc vì một thời gian khá dài phơng pháp xã hội học mác xít ngự trị trong nhà trờng Do đó, tìm hiểu vềnhà phê bình Phan Cự Đệ sẽ góp phần tạo hành trang kiến thức cho ngời giáo viên tơng lai

1.4 Sự nghiệp phê bình văn học của Phan Cự Đệ gắn liền với phơng pháp xã hội học mác xít Vìthế, qua đề tài này chúng tôi sẽ đồng thời hiểu sâu hơn những mặt tích cực, cũng nh hạn chế của một ph-

ơng pháp phê bình ngự trị lâu dài trong đời sống văn học

Chúng tôi cũng hy vọng công trình này sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về phơng pháp và phong cách phêbình của Phan Cự Đệ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn chung, những công trình viết về Phan Cự Đệ còn mỏng và sơ lợc Tuy nhiên, qua thời gian,ngời ta đánh giá đúng hơn về Phan Cự Đệ và gợi nhiều ấn tợng hơn với độc giả, đặc biệt là khi ông raTuyển tập

Cho đến nay, sự đánh giá của các tác giả khác về Phan Cự Đệ có thể đợc ghi nhận trên các điểm sau:

- Một nhà phê bình tiêu biểu có phơng pháp và chung thủy với một phơng pháp đó là phơng phápphê bình mác xít:

Nguyễn Thành trong bài viết “Hành trình phê bình của Phan Cự Đệ”, Vũ Tuấn Anh với bài “Chặng

đờng 50 năm của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ – Những đóng góp về lịch sử văn học” đều đánh giá ông lànhà phê bình có những đóng góp không nhỏ cho phê bình văn học qua 50 năm nghiên cứu văn học Quátrình ấy là quá trình “Bồi bổ nhận thức mới, bổ sung phơng pháp mới để những công trình của ông ngàycàng giàu hàm lợng khoa học” Đỗ Lai Thúy qua bài viết “Phơng pháp phê bình xã hội học” cho rằng, ông

là một trong hai tác giả tiêu biểu nhất của phơng pháp này giai đoạn 1945-1975 Ngòi bút của ông bámchắc vào văn xuôi

Còn Trần Đình Sử trong tuyển tập lại đánh giá cao công lao của ông “là cây bút năng nổ bảo vệ đ ờng lối văn nghệ của Đảng, đấu tranh cho t tởng lệch lạc và khẳng định thành tựu văn học cách mạng”,

-“là một ngời tiên phong vận dụng phơng pháp luận mác xít để mô tả, phân tích, đánh giá theo lập trờngmới một số hiện tợng văn học tiêu biểu nh phong trào thơ mới, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại,…, là ngời

đề xớng và đề ra các yêu cầu của phơng pháp phê bình văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa mà sau này

ông gọi là phê bình mác xít, vận dụng nhuần nhuyễn các phạm trù, các khái niệm nh tính giai cấp, thế giớiquan, lý tởng thẩm mỹ, điển hình, hoàn cảnh, tính cách,…để làm hiện lên bản chất xã hội và đặc sắc nghệthuật của các hiện tợng văn học”

Vũ Tuấn Anh còn khẳng định, ông là ngời kiên trì vận dụng phơng pháp luận mác xít một cách triệt

để

Tuy nhiên,họ lại cha gắn với những bài cụ thể và công trình của chúng tôi sẽ làm điều này

- Nhà phê bình có xu hớng tổng kết

Trang 5

Nhiều nhà phê bình cũng thấy điều này nhng chỉ có Trần Đình Sử là ngời đã gọi đúng phong cáchnày của ông

- Một phong cách “Hàn lâm”, có tầm kiến thức rỗng rãi

Vũ Tuấn Anh cho rằng, nói đến Phan Cự Đệ là nói đến một phong cách “Hàn lâm”, đòi hỏi có tầmkiến thức rỗng rãi Trong công trình của ông các tác giả khác cũng thấy ông có hớng bao quát nhiều t liệu,lấy dẫn chứng rộng Văn phê bình của ông vì thế có một cốt cách riêng

Có thể nói, những đánh giá của các tác giả đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều trong công trình nghiêncứu này, đặc biệt là sự đánh giá của tác giả Trần Đình Sử Mợn tinh thần của Phơng Lựu “Dù sao lý luậnphê bình đã khó, đánh giá về lí luận phê bình càng khó hơn, cho nên quý hồ ai đã làm đợc gì, miễm lànghiêm chỉnh thì cũng không thể bỏ qua giá trị tham khảo”, và kế tục quan điểm của các nhà nghiên cứuphê bình trên, chúng tôi đánh giá phong cách phê bình Phan Cự Đệ trên các điểm sau:

- Sự chung thủy với phơng pháp phê bình mác xít

- Nhà phê bình có xu hớng tổng kết

- Chú trọng bao quát t liệu và tìm nhiều dẫn chứng

- Thiên về t duy khoa học trong phê bình

- Đặc điểm văn phong: Khô khan, trung tính, không nhiều giọng

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này dựa trên tuyển tập của Phan Cự Đệ để đánh giá các điểm sau:

- Giới thiệu quá trình phát triển, đặc điểm của phơng pháp phê bình mác xít

- Đánh giá, ghi nhận đóng góp của Phan Cự Đệ cho lý luận phê bình mác xít

- Nghiên cứu, phân tích phong cách phê bình của Phan Cự Đệ qua các bài phê bình tiêu biểu

4 Phạm vi nghiên cứu:

Do khuôn khổ đề tài, ở chơng hai, chúng tôi chỉ tập trung vào những công trình phê bình tiêu biểucủa Phan Cự Đệ; những công trình vận dụng thành công và có hiệu quả nhất phơng pháp phê bình xã hộihọc mác xít

Trang 6

Chơng II: Sự vận dụng phơng pháp phê bình xã hội học mác xít vào phê bình văn học của Phan Cự

Đệ

Chơng III: Phong cách phê bình của Phan Cự Đệ.

Phần kết luận

Chơng I Quá trình phổ biến, phát triển và đặc điểm của phơng pháp phê bình xã hội học mác xít

ở Việt Nam

1.1 Quá trình phổ biến, phát triển của phơng pháp phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam

Phê bình văn học Việt Nam xuất hiện muộn Nó xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ XX và đặc biệtvào những năm 30 trở đi Liền ngay sau đó, phê bình xã hội học mác xít cũng xuất hiện và đóng một vaitrò hết sức to lớn trong đời sống văn học Phơng pháp phê bình xã hội học mác xít là phơng pháp lấy chủnghĩa Mác – Lê Nin làm cơ sở phơng pháp luận Là “Sự quán triệt phản ánh luận Mác – Lê Nin nhằm

Trang 7

xem xét đối tợng nghiên cứu trong mối quan hệ gắn bó với thực tiễn Là sự đối chiếu cái phản ánh với đợcphản ánh đẻ xem xét giá trị trung thực của ý thức đối với tồn tại” [303, 8].

Phơng pháp này đợc khởi điểm từ Mác và Ăngghen Mác và Ăngghen trong quá trình hoạt độngcách mạng và nghiên cứu của mình luôn chú ý đến vai trò của văn học Hai ông đã có nhiều ý kiến vàphát biểu chỉ đạo, thể hiện quan niệm của mình về văn học và nghệ thuật Tập trung cơ bản những ý kiếnquan niệm ấy là cuốn “Mác và Ăngghen bàn về văn học nghệ thuật” Sau Mác và Ăngghen một số nhà lýluận phê bình nh: P Laphácgơ (Pháp), F Mêring (Đức), V Plêkhanop (Nga)…là những ngời vận dụng vàtruyền bá t tởng của Mác và Ăng Ghen về văn học mà chủ yếu là về phơng diện xã hội học, xem xét mốiquan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, tính giai cấp của văn học…

Trong số những ngời tiếp nối và phát triển t tởng của Mác và Ăngghen, sau các vị kể trên phải kể

đến Lê Nin - Vị lãnh tụ vĩ đại, ông đợc xem là ngời đã kế thừa và phát triển xuất sắc hoàn thiện t tởng củaMác về văn học nghệ thuật Ông đã trên cơ sở hoàn cảnh lịch sử xã hội mới và trên tinh thần “không xem

lý thuyết của Mác là cái gì tuyệt đỉnh và không thể vợt qua đợc, ngợc lại chúng ta khẳng định rằng nó chỉ

đặt viên đá tảng cho khoa học mà những ngời xã hội chủ nghĩa còn phải tiếp tục thúc đẩy tới mọi hớng,nếu họ không muốn lạc hậu với cuộc sống” đã phát triển quan điểm của Mác trên những vấn đề nh tính

Đảng (biểu hiện cao nhất của tính giai cấp), vấn đề phản ánh luận….và đã đa những vấn đề ấy trên mộtmức độ cao hơn

Những t tởng này ngày càng đợc hoàn chỉnh và có ảnh hởng đến nhiều nớc trên thế giới, đặc biệt làcác nớc xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam Phơng pháp này, theo Đỗ Lai Thúy ở trên thế giới đợcgọi là phơng pháp xã hội học và ngay sau khi nó đến Việt Nam đã trở thành phơng pháp phê bình xã hộihọc mác xít, “một nhánh duy lý của nó”

Phơng pháp này, trớc năm 1945 nó đã tồn tại cùng với các phơng pháp khác nh phê bình khoa học

(Vũ Ngọc Phan với “Nhà văn hiện đại”), phê bình ấn tợng (Hoài Thanh với “Thi nhân Việt Nam”), phê bình thi pháp học (Dơng Quảng Hàm với “Việt Nam văn học sử yếu”)…Nó tồn tại gắn liền với các têntuổi nh Hải Triều, Đặng Thai Mai…

Có thể nói, Hải Triều là ngời đầu tiên đặt nền tảng cho sự ra đời của phơng pháp phê bình xã hội họcmác xít Quá trình ra đời của phơng pháp này gắn liền với quá trình truyền bá của chủ nghĩa Mác – Lê

Nin vào Việt Nam của Hải Triều qua các cuộc tranh luận: “Duy vật hay duy tâm” (1933-1939), “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nghệ thuật nhân sinh” (1935-1939) Cho đến thời điểm ấy cuộc tranh luận

“Nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nghệ thuật nhân sinh” vẫn là cuộc tranh luận công khai trên báo có quy

mô lớn nhất với 80 bài viết của hàng chục tác giả và có ý nghĩa sâu rộng Nhìn bề ngoài Thiếu Sơn với bài

“Hai cái quan niệm về văn học” là ngời khởi xớng nhng kỳ thực, Hải Triều mới là ngời khởi xớng Ông đã

gạt ra ngoài cuộc tranh luận hai ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Học, biến quan điểm của Thiếu Sơnthành đối tợng của cuộc tranh luận đa vấn đề sang một địa bàn khác: Nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nghệthuật nhân sinh Tranh luận với Thiếu Sơn, Hải Triều đã đề cao cho một thứ quan niệm vị nhân sinh, xem

Trang 8

đó “mới là nghệ thuật chân chính” Kế đó, nhân phê bình truyện ngắn “Kép t bền”của Nguyễn Công Hoan

ông đã cổ xúy cho trào lu văn nghệ tả thực và sau đó kết tội quan niệm của Thiếu Sơn, cho rằng đây làquan niệm chỉ ở trong “khuôn khổ nhỏ bé”, “cận gần từng cá nhân” Không thể đồng tình với Hải Triều,

Hoài Thanh, đợc xem là chủ soái của phái nghệ thuật vị nghệ thuật đã phản ứng lại bằng bài viết “Văn

ơng là văn chơng” với quan niệm ấy, Hoài Thanh đã đối lập văn chơng với ngời cầm bút, giới hạn văn

ch-ơng chỉ trong việc biểu hiện cái đẹp Và vì vậy, mặc dù đúng nhng quan niệm của Hoài Thanh lúc bấy giờlại thiếu đi t duy xã hội và bị phê phán rất nhiều Hải Triều và các đồng chí cùng tuyến của ông cũngkhông dễ dàng chấp nhận Có thể nói đây là cuộc tranh luận không thể có một cái kết “Có hậu” là mộtbên thắng hay một bên thua mà thực chất đây là cuộc tranh luận nhằm xác lập cho một quan niệm văn họcmới Hải Triều lúc bấy giờ đợc xem nh một nhà lý luận tiên phong, một chiến sỹ công sản năng độngxông xáo trên mặt trân văn hóa, đã phê phán một thứ quan niệm nghệ thuật thoát ly xã hội, chỉ chú ý đếnmục tiêu thẩm mỹ, quay lng lại với đời sống xã hội Ông cũng là ngời đầu tiên cổ vũ cho một thứ vănnghệ đứng về phía nhân dân lao động thực hiện cái mục tiêu xã hội Là ngời đầu tiên đa các khái niệm xãhội học mác xít vận dụng vào văn học Những hoạt động của Hải Triều lúc bấy giờ có tác dụng rất lớn đốivới văn học và cách mạng nớc ta Nó giúp cho mọi ngời hiểu thêm về lý luận Mác - Lê Nin và khả năngcủa lý luận này trên một lĩnh vực mới: Phê bình văn học và đặt nền móng cho sự xuất hiện của nhiều nhàphê bình phát xít về sau Đánh giá vai trò của Hải Triều, Trờng Chinh Viết: “Công lao của đồng chí HảiTriều đáng cho chúng ta ghi nhớ Cố nhiên với trình độ ngày nay, nếu ta xem lại những bài ấy có thể tathấy còn sơ lợc Nhng ở trình độ và hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, trong những cuộc bút chiến

có những bài nh đồng chí Hải Triều là xuất xắc Những bài đó trên một mức độ nhất định đã làm sáng tỏquan điểm giai cấp của Đảng trong văn học nghệ thuật Qua hai cuộc tranh luận ấy, quan điểm của chủnghĩa Mác – Lê Nin đã thắng các quan điểm phản động

Tuy nhiên, đờng hớng mà Hải Triều đã vạch ra trớc đó chỉ thực sự đợc trình bày một cách đầy đủ, hệ

thống vào năm 1944 với tác phẩm “Văn học khái luận”- công trình nền tảng của Đặng Thai Mai Đây là

công trình lý luận văn học đầu tiên trình bày các nguyên lí văn học theo quan điểm mác xít một cách có

hệ thống, có ý nghĩa t tởng và học thuật, nó đi vào những vấn đề bản chất nhất của cơ sở lí luận văn học

nh quan hệ giữa văn nghệ và cuộc sống, hiện thực và sáng tạo, nội dung và hình thức, điển hình và cá tính,vần đề tự do trong văn nghệ, vấn đề tinh thần dân tộc và quốc tế… Có thể nói, qua “Văn học khái luận”,

Đặng Thai Mai đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa nền móng cho lí luận văn học cách mạng trong thời kỳ

hiện đại, ngay trong những năm tháng tình hình văn nghệ phức tạp nhất “Văn học khái luận” đã góp phần

xác định một cái nhìn, một phơng pháp đúng đắn cho lí luận và sáng tạo văn học Cùng với một số nhàmác xít khác, “Đặng Thai Mai là ngời có công đầu trong việc xây dựng đờng lối văn nghệ mác xít”(ĐỗLai Thúy)

Nhìn chung, các nhà lý luận phê bình văn học theo quan điểm mác xít trớc 1945 nh Hải Triều, ĐặngThai Mai…đã có công rất lớn trong việc tiếp thu và truyền bá t tởng, hệ thống luận điểm, khái niệm mới

Trang 9

nhng có nhiều điểm gặp gỡ với trí thức lí luận phê bình truyền thống Việt Nam: coi văn học là vũ khí t ởng, là công cụ phục vụ cho nớc cho dân, văn học phải gắn liền với đời sống, có chức năng giáo dục cảmhóa, góp phần cải tạo xã hội… Dù sao lí luận phê bình văn học theo quan điểm mác xít cũng đã gây đợc

t-ấn tợng mạnh có sức thuyết phục cao, tập hợp đợc một số nhà văn tài năng, có tâm huyết thành một độingũ đủ mạnh làm tròn nhiệm vụ đã giao phó

Cách mạng tháng tám nổ ra và thắng lợi liền ngay sau đó, cuộc kháng chiến chống Pháp-Mĩ đã đavăn học theo một hớng khác Các dòng văn học (lãng mạn, hiện thực, cách mạng) phân hóa và đi vàodòng chung là cách mạng Lí luận phê bình văn học cũng dịch chuyển theo hớng ấy Các khuynh hớngphê bình khác đi vào hoặc bị lu mờ đi sau khuynh hớng phê bình mác xít để cho khuynh hớng mác xít trởthành chủ đạo rồi độc tôn trong vòng 40 năm (1945-1985)

Sau 1945 phơng pháp này gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa nghệ thuật Mở đầu cho sự

lãnh đạo ấy là “Đề cơng văn hóa”(1943) do Trờng Chinh khởi thảo Bản đề cơng khẳng định “Văn hóa

nghệ thuật là một trong ba mặt trận (Kinh tế, chính trị, văn hóa), ở đó, ngời cộng sản hoạt động” Đề cơng

đã vạch ra ba tính chất đồng thời là ba phơng châm vận động văn hóa mới của Việt Nam đó là Dân tộc,Khoa học, Đại chúng có vai trò quyết định đối với đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hóa nghệthuật nói riêng, đặc biệt là thời kì 1945-1954 Tuy sơ lợc nhng đó là bản tuyên ngôn văn hóa mác xít ởViệt Nam đánh dấu quá trình mác xít hóa toàn bộ nền văn hóa Việt Nam biến chủ nghĩa Mác thành t tởng

thống trị của thời đại mới mở đầu cho một thời đại văn hóa mới Sau “Đề cơng văn hóa” là việc thành lập

hội văn hóa cứu quốc (4/1943) Để cụ thể hóa nội dung của “Đề cơng văn hóa”, 9/1944, Trờng Chinh (bútdanh TR.CH) đã viết “Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam lúc này” Tháng7/1948, tại hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2, Trờng Chinh với cơng vị tổng bí th của Đảng đã đọc báo

cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Viêt Nam”, lần đầu tiên trình bày một cách có hệ thống t tởng mác xít và

đờng lối văn hóa của Đảng Cộng Sản Báo cáo đã nêu lên một hệ thống các vấn đề toàn diện từ quan

điểm, lập trờng, phơng pháp sáng tác, việc thâm nhập đời sống và vai trò của quần chúng phê bình Những

t tởng chỉ đạo này có cơ sở và ý nghĩa lịch sử của chúng trong thời điểm ấy

T năm 1956-1958 ở Miền Bắc xảy ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đã thúc đẩy thêm một bớc thắt chặt

sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với văn nghệ

Có thể nói, từ sau cuộc đấu tranh t tởng cuối những năm 50 đầu những năm 60, Đảng ta đã thực sựxác lập quyền lãnh đạo tuyệt đối đối với văn học, gạt bỏ những t tởng khác, hớng văn nghệ sỹ phải sángtạo theo đúng đờng lối chủ trơng của Đảng

Dới sự lãnh đạo của Đảng, hàng loạt các công trình phê bình đã ra đời Đầu tiên có thể kể tới

“Quyền sống của con ngời Việt Nam trong Truyện Kiều” của Hoài Thanh (1949) Từ cuối những năm 50,

đầu những năm 60 với sự hỗ trợ của cơ chế, sự giao lu với khoa học văn hóa Liên Xô, Trung Quốc, phêbình mác xít dần trở thành bộ môn khoa học hoàn chỉnh có khả năng lý giải nhiều phơng diện của văn ch-

ơng Chính vào thời gian này đã ra đời ba công trình trọng điểm có ảnh hởng đến phê bình văn học sau

Trang 10

này là: “Lợc thảo văn học Việt Nam” của nhóm Lê Quý Đôn, “Mấy vấn đề nguyên lý lý luận văn học”

của Nguyễn Lơng Ngọc và bản dịch cuốn “Nguyên lý lý luận văn học” của Timofiep Chúng đợc đa vàogiảng dạy trong nhà trờng Đến những năm 60, 70 với hàng loạt các chuyên luận có giá trị của hàng loạtnhà phê bình nh: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kị, Nam Mộc, Nh Phong, Trần Đình Hợu, NguyễnVăn Hạnh…đã khiến cho khuynh hớng này trở thành dòng chủ lu xuyên suốt thời kỳ chiến tranh cáchmạng (1945-1975)

Sau 1975 đặc biệt là những năm 80 trở đi đất nớc đi vào hòa bình ổn định nhng cũng đặt ra nhiều thửthách mới, vận hội mới Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, chỗ dựa và thành trì của Việt Nam và các nớc xã hộichủ nghĩa đã sụp đổ Nhu cầu đổi mới nh một vấn đề sống còn của dân tộc Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ 6 năm 1986 đã đề ra việc đổi mới toàn diện mà trớc hết là đổi mới t duy cách nghĩ, cách làm Tháng

10 năm 1987, Nguyễn Văn Linh với t cách là Tổng Bí Th đã phát biểu yêu cầu văn nghệ sĩ phải nói thẳng,nói thật, văn nghệ sĩ đợc cởi trói Ngời ta bắt đầu nhìn lại các vấn đề, các hiện tợng văn học nh phong tràoThơ mới, Tự lực văn đoàn…và nhìn nhận những hiện tợng mới nh: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn huyThiệp…Đến giai đoạn này, ngời ta bắt đầu nhận thấy những hạn chế của phê bình mác xít nhất là hoàncảnh chiến tranh các quan niệm của nó đợc tuyệt đối hóa một cách cực đoan khiến cho phê bình văn họccàng có nguy cơ xa rời đặc trng của văn học Vì vậy, trong phê bình văn học, hàng loạt các nhà phê bìnhtâm huyết đã ra sức tìm tòi và tiếp thu những thành tựu mới của phê bình phơng Tây nh: phân tâm họcPhờ rớt, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới…để khắc phục hạn chế của phê bình mácxít, đồng thời cũng cố gắng đổi mới phê bình, thoát khỏi một giai đoạn văn nghệ minh họa Đặc biệt, sựxuất hiện của các tên tuổi nh Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Đỗ Đức Hiểu, Đặng Anh Đào…đã đem đến chophê bình một bộ mặt mới, đã giải quyết tận gốc những hạn chế của phê bình mác xít bằng cách tìm về bảnthể luận, xem xét văn học ở tính văn học của nó, xem nó nh một bộ môn nghệ thuật đặc thù do nhà vănsáng tạo nên, từ đó khái quát, tìm hiểu mô hình thế giới của nhà văn, của thời đại, logic của hình thứcnghệ thuật, tức là căn nguyên của những cách thể hiện này hay cách thể hiện khác Mối quan hệ giữa vănhọc và hiện thực lúc này đợc thực hiện qua khâu trung gian là văn hóa, một quan hệ hợp lí quan tâm tới

đặc trng văn nghệ với bản chất của văn học

Tuy nhiên, nói nh thế không có nghĩa là chúng ta phủ định hoàn toàn quan điểm mác xít về văn học.Trên thực tế, giống nh mọi quan điểm khác về văn học, quan điểm mác xít cũng có những u và nhợc điểmcủa nó Quan niệm của những nhà nghiên cứu lí luận vẫn là xây dựng hệ thống lí luận mới trên cơ sở chủnghĩa Mác Vì vậy trong tơng lai, dù không còn giữ vị trí độc tôn song nó vẫn tồn tại bên cạnh các khuynhhớng phê bình mới xuất hiện và đã xuất hiện từ trớc nhng trong hoàn cảnh chiến tranh nên nó không có

đất sống

1.2 Đặc điểm của phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam

Nh chúng tôi đã nói ở trên, các vị khai sinh ra nó là Mác và Ăng Ghen ít nói về văn học và lại khôngchuyên về văn học Chủ nghĩa Mác khi sang đến Việt Nam ít nhiều bị “Việt Nam hóa” Trong khi ứng

Trang 11

dụng vào phê bình văn học, mỗi nhà phê bình lại có những cách riêng của họ Tuy nhiên, nó cũng cónhững đặc điểm chung sau đây:

Trớc hết, các nhà mác xít đều quan niệm văn học là một hình thức ý thức xã hội đặc thù, là sản phẩmcủa quá trình phản ánh thực tại của nhà văn Tuy nhiên, quá trình phản ánh này không phải kiểu sao chépchụp ảnh mà phải có sáng tạo trên cơ sở phản ánh và phải phản ánh đợc bản chất của đời sống Để thểhiện đợc quy luật của đời sống trong tác phẩm, nhà văn phải xây dựng đợc những điển hình nghệ thuậtthật sinh động Vì vậy, các nhà phê bình chủ trơng để cắt nghĩa, giải thích tác phẩm văn học phải dựa vàohoàn cảnh xã hội đã làm sản sinh ra tác phẩm văn học đó Xã hội đã trở thành một mũi nhọn để tiếp cậntác phẩm văn học Nói nh Plekhanop “Phê bình văn học là tìm cái tơng đơng xã hội học của các hiện tợngvăn học” Từ việc hiểu biết, so sánh các đối tợng cùng loại đợc miêu tả trong tác phẩm với hiện thực ngoàixã hội, nhà phê bình sẽ đánh giá nhà văn đã thể hiện đợc những vấn đề nào của đời sống và vấn đề đó cóbức thiết hay không? Sau đó nhà phê bình sẽ đánh giá giá trị của tác phẩm dựa vào tính chân thực của nộidung phản ánh và cũng vì thế khi phân tích tác phẩm các nhà phê bình trớc hết phải tìm hiểu các nhà văn

có xây dựng đợc những điển hình hay không?

Chẳng hạn theo hớng này ta thấy Nh Phong đã phê bình tiểu thuyết “Mời năm” của Tô Hoài là

xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc phong trào cách mạng quần chúng

Lê Đình Kỵ, một tác giả tiêu biểu cho xu hớng phê bình hiện thực quan niệm nội dung của đời sốngvới nội dung của tác phẩm văn học khác nhau về lợng chứ không phải về chất, đã nhìn nhận đánh giá cácnhân vật trong Truyện Kiều y nh cách ông nhìn nhận, đánh giá con ngời trong thực tế Giữa đời sống và

nghệ thuật dờng nh không có ranh giới Trong “Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều”, ông cho rằng,

Nguyễn Du đã phản ánh chân thực hiện thực xã hội nớc ta những năm cuối thế kỷ XVIII và ông dẫn rahàng loạt những điển hình tiêu biểu sinh động của Truyện Kiều

Các nhà mác xít còn quan niệm văn học phải có tính giai cấp Tính giai cấp là thuộc tính tất yếu củavăn nghệ trong xã hội có giai cấp bởi nhà văn trớc hết là một con ngời trong xã hội, mà đã là một con ngờitrong xã hội tất yếu phải thuộc về một giai cấp, đẳng cấp nhất định không thể là một thành viên siêu giaicấp đợc Mặt khác, họ còn là nhà nghệ sĩ rất nhạy cảm với những vấn đề của cuộc sống, vì vậy, tính giaicấp của họ lại càng sắc bén hơn Cho “Nghệ sỹ là ngọn kiếm đầu tiên của giai cấp”, Gorki đã nhấn mạnh:

“Nhà văn là lỗ tai, là mắt, là tiếng nói của giai cấp” Vì vậy, sáng tác văn học của họ tất yếu in đậm dấu

ấn của cách nhìn, lợi ích của giai cấp, đẳng cấp mà anh ta tồn tại nh một thành viên Vì vậy, nhiệm vụ củanhà phê bình là phải tìm hiểu tiểu sử lý lịch của nhà văn, bản chất xã hội giai cấp của anh ta nhất là anh tathuộc vào giai cấp nào Tuy vậy, cũng có nhiều nhà văn đi ngợc lại với chính những mối thiện cảm giaicấp của mình và những thiên kiến chính trị của mình nh Lep Tonxtoi, Banzac Bởi vậy, khi đi nghiên cứunhà phê bình không thể dừng lại ở những biểu hiện của cá tính và phong thái bên ngoài mà phải xuyênqua, đi sâu vào quan điểm lập trờng của họ

Trang 12

Sự lý giải văn học từ địa vị đẳng cấp của nhà văn có thể thấy rõ trong công trình “ Phong trào Thơ mới 1932 – 1945” của Phan Cự Đệ Ông cắt nghĩa cái buồn, cái tôi cô đơn sự khác biệt phong cách và cả

những yếu tố tích cực và tiến bộ của thơ ca thuộc phong trào ấy từ địa vị đẳng cấp của các thi nhân và bốicảnh xã hội lúc bấy giờ Theo sự lý giải của ông Thơ mới là tiếng nói của t sản và tiểu t sản thành thị Đó

là những tầng lớp, giai cấp có tinh thần yêu nớc, bi quan hoang mang giao động trớc nạn khủng bố trắngphong trào cách mạng, không giám tham gia đấu tranh chính trị chống đế quốc, song vẫn ôm mối hận củatrí thức mất nớc Họ trốn vào cô đơn mộng ảo, vào cái tôi cá nhân t sản và thơ Ngay trong việc phân chiaphong trào Thơ mới thành các giai đọan (1932-1939, 1940-1945) rồi việc khác biệt của các phong cáchthơ và cả điều gọi là “Sự suy đồi” cũng đều đợc cắt nghĩa từ bối cảnh lịch sử xã hội và đặc thù giai cấp nhvậy

Mặt khác, các nhà mác xít cũng quan niệm nội dung là cái thứ nhất, quyết định hình thức, hình thứcthể hiện nội dung và cũng có tính độc lập tơng đối của nó, nó có thể tác động trở lại đối với nội dung thúc

đẩy hoặc làm cản trở nội dung phát triển Giữa hình thức và nội dung luôn xảy ra hiện tợng “Bình cũ, rợumới” (Hình thức cũ mà nội dung mới) “Một lối văn thành thục” bao giờ cũng là sự hài hòa giữa hình thức

và nội dung Nhiệm vụ chính của nhà phê bình, do đó là tìm hiểu nội dung tác phẩm, đồng thời cũng phải

lu ý xem hình thức thể hiện có phù hợp với nội dung không, sự diễn đạt có sinh động, hùng hồn không.Tuy nhiên, các nhà mác xít ít quan tâm đến hình thức Một số ít ngời hớng sự quan tâm đến hình thứcnghệ thuật trong đó có Hà Minh Đức Ông viết giáo trình về thể loại văn học đã dành hẳn một cuốn sách

bề thế “Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại” để nghiên cứu hình thức văn học Ông nghiên cứu hìnhthức trong mối tơng quan với nội dung, lấy nội dung lí giải cho việc lựa chọn và biến đổi của hình thức.Chẳng hạn, khi lí giải thơ ca yêu nớc và cách mạng đầu thế kỷ XX nh thơ ca Đông Kinh nghĩa thục, PhanBội Châu… vì sao lại ít sử dụng thơ ca đờng luật mà hầu hết lại lam theo thơ ca truyền thống, ông chorằng: các nhà thơ ấy lấy thơ ca để tuyên truyền t tởng tiến bộ, để giãi bày lòng yêu nớc, cổ vũ ý thức đoànkết và tinh thần dân tộc Và chính vì ý thức ấy nên họ không thể gò bó trong hình thức chật hẹp của thơ

Đờng mà họ trở về với thơ ca truyền thống và cố gắng vận dụng lối diễn đạt gần gũi, giản dị Hoặc trongviệc đánh giá thơ Tản Đà, ông bắt đầu từ việc xem xét sự mới mẻ trong nội dung thơ ca của ông: “trongtình trạng chung của thơ ca đơng thời đang cằn cội về tính chất bảo thủ và ớc lệ sáo rỗng, Tản Đà đã đem

đến một tiếng nói thơ ca chân thực và tứ thơ phóng túng, nhiều màu vẻ Tình cảm yêu nớc và tấm lòng thathiết với một cuộc đời cao đẹp đã góp phần tạo nên một luồng sinh khí mới” trong thơ ca Tản Đà Để diễn

đạt những tình cảm, cảm hứng mới mẻ, phóng túng, Tản Đà đã thoát khỏi những ràng buộc chật hẹp củathể thơ Đờng luật, tìm về thể thơ và hình thức diễn đạt của thơ ca dân tộc… Nhìn chung, hình thức mà HàMinh Đức nói đền là kiểu hình thức “bên ngoài”, hình thức thể hiện nội dung, bị nội dung quyết định chứkhông phải là kiểu hình thức “bên trong”- hình thức của cái nhìn, hình thức mang tính quan niệm nh Thipháp học sau này nói đến

Trang 13

Có thể nói, phê bình mác xít trong quá trình phát triển của nó, nhìn chung, nó mang những đặc điểm

nh trên Một nhà phê bình mác xít khi xem xét, đánh giá một hiện tợng văn học thờng mang những đặc

điểm ấy Ngoài ra, ngời ta có thể vận dụng một số đặc điểm khác nh là: xem xét, nhìn nhận hiện tợng vănhọc trong sự kế thừa và phát triển để từ đó, các nhà phê bình đánh giá hiện tợng ấy đã kế thừa đợc gì củavăn học cũ và đánh giá đóng góp và hạn chế của hiện tợng văn học ấy

1.3 Những đóng góp của phê bình xã hội học mác xít cho phê bình văn học ở Việt Nam.

Phê bình mác xít phát hiện và giữ vị trí độc tôn trong gần 40 năm (1945-1985) Trong thời gian ấy,

nó đóng một vai trò quan trọng gần nh quyết định đối với sự nghiệp văn học Việt Nam lúc bây giờ Phêbình mác xít nh một vị chủ soái, một vị tớng xông xáo trên mặt trận văn hóa góp phần vào giải phóng đấtnớc, giải phóng dân tộc Việt Nam Sang thời kỳ đổi mới nhiều vấn đề đợc nhìn nhận lại, phê bình văn họcViệt Nam cũng bớc sang một trang mới với sự xuất hiện của nhiều phơng pháp phê bình mới trong đó cóphê bình Thi pháp học Tuy nhiên, phê bình xã hội học vẫn tồn tại và góp một vai trò quan trọng cho sựnghiệp văn học chung của Việt Nam

Đóng góp quan trọng nhất của phơng pháp này là ở giai đoạn 1945-1985 Những đóng góp ý có thểkhái quát trên các phơng diện sau:

Thứ nhất: Xây dựng nền lý luận văn nghệ cách mạng, nghiên cứu, diễn giải đờng lối văn nghệ của

Đảng Đờng lối văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam trớc hết là quan điểm chính trị của Đảng cộng sản

đối với văn nghệ Đòi hỏi cấp bách nhất lúc báy giờ là phải luận chứng về mặt khoa học Tiếp nối cáccông trình đầu tiên của Hải Triều và Đặng Thai Mai, giai đoạn 45-75 chủ yếu là xây dựng lý luận vănnghệ mới Sau cuộc tranh luận Việt Bắc và đặc biệt là qua các cuộc đấu tranh t tởng trong văn nghệ sau

1957, Vụ văn nghệ thuộc ban tuyên giáo Trung ơng Đảng tổ chức cuộc thảo luận về các vấn đề lý luận cơbản nh: vai trò và chức năng của văn nghệ trong giai đoạn cách mạng mới; thể hiện cuộc sống mới, conngời mới; không ngừng nâng cao tính Đảng trong văn nghệ; nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc củanền văn nghệ mới

Năm 1962 đã xuất hiện các tập sách “Không ngừng nâng cao tính Đảng trong văn nghệ”, “Văn

nghệ, vũ khí sắc bén” đã giới thiệu đầy đủ các vấn đề trên Theo định hớng đó, trên lĩnh vực lý luận phê

bình văn học xuất hiện hàng loạt các công trình nh: “Văn nghệ cách mạng và các mạng không ngừng” của Hồng Chơng, Đ “ ờng lối văn nghệ của Đảng, vũ khí trí tuệ - ánh sáng” của Hà Xuân Trờng, “Noi theo đ-

Thứ hai: Phê bình văn học khẳng định thành tựu văn học cách mạng:

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của phê bình văn học dới sự lãnh đạo của Đảng giai đoạn này

là nâng đỡ, bảo vệ và khẳng định thành tựu của văn học cách mạng, văn học vô sản, những sáng tác củacông nông binh Vào những năm trớc 1954, phê bình đã khái quát một cách chân thực bức tranh về tìnhhình thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Pháp Đồng thời khẳng định đợc những thành tựu bớc đầucủa thơ ca kháng chiến theo hớng đại chúng Nhận xét về Giải thởng văn nghệ 1951-1952, Ban chấm giải

Trang 14

khẳng định: “sáng tác thơ, ca dao đã trở thành một phong trào quần chúng rộng lớn, một hiện tợng phấnkhởi trong văn nghệ kháng chiến Công nông binh đã sáng tác rất nhiều thơ ca Những sáng tác của bộ

đội, nông dân, công nhân làm nền tảng cho thơ mới Việt Nam”

Không chỉ tái tạo phong trào quần chúng làm thơ mà các bài phê bình còn dựng lên đợc chân dung

ngời dân kháng chiến trong thơ Đó là những con ngời yêu nớc, lạc quan Từ những bài phê bình “Tiếng thơ” của Xuân Diệu đến “Nói chuyện thơ ca kháng chiến” của Hoài Thanh, thơ ca của bộ đội, chiến sĩ đợc

biểu dơng, đồng thời phê phán những rơi rớt của thơ ca tiêu t sản nh “buồn rớt”, “nhắm rớt”, mộng rớt”.Bớc vào những năm 60, phê bình văn học càng rôm rả, rộn rịp với việc đề cao thơ Tố Hữu, biểu dơngthơ ca, truyên kí của Hồ Chí Minh, các cuộc trao đổi về các tác phẩm viết về hợp tác hóa nông nghiệp nh

“Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm”, phê bình tiểu thuyết “Vỡ bờ”, biểu dơng tác phẩm “Xung đột”…

Cùng với việc khẳng định là phê bình các biểu hiện thiếu tính đảng, lệch lạc trong t tởng của hàng

loạt tác phẩm nh: “Mạch nớc ngầm”, “Con nai đen”, “Những ngời thợ mỏ”, “Đêm không ngủ”…Gắn vớiviệc phê bình và khẳng định trên đầy là việc trao đổi các vấn đề lý luận nh tính Đảng cộng sản, phơngpháp sáng tác, điển hình hóa, cách biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về tính chân thật của vănhọc, về vai trò của thế giới quan và vốn sống…Đây là giai đoạn dài tích lũy đợc nhiều tác phẩm tiêu biểu

nh trên đờng học tập và nghiên cứu của Đặng Thai Mai, phê bình và tiểu luận của Hoài Thanh…

Có thể nói, phê bình văn học cách mạng có nhiệm vụ bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác LêNin trong văn học, chống những t tởng thù địch, những quan điểm đối trọng với cách mạng và chủ nghĩaxã hội Lý luận văn học thời kỳ này đã hoàn thành sứ mệnh chính trị, lịch sử và góp phần khẳng định nềnvăn học mới với những giá trị lịch sử và nghệ thuật mới mẻ

Thứ ba là: Xây dựng nền nghiên cứu học thuật mới:

Bất cứ nền lỳ luận phê bình văn học nào cũng có bình diện học thuật của nó nhằm giải quyết các lýluận cơ bản, tổng kết các kinh nghiện trong lịch sử Về lý luận văn học, có các giáo trình Đại học củaNguyễn Lơng Ngọc, Hà Minh Đức, Lê Bá Hán, Phơng Lựu…trình bày các khái niệm lý luận văn học theoquan điểm mác xít, chủ yếu tiếp thu từ Liên Xô, Trung Quốc các bộ sách văn học sử quy mô lần lợt ra

đời nh “Lợc sử lịch sử văn học Việt Nam” của nhóm Lê Quý Đôn, giáo trình”Lịch sử văn học Việt Nam”

của Đại học S Phạm và Đại học Tổng Hợp, các công trình nghiên cứu văn học dân gian dày dặn nh: ĐinhGia Khánh, Chu Xuân Diên, Vũ Ngọc Phan, Cao Huy Đỉnh…

Các chuyên luận về các tác giả, các trào lu văn học, thể loại văn học, phơng pháp sáng tác, các vấn

đề lí luận văn học, các vấn đề lí luận đợc xây dựng công phu bài bản nh : “Văn chơng cách mạng đầu thế kỷ” của Đăng Thai Mai, “Nam Cao- nhà văn hiện thực xuất sắc”, “Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể

thuyết Việt Nam hiện đại” của Phan Cự Đệ, “Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực”, “Thơ Tố hữu” của Lê

Đình Kỵ Các nhà nghiên cứu phê bình giai đoạn này đã hoàn thiện dần phơng pháp phê bình mác xít Họ

đã chú trọng vận dụng nghiêm túc các nguyên tắc phân tích xã hội, đã khai thác t liệu phơng pháp, chọn

Trang 15

lọc, chỉnh lí hình thành một hệ thống quan niệm văn học và lịch sử văn học Việt Nam vững vàng có tácdụng đặt nền móng cho một nền khoa học hiện đại

1.4 Những hạn chế của phê bình xã hội học mác xít ở Việt Nam

Phê bình XHHMX kể từ khi xuất hiện đã có nhiều đóng góp tích cực, đã đem đến những luồng sinhkhí mới cho phê bình văn học Việt Nam, đặc biệt là phê bình văn học Việt Nam trong hoàn cảnh thờichiến Thế nhng, một khi đợc tuyệt đối hóa thì nó lại có những hạn chế:

- Đã tuyệt đối hóa hiện thực đợc phản ánh, tuyệt đối hóa chủ nghĩa hiện thực Trong phê bình, nóthiên về nghiên cứu cái xã hội đợc phản ánh trong tác phẩm hơn là bản thân tác phẩm và tác giả chỉ đợcnhìn nhận nh một con ngời xã hội hơn là một chủ thể sáng tạo Vì vậy mà nó không thể thấy đợc những

đóng góp của các phơng pháp sáng tác nh chủ nghĩa lạng mạn, tợng trng, huyền hoặc… Phê bình mác xít

là loại phê bình chú trọng phản ánh bằng hình thức của bản thân đời sống nên nó không thích cái gì cótính chất ma quái, huyền hoặc

- Phê bình mác xít chỉ thấy văn nghệ là vũ khí, là công cụ của chính trị, có lúc có ngời đồng nhấtnghệ thuật với chính trị, biến văn nghệ thành tuyên truyền giản đơn, cha thấy hết đợc đặc trng thẩm mĩcủa văn học nghệ thuật và sự tác động trở lại của văn học đối với chính trị và văn hóa nói chung Có thể

lấy quan niệm của Hoài Thanh trong “Nói chuyện thơ kháng chiến” về một câu thơ hay làm ví dụ cho

điều này Ông quan niệm “Một câu thơ hay phải là một lợi khí có thể giúp ta b ớc thêm một bớc trong sự

cố gắng phục vụ, cố gắng tự cải tạo của chúng ta Một phần nào chúng ta kí thác lòng tin, kí thác cả vậnmạng của chúng ta vào đó cho nên thơ thế nào là hay, câu hỏi ấy đồng nghĩa với câu: Hớng đi thế nào là

đúng”

- Do không coi văn học nh một hiện tợng nghệ thuật, một sự kiện thẩm mĩ mà chỉ là “tài liệu” để tìmhiểu cái xã hội mà trong đó nhà văn sống, nên các nhà phê bình khi xem xét, đánh giá tác phẩm thờng chỉchú ý đến cái điển hình, cái phổ biến mà không thấy cái đơn nhất, cha thấy cá tính sáng tạo của nhà văn,

ít thấy phong cách sáng tạo của nhà văn Phê bình mác xít do hớng đến đại chúng nên nó rất dị ứng vớinhững tìm tòi, những sáng tạo về hình thức nghệ thuật với những phong cách riêng của nhà văn Với líthuyết phản ánh, nhất là phản ánh riêng, phong cách riêng nhiều khi là một cản trở, nhiều khi làm méo móhình ảnh hiện thực Bởi vậy, nh có ngời chủ trơng, phong cách tốt nhất là không có phong cách

Đến lợt mình, các hạn chế lại tác động trở lại trói buộc sáng tác, làm cho văn học cách mạng khôngtránh khỏi sự nghèo nàn, sơ lợc Cả một nền văn học chỉ thấy na ná nh nhau, luôn bị lệ thuộc vào hiệnthực và luôn lo lắng, chăm chăm đi tìm hiện thực đời sống trong khi đó nhà văn mới thực là ng ời tạo nênhiện thực - một hiện thực mới khác với hiện thực ngoài đời sống, Nền văn nghệ nh một thứ minh họa.Nguyễn Minh Châu năm 1987 đã rất táo bạo khi viết bài báo “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn vănnghệ minh họa”

Trang 16

Chỗ khiếm khuyết lớn nhất của lý luận phê bình mác xít là ở chỗ cha nhìn nhận, đánh giá đúng mứctính đặc thù của văn học đã bắt đầu từ những ngời đặt nền móng cho nó nh Hải Triều, Đặng Thai Mai…Một mặt, do lí thuyết “nghệ thuật vị nghệ thuật” bám trụ vào tính đặc thù ấy để tránh sự lãnh đạo từ phíachính trị, làm cho khái niệm tính đặc thù trở thành một thứ cấm kị trong nghiên cứu ít bàn tới Chính vìthế thiếu phân biệt đầy đủ chính trị và văn nghệ mà trong văn học, một lĩnh vực dễ dàng trong việc canthiệp hơn lĩnh vực nghệ thuật khác nh âm nhạc chẳng hạn, khuynh hớng minh họa gia tăng, không ít sángtác trở thành khuôn sáo, công thức, đơn điệu Chình vì sự thiếu phân biệt này mà ý thức về tính chủ thể,sáng tạo của văn học kém phát triển.

Một đặc điểm quan trọng về hình thức của lý luận văn học thời gian này là lý luận suy ra từ quanniệm triết học Và một khi thừa nhận hệ thống triết học ấy đúng thì các nguyên lí văn học từ đó cũng phải

đúng Do đó, lý luận nặng về lời khuyên, lời dạy mà ít tính chất đúc kết, có tính thực chứng, ít đ ợc phântích, chứng minh một cách khách quan, hệ thống hoặc đúng hơn là chứng minh bằng các sự thật về mặtvăn học

1.5 Phan Cự Đệ, ngời có đóng góp tích cực trong việc xây dựng lí luận và phơng pháp phê bình văn học theo khuynh hớng xã hội học mác xít

Trải qua một quá trình dài, phơng pháp XHHMX đã thể hiện một góc nhìn khoa học trong hànhtrình khám phá và giải mã tác phẩm văn học và sự kiện văn học, trào l u văn học… Cùng với phơng phápphê bình khác nh phê bình ấn tợng, phê bình phân tâm học, phê bình phong cách học, phê bình thi pháphọc…PB XHHMX đã và sẽ có một vị trí quan trọng trong lịch sử phê bình văn học hiện đại Việt Nam

Xét về những đóng góp cho phơng pháp phê bình mác xít, có thể nói, đóng góp cụ thể về lí luậncũng nh phơng pháp thì chúng ta có thể thấy rất rõ ở những ngời đi tiên phong, chẳng hạn nh Hải Triều,

Đặng Thai Mai; vấn đề không phải là họ đã sáng tạo ra cái gì mới mà có vai trò phổ biến, tổng kết,rút ranhững đặc điểm cơ bản của lí luận mác xít để từ đó giới thiệu cho ngời đọc Việt Nam Những cuốn đó cótác dụng làm cơ sở lí luận để từ đó hình thành phơng pháp PB XHHMX Trong phần trình bày “Những

đặc điểm chính của phơng pháp PB XHHMX”, những đặc điểm này đă đợc phân tích trong hàng loạt cáccông trình theo hớng này, và trong đó Phan Cự Đệ cũng có những đóng góp không nhỏ Những đóng gópcủa Phan Cự Đệ cho lí luận phê bình văn học Việt Nam là kết quả của 50 năm miệt mài trên trang viết.Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ là ngời vận dụng nhuần nhuyễn các phạm trù, các kháiniệm cơ bản của PBMX ví dụ nh: tính giai cấp, thế giới quan, lý tởng thẩm mĩ, phơng pháp sáng tác, điểnhình (trong đó có hoàn cảnh điển hình và tính cách điển hình)… để làm hiện lên bản chất xã hội và đặcsắc nghệ thuật của các hiện tợng văn học Ngoài ra, chúng tôi còn thấy ông sử dụng những khái niệmthuộc về nội dung phản ánh nh tính hiện thực, tính dân tộc, đề tài, chủ đề, vốn sống, nguyên mẫu…

Chẳng hạn, khi phê bình Thơ mới, nh chúng tôi đã nói ở trớc, ông đã dựa vào hoàn cảnh xã hội, tâm

lí giai cấp để kiến giải, cắt nghĩa các hiện tợng trong thơ mới nh cái buồn, cái cô đơn bế tắc, những yếu tốtiến bộ của Thơ mới…

Trang 17

Những đóng góp nổi bật về lý luận và phơng pháp PBMX chính là các công trình nghiên cứu về thểloại văn học của Phan Cự Đệ, trong đó tiêu biểu nhất là thể loại tiểu thuyết Về thể loại tiểu thuyết, ông có

hẳn một công trình khá đồ sộ gồm hai tập mang tên “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại”(1974,1975) Cho

đến nay, đây vẫn là bộ sách công phu nhất về tiểu thuyết hiện đại ở nớc ta Ngoài ra, ông còn một chuyên

khảo “Tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX nhìn từ góc độ thể loại” có giá trị cả về lý luận và thực tiễn

Trong mục này chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu hai vấn đề:

- Thứ nhất, Phan Cự Đệ đã dùng những nguyên lí của PBMX để giải quyết những vấn đề lí luận vềtiểu thuyết nh thế nào?

- Thứ hai, ông đã đề xuất, vận dụng những phơng pháp mác xít nào để nghiên cứu tiểu thuyết?

Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận xét Phan Cự Đệ là một trongnhững ngời tiên phong vận dụng phơng pháp luận mác xít để mô tả, phân tích, đánh giá những vấn đềthuộc về lý luận tiểu thuyết Ông đã dùng lý luận của PB XHHMX để soi vào hàng loạt vấn đề nh : nguồngốc và sự hình thành của tiểu thuyết, đặc trng thẩm mĩ của tiểu thuyết, những cuộc tranh luận xung quanhvấn đề tiểu thuyết; Từ đó rút ra định nghĩa và phân loại nó

Trớc hết, ông xem xét nguồn gốc văn học của tiểu thuyết theo lý luận mác xít, đó là việc ông chotiểu thuyết có nguồn gốc từ những điều kiện xã hội và nguồn gốc văn học Theo ông, tiểu thuyết xuất phát

từ thuật ngữ “Ro man” Thuật ngữ này ban đầu chỉ một cuốn sách viết bằng tiếng Ro man Đến thế kỷ

XV, nó chỉ những tác phẩm tự sự viết bằng tiếng Ro man và đến khoảng thế kỷ XVII-XVIII, “Ro man” đểchỉ một thiên tự sự thần tiên, hoang đờng, cao đạo, trang nhã kể lại những biến cố, những tình huống phithờng, siêu tự nhiên Khoảng cuối XVIII, đặc biệt thế kỷ XIX, “Ro man” hiểu theo đúng nghĩa ngày nay,tức là để chỉ một tác phẩm miểu tả cuộc sống với tất cả tính chất văn xuôi của nó, một chuyện h cấu vềnhững chuyện có tính xác thực của cuộc sống nhân loại Ông còn cho rằng, tiểu thuyết chỉ xuất hiện khi

có phơng thức sinh hoạt t sản, nghĩa là nó chỉ xuất hiện trong xã hội t sản cùng với phát triển sản xuất tbản chủ nghĩa Với Việt Nam, ông cũng cho rằng: Tiểu thuyết Việt Nam (hiểu theo đúng nghĩa ngay nay)chỉ xuất hiện trong thời kì khủng hoảng trầm trọng trong xã hội phong kiến Lịch sử tiểu thuyết gắn kháchặt chẽ với lịch sử của chủ nghĩa hiện thực và ngày càng đi gần đến cuộc sống thực với tất cả những hìnhthái đa dạng và phức tạp của nó

Về đặc trng của thể loại tiểu thuyết, Phan Cự Đệ cũng vận dụng những nguyên tắc cơ bản của lýluận mác xít để kiến giải những vấn đề cơ bản về đặc trng của tiểu thuyết; Mặc dù, trong bài viết củamình, Phan Cự Đệ có nhắc tới nhiều nhà lý luận phê bình mà họ thực chất họ không phải là những ngờitheo khuynh hớng phê bình mác xít nh Bakhtin Nhìn vào hệ thống luận điểm của ông, chúng ta sẽ thấy rõ

điều đó

Ví dụ: ông cho “Tiểu thuyết là một thể loại gần gũi với cuộc sống Đây là đặc trng thẩm mĩ chủ yếucủa tiểu thuyết” Ông thấy trong tiểu thuyết có thể bắt gặp mọi thứ trong cuộc đời nh những vấn đề triếthọc, văn nghệ, chính trị, kinh tế, quân sự, đạo đức… mà nhân loại hàng ngày quan tâm, sự hình thành tính

Trang 18

cách của một con ngời, những nét tinh tế, phức tạp của tâm hồn, tấn bi kịch của một cá nhân…Từ đó,Phan Cự Đệ rút ra đặc trng thứ hai của tiểu thuyết đó chính là “Cuộc sống trong tiểu thuyết bao giờ cũng

là một cuộc sống toàn diện, phong phú và nhiều mặt” Thực chất, những đặc điểm này đợc ông rút ra đều

đang dựa vào một nguyên tắc cơ bản của lý luận mác xít đó chính là “Văn học phản ánh đời sống” Đờisống chính là mảnh đất màu mỡ nuôi dỡng nghệ thuật và đồng thời cũng là chìa khóa để giải thích đợcnhững hiện tợng phức tạp của nghệ thuật

ở đặc trng thứ ba, “Trong tiểu thuyết, các tính cách nhân vật có một sự phát triển “tự thân” nh trongcuộc đời thật”, đặc điểm này có vẻ nh là ông khái quát từ các tiểu thuyết hiện thực bởi theo ông tiểuthuyết hiện thực là những tác phẩm phát triển vào loại sớm nhất của lịch sử tiểu thuyết và nó sẽ có một t-

ơng lai lâu dài nhất so với các dòng tiểu thuyết khác Mà nh chúng tôi thấy thì thuật ngữ “tiểu thuyết hiệnthực ” cũng chính là một thuật ngữ, khái niệm của phê bình mác xít

ở đặc điểm thứ t, ông nói “vì tiểu thuyết là một thể loại văn học gần gũi với cuộc sống nên lịch sửcủa tiểu thuyết gắn liền rất chặt chẽ với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực” Theo ông, tiểu thuyết làmột con dao để giải phẫu chủ nghĩa hiện thực và những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hiện thực (nh thểhiện chính xác những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình, miêu tả những tính cách đadạng nhiều màu vẻ về mặt thẩm mĩ, nguyên tắc tôn trong sự phát triển hợp logic khách quan…) đã đợcthể hiện một cách đầy đủ nhất trong thể loại tiểu thuyết Và nh vậy, những đặc trng nói trên đều khôngthoát ra ngoài phạm vi phản ánh của văn nghệ

Cũng từ nguyên lí phản ánh luận của mác xít và từ đặc trng “Tiểu thuyết gắn liền chặt chẽ với cuộcsống của quần chúng” mà ông cho là đặc trng chủ yếu, ông lại tiếp tục rút ra một đặc trng đấy là tiểuthuyết là một thể loại “Dân chủ nhất của văn học” Theo Phan cự Đệ, nó dân chủ nhất là bởi nó càng gàycàng tỏ ra tiến bộ trong việc biểu hiện quần chúng lao động, những con ngời trớc kia bị xem là tầm thờng,nhỏ bé, trong việc giải quyết vấn đề sống còn hàng ngày của nhân dân trong sự thoát khỏi những quy luật,những nguyên tắc gò bó của mĩ học tiểu chuẩn

Những đặc trng trên đây thực chất là đặc trng thuộc về nội dung của tiểu thuyết, và theo Phan Cự Đệ,

đây là những đặc trng cơ bản nhất quy định các đặc trng khác thuộc về hình thức tiểu thuyết nh tính ‘vănxuôi”, dung lợng lớn, khả năng tổng hợp cao… Tiểu thuyết đợc xem là sử thi văn xuôi vì nó miêu tả mộtcách khách quan cuộc sống hàng ngày Tiểu thuyết là một loại văn học có bản chất tổng hợp, nhiều phongcách và thanh điệu Tiểu thuyết từ bỏ tính một phong cách duy nhất của sử thi, bi kich, hài kịch và trữtình Nó biết tổng hợp vào bản thân mình những đối tợng và biện pháp miêu tả của nhiều loại hình nghệthuật khác nhau Tiểu thuyết có một dung lợng lớn bảo đảm cho nhà văn một khoảng không gian mênhmông hơn nhiều thể loại khác bởi tiểu thuyết có thể mô tả quá trình hình thành và phát triển của nhân vâttrong mối quan hệ phức tạp và toàn vẹn với nhân vật khác trong tính toàn diện của nó

Nhìn vào các công trình viết về tiểu thuyết của Phan Cự Đệ, chúng ta thấy ông rất ít nói về bản chất

của tiểu thuyết Ông chỉ nói về bản chat của nó trong 44/611 trang và 1/15 chơng của cả cuốn “Tiểu

Trang 19

thuyết Việt Nam hiên đại” Tuy nhiên, ông cũng đã rút ra đợc một định nghĩa hoàn chỉnh về tiểu thuyết ở

cả hai mặt: nội dung và hình thức và đó là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Theo ông, tiểu thuyết

là một thể loại văn học có dung lợng lớn và hình thành khá tự do, có khả năng bao gồm một phạm vi phứctạp các hiện tợng trong cuộc sống, liên kết một khối lợng lớn nhân vật với nhiều chủ đề, nhiều tuyến cốttruyện đan chéo vào nhau, quyễn lẫn với nhau Trong tiểu thuyết, các hình thức tổ chức ngôn ngữ đựơc kếthợp xen kẽ nhau: Độc thoại nội tâm và đối thoại của các nhân vật, các loại ngôn ngữ khác nhau của ng ời

kể chuyện, bình luận trữ tình phụ đề của các tác giả, miêu tả tính cách nhân vật, miêu tả thiên nhiên Tiểuthuyết là một hình thức kể chuyện cỡ lớn có khả năng phản ánh cả một thời đại lịch sử nhân loại

Phan Cự Đệ còn đợc xem là chuyên gia về tiểu thuyết hiện đại Ông cũng vận dụng những nguyên lícủa PB XHHMX để nghiên cứu những vấn đề lý luận của tiểu thuyết hiện đại Chẳng hạn, ông cho tiểuthuyết hiện đại là sự thống nhất giữa hai mặt nội dung và hình thức Về nội dung, nó phải phản ánh đợc ttởng tình cảm của những giai cấp, những tầng lớp trong xã hội hiện đại, phải đặt những vấn đề có ý nghĩa

đối với thời đại của chúng ta Tiểu thuyết hiện đại cũng có thể soi rọi ánh sáng vào những thời kì quá khứ

xa xa nhng với quan niệm lịch sử, với cách nhìn và cách đánh giá của con ngời hiện đại Về hình thức, nóphải đợc xây dựng theo một thi pháp mới, với kiểu kết cấu mới, phơng pháp điển hình hóa mới (khác vớitruyện Nôm và tiểu thuyết chơng hồi thế kỷ XVIII va XIX ), lối ngôn ngữ mới (Không phải thứ văn chơngbiền ngẫu đầy điển tích nặng nề) và quan điểm thẩm mỹ mới Trong khi định nghĩa tiểu thuyết hiện đại,

ông còn vận dụng cả những thuật ngữ của PB XHHMX nh phản ánh giai cấp, điển hình hóa, quan điểmthẩm mỹ…

Phan Cự Đệ còn trình bày rất kỹ vấn đề điển hình hóa trong tiểu thuyết hiện đại Có thể nói, vấn đề

điển hình hóa là vấn đề cơ bản của lý luận mác xít bởi nh chúng tôi đã nói, văn học phải thể hiện nhữngquy luật của đời sống xã hội Vì vậy, nhà văn phải đi xây dựng những điển hình văn học và nhiệm vụ củanhà phê bình mác xít là tìm những điển hình ấy trong tác phẩm của các nhà văn Ông vận dụng khái niệmtính cách điển hình trong phân tích tiểu thuyết hiện đại Trớc hết theo ông, nó là một hình thức cao cấpcủa tính cách mà khái niệm tính cách theo ông đó lại là cái bản chất bên trong, cái quy luật bên trong chiphối tất cả những biểu hiện đa dạng phức tạp của con ngời Tính cách điển hình, theo ông nó là những yếu

tố rút ra từ cuộc sống, thông qua sự tởng tợng sáng tạo của nghệ sĩ, đợc đúc kết lại thành một chất lợngmới, một tổng thể mới Tính cách điển hình chỉ phản ánh những nét của con ngời, cuộc đời mà còn chứa

đựng cả những xu hớng về sự phát triển của con ngời ấy, có vai trò tích cực đối với nguyên mẫu của đờisống Thông qua tính cách điển hình mà ngời ta có thể hiểu đợc ít nhiều lý tởng thẩm mỹ của nhà văn.Tính cách điển hình còn mang đậm dấu ấn phong cách và phơng pháp sáng tác của nhà văn

Phan Cự Đệ còn phân loại điển hình trong tiểu thuyết hiện đại Có loại điển hình theo kiểu lãng mạn,

có loại điển hình theo kiểu hiện thực phê phán và cũng có loại điển hình theo kiểu hiện thực XHCN Phan Cự Đệ còn áp dụng các nguyên lý ấy vào trong đời sống văn học, vào trong các cuộc tranh luận

xung quanh những vấn đề về tiểu thuyết Trong vấn đề “những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề tiểu

Trang 20

thuyết”, Phan Cự Đệ đã bằng góc nhìn của nhà PB XHHMX đã trình bày ý kiến của mình Trớc hết, trong

những cuộc tranh luận về tiểu thuyết, những cuộc tranh luận mà ông thờng quan tâm đến những vấn đềnằm trong khuôn khổ của lý luận mác xít nh tính khuynh hớng của tiểu thuyết, điển hình hóa trong tiểuthuyết, vấn đề phát triển trong tiểu thuyết, vấn đề truyền thống và cách tân trong tiểu thuyết…

Phan Cự Đệ còn đánh giá các cuộc tranh luận theo góc nhìn của nhà xã hội học Chẳng hạn, ông

đánh giá Hê Ghen: ”đã thoát ly khỏi miếng đát thực tế và bắt đầu chới với trong cái thế giới t biện hết sức

độc đáo nhng cũng hết sức thần bí của mình Ông đã biến mâu thuẫn trầm trọng của xã hội t sản thành cái

bi kịch vĩnh viện của loài ngời” thì điều đó cũng có nghĩa rằng, theo ông, tiểu thuyết phải gắn liền với

“miếng đất thực tế của lịch sử ” hay nói cách khác là văn học phải phản ánh đời sống lịch sử xã hội HoặcPhan Cự Đệ cũng dùng nguyên tắc phản ánh này và bằng cái nhìn giai cấp để phê phán Gold man khi ông

ta cho có sự chuyển dịch thẳng từ đời sống kinh tế vào đời sống văn học Phan Cự Đệ nêu ra yêu cầu: Cầnphải giải thích sự phát triển của các trào lu và các thể loại văn học bằng cuộc đấu tranh về ý thức của cácgiai cấp trong xã hội, bằng sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức trong thợng tầng kiến trúc,bằng

sự kế thừa và cách tân trong phạm vi một hình thái ý thức, một thể loại… và sự phản ánh của ý thức nhàvăn đối với hiện thực khách quan cũng không phải là một sự phản ánh thụ động, chết cứng Gold man đãdựng lên một thứ lí thuyết về những cấu trúc vật hóa của xã hội t sản, tuyệt đối hóa vai trò của những cấutrúc đó, “ hạ thấp vai trò của con ngời có ý thức và xóa bỏ niềm tin vào cuộc đấu tranh của giai cấp côngnhân và quần chúng cách mạng” Một điều đặc biệt là trong khi tranh luận về tiểu thuyết, Phan Cự Đệluôn dùng tiểu thuyết hiện thực và chủ nghĩa hiện thực làm tiêu chuẩn cho tiểu thuyết Và nhà viết tiểuthuyết cần phải đa vào tác phẩm “cái hơi thở nóng hổi của thời đại, cái nhịp điệu hối hả, căng thẳng của

sự phát triển và thời đại”

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận thấy: Phan Cự Đệ “là ngời đề xớng và ngời đề ra các yêu cầu củaphơng pháp phê bình văn học HTXHCN mà sau này ông gọi là PBMX” Ông là ngời đề ra vấn đề “xâydựng thế giới quan mác xít, rèn luyện vốn sống thực tế và nâng cao trình độ nghề nghiệp” thể hiện trong

phần viết “Lao động của ngời viết” Và theo Phan Cự Đệ, vấn đề rèn luyện thế giới quan mác xít và vốn

sống thực tế là vấn đề “nghề nghiệp” nhất của ngời viết tiểu thuyết Với một thế giới quan mác xít, nhàviết tiểu thuyết phải đặt ra những vấn đề có tính chất bao quát, thâu tóm nhiều chặng đờng khác nhau củacuộc sống trôi chảy không ngừng Nhà viết tiểu thuyết xông xáo vào cái hôm nay, cái thời sự trớc mắt nh-

ng đồng thời lại biết lùi xa, nhìn lại lịch sử và những chặng đờng đi qua để thấy đợc cái bản chất, cái quyluật nằm ẩn dấu sau những hiện tợng dồn dập, đan chéo nhau có khi hỗn loạn ngẫu nhiên Đồng thời nhàvăn phải biết nhìn đón nhận trớc cuộc sống, phát hiện ra các xu hớng vận động về tơng lai của nó Nếukhông có một thế giới quan, một trình độ tổng hợp thì nhà viết tiểu thuyết chẳng khác nào “một tên hề

đồng lóc” chạy đằng sau cuộc sống, chạy theo ghi chép sự kiện lịch sử một cách hời hợt

Phan Cự Đệ còn đề ra vấn đề đi thực tế để có vốn sống, đồng thời phải sống “tha thiết”, phải sốngthành “kỷ niệm”, sống nh “một chiến sỹ” và có quan hệ tình cảm, xúc động Nhà viết tiểu thuyết không

Trang 21

những nắm đờng lối chính trị, cuộc đấu tranh giai cấp, sự nghiệp sản xuất và chiến đấu của quần chúng

mà đồng thời còn hiểu biết sâu sắc về tâm lý con ngời, sinh hoạt, y phục, phong tục tập quán, tôn giáo, tínngỡng của cả một thời kỳ lịch sử Ngời viết tiểu thuyết phải có một lý trí tỉnh táo nhng đồng thời phải cómột trái tim dễ xúc động Không chỉ học tập chủ nghĩa Mac – Lê Nin mà còn phải học tập văn hóa, bồidỡng kiến thức của mình về văn học kỹ thuật, nâng cao trình độ nghề nghiệp của nhà văn…với những yêucầu ấy, Phan Cự Đệ không chỉ định hớng cho viết tiểu thuyết nói riêng, nhà văn nói chung trong công việcviết văn đi đến tơng lai đi đến HTXHCN mà còn định hớng cho công tác phê bình văn học, đặc biệt là PBXHHMX

Từ cái nhìn mác xít, ông xem xét tiểu thuyết từ góc độ loại hình và chia ra các khuynh hớng chínhtrong tiểu thuyết Việt Nam tơng ứng với các loại hình là tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực, tiểuthuyết htXHCN ở đây ta lại thấy có sự gặp gỡ giữa ông với nhà lý luận mác xít khá tên tuổi lúc bấy giờ

đó là Phơng Lựu

Nh chúng tôi có nói ở trớc, đây là một cách chia mà ông dựa vào vấn đề điển hình hóa trong tiểuthuyết hiện đại ở đây, ông nghiên cứu đặc điểm của mỗi loại tiểu thuyết ấy từ những phơng diện lý luậnmác xít đó là nguyên tắc phản ánh và điển hình hóa Từ đó, ông thấy đặc điểm của mỗi loại tiểu thuyết

Đặc điểm của tiểu thuyết lãng mãn đó là: Sự đối lập giữa lý tởng và hiện thực dẫn đến sự tách rời giữa tínhcách và hoàn cảnh làm cho nhân vật lãng mạn xa rời hoàn cảnh và đứng cao hơn hoàn cảnh là đăc trng cơbản của tiểu thuyết lãng mạn; Xây dựng tính cách phi thờng trong hoàn cảnh phi thờng; Nhân vật trongchủ nghĩa lãng mạn không điều hòa với xã hội và xã hội cũng thù địch với nó, từ đó dẫn đến cô dộc và

đau buồn; thờng dùng biện pháp thuật đối lập, phóng đại, lí tởng hóa… để làm nổi bật sự phi thờng; tậptrung miêu tả thế giới quan, thế giới nội tâm, thế giới trữ tình

Nếu nh tiểu thuyết tắc phản ánh của nó là xây dựng tính cách phi thờng trong hoàn cảnh phi thờngthì ở tiểu thuyết hiện thực nguyên tắc cơ bản của nó là xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điểnhình Hoàn cảnh điển hình theo Phan Cự Đệ không phải là sự sao chép một cách tầm th ờng hoàn cảnhtrong cuộc sống mặc dù nó cũng phản ánh bối cảnh lịch sử nhng nó cũng do nhà văn xây dựng nên trên cơ

sở tởng tợng và h cấu và nhờ vậy họ làm cho xung đột giữa các mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt hơn, sựphát triển của hành động trở nên căng thẳng, dồn dập hơn Một nguyên tắc nữa mà ông đặt ra đó là mô tảtính đa dạng, nhiều màu, nhiều vẻ của tính cách Nhà văn hiện thực có nhiệm vụ phải miêu tả tính cáchtrong những bình diện khác nhau, trong những tình thế khác nhau và do đó phát hiện ra thế giới nội tâmphong phú của tính cách Một nguyên tắc quan trọng khác nữa của tiểu thuyết hiện thực đó là miêu tảnhững tính cách không đứng ở trạng thái tĩnh, bất động mà luôn phát triển, biến đổi do sự tác động củamôi trờng và hoàn cảnh Họ có ý thức tôn trọng sự phát triển hợp logic nội tại của nhân vật, tôn trọng sựsống riêng của nhân vật Phan Cự Đệ còn thấy một nguyên tắc nữa đó là không chỉ miêu tả tính cách pháttriển mà còn phải chỉ ra tính cách trong khi biến đổi vẫn giữ lại đợc một số đặc điểm bền vững đầu tiên

Trang 22

của nó Đây chính là một cách nhìn rất biện chứng là sự thống nhất của hai mặt ổn định và phát triểntrong lý luận Mác - Lê Nin.

Đối với tiểu thuyết HTXHCN, theo Phan Cự Đệ, nguyên tắc phản ánh cơ bản đó là mô tả hiện thực

và tính cách con ngời trong quá trình phát triển cách mạng và trong triển vọng tơng lai tốt đẹp Nhân vậttrong tiểu thuyết HTXHCN là những con ngời đang cải tạo hoàn cảnh, cải tạo thế giới, đồng thời cải tạomình Mặt khác, tiểu thuyết HTXHCN phải xây dựng cho đợc tính cách điển hình có tầm khái quát rộngkhông những tiêu biểu cho một giai cấp, một dân tộc mà còn tiêu biểu cả thời đại Trong tiểu thuyếtHTXHCN, hiện thực và lý tởng, tính cách và hoàn cảnh có sự kết hợp nhuần nhuyễn…

Nh vậy, có thể nói, công việc nghiên cứu của Phan Cự Đệ nhìn chung là sâu và rộng Trong nhữngcông trình bàn về tiểu thuyết của ông, chúng ta thấy Phan Cự Đệ không phải lý thuyết suông mà ông dựatrên những t liệu lớn của văn học hiện đại, đặc biệt là văn học Việt Nam Ông đa ra rất nhiều dẫn chứng,bao quát những vấn đề lý luận bằng những dẫn chứng, t liệu ấy và miêu tả kĩ chúng, đánh giá chúng dựatrên các nguyên lý cơ bản của lý luận phê bình mác xít

Có thể khẳng định, Phan Cự Đệ rất nhuần nhuyễn những phạm trù, những nguyên lý của lý luận xãhội học mác xít Sau này, ông đã có hẳn một bài tổng quan về lý luận phê bình mác xít, tổng kết về phơngpháp này trong một bài phỏng vấn trên tuần báo “Văn nghệ” (số ra ngày 19-05-2001) ở đó ông đã giớithiệu những thành tựu của phơng pháp này ở Việt Nam nh có cả một đội ngũ các nhà lý luận phê bìnhmác xít có tên tuổi (Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Trơng Chính) Ông còn góp phần làm sáng tỏ thêm lýluận mác xít qua việc trình bày quan điểm của mình về hiện tợng Nguyễn Bách Khoa-Trơng Tửu Theo

đó, ông cho rằng Nguyễn Bách Khoa-Trơng Tửu là nhà xã hội học dung tục khác hẳn với những nhà phêbình mác xít “chân chính” Ông còn đánh giá phơng pháp này qua việc khu biệt nó với phơng pháp phêbình của Gold man và các nhà cấu trúc luận Theo ông, phơng pháp của họ là cuộc “hôn phối trái phép”dựa chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa Mác - Lê Nin Cuối cùng, Phan Cự Đệ khẳng định, tin t ởng vào tơnglai tốt đẹp của nó Ông cho rằng, nó không hề dị ứng với các ngành ký hiệu học, thi pháp học, loại hìnhhọc, văn học so sánh…mà biết thu nhiều tinh hoa của phơng pháp tiếp cận đó để làm giàu có thêm chophê bình mác xít Theo ông, phơng pháp này phải dựa vào phản ánh luận mác xít, phải đi sâu vào đặc trngthẩm mỹ của phơng pháp sáng tác, các phong cách nghệ thuật, điển hình nghệ thuật, đặc trng thẩm mỹcủa các thể loại…Và theo ông, vận dụng phơng pháp này đồng thời phải tiếp thu những thành tựu của cácphơng pháp mới Đó là con đờng đầy triển vọng của chúng ta

Có thể khẳng định, cho đến thở cuối cùng, những công trình của ông vẫn gắn liền với phơng phápnày

Tóm lại, những đóng góp của Phan Cự Đệ cho lý luận phê bình mác xít đến nay là hết sức to lớn, cótính tổng kết và gợi mở cho nhiều nhà nghiên cứu lý luận phê bình kế tục và phát triển Phan Cự Đệ khôngchỉ vận dụng những nguyên lý của lý luận mác xít để xem xét những vấn đề thuộc về lý thuyết thể loại mà

Trang 23

ông còn góp một phần quan trọng vào công việc bình giá và khẳng định thành tựu của các tác giả, các tácphẩm của nền văn học hiện đại và khẳng định những phong trào, những khuynh hớng văn học cụ thể.

Tiểu kết chơng I

ở chơng I, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu quá trình phát triển, phổ biến và đặc điểm của phơng pháp

phê bình mác xít ở Việt Nam Đồng thời, tìm hiểu đóng góp của Phan Cự Đệ cho lí luận phê bình mác xítnói riêng và phê bình văn học nói chung Những nghiên cứu này là định hớng hết sức quan trong đểchúng tôi tiếp tục tìm hiểu sự vận dụng phơng pháp xã hội học mác xít trong cáccông trình phê bìnhcủaPhan Cự Đệ và phong cách phê bình của ông

chơng ii

Sự vận dụng phơng pháp xã hội học mác xít vào phê bình văn học của Phan Cự Đệ

2.1 Phan Cự Đệ với văn học giai đoạn 1932-1945

2.1.1 Công trình Phong trào thơ mới lãng mạn (1932-1945)“ ”

Nếu trớc đây, Hoài Thanh nghiên cứu Thơ mới theo phơng pháp phê bình ấn tợng thì Phan Cự Đệ lạivận dụng phơng pháp XHHMX để nghiên cứu Thơ mới

Nh chúng tôi đã nói ở các phần trớc, nghiên cứu về Thơ mới, trớc hết Phan Cự Đệ đi tìm bối cảnh xãhội đã ảnh hởng trực tiếp tới các tác phẩm của các nhà Thơ mới Mặt khác, ông cũng lý giải cắt nghĩa cáchiện tợng Thơ mới từ địa vị đẳng cấp của các nhà văn Theo đó ông cho rằng, Thơ mới là tiếng nói củagiai cấp t sản và tiểu t sản thành thị Ông kiến giải nguyên nhân chính làm xuất hiện phong trào Thơ mới

đó chính là sự xuất hiện của hai giai cấp ấy với những t tởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mớicùng với sự giao lu văn hóa Đông Tây Ông còn tìm thấy nguyên nhân chủ nghĩa lãng mạn trong văn họcViệt Nam nói chung và phong trào Thơ mới nói riêng ra đời vào năm 1932 mà không thể sớm hơn từ bốicảnh xã hội của nó, và đó cũng chính là bối cảnh xã hội tồn tại hai giai cấp trên Trong những năm 1930-

1931, đặc biệt sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã diễn ra một cuộc khủng bố trắng ghê gớm cha từng thấycủa thực dân Pháp Trong khi đó, nạn khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) vẫn đe dọa nghiêm trọng

là bao trùm không khí bi quan trong toàn xã hội Những năm đó cũng là những năm có “dịch tự tử” thanhniên Đứng trớc tình hình đó, bọn đế quốc chủ trơng làm xì bớt cái không khí căng thẳng của phong tràochính trị 1930-1931, hớng thanh niên vào con đờng sa ngã, trụy lạc ngày càng xa rời cách mạng; Gây nênphong trào “vui vẻ trẻ trung” nhằm trụy lạc hóa thanh niên Đây chính là không khí xã hội đã đẻ ra Thơ

Trang 24

mới và con đờng văn thơ lúc bấy giờ của một số tiểu t sản trí thức ấy chính là một lối thoát ly trong sạch

để gửi gắm nội niềm tâm sự của họ

Phan Cự Đệ còn dựng lại cuộc đấu tranh giữa Thơ cũ và Thơ mới Mặt khác, khi nghiên cứu Thơmới, trớc kia, Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt nam” đã dựa vào dòng thơ mà phân ra dòng thơ Pháp,dòng thơ Đờng, dòng thơ Việt, thì bây giờ Phan Cự Đệ lại giữa vào trờng phái của nó mà phân Thơ mớithành các khuynh hớng: Lãng mạn (phần lớn các nhà Thơ mới theo khuynh hớng này), Tợng trng, Siêuthực Bên cạnh đó, để nghiên cứu sâu sắc hơn Phong trào thơ mới, ông còn phân loại Thơ mới dựa vào nôidung, vào sự phát triển và phân hóa của Phong trào thơ mới qua các thời kỳ Theo đó, ông chia thành haigiai đoạn phát triển: 1932 – 1939 và 1940 – 1945 ở giai đoạn thứ nhất, ông lại phân ra một ranh giới

“mờ”: 1930-1935 và 1035-1939 Theo ông, những năm 1930-1935, Thơ mới nhìn chung là thuần nhất vàcòn có nhiều yếu tố tiến bộ, tích cực nhất định ở giai đoạn 1936-1939, Thơ mới có sự phân hóa Tuynhiên, sự phân hóa này rất ít mà Thơ mới càng ngày càng đi sâu hơn vào cái “tôi” cá nhân

ở giai đoạn cuối của nó (1940-1945), Thơ mới cũng nh văn học lãng mạn thời bấy giờ sa vào “bế tắccùng quẫn” Những khuynh hớng tiêu cực ngày càng phát triển Đánh dấu cho thời kỳ suy thoái này chính

là tập thơ “Say” của Vũ Hoàng Chơng Theo Phan Cự Đệ, con đờng ngày càng xuống dốc của Phong tràoThơ mới cũng là con đờng của văn học lãng mạn 1930-1045 nói chung

Rõ ràng, cách phân chia theo thời kỳ này của Phan Cự Đệ cũng là dựa vào các mốc lớn của lịch sử xã hội lúc bấy giờ Cách phân chia hai thời kỳ và sự thay đổi của Thơ mới đợc lí giải bằng mốc lịch sửcuối năm 1939 Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dơng, nhân dân ta rênxiết dới hai tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc Nhật-Pháp Ngay cả ranh giới “mờ”mà ông vạch ra ở giai

-đoạn thứ nhất cũng là do điều kiện lịch sử – xã hội thay đổi đó chính là sự xuất hiện của phong trào Mặttrận dân chủ Đông Dơng

Ngoài ra, ông còn tiếp tục nhìn nội dung Thơ mới theo quan niệm mác xít nói chung ”Những quan

điểm của Mác - Ăngghen mà tác giả thâu nhận đợc một cách say mê qua cuốn “Mác - Ăngghen và nhữngvấn đề văn học” của Friedlander cùng với những vấn đề lý luận của chủ nghĩa lãng mãn, chủ nghĩa t ợngtrng đợc chủ động vận dụng đã giúp tác giả có cái nhìn sâu hơn về hiện tợng Thơ mới, đặc biệt là quanniệm mỹ học của Thơ mới nảy sinh trong bối cảnh cụ thể, để từ đó nhận ra những mặt tích cực và tiến bộcũng nh con đờng bế tắc của chủ nghĩa cá nhân trong Thơ mới” (Vũ Tuấn Anh)

Trớc hết, về quan niệm mỹ học của các nhà Thơ mới, ông cho rằng, nó là biểu hiện của quan niệm

“Nghệ thuật vị nghệ thuật” Quan niệm này phủ nhận mối quan hệ giữa văn học và đời sống, tách rời nghệthuật với lao động, với những hoạt động thực tiễn của con ngời biến đổi và cải tạo thế giới Phan Cự Đệcòn cắt nghĩa quan điểm này trong phong trào Thơ mới lãng mãn ở nớc ta bằng địa vị giai cấp của các nhàThơ mới Ông cho rằng, Thơ mới chủ yếu là tiếng nói của tiểu t sản thành thị đã thoát ly đấu tranh chínhtrị, họ không tìm đợc tự do ngoài đời phải lánh vào nghệ thuật va nuôi ảo tởng rằng trong lĩnh vực này họ

có tự do tuyệt đối Chỗ yếu của họ chính là mơ hồ về đấu tranh giai cấp; Một mặt khác, giai cấp tiểu t sản

Trang 25

không có hệ t tởng độc lập nên xa rời cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản, xa rời ảnh hởng của thếgiới quan mác xít thì lập tức họ chịu ảnh hởng của giai cấp tiểu t sản, phát biểu cho những quan điểm

“Nghệ thuật vị nghệ thuật” t sản; Khá đông những nhà Thơ mới lãng mãn ở nớc ta lại lớn lên ở các trờngcủa đế quốc và bị bao vây bởi nền văn hóa t sản Phơng Tây, cho nên, không lấy gì làm khó hiểu khi thấyquan điểm mỹ học của họ có nhiều điểm gần gũi với quan điểm của các nhà văn Tây Âu thế kỷ XIX vàthế kỷ XX Tuy phát biểu cho quan điểm t sản về nghệ thuật, nhng thực chất họ là những ngời tiểu t sảntrong một nớc thuộc địa; Mặc dầu thoát ly phong trào đáu tranh chính trị của quần chúng, nhng họ vẫn cótinh thần dân tộc Phan Cự Đệ nhận thấy: tinh thần dân tộc của những ngời đại biểu cho thuyết này ở nớc

ta thờng chỉ biểu lộ trong phạm vi văn chơng Trong thời kỳ 1932-1945, nó cha bao giờ biến thành hành

động đấu tranh chính trị, đấu tranh cách mạng

Cũng nh các nhà nghiên cứu khác khi nghiên cứu về Thơ mới, Phan Cự Đệ cũng thấy, Thơ mới lãngmạn ra đời mang theo một cái “tôi” cá nhân Lần đầu tiên có một cái tôi cá nhân cá thể hóa trong cáchcảm thụ thế giới và thiên nhiên Sự xuất hiện cái tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới và thiên nhiên

đã tạo nên những bớc ngoặt trong thi pháp và t duy thơ, làm xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc

đáo Đây chính là sự đóng góp lớn nhất của Thơ mới

Cũng ngay từ thời kỳ viết “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã tiên cảm về sự bế tắc của các nhàThơ mới bởi vì chạy đến cùng của cái tôi thì càng gặp h vô, càng ớn lạnh, con ngời rơi vào bi kịch cô đơn

Đến Phan Cự Đệ, với phơng pháp tiếp cận mới, ông cũng nhận thấy sự bế tắc ấy “Từ việc đấu tranh choquyền tự do của chủ thể sáng tạo, cho quyến sống của cá nhân đến việc chạy theo chủ nghĩa cá nhân tiểu

t sản và t sản, đó là một con đờng bế tắc và ngày càng đi xuống” Phan Cự Đệ nghiêng về hớng tìm nghiêncứu các con đờng giải thoát sự bế tắc của các nhà Thơ mới: Trốn vào tình yêu, đi về quá khứ, trốn vào trũylạc (Rợu, thuốc phiện…), tôn giáo, h vô…Trong đó, trốn vào tình yêu là con đờng phổ biến nhất Tìnhyêu trong thơ mới trải qua nhiều chặng bắt đầu với Thế Lữ, Huy Thông với một tình yêu nhìn ngắm; QuaXuân Diệu, Huy Cận đã yêu thật sự, đã thổn thức, đã say đắm thật; và ở cuối chặn là Vũ Hoàng Chơng vớicái vị chua chát của tình yêu xác thịt Trong các con đờng ấy, con đờng theo Phan Cự Đệ nguy hiểm nhất

là trốn vào Trụy Lạc để quên lãng, để tìm về những cảm giác lạ Thơ mới đến thời kỳ này đã đi vào chặng

đờng chót

Cũng từ phơng diện lý luận mác xít về nhân vật lãng mạn trong chủ nghĩa lãng mạn, Phan Cự Đệ đãnhận ra những đặc trng của nhân vật lãng mạn trong Thơ mới Trớc hết, Phan Cự Đệ cũng nhận thấy “đaubuồn và cô đơn là tâm trạng của cái “tôi” cá nhân trong Thơ mới lãng mạn” Đây cũng là sản phẩn của xãhội lúc bây giờ Giai cấp t sản đứng trớc nạn khủng hoảng kinh tế hoang mang, dao động, bi quan

“Không có lối thoát, không thấy tơng lai, chỉ thấy đất trời tối tăm mù mịt , cho nên Thơ mới vừa cất tiếngchào đời đã buồn ngay trong bản chất” Ngoài ra, Phan Cự Đệ còn lí giải cho cái buồn trong Thơ mới cònxuất phát từ cuộc đời của họ trong thời thơ ấu Chẳng hạn nh Phan Cự Đệ chỉ ra cuộc đời của Xuân Diệu

đó là cuộc đời của con một bà vợ bé lấy lẽ một ông đồ nghèo, lên 9 tuổi cha bỏ mẹ, cậu phải ở với bà cả,

Trang 26

thỉnh thoảng trốn nhà qua sông thăm mẹ Cuộc đời của Lu Trọng L cũng là con một bà vợ bé mang tâm sựriêng đêm đêm nghe gà gáy bà hay khóc cuộc đời của Huy Cận đó là nỗi buồn của một con ng ời sinh ratrong ngôi làng sơn cớc, của một con ngời xuất thân trong gia đình phong kiến tàn tạ, có nhiều chuyện bấthòa không vui… “Cái buồn trong cuộc đời thực đã biến thành những dòng lệ trong văn chơng” Tuynhiên cái đau buồn của thực tại xã hội khi đi vào thơ đã biến thành một cái gì rất mơ hồ, lãng mạn Phan

Cự Đệ tuy cắt nghĩa cái buồn từ nhiều phơng diện nhng theo ông, nguyên nhân chủ yếu của nó vẫn là cáinhìn bế tắc, không có lối thoát của tầng lớp tiểu t sản trí thức thành thị đã thoát ly đấu tranh chính trị.Phan Cự Đệ còn đánh giá đặc trng này của nhân vật cô dơn trong tác phẩm văn học lãng mạn của ViệtNam có nét gần gũi với những nhân vật cô đơn trong tác phẩm của văn học lãng mạn Nga( Chateaubriand, Lamartine,…)

Đặt Thơ mới trong bối cảnh xã hội, địa vị giai cấp của nó và dựa trên những lí luận của Mác

-Ăngghen và các nhà mác xít, Phan Cự Đệ đã ghi nhận những đóng góp của Thơ mới về mặt nội dung của

nó Trớc hết, ông đánh giá cao tinh thần dân tộc của các nhà Thơ mới Theo Phan Cự Đệ, thời kỳ đầu, tinhthần dân tộc đó chính là tiếng vọng xa xôi của phong trào 1930-1931 mà chủ yếu là phong trào khởi nghĩaYên Bái Đó là hình ảnh con hổ, khách chinh phu trong thơ Thế Lữ, hình ảnh con voi già của Huy Thông

Từ năm 1940 về sau, tinh thần dân tộc trong Thơ mới lại càng mờ hẳn đi Phan Cự Đệ cũng nhận thấy:tinh thần dân tộc của các nhà Thơ mới yêu nớc có sự gặp gỡ với các nhà thơ cách mạng ở chỗ đó vẫn làlòng khát khao tự do của những ngời dân trong một nớc nô lệ

Cũng nh Hoài Thanh trớc đây đã chỉ ra, Phan Cự Đệ cũng nhận thấy biểu hiện rõ nét cho tinh thầndân tộc ấy là lòng yêu thơng Tiếng Việt Đó là biểu hiện của một tấm lòng yêu nớc, yêu quê hơng Hình

ảnh đất nớc trong Thơ mới là hình ảnh của một nớc Việt Nam thống nhất, đẹp đẽ và đáng yêu

Mặc dù, Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tiểu t sản thành thị đã thoát ly phong trào đấu tranh chínhtrị của quần chúng Tuy nhiên, Phan Cự Đệ còn nhận thấy, ở Thơ mới một thái độ phủ nhận tiêu cực đốivới cái thực tại đen tối của bọn thực dân phong kiến lúc bấy giờ Và ở trong cái đau buồn của Thơ mới,Phan Cự Đệ lại thấy ở đó một lòng yêu cuộc sống Những lúc họ cảm thấy cô đơn, bơ vơ hay đau xót,quằn quại cũng là lúc họ muốn gắn bó với cuộc đời nhiều nhất Huy Cận mang đến cho thơ ca tiếng địchbuồn nhng tỉnh thoảng trong thơ lại thấy phe phẩy một ngọn gió yêu đời Xuân Diệu đã đa đến cho ta mộtlòng ham sống say sa, bồng bột Theo Phan Cự Đệ, giá trị nhân bản của Thơ mới đó chính là các nhà Thơmới biết nhìn xa ra ngoài cái bóng của mình, yêu thơng những con ngời bị chà đạp trong cuộc đời; từ yêu

đời đến “đau đời”, thơng ngời đến thơng mình

Phan Cự Đệ còn đánh giá những đóng góp của Thơ mới trên phơng diện của nghệ thuật Trớc hết,Phan Cự Đệ cho rằng, Thơ mới đợc xây dựng trên cở sở truyền thống thơ ca cũ “Phong trào Thơ mới làmột cuộc đánh giá lại các thể thơ cũ, tiếp thu những cái tốt đẹp của truyền thống cũ” Phan Cự Đệ phântích cụ thể trên các đặc điểm của thể thơ nh Thơ mới bớt gò bó, cứng nhắc mà mềm mại, uyển chuyểnhơn; Cách hiệp vần của Thơ mới phong phú hơn thơ cũ So với thơ cũ, Thơ mới có hai sự thay đổi trong

Trang 27

cách gieo vần: cuối mỗi câu đều gieo vần và hiệp nhiều vần; Trong cách vận dụng nhạc điệu vào diễn tảtình cảm, theo Phan Cự Đệ, đó cũng là nhạc điệu quen thuộc của dân tộc Thơ mới ít nhiều giữ đợc nhạc

điệu của thơ Đờng; ngoài ra, Thơ mới còn vận dụng một lối ngắt nhịp mềm mại, uyển chuyển, linh hoạthơn để diễn tả những tình cảm khác nhau

Ngoài ra, Phan Cự Đệ còn tiếp tục đánh giá những đóng góp của Thơ mới cho thơ ca Việt Nam trênphơng diện ngôn ngữ: Phan Cự Đệ thấy, ngôn ngữ Thơ mới giàu hình tợng và cảm xúc Thơ mới mang

đến một khả năng kết hợp giữa các từ rất mới và có khi rất táo bạo Có những từ tởng nh không đi đợc vớinhau nhng đứng vào trong câu thơ lại khá xứng đôi nh trong câu thơ:

“Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió…”Thơ mới sử dụng nhiều tính từ, nhiều biện pháp tu từ nh so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…

Trong cách diễn đạt, Thơ mới thờng đi sâu vào những tình cảm tế nhị, sâu kín Mặc dầu, Phan Cự Đệ

có đánh giá những thành tựu, cách tân nghệ thuật của Thơ mới, tuy nhiên, theo ông yếu tố quyết định cho

sự thay đổi ấy thuộc về nội dung thơ mới “Nội dung t tởng, tình cảm và những yêu cầu phát huy bản ngãcủa một lớp ngời mới đã làm cho khuôn khổ cũ bị rạn nứt và đa đến những sự thay đổi phù hợp về phơngdiện nghệ thuật thi ca Cái “tôi” xuất hiện trong Thơ mới đã mang đến một cái nhìn, một lối t duy rất kháclạ so với thơ cũ Đó là một cái nhìn cá thể hóa, một cái nhìn khám phá của một thi pháp mới” Và đâycũng chính là một đặc điểm của phơng pháp PBMX

Phan Cự Đệ còn nghiên cứu Thơ mới từ góc độ loại hình Ông cho rằng, Thơ mới thuộc vào loạihình thơ lãng mạn, đó là lãng mạn tiêu cực Ông xuất phát từ những đặc trng của phơng pháp sáng tác này

để xem xét Thơ mới nh: sự tách rời giữa lí tởng và hiện thực là đặc trng chủ yếu, từ đó tạo nên sự tách rờigiữa tính cách và hoàn cảnh; Thờng xây dựng những tính cách phi thờng trong hoàn cảnh đặc biệt, tởng t-ợng, mang những nét ớc lệ; Chủ nghĩa lãng mạn đặc biệt đi sâu vào thế giới chủ quan, thế giới nội tâm;Dùng biện pháp nghệ thuật nh: đối lập, phóng đại, ngoa dụ,…

Phan Cự Đệ còn cắt nghĩa tại sao Phong trào thơ mới lại không thể có một khuynh hớng lãng mạntiến bộ phát triển thành một dòng lãng mạn tiến bộ Theo Phan Cự Đệ, đó là do điều kiện xã hội ra đờichủ nghĩa lãng mạn lúc bấy giờ ở Việt Nam Vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa lãng mạn trongvăn học thế giới đã suy tàn và bị chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa HTXHCN thay thế từ lâu.Cũng lúc này, các trờng phái hiện đại chủ nghĩa đang hoành hành trong văn học Pháp và nhiều nớc Tâu

Âu Các nhà văn lãng mạn Việt Nam còn chịu ảnh hởng của chủ nghĩa lãng mạn cuối mùa của TrungQuốc Mặt khác, ông tiếp tục cắt nghĩa điều đó bằng địa vị giai cấp xuất thân của các nhà Thơ mới Theo

ông, chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam gắn liền vời giai cấp t sản dân tộc trong một nớc thuộc địa nửa phongkiến Bản thân phong trào này gắn liền với giai cấp t sản và tiểu t sản thành thị, gắn liền với ý thức hệ cánhân t sản, do đó, không thể có điều kiện trở thành một khuynh hớng lãng mạn tiến bộ thành một dòng

độc lập mà chỉ có thể có những tác phẩm lãng mạn tiến bộ, những mặt tiến bộ tích cực bên cạnh mặt thoát

ly tiêu cực Măt khác, ở Việt Nam lúc này, những mâu thuẫn giai cấp, những điều kiện xã hội cho phép

Trang 28

chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa HTXHCN hình thành Do đó, nếu có một dòng văn học lãngmạn tiến bộ cũng không thể trở thành khuynh hớng chủ yếu, tiến bộ nhất đợc.

Ông còn cho rằng: Thơ mới đã diễn ra một bớc tổng hợp mới những ảnh hởng của văn học nớc ngoàitrên cơ sở truyền thống văn học và dân tộc

Trớc hết, Phan Cự Đệ cho rằng: Thơ mới chịu ảnh hởng của Thơ Pháp mà cụ thể là chịu ảnh hởngcủa thơ lãng mạn và thơ tợng trng Pháp Nhng điều quan trọng trong khi Phan C Đệ đi tìm ảnh hởng củathơ Pháp tới Thơ mới, nh ông nói, đó là những ảnh hởng về nội dung chứ không phải là ảnh hởng về hìnhthức nghệ thuật Và ở điểm này, Phan Cự Đệ lại thấy “khá nhiều bài thơ Pháp có tác dụng gợi ý chonhững bài thơ Việt” Ông đặc biệt phân tích sự ảnh hởng của thơ tợng trng Pháp đối với các nhà Thơ mới;Những đặc trng của thơ tợng trng Pháp đợc ông thấy rất rõ trong Thơ mới nh dùng trực giác, biểu tợng,

ám thị để thể hiện khám phá thế giới tiên nghiệm, tiềm thức, nêu quan niệm sự tơng giao giữa các loạicảm giác, quan niệm âm nhạc là trớc hết Phan Cự Đệ tìm thấy những điểm gần gũi trong tâm hồn của cácnhà Thơ mới với nhà tợng trng Pháp Đó là tâm trạng của những ngời tiểu t sản bất mạn với thực tế xã hội

đơng thời Họ có cảm tình với cách mạng nhng lúc phong trào cách mạng bị đàn áp thì họ thoát ly đấutranh cách mạng và rơi vào tình trạng buồn bã, hoang mang, bế tắc

Bên cạnh đó, Phan Cự Đệ còn cho rằng, Thơ mới còn chịu ảnh hởng của thi ca Trung Quốc , đặc biệt

là thơ Đờng Phan Cự Đệ cho rằng, những nhà Thơ mới chịu ảnh hởng của thơ Đờng sâu sắc đó là: Lei Ba

và Thái Can; Họ dùng giọng Đờng để diễn tả tâm trạng của ngời thời nay Nhng càng về sau ảnh hởng củathơ Đờng càng nhạt dần Phan Cự Đệ còn phát hiện ra nét gần gũi giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp màcác nhà thơ mới chịu ảnh hởng, đó là nét cô đọng và hàm súc Từ đó, ông cho rằng thơ Đờng cũng có néttợng trng riêng và là sản phẩm tợng trng hay nhất của nhân loại Phan Cự Đệ còn cho rằng, các nhà thơmới đã bắt gặp một cái gì quen thuộc với mình trong những bài thơ trữ tình giàu tình ngời và tình yêuthiên nhiên của các nhà thơ Đờng lãng mạn Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, phong trào Thơ mới tiếp thu

đợc rất ít những mặt tích cực, tiến bộ của thơ ca đời Đờng và đến Vũ Hoàng Chơng thì những ảnh hởngcủa nó nặng về khía cạnh tiêu cực

Hai nguồn ảnh hởng này, theo Phan Cự Đệ, trên thực tế nó hòa quyện vào nhau thậm chí trong mộtbài thơ, trong một tác giả Cũng nh Hoài Thanh trớc kia, Phan Cự Đệ cũng cho rằng, những nguồn ảnh h-ởng của thơ ca nớc ngoài khi đi vào Thơ mới đều đợc Việt hóa Cái bản sắc Việt Nam trong Thơ mới, theoPhan Cự Đệ, vẫn là chủ yếu

Có thể nói, bằng cái nhìn của một nhà phê bình XHHMX, Phan Cự Đệ đã phát hiện ra những đónggóp của Thơ mới cho thơ Việt Nam ở cả hai mặt nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên, nh Đỗ Lai Thúy nói,phơng pháp tiếp cận này sẽ không thể lí giải đợc tại sao Thơ mới cũng nh văn học giai đoạn 1932 – 1945lại phát triển đến đỉnh cao nh vậy, sau 1945 thì không, mà đáng lẽ phải ngợc lại trả lời cho câu hỏi ấyphải chờ một công trình khác với phơng pháp phê bình khác đó là phê bình Thi pháp học

2.1.2 Với Tự lực văn đoàn

Trang 29

Phan Cự Đệ cũng là một chuyên gia về Tự lực văn đoàn Trong công trình nghiên cứu này, Phan Cự

Đệ đánh giá Tự lực văn đoàn trên cả hai phơng diện con ngời và văn chơng, mối quan hệ giữa con ngời vàvăn chơng Trong sự phân tích đó, ông chỉ ra những hoạt động trong cuộc đời của nhà văn, t tởng của nhàvăn sẽ quyết định những sáng tác của họ Ông đánh giá Nhất Linh “sự sa sút về phẩm chất chính trị đãlàm hại sự nghiệp sáng tác của Nhất Linh”

Cũng nh phong trào Thơ mới, Phan Cự Đệ cho rằng: Tự lực văn đoàn là tiếng nói của tầng lớp t sảndân tộc và tiểu t sản thành thị ra đời trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và thoái trào cách mạng nên giàutinh thần dân tộc; Nhng đã thoát ly cuộc đấu tranh chính trị chống đế quốc, do đó, tinh thần dân tộc ấy chỉ

là tinh thần dân tộc cải lơng t sản Mặt khác, Phan Cự Đệ lại tiếp tục đánh gá Tự lực văn đoàn giữa trênnhững thành quả về tiểu thuyết cụ thể là tiểu thuyết lãng mạn mà ông đã tổng kết trớc đó trong “Tiểuthuyết Việt Nam hiện đại”

Theo đó, ông cho rằng: Về mặt phơng diện mĩ học, Tự lực văn đoàn thuộc quan niệm “nghệ thuật vịnghệ thuật” và vào những năm 1939, 1940, Tự lực văn đoàn tiến sát đến chủ nghĩa duy tâm siêu hình, chủnghĩa duy tâm cực đoan Đây là đặc điểm quy định những đặc trng thẩm mĩ cơ bản của chủ nghĩa lãngmạn cũng nh của Tự lực văn đoàn

Mặt khác, Phan Cự Đệ cũng thấy sự phức tạp, nhiều khuynh hớng của Tự lực văn đoàn Nó phát triểnqua nhiều thời kỳ ở thời kì thứ nhất (1932 - 1936), có nhiều tiểu thuyết lãng mạn tiến bộ chống lại lễgiáo phong kiến, chống đại gia đình phong kiến, đấu tranh cho quyền sống của cá nhân B ớc sang thời kìthứ hai (1936 - 1939), những yếu tố tích cực và tiến bộ trên vẫn chiếm u thế, tuy nhiên, nó đã xuất hiệnnhững khuynh hớng khác nh khuynh hớng nghiêng về bình dân với sự đồng cảm chân thành, khuynh hớng

lí tởng hình ảnh ngời chinh phu và trên báo ngày nay đã xuất hiện khuynh hớng cơ hội và cải lơng chủnghĩa ở thời kỳ thứ ba (khoảng cuối năm 1939 và kết thúc khi cuộc kháng chiến chống thực dân Phápbùng nổ), thời kì Tự lực văn đoàn xuống dốc với những tác phẩm với những tác phẩm mang màu sắc hiện

đại chủ nghĩa nh: “Bớm trắng”, “Đẹp”, ”Thanh Đức”,…Những tiểu thuyết của Khái Hng, Nhất Linh giai

đoạn này vợt xa khuôn khổ của chủ nghĩa lãng mạn và bắt đầu rơi vào khuynh hớng suy đồi Chủ nghĩalãng mạn quay lng lại với hiện thực và tìm một lối thoát trong tình yêu, tôn giáo, giang hồ, trong mộng t-ởng…

Từ những đánh giá ấy, ông đi đến khẳng định những đóng góp và hạn chế của Tự lực văn đoàn trongviệc xây dựng nền tiểu thuyết hiện đại

Trớc hết Phan Cự Đệ cho rằng, Tự lực văn đoàn có những đổi mới trong quan niệm xã hội nh: Mốiquan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, Tự lực văn đoàn đề cao con ngời cá nhân Trong phạm trù ý thức hệ tsản, Tự lực văn đoàn đã góp phần nói lên khát vọng dân tộc dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu làcác tầng lớp tiểu t sản trí thức và viên chức thành thị Đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đặc biệt đấutranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của ngời phụ nữ chống lại những ràng buộc khắt khe của lễgiáo phong kiến

Trang 30

Về mặt kết cấu, Tự lực văn đoàn làm cho lối viết kiểu tiểu thuyết chơng hồi dờng nh không còn nữa

và làm cho kết cấu tâm lý trong “Tố tâm” thắng thế So với tiểu thuyết trớc 1930, tiểu thuyết Tự lực văn

đoàn đã đi sâu hơn vào thế giới nội tâm phong phú của con ngời Tuy nhiên, hạn chế của các nhà văn Tựlực văn đoàn là cha đi sâu đợc vào tâm lý xã hội của các giai cấp (nông dân đợc miêu tả vẻ ngây thơ, ngờnghệch, bọn địa chủ tân học thì khoác áo của những nhà cải cách xã hội, những nghệ sĩ giàu lòng vịtha…) Đến khi trong tiểu thuyết của họ xuất hiện những tâm lý chung chung của một nhân tính trừu t-ợng Tự lực văn đoàn mở ra cho tiểu thuyết hớng đi sâu vào tâm lí nhng lại xem nhẹ việc miêu tả hoàncảnh xã hội khách quan

Tự lực văn đoàn làm cho mọi ngời quan tâm hơn đến thiên nhiên Tự lực văn đoàn không rơi vào lốikhuôn sáo ớc lệ kiểu tiểu thuyết cổ điển, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Trọng Thuật,…mà bằng mộtcái nhìn cá thể hóa, khái quát hóa làm cho thiên nhiên đậm tình cảm của cái “tôi” cá nhân của nghệ sĩ

Về mặt ngôn ngữ, Tự lực văn đoàn có công trong việc bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt Tự lựcvăn đoàn đã vơn tới một lối ngôn ngữ trong sáng, tinh tế, giản dị, làm giàu thêm từ ngữ miêu tả tâm lý,tình cảm con ngời Câu văn Tự lực văn đoàn giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh, nềm mại, uyển chuyển, có khảnăng diễn đạt những cảm xúc tinh tế của tâm hồn Tuy nhiên, hạn chế của nó là đến một lúc nào đó ngônngữ ấy sẽ trở thành một thứ ngôn ngữ kiểu cách trong các khách thính, một thứ ngôn ngữ của tầng lớp tríthức thành thị, thiếu cá tính mạnh mẽ, gân guốc, cái phong phú, giàu có của quần chúng Đó là một ngônngữ chạy theo nhạc điệu làm cho câu văn trở nên nghèo nàn, sáo rỗng…

Có thể nói, những đánh giá của ông đều xuất phát từ loại hình và sự đánh giá giá thuộc về mặt lí luậnmác xít Những đánh giá về Tự lực văn đoàn của Phan Cự Đệ đã gợi ra cho văn học nhiều ý kiến hay và sẽ

đợc bổ sung trong tơng lai

2.2 Phan Cự Đệ với văn học hiện thực phê phán

2.2.1 Về tiểu thuyết Số đỏ Vũ Trọng Phụng“ ”

Viết về tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, Phan Cự Đệ cho rằng, Vũ Trọng Phụng muốn làmnổi bật lên tấn bi kịch thực sự của con ngời giữa những sự giả dối buồn cời Những tấn bi kịch ấy đợc đặtvào trong cái xã hội giả dối, lừa bịp, lố lăng với nhiều loại ngời

Phan Cự Đệ xét tiểu thuyết “Số đỏ” từ hai phơng diện nội dung và hình thức

Về nội dung, theo Phan Cự Đệ “Số đỏ” là một tấn hài kịch vạch trần cái thực chất thối nát, giả dối,kệch cỡm của phong trào Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung”mà nhóm ngày nay đề xớng và thực dân Pháp nâng

đỡ Không chỉ thế nó còn phủ lên mọi trò bịp bỡm, mọi kiểu cách “văn minh”, “Âu hóa”, có lúc phủ lênnhân vật chóp bu của chính quyền đơng thời khiến cho cái xã hội thực dân phong kiến “ối a, ba phèng”hóa ra lỗ mạng, kệch cỡm “Số đỏ” đã vạch trần những sự giả dối, buồn cời của mọi chính sách mĩ dân bịpbợm, mọi thủ đoạn xảo trá của bọn thực dân Nhà văn phủ định hầu hết các mặt của xã hội thực dânphong kiến từ chính trị, luật pháp đến tôn giáo, đạo đức, từ nghệ thuật đến y phục, sinh hoạt, lễ nghi,…

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w