1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu điều kiện địa lí địa bàn cư trú và đề xuất giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội của người mã liềng ở hà tĩnh

57 716 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu điều kiện địa lí địa bàn cư trú và đề xuất giải pháp tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh
Tác giả Phạm Thị Tuyết Mai
Trường học Trường Đại Học Vinh
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 238,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh đợc phát hiện vào năm 1960, đã thu hút sự chú ý của toàn xã hội về một dân tộc thiểu số mù chữ, không dùng tiền, thiếu thôngtin, ẩn hiện chốn thâm sơn cùng cốc, t

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

nghiên cứu điều kiện địa lý địa bàn c trú và đề

xuất giải pháp tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của ngời

Mã liềng ở Hà Tĩnh

khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Tuyết Mai

vinh Mục lục

TrangPhần Mở đầu

Trang 2

Chơng 1 Đặc điểm địa lý tự nhiên địa bàn c trú của

Chơng 4 giải pháp tổng thể phát triển KT-Xh của

ngời M Liềngã Liềng

52

4.1.2 Dựa vào các nguồn lực kinh tế- xã hội 534.1.3 Dựa vào chủ trơng, chính sách phát triển kinh tế- xã hội của

4.2 Giải pháp tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 544.2.1 Giải pháp tổng thể phát triển kinh tế 544.2.1.1 Phát triển sản xuất theo mô hình Lâm- Nông kết hợp theo

4.2.2 Giải pháp tổng thể phát triển xã hội 614.2.2.1 Bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá dân tộc 61

Trang 3

Chính sách dân tộc là một trong những nội dung quan trọng của đờng lối

phát triển đất nớc đợc Đảng ta đã xác định ngay từ khi mới thành lập, với phơngchâm là: đoàn kết, bình đẳng và tơng trợ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộcanh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Mã Liềng là một thành phần của hệ dân tộc Chứt (cùng với Sách, Mày,Rục, Arem), có địa bàn c trú hẹp, chỉ có ở Quảng Bình, trên địa bàn hai huyện làTuyên Hoá (ở hai xã Lâm Hoá và Thanh Hoá) và Minh Hoá (ở xã Dân Hoá) vàmột ít ở Hà Tĩnh Trong đó đông nhất là ở huyện Tuyên Hoá, 462 ngời, tính đếntháng 7 năm 2004 và ít nhất là ở Hà Tĩnh, 105 ngời

Ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh đợc phát hiện vào năm 1960, đã thu hút sự chú

ý của toàn xã hội về một dân tộc thiểu số mù chữ, không dùng tiền, thiếu thôngtin, ẩn hiện chốn thâm sơn cùng cốc, tháng ngày kiên trì đến vô t đem rừng vàngquốc gia đổi lấy sắn khoai thờng nhật mà suốt đời vẫn chênh vênh trong nghèo

đói Việc bảo tồn và giúp tộc ngời Mã Liềng hoà nhập cùng cộng đồng là tráchnhiệm không của riêng ai, trớc hết là của chính quyền và các nhà khoa học HàTĩnh Một số chơng trình hỗ trợ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn của Hà Tĩnh,bớc đầu giúp ngời dân Mã Liềng giảm thiểu sự thua thiệt, phần nào bớt chôngchênh trong cơn lốc hội nhập, từng bớc hình thành ý thức tự vơn lên Tuy vây,

đến nay trình độ phát triển kinh tế- xã hội của ngời Mã Liềng vẫn còn thấp kém

về mọi mặt

Là một sinh viên có mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu và góp phần vàoviệc nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc ít ngời ở Hà Tĩnh, chúng tôi chọn

Trang 4

đề tài "Nghiên cứu điều kiện địa lý địa bàn c trú và đề xuất một số giải phápkhai thác tự nhiên để phát triển kinh tế - xã hội của ngời Mã liềng ở Hà Tĩnh”làm nội dung nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu theo quan điểm địa lý học về thực trạng

cuộc sống của đồng bào Mã Liềng ở huyện Hơng Khê tỉnh Hà Tĩnh, đề xuất một

số giải pháp nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tộc ngời này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt đợc mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thểsau:

- Hệ thống hoá các quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc

về vấn đề dân tộc

- Nghiên cứu thực trạng cuộc sống của tộc ngời Mã Liềng

- Đề xuất các giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội của tộc ngời Mã Liềng

4 Quan điểm nghiên cứu

Đề tài vận dụng các quan điểm nghiên cứu sau:

Cấu trúc ngang là các đơn vị lãnh thổ trong phạm vi sinh sống của đồngbào Mã Liềng ở huyện Hơng Khê

Cấu trúc chức năng là cơ cấu tổ chức, phong tục tập quán từng đợc ngờiMã Liềng ở huyện Hơng Khê hình thành và vận hành trong lịch sử phát triển củamình

- Quan điểm phát triển bền vững

Trang 5

Quan điểm phát triển bền vững đợc vận dụng vào việc đánh giá những hình thức khai thác và sử dụng tài nguyên thiên của ngời Mã Liềng trong mối quan hệ của con ngời với tự nhiên, tìm hiểu khả năng hoà nhập của ngời Mã Liềng với tự nhiên trong lịch sử phát triển của mình Qua đó rút ra những nhận xét làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn c trú hiện tại của họ, vừa đảm bảo việc phát triển một nền sản xuất an toàn mà không

ảnh hởng xấu đến tài nguyên môi trờng, làm anhr hởng đến quyền lợi của thế hệ mai sau

- Quan điểm sinh thái môi trờng

Quan điểm sinh thái môi trờng đợc vận dụng vào việc xây dựng các mô hình sản xuất có cơ cấu sinh học không mâu thuẫn với môi trờng rừng tự nhiên từng là nơi sinh sống của ngời Mã Liềng ở huyện Hơng Khê để không làm thay

đổi đột ngột môi trờng, không dẫn đến những hậu quả xấu không lờng trớc

5 Phơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các quan điểm nghiên cứu đã xác định trên, chúng tôi đã sửdụng các phơng pháp nghiên cứu sau:

- Phơng pháp nghiên cứu thực địa

Phơng pháp này đợc vận dụng vào việc nghiên cứu trực tiếp các điều kiện

địa lý tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế - xã hội tại địa bàn sinh sống của ngời Mã Liềng làm cơ sở thực tiễn cho đề tài đồng thời để kiểm chứng các thông tin thu thập từ các nguồn tài liệu, để từ đó đề xuất các giải pháp sát thực với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu

- Phơng pháp thu thập, xử lí tài liệu

Phơng pháp này thực hiện với mục đích thu thập các nguồn t liệu hiện cóliên quan đến tộc ngời Mã Liềng ở huyện Hơng Khê; xử lý các nguồn thông tinthiếu tính thống nhất bằng các phơng pháp đặc thù của địa lý, nh việc đa về một

tỉ lệ thống nhất của các bản đồ; cập nhật hay nội suy, ngoại suy các thông tinthiếu đồng bộ hay khiếm khuyết

6 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là cuộc sống của ngời Mã Liềng và cácgiải pháp giúp ngời Mã Liềng ổn định sản xuất và đời sống trên cơ sở khai thác

và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên hiện có

7 Phạm vi nghiên cứu

Trang 6

- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu

Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào bản Rào Tre ở xãHơng Liên thuộc huyện Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh Đối với bản Giằng 2- xã HơngVĩnh- huyện Hơng Khê, do điều kiện đi lại khó khăn và thời gian hạn hẹp nênviệc nghiên cứu, khảo sát trên địa bàn này còn hạn chế

- Giới hạn nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào:

+ Các đặc điểm chính về địa lý tự nhiên thuộc phạm vi c trú và hoàn cảnh

kinh tế - xã hội từ các nguồn tài liệu thu thập đợc và từ kết quả tìm hiểu thực tếcủa bản thân về những phong tục tập quán đợc phép tìm hiểu của ngời Mã Liềng

ở bản rào Tre- xã Hơng Liên- huyện Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh

+ Các mô hình sản xuất Nông Lâm nghiệp trên cơ sở khai thác sử dụnghợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có Đề tài không đề xuất các giải pháp

về phát triển công nghiệp, dịch vụ theo cơ chế thị trờng, vốn không tơng thíchvới hoàn cảnh cụ thể của ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre hiện nay

8 Những điểm mới của đề tài

- Hệ thống hoá đợc hệ thống các chủ trơng, đờng lối, chính sách đối vớidân tộc ít ngời của chính quyền tỉnh Hà Tĩnh

- Hệ thống hoá đợc các nguồn t liệu về tộc ngời Mã Liềng ở huyện HơngKhê tỉnh Hà Tĩnh

- Nghiên cứu có hệ thống về tộc ngời Mã Liềng ở huyện Hơng Khê tỉnh

- Các loại bản đồ: bản đồ hành chính huyện Hơng Khê; bản đồ quy hoạch

sử dụng đất huyện Hơng Khê

- Các kết quả phỏng vấn, điều tra, nghiên cứu thực địa…

10 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trang 7

Trớc khi phát hiện ra ngời Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt ở Hà Tĩnh, đã cómột số công trình nghiên cứu về dân tộc Chứt ở Việt Nam Theo các tài liệu này,dân tộc Chứt ở Việt Nam gồm 5 nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng, phân

bố ở hai huyện Minh Hoá và Tuyên Hoá thuộc tỉnh Quảng Bình

Năm 1960, với việc phát hiện ra một nhóm ngời Chứt ở vùng cửa Ba- bảnQuạt thuộc huyện Hơng Khê- Hà Tĩnh (giáp ranh với tỉnh Quảng Bình), sự tồntại của dân tộc này ở Hà Tĩnh mới đợc biết đến và đã thu hút sự quan tâm của rấtnhiều nhà nghiên cứu và công chúng Có nhiều bài viết đợc phát hành trên cácphơng tiện thông tin đại chúng của TW và địa phơng, và một số công trìnhnghiên cứu về dân tộc Chứt Đáng chú ý là:

1 Ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre của Võ Văn Tuyển, Tạp chí văn hoá Hà Tĩnh

số 14 năm 1995

2 Ngời Chứt dới chân núi Giăng Màn của Thái Văn Sinh, Tạp chí Hà Tĩnh

-Ngời làm báo, số Xuân Canh Thìn 2000)

3 Ngời Chứt muốn trở thành những nông dân giỏi” của Lam Hạnh, báo Pháp luật số 198/1728 ngày 19/8/2000.

6 Xuân về trên bản Rào Tre của Xuân Thiều, báo Hà Tĩnh cuối tuần số 4537,

ngày 9/2/2003

7 Phát triển kinh tế- xã hội ngời Mã Liềng ở huyện Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh Dự

án của Ban Miền núi Di dân và Phát triển vùng kinh tế mới, UBND tỉnh Hà Tĩnh2003

8 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá tộc ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh Đề tài

của Th.s Nguyễn Trí Sơn, năm 2002

Những công trình nghiên cứu và các bài viết trên là nguồn tài liệu thamkhảo quan trọng cho việc nghiên cứu về ngời Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt ở HàTĩnh về các mặt: nguồn gốc, ngôn ngữ, đặc trng văn hoá, đặc điểm phát triểnkinh tế- xã hội giúp chúng tôi xây dựng cơ sở lí luận vận dụng vào nghiên cứuthực trạng phát triển kinh tế- xã hội của tộc ngời Mã Liềng, từ đó đề xuất một sốgiải pháp phát triển sản xuất đối với ngời Mã Liềng thuộc phạm vi nghiên cứu

11 Bố cục đề tài

Đề tài gồm 3 phần, 4 chơng, trong đó có 3 bản đồ, 2 biểu đồ, 4 ảnh tàiliệu tham khảo, 2 phụ lục, tổng cộng 72 trang đánh máy trên giấy A4, cỡ chữ14

Trang 8

Chơng 1

Đặc điểm địa lý tự nhiên địa bàn c trú

của ngời Mã Liềng ở hà Tĩnh 1.1 Vị trí địa lí

Tộc ngời Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt ở tỉnh Hà Tĩnh phân bố tại bảnRào Tre thuộc xã Hơng Liên- huyện Hơng Khê

Toạ độ địa lí: bản Rào Tre nằm trong khoảng từ 180 02’19” đến

- Tây: giáp xã Hơng Lâm huyện- Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh

Bản Rào Tre là một bản miền núi nằm về phía Tây Nam của xã H ơngLiên- một trong những xã nghèo nhất của huyện Hơng Khê- Tỉnh Hà Tĩnh XãHơng Liên là một xã nghèo, có tiềm năng lớn về đất, rừng nhng chủ yếu cha đợckhai thác Dân c phân bố tha thớt Đại bộ phận sống tập trung ở vùng thung lũngsông Ngàn Sâu Tiếp giáp với những khu vực có trình độ kinh tế- xã hội kémphát triển, trong điều kiện giao thông nội vùng và giao thông liên vùng cha pháttriển, vị trí nh trên gây cho đồng bào Mã Liềng ở bản Rào Tre gặp nhiều trở ngạilớn trong việc giao lu kinh tế- xã hội với ngời Kinh

Bao bọc về phía Nam và Tây Nam của bản là khu vực rừng sản xuất vàrừng phòng hộ với diện tích lớn Đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với

Trang 9

đời sống đồng bào Vấn đề bảo vệ môi trờng vùng biên giới có ý nghĩa đặc biệtquan trọng

Bản Rào Tre nằm gần với huyện Tuyên Hoá- tỉnh Quảng Bình, là nơi cónhững tộc ngời khác thuộc dân tộc Chứt sinh sống Vị trí tiếp giáp với Quảng Bình

có ý nghĩa lớn trong việc hình thành và phát triển tộc ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh

Địa bàn phân bố dân tộc Mã Liềng ở Hà Tĩnh có ý nghĩa quan trọng vềmặt chính trị xã hội Vùng biên giới phía Tây của huyện Hơng Khê là địa bànhoạt động của một số phần tử chống phá chính quyền cách mạng Việt Nam vàLào Với trình độ dân trí còn thấp, đặc điểm quần c mang tính chất khép kín, tộcngời Mã Liềng dễ bị các thế lực phản động lôi kéo vào các hoạt động manh

động chống phá chính quyền

Mặc dù vị trí địa lí không thật thuận lợi cho việc phát triển kinh tế- xã hội,nhng với ý nghĩa quan trọng về mặt an ninh quốc phòng, việc đầu t phát triểnkinh tế- xã hội của ngời Mã Liềng là một nội dung quan trọng trong chiến lợcphát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng của tỉnh Hà Tĩnh nóiriêng và của cả nớc nói chung

1.2 Địa hình

Ngời Mã Liềng phân bố trên vùng núi thấp phía Tây Nam của huyện

H-ơng Khê ở độ cao trung bình 150- 200 m Địa hình thấp dần theo h ớng TâyNam- Đông Bắc Ngoài địa hình đồi, núi thấp là chủ yếu, ở đây còn địa hình

đồng bằng tơng đối bằng phẳng, nằm trong thung lũng sông Tiêm- một nhánhcủa sông Ngàn Sâu (độ cao trung bình 145 m) Tại địa bàn này diễn ra các hoạt

động sinh sống và sản xuất chủ yếu của ngời Mã Liềng

Đặc điểm địa hình phù hợp để phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp,cây dợc liệu và chăn nuôi đại gia súc Ngoài ra, có thể khai thác vùng đồng bằngtrớc núi để trồng lúa và hoa màu Tuy nhiên, do mức độ chia cắt địa hình khálớn nên gây nhiều trở ngại cho việc khai thác, sử dụng quỹ đất

1.3 Khí hậu

Khu vực tỉnh Hà Tĩnh nói chung và vùng đồng bào Mã Liềng c trú nóiriêng nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với đặc trng của khí hậumiền Bắc có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 24oC Biên độ nhiệtnăm tơng đối lớn Nhiệt độ trung bình mùa hạ là 28- 30oC, cực đại tuyệt đối lên

đến 40oC (do ảnh hởng của gió Lào) Nhiệt độ trung bình mùa đông là 15-18oC,cực tiểu tuyệt đối là 10oC Lợng ma trung bình năm từ 2.000- 2.500mm Mùa

Trang 10

ma kéo dài từ tháng 8 năm trớc đến tháng 1 năm sau, tháng ma cực đại là tháng

10 Mùa khô trùng vào mùa thu đông (từ tháng 2 đến tháng 7) Nguồn nhiệt ẩmdồi dào tạo điều kiện cho cây trồng phát triển Đặc điểm khí hậu cho phép trồngcác cây có biên độ sinh thái rộng và chăn nuôi gia súc lớn, đặc biệt là trâu

1.4 Thuỷ văn

Địa bàn c trú của ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh có mạng lới sông suối phân

bố khá dày đặc Đối với đồng bào Mã Liềng, con sông có ý nghĩa quan trọng

nhất là sông Tiêm (một nhánh của sông Ngàn Sâu) Sông Tiêm cung cấp nớc chosinh hoạt và sản xuất của đồng bào Mã Liềng Đồng bằng thung lũng thành tạocủa sông Tiêm tuy có diện tích nhỏ, hàm lợng phù sa thấp, nhng là địa bàn trồnglúa nớc và hoa màu chủ yếu của đồng bào ở đây Ngoài ra, sông suối có vai tròquan trọng trong việc điều hoà khí hậu của bản Rào Tre

Trên địa bàn của ngời Mã Liềng còn có các con suối lớn nhỏ Con đờng từthị trấn Hơng Khê đến bản Rào Tre phải qua 4 con suối, trong đó con suối lớnnhất là Rào Tre

Sông suối có thuỷ chế theo mùa Về mùa cạn, lu lợng nớc giảm, một sốdòng sông bị khô cạn, thuận lợi cho việc đi lại nhng gây khó khăn cho sản xuất

do thiếu nớc Về mùa lũ, lu lợng nớc rất lớn gây khó khăn cho giao thông và sảnxuất Đặc biệt trong tình trạng hiện nay, diện tích rừng đầu nguồn bị giảm sútnghiêm trọng sẽ làm gia tăng cờng độ lũ, gây những thiệt hại to lớn đền đờisống, sản xuất và môi trờng

1.5 Đất trồng

Thuộc địa bàn nghiên cứu có nhiều loại đất khác nhau Trong đó có 2nhóm đất chính là:

- Đất mùn đỏ vàng trên núi: loại này chiếm diện tích lớn nhất Đất có

đặc điểm: hàm lợng mùn khá cao, thờng trên 5% ở tầng mặt, sau đó giảm nhanh

ở tầng dới, màu đất chuyển dần từ vàng sang đỏ Phần lớn nhóm đất này phân bố

ở địa hình có độ dốc trên 25o. Loại đất này chỉ thích hợp cho phát triển lâmnghiệp và một số cây công nghiệp dài ngày

- Đất thung lũng (đất dốc tụ): đợc tạo thành bởi trầm tích tại chỗ của

phù sa sông Tiêm Các thung lũng kéo dài và tơng đối bằng phẳng, mỗi thunglũng rộng 5-10 ha, có thể trồng lúa và hoa màu Tuy vậy, do chất lợng đất thấp,diện tích nhỏ hẹp, manh mún, nên đòi hỏi phải đầu t lớn để cải tạo thì mới đavào sử dụng đợc ở bản Rào Tre, với sự giúp đỡ của bộ đội, đồng bào đã tiến

Trang 11

hành cải tạo đất và đa đợc 12,5 ha đất vào canh tác, trong đó có 3 ha đất trồnglúa nớc và trồng màu.

Cơ cấu sử dụng đất: bao gồm các loại đất

- Đất lâm nghiệp: chiếm trên 90%

- Đất nông nghiệp, bao gồm: đất trồng lúa và cây hàng năm; đất trồng lúa

và hoa màu; đất nơng rẫy; đất vờn

Vùng miền núi phía Tây của huyện Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh có độ chephủ rừng khá lớn Đây là một kho tài nguyên giàu có Các hệ động thực vậtphong phú và đa dạng về số lợng và chủng loại Về lâm thổ sản có nhiều gỗ quý

nh : lim, táu, gõ, dổi, chõ, vàng tâm các loại tre nứa, song mây, dót, lá nón vànhiều loại dợc liệu có giá trị nh : sa nhân, hà thủ ô, ngũ gia bì, sâm Các loại hoaquả, nấm, măng là nguồn thực phẩm phong phú hỗ trợ cho cuộc sống thờngnhật của đồng bào Mã Liềng Núi rừng ở đây còn là nơi sinh sống của nhiều loạithú quý nh: hổ, hơu, nai, khỉ, Mật ong là đặc sản có rất nhiều ở đây Tàinguyên rừng là nguồn sống chủ yếu của đồng bào Mã Liềng Tuy nhiên, hiệnnay, diện tích rừng cũng nh nguồn lợi rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng, làkết quả của việc khai thác rừng bừa bãi trong thời gian dài Phần lớn cảnh quanrừng nguyên sinh đã biến mất, thay thế vào đó là cảnh quan rừng thứ sinh

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho phép đồngbào Mã Liềng phát triển sản xuất lâm nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi gia súc lớn(trâu, bò) Do đặc điểm địa hình dốc, dễ xói mòn nên việc lựa chọn cơ cấu câytrồng, vật nuôi cũng nh khai thác rừng cần chú ý đến việc bảo vệ môi trờng, giữvững cân bằng sinh thái Việc khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyênthiên nhiên để phát triển kinh tế- xã hội của đồng bào Mã Liềng đòi hỏi phải cócác chính sách đồng bộ, dài hạn và sự phối hợp của các cấp, các ngành

Trang 12

Chơng 2

Đặc điểm Địa lý nhân văn của ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh

2.1 Vấn đề dân tộc

2.2.1 Vấn đề xác định tộc danh

Vấn đề xác định tộc danh của ngời Mã Liềng ở Hà Tĩnh hiện đang là vấn

đề gây tranh cãi, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Theo quan điểmcủa nhiều nhà ngôn ngữ học, dân tộc học thì ở Hà Tĩnh chỉ có một nhóm ngờithuộc dân tộc Chứt đang sinh sống đó là ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre Nhngtheo một số tài liệu nghiên cứu của địa phơng và trong các chủ trơng, chính sáchcủa Tỉnh Hà Tĩnh, ngời Chứt ở Hà Tĩnh vẫn đợc xác định là bao gồm tộc ngờiMã Liềng ở bản Rào Tre và tộc ngời Cọi- Khạ phoọng ở bản Giằng 2

Các cơ sở lập luận của hai quan điểm này nh sau:

2.2.1.1 Quan điểm cho rằng ngời Cọi- Khạ Phoong ở bản Giằng 2- xã Hơng Vĩnh là một bộ phận của ngời Mã Liềng vì những lí do chính sau đây:

- "Khạ Phoọng" là tên ngời Lào đặt cho ngời ở Giằng 2 với nghĩa xem họ làmột tộc ngời ngoài ngời Lào Còn tên gọi "Cọi" do ngời Việt ở Hơng Khê gọinhóm ngời này với nghĩa họ là dân tộc sống dọc biên giới Nh vậy, ngời ở ngaytrong một bản Giằng 2 cũng đã có tới hai tên gọi khác nhau, do đó cũng khôngthể căn cứ vào sự khác nhau giữa tên gọi mà cho rằng ngời ở bản Rào Tre và ng-

ời ở bản Giằng 2 là hai tộc ngời khác nhau

Trang 13

- Sau khi phát hiện đợc ngời Mã Liềng, chính quyền đã đa ngời Mã Liềng ởvùng cửa Ba- bản Quạt ( giáp Quảng Bình) lên sống gần với ngời Giằng Thờigian hai nhóm này sống chung có đến gần mời năm nhng rồi họ không "hợp" đ-

ợc với nhau mà phải trở lại nơi c trú mới nh hiện nay

Việc ngời Giằng và ngời Mã Liềng ít có quan hệ với nhau hay “khônghợp” nhau khôn phải là cơ sở để chứng minh họ không cùng thuộc một dân tộc

Sở dĩ ngời ở Giằng hay liên hệ với ngời Ma Ca ở bản Pụng bên Lào vì các bảnnày vừa là đồng tộc, vừa có trình độ văn hoá và văn minh tơng tự nhau Cònnhững ngời ở Giằng và những ngời ở Rào Tre thì không nh vậy Về cơ bản, cáctập tục nh để tang ngời chết bố trí trong một ngôi nhà, việc kiêng kị của ngờiphụ nữ khi đẻ…giữa hai nhóm ngời này là nh nhau Tuy nhiên, lối sống và nhậnthức của hai tộc ngời này có khác nhau So với ngời Mã Liềng, trong cuộc sốngngời ở Giằng hớng tới sự ổn định của việc định c hơn Sự chênh lệch này khiếnngời ở Giằng không muốn nhập ngời Rào Tre là "cùng cấp" với mình, còn ngờiRào Tre thì có ý thức coi mình cũng chẳng khác gì ngời ở Giằng Kiểu nhậnthức này vốn phổ biến trong một số tộc ngời ở miền núi cao trong quá khứ Vìthế, nếu ngời ở Giàng có tâm lý không muốn "ở cùng hàng" với ngời Rào Trecũng là một tâm lý bình thờng Điều đó không là cơ sở để coi ngời ở Giằng 2 và

Tiếng bản Rào Tre Tiềng bản Giằng 2 Dịch nghĩa

Sự tơng ứng đều đặn của những từ thuộc lớp từ cơ bản trên thể hiện sự

t-ơng ứng của một ngôn ngữ thống nhất Nói một cách khác, tiếng Rào Tre vàtiếng Giằng 2 mặc dù có sự khác nhau nhng những ví dụ trên cho thấy đây làmột ngôn ngữ thống nhất

Trang 14

Quan điểm của các nhà dân tộc học coi ngời ở bản Rào Tre và ngời ở bảnGiằng 2 là một nguồn gốc kết luận rằng nguời ở bản Giằng 2 cũng là một bộphận của ngời Mã Liềng, tuy rằng ngời ở bản Giằng 2 có trình độ nhận thức caohơn so với ngời ở bản Rào Tre.

2.2.1.2 Quan điểm xem ngời ở bản Rào Tre và ngời ở bản Giằng 2 là hai tộc ngời khác nhau cơ bản.

Theo quan điểm này, ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre là một trong 5 tộc

ng-ời thuộc dân tộc Chứt (cùng với các tộc Sách, Mày, Rục, Arem ), còn ngng-ời Khạ Phoọng ở bản Giằng 2 thuộc tộc ngời Macoong, dân tộc Bru (có nguồn gốc

Cọi-từ Lào)

Trên cơ sở nghiên cứu cả hai quan điểm, trên cơ sở tìm hiểu lịch sử, vănhoá và hiện trạng phát triển kinh tế- xã hội hai tộc ngời trong sự so sánh, đốichiếu, chúng tôi đi đến thống nhất với quan điểm thứ hai, xem ngời Mã Liềng ởbản Rào Tre là tộc ngời duy nhất ở Hà Tĩnh thuộc dân tộc Chứt

Để đi đến kết luận này, thì ngoài căn cứ vào những lập luận mà các nhàkhoa học theo quan điểm thứ hai đã trình bày, chúng tôi còn căn cứ vào một số

điểm sau đây:

- Trớc khi phát hiện ra ngời Mã Liềng ở vùng cửa Ba- bản Quạt (giáp ranhvới tỉnh Quảng Bình) vào năm 1960, cha có một tài liệu nào thừa nhận ngời ởbản Giằng 2 là ngời dân tộc Chứt

- Ngoài sự giống nhau về một số ngôn ngữ (có thể giải thích là do chịu

ảnh hởng lẫn nhau trong quá trình sống cận c), còn trên mọi phơng diện văn hoá,ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre và ngời ở bản Giằng 2 khác nhau rõ rệt Văn hoácủa ngời ở bản Rào Tre mang đậm nét của ngời Mã Liềng ỏ tỉnh Quảng Bình.Còn ngời ở bản Giằng 2 chịu ảnh hởng sâu sắc các nét văn hoá của ngời Lào

- Đến nay, ngời ở bản Giằng 2 vẫn không chịu nhận mình là ngời Chứt.Trong thời gian qua, số dân bản bỏ sang Lào rất đông, làm cho dân số ở bảnGiằng 2 giẳm mạnh cả về số hộ và số khẩu.( năm 1966 bản có số dân là 40 ngời.Năm 2004, tức là sau 38 năm dân số của bản Giằng 2 chỉ còn 30 ngời)

- Mặc dù các chơng trình hỗ trợ đồng bào dân tộc, các dự án phát triểnkinh tế- xã hội các dân tộc thiểu số của tỉnh vẫn xếp ngời ở Giằng 2 là ngời dântộc Chứt, nhng thực tế nguời ở đây nhận đợc sự hỗ trợ từ các chơng trình, dự ánrất ít Chủ yếu các nguồn đầu t tập trung cho ngời ở bản Rào Tre

2.1.2 Tiếng nói

Trang 15

Ngời Mã Liềng có tiếng nói riêng (tuy có nhiều từ giống với cách phát

âmcủa ngời Cọi- Khạ phoọng ở bản Giằng 2, nh đã nói ở trên) Trong cuộc sốnghàng ngày, ngời Mã Liềng thích sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ Khi giao tiếp với ngờiKinh và ngời Khùa, họ sử dụng tiếng Khùa Xét về nguồn gốc, tiếng Mã Liềngnói riêng, ngôn ngữ hệ dân tộc Chứt nói chung, có quan hệ xa với ngôn ngữMôn - Khơme nhng lại có quan hệ gần với ngôn ngữ Việt - Mờng Tuy có chungnguồn gốc và có mối quan hệ thân thuộc với tiếng Việt nhng giữa tiếng Việt vàtiếng Mã Liềng có nhiều điểm khác nhau về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Dosống tách biệt với ngời Kinh trong một thời gian dài nên ngời Mã Liềng ít biếttiếng Việt Không những thế, khi phát âm, ngời Mã Liềng còn phát âm khôngchuẩn một số âm nh "tr" phát âm thành "t", "s" phát âm thành "x"; một số từkhông phát âm đầy đủ đợc các âm tiết, nh "thuyền" phát âm thành "thuền"

2.1.3 Bản sắc văn hoá dân tộc

Vấn đề dân tộc không tách rời vấn đề văn hoá mang tính tộc ngời cụ thểtrong mối quan hệ với văn hoá của các dân tộc khác Văn hoá là một phạm trùrất rộng , nhng mỗi một nền văn hoá bao giờ cũng có một cốt cách riêng, mộtbản sắc riêng Cốt cách đó, bản sắc đó làm một mẫu số chung cho mọi biểu hiệnvăn hoá trong một tộc ngời nhất định Văn hoá là một kết quả của quá trình lịch

sử mu sinh của từng dân tộc, chịu sự tác động của các nhân tố môi trờng, hoạt

động sản xuất, hoàn cảnh xã hội và truyền thống lịch sử, giao lu và ảnh hởnggiữa các dân tộc Bản sắc văn hoá vừa biểu hiện ra bên ngoài (nh bản làng, nhàcửa, trang phục, nghệ thuật…), vừa tiềm ẩn ở trong tâm thức (tín ngỡng, suynghĩ, quan niệm, sở thích …)

ở Hà Tĩnh, thành phần dân tộc ít ngời không nhiều, chỉ có hai dân tộc,Thái và Mã Liềng, tập trung ở hai huyện Hơng Sơn (Thái) và Hơng Khê (MãLiềng).Ngời Thái có hai dòng họ Lò và Vì, tự nhận là dân tộc Mán Thanh, ở xãSơn Kim 2, đến năm 2005 có 54 hộ Hiện nay ở Hà Tĩnh, chỉ có ngời Mã Liềng

là dân tộc ít ngời còn giữ đợc những nét bản sắc văn hoá của dân tộc mình, ngờiThái ở xã Sơn Kim 2 đã “Việt hoá” nhiều

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, dới tác động khách quan và chủquan, bản sắc văn hoá dân tộc Mã Liềng cũng đang dần bị mai một

Bản sắc văn hoá của tộc ngời Mã Liềng thể hiện ở các khía cạnh sau:

2.1.3.1 Văn hoá vật chất

Trang 16

Nói đến đời sống vật chất (hay văn hoá vật chất) là nói đến cơ sở đầu tiên của sự sống con ngời, nói đến nền tảng căn bản của tổng thể văn hoá mà các tộc ngời sáng tạo nên trên con đờng sinh tồn, đấu tranh và phát triển Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, ngời Mã Liềng đã tạo nên những nét độc đáo phù hợp với môi trờng kinh tế, điều kiện tự nhiên nơi họ c trú Hiện nay, bên cạnh những nét chung do giao lu với ngời Kinh, ngời Mã Liềng còn giữ một số nét riêng dễ nhận

thấy trong các mặt: điều kiện c trú, trang phục, trang sức

a Làng bản và nhà cửa

- Làng bản:

Do tập quán sống du canh - du c, bản của ngời Mã Liềng trớc đây luôn ởtrong tình trạng không ổn định nên quy mô và tính lâu bền cũng không giống ởcác điểm tụ c khác Bản là một đơn vị xã hội độc lập, bao gồm khu ở, khu canhtác, khu săn bắn chăn nuôi và khu nghĩa địa Thông thờng khi nói tới làng bảncủa tộc ngời nào đó, những vấn đề cần quan tâm là: khu vực c trú, việc sắp xếpnhà cửa cũng nh các mối quan hệ trong bản

Hiện nay ngời Mã Liềng đã thực hiện định canh - định c Trong bản, nhà cửakhông sắp xếp theo một loại hình nhất định mà tuỳ thuộc vào địa hình, địa vậtnơi c trú Điểm chung là tất cả các nhà đều quay mặt về hớng sông suối Cáchthức sắp xếp làng bản đảm bảo các yêu cầu:

+ Bản đợc xây dựng gần nguồn nớc để tiện lợi cho sinh hoạt và sản xuất + Nơi dựng bản đảm bảo tiêu chuẩn quang đãng, cao ráo, tơng đối bằngphẳng…

+ Bản đợc xây dựng gần khu vực sản xuất, săn bắn Điều này phản ánh mốiquan hệ khăng khít giữa nơng rẫy (nơi sản xuất) và làng bản (nơi c trú) Khi lựachọn bản định canh - định c đồng bào lấy tâm là khu vực sản xuất để làng quayxung quanh Nh vậy khu vực sản xuất có tính quyết định, tính cố định và lànggần nơi sản xuất sẽ tiện lợi trong việc đi lại bảo vệ mùa màng

ảnh 1: Bản Rào Tre

Trên đây là những tiêu chuẩn đối với việc xây dựng bản của ngời MãLiềng Trong việc quy hoạch xây dựng bản định canh - định c, cần căn cứ vàonhững tiêu chuẩn đó để đảm bảo phù hợp với môi trờng tự nhiên địa bàn c trú vàtập quán của đồng bào

- Nhà cửa:

Trang 17

Nhà cửa thể hiện chức năng cơ bản là bảo vệ con ngời chống lại mọi ảnhhởng từ bên ngoài Những tác động về mặt xã hội làm cho nhà cửa mang nhiềunội dung khác nhau và thay đổi tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội, tâm lý củatừng tộc ngời, địa vực c trú Nhà cổ truyền của ngời Mã Liềng là những túp lềutạm bợ, lợp bằng lá cây rừng hay những ngôi nhà sàn nhỏ đợc làm bằng các thứ:

gỗ, tre, mây, tranh…sẵn có trong rừng Công cụ làm nhà là con dao, cái rìu…;

kỹ thuật làm nhà cũng rất đơn giản, chủ yếu là gá lắp lợi dụng các ngàm hở Cho

đến nay ở ngời Mã Liềng vẫn không thấy thợ mộc làm nhà chuyên nghiệp

Hiện nay, nhà của ngời Mã Liềng chủ yếu do sự giúp đỡ của Nhà nớcthông qua chơng trình định canh - định c và chơng trình hỗ trợ dân tộc đặc biệtkhó khăn Đến nay, chơng trình đã xây dựng cho ngời Mã Liềng 24 nhà ngói, b-

ớc đầu giúp đồng bào ổn định cuộc sống Tuy nhiên, sự thay đổi này trớc mắtkhông tiện lợi cho sinh hoạt và vệ sinh ở vùng núi, lại vừa làm mất đi vẻ đẹp vàsắc thái độc đáo của kiến trúc nhà sàn

Dù nhà sàn hay nhà trệt thì việc bố trí trong một ngôi nhà cũng có nhữngnét tơng đồng

Do bố trí phần buồng ở giữa nên dù nhà to hay nhà nhỏ, dù nhà sàn haynhà trệt, khi quan sát nhà của ngời Mã Liềng ta đều có cảm giác nhà đợc chialàm 3 khoảng không gian: nơi tiếp khách (sinh hoạt tập thể), nơi để ngủ và nơidành cho sinh hoạt của phụ nữ và trẻ em Buồng không có vách ngăn chia ra cácbuồng nhỏ nhng nơi để thờ, nơi ngủ của các thành viên trong gia đình đợc quy

định khá rõ ràng Ngăn thờ chỉ dùng khi ngời chủ nhà cúng ma mà thôi Ngănthứ hai là gian buồng dành cho chủ nhà khi ngủ và khi gia đình có con cái thìdành cho bố mẹ…Điều quy ớc "ngầm" này đợc các thành viên trong gia đìnhtôn trọng thực hiện khá nghiêm chỉnh Cột thờ hay còn gọi là cột ma nằm sauphía phải của gian thờ Ngời phụ nữ nói chung không kể vợ, con gái hay con dâu

đều không đợc đụng vào cột ma hay bớc vào gian khách Trong ngôi nhà củangời Mã Liềng, bếp là nơi linh thiêng nhất Bếp đem lại nguồn vui và sự ấmcúng cho mọi gia đình Bếp là nơi gia đình Mã Liềng quây quần trong bữa cơm,

là nơi ngời Mã Liềng kể cho con cái nghe câu chuyện cổ về nguồn gốc sinh racon ngời, là nơi ngời Mã Liềng hát cho cho nhau nghe làn điệu Kằtm- tàlềnh.Tín ngỡng coi trọng cái bếp xuất phát từ mong muốn có cuộc sống no đủ của

đồng bào

Nh vậy, dù trong hoàn cảnh nào sàn hay trệt, to hay nhỏ, ngôi nhà của

ng-ời Mã Liềng căn bản vẫn bảo lu những nét cổ truyền của nó Tuy nhiên hiện nay,

Trang 18

do chịu ảnh hởng từ cách ăn, ở của ngời Kinh, nên những quy tắc “ngầm” trongviệc bố trí nhà của ngời Mã Liềng không còn đợc coi trọng và thực hiện nh trớc.

b Trang phục và trang sức

Trang phục là một trong những yếu tố quan trọng của đời sống văn hoávật chất, nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, ý thức thẩm mỹ, tâm lýdân tộc của một c dân trong môi trờng tự nhiên nhất định

Trang phục của ngời Mã Liềng còn rất thô sơ Trớc đây, trong hoàn cảnhsống quá khắc nghiệt, ngời Mã Liềng để tóc dài, búi tóc sau gáy.Trang sứckhông có, còn trang phục hết sức nghèo nàn, đơn giản Đàn ông, đàn bà đều lấy

vỏ cây làm áo khố Cây thờng chọn để lấy vỏ làm áo, váy là cây sui, si, Trớckhi bóc vỏ, họ thờng dùng một hòn đá hoặc một đoạn gỗ gõ đều lên mặt thâncây, tạo nên sự tách biệt đều đặn giữa vỏ cây và thân cây, rồi dùng dao hoặc rựabóc vỏ thân cây đó Bóc xong từng tấm, họ dùng gậy hoặc đá đập nát lớp vỏcứng bên ngoài rồi dùng tay vò qua và đem ngâm nớc từ 3 đến 15 ngày Khi lớp

vỏ cứng ngâm nớc bị nhũn ra, họ đem vò nhiều lần làm cho lớp vỏ này rơi rụnghết Tấm vỏ cây chỉ còn lại một lớp vỏ sợi giống nh tấm vải thô Họ đem giặt vàdàn đều các sợi ra Sau đó đem phơi khô rồi dùng dây rừng buộc thành từngchiếc Kché Kché là một tấm vỏ cây lớn choàng qua ngực Cũng có loại Kché đ-

ợc khoét lỗ tròn trên tấm vỏ cây gấp đôi, hai nách hở, phải dùng dây thắt sát vàongời Ngoài áo, đồng bào còn lấy vỏ cây làm thành các ta ni nh cái váy mở, hoặclàm thành cái tong toi nh cái khố dày để mặc

Gần đây, việc thực hiện định canh - định c, trang phục của ngời Mã Liềngchịu ảnh hởng nhiều từ cách ăn mặc của ngời Kinh Đa số phụ nữ mặc loại váykín màu đen hoặc có hoa văn, có dây rút ở đầu váy (giống nh váy của ngời Kinhvùng Khu Bốn cũ trớc đây) Còn đàn ông, thanh niên, trẻ em đều mặc quần áogiống ngời Kinh Ngời Mã Liềng cha có trang phục riêng Phần lớn quần áo của

đồng bào là nhờ cấp phát Tình trạng mặc thiếu, mặc rách, mặc bẩn vẫn còn rấtphổ biến ở ngời Mã Liềng Muốn khắc phục sự nghèo nàn trong ăn mặc của

đồng bào cần phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp chính quyền vàcác cấp bộ Đảng ở địa phơng cũng nh ở Trung ơng

Về trang sức, phụ nữ Mã Liềng thờng đeo vòng vỏ ốc núi ở cổ (lon pảkán) nh chuỗi hạt cờm của ngời Kinh Họ nhặt những vỏ ốc núi, rồi dùng que

đục lỗ xuyên qua Sau đó xâu các vỏ ốc lại với nhau bằng một sợi dây mây

Đồng bào quan niệm ngời phụ nữ đeo vòng ốc vào sẽ gặp may mắn trong công

Trang 19

việc hái lợm Hiện nay, phụ nữ Mã Liềng chủ yếu đeo vòng nhựa có đợc nhờtrao đổi với ngời Kinh.

Đàn ông thờng đeo những vuốt hổ, răng nanh lợn rừng Khi săn đợc hổhoặc lợn rừng, đồng bào lấy vuốt hổ và răng nanh lợn phơi khô, khoan lỗ nhỏ ởphần trên, rồi xâu các vật đó lại bằng một sợi dây rừng, tạo thành cái vòng đeo ở

cổ Đồng bào quan niệm những vật đó là "bùa hộ mệnh", giúp họ tránh đợc thúdữ, gặp may mắn trong săn bắn

Tóm lại, trang phục của ngời Mã Liềng còn rất đơn giản, thô sơ, phản ánhmột đời sống vật chất hết sức nghèo nàn, lạc hậu của tộc ngời này Tuy nhiên,việc ngời Mã Liềng đã biết chú ý đến làm đẹp cũng nói lên phần nào những nét

đẹp trong đời sống tinh thần của đồng bào

Thờng trong một ngày đồng bào ăn hai bữa ăn chính: bữa sáng và bữachiều Bữa sáng vào lúc 8 đến 9 giờ, bữa chiều khoảng 16 đến 18 giờ Đây hoàntoàn không phải là một hình thức tiết kiệm mà do điều kiện sản xuất quy định.Thờng ngày đồng bào phải đi hái lợm, săn bắn hay làm rẫy nên chỉ nấu ăn vàobuổi sáng (trớc khi đi làm) và buổi chiều Bữa ăn chiều thờng chu đáo hơn

Trớc đây, đồng bào có thói quen nấu ăn trong ống bơng Sau này, dụng

cụ nấu ăn phổ biến là nồi bằng kim loại Tập quán ăn bốc bằng tay có từ lâu đời

và đợc giải thích với nghĩa kính trọng sản phẩm làm ra Hiện nay, đồng bào đãdùng bát, đũa Tuy thế hiện tợng ăn bốc cha hẳn đã mất đi

Vấn đề tiết kiệm, kế hoạch hoá trong ăn uống không đợc đồng bào lutâm Vào những ngày mùa, ngày hội hay các dịp có hàng cứu trợ, đồng bào ănuống hết sức phung phí, không quan tâm tới những ngày giáp hạt Vấn đề đặt rahiện nay là phải khắc phục tình trạng đó và lu tâm giải quyết đồ ăn, thức uốngcủa đồng bào

Trang 20

Ngời Mã Liềng cha chú ý đến thức uống một cách hợp vệ sinh và khoahọc Hàng ngày đồng bào có dùng chè và một số lá cây rừng để nấu uống, nhngviệc uống nớc lã không đun sôi là phổ biến Có thể nói uống rợu và hút thuốc đãtrở thành một "tệ nạn" ở ngời Mã Liềng Bất cứ ngời dân nào: già, trẻ, gái, trai

đều nghiện rợu và thuốc lá Rợu có nhiều loại: rợu gạo, rợu sắn do đồng bào tựcất đợc nhng chủ yếu là rợu do trao đổi với ngời Kinh Thuốc đồng bào hút là lácây thuốc hoặc lá cây rừng phơi khô quấn theo kiểu loa kèn, một đầu to, một

đầu nhỏ

Mặc dù đã có thời gian sống cận c với ngời Kinh nhng việc ăn, uống, hútcha thay đổi nhiều và có mặt còn sa sút Do nghiện rợu và thuốc lá nên ngời MãLiềng thờng đem hàng cứu trợ của Nhà nớc đổi lấy rợu và thuốc lá của ngờiKinh

d Dụng cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt

Có thể chia các dụng cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt của ngời Mã Liềngtheo 3 nhóm sau:

- Dụng cụ dùng trong săn bắn và hái lợm ( nỏ, giáo, gùi, giỏ…)

Ngời Mã Liềng sử dụng nỏ, giáo để săn bắn Con trai từ 13 - 14 tuổi đãbiết sử dụng nỏ, giáo thành thạo Nỏ đợc chế tạo rất công phu Thân và cánh nỏ

đợc làm bằng loại gỗ dẻo có độ đàn hồi rất tốt; dây nỏ đợc làm từ một loại dây

"sót" xé thành sợi nhỏ bện lại Mũi tên của nỏ đợc vót nhọn một đầu còn đầu kiachẻ đôi kẹp lá cứng hình thoi

Ngoài nỏ để săn thú, ở ngời Mã Liềng còn có giáo và mác Thân giáolàm bằng cây song già mũi đợc vót sắc nhọn Cây mác vừa có tác dụng nh mộtcon dao vừa dùng để phóng khi đuổi theo thú Mác có hai phần: cán và lỡi, cácphần có thể tháo lắp dễ dàng khi cần thiết

Trong công việc hái lợm đồng bào thờng dùng chiếc giỏ (oi), con dao nhỏ(apen) và chiếc gùi mang ở lng Giỏ và dao nhỏ dùng khi hái lợm rau, quả trongrừng hoặc mò cua, bắt cá ở suối Gùi dùng để làm phơng tiện vận chuyển mangsắn, lúa, khoai, thịt thú rừng…về nhà Giỏ và gùi đợc đan bằng những thanh trevót mỏng, hình thức đơn giản không có hoa văn, hoạ tiết gì ở bên ngoài

- Dụng cụ sản xuất:

Do không có nghề rèn nên hầu hết các dụng cụ sản xuất của ngời MãLiềng đều do tiếp nhận trao đổi từ bên ngoài( thông qua chơng trình cứu trợ của

Trang 21

Nhà nớc và trao đổi với ngời Kinh) Đó là những chiếc rìu, rựa, liềm, cuốc, lỡicày… phục vụ cho sản xuất nơng rẫy và ruộng nớc.

- Các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày trong gia đình:

Nhìn chung dụng cụ sinh hoạt hàng ngày của ngời Mã Liềng còn rấtnghèo nàn Đồng bào chỉ tự làm cho mình những dụng cụ thiết yếu nhất liênquan đến việc chuẩn bị bữa ăn hàng ngày nh cối, chày, rổ, rá Cối, chày là nhữngdụng cụ rất quan trọng để nghiền nát các loại ngũ cốc, các loại củ, cây có bột…Cối của ngời Mã Liềng là một khúc gỗ tròn có đờng kính khoảng 40 cm và độdài từ 60 - 70 cm ở phần ruột gỗ ngời ta dùng rìu khoét một lỗ tròn sâu khoảng

20 - 23 cm Chày là một khúc gỗ tròn dài chừng 1,6m, đờng kính từ 10 - 15 cm.Hai đầu chày để thẳng, phần giữa chày đẽo nhỏ vừa tay cầm

Tóm lại, những giá trị văn hoá vật chất của ngời Mã Liềng vốn đã khôngmất phong phú lại đang bị mai một dần Điều đó phản ánh một đời sống vật chấtthấp kém của tộc ngời này

ảnh 2: Cảnh ngời M Liềng gi gạo ã Liềng giã gạo ã Liềng giã gạo

2.1.3.2 Văn hoá tinh thần

a Tôn giáo tín ngỡng

Sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đời sống kinh tế lại thấp kém,ngời Mã Liềng luôn phải chống chọi với rất nhiều khó khăn nh mất mùa, đóikém, bệnh tật, chết chóc… nên tín ngỡng tôn giáo ngời Mã Liềng là một thứ tĩnngỡng đa thần, pha trộn yếu tố vật linh, mang những nét đặc trng của văn hoágốc nông ngiệp

- "Cõi sống, cõi chết" trong quan niệm cổ truyền của ngời Mã Liềng

Quan niệm về "Cõi sống- cõi chết" là sự phản ánh thế giới quan, nhânsinh quan của mọi ộc ngời Theo quan niệm của ngời Mã Liềng, hầu nh xungquanh họ, từ núi rừng, sông suối, trời đất đến nhà cửa … đâu đâu cũng có lực l-ợng " Cu muých" (thần ma) trú ngụ Các loại thần ma này làm nhiệm vụ caiquản núi rừng, đất đai mà con ngời đang ở Những thần ma này thờng đòi ăn nênlàm bất cứ việc gì đông bào cũng phải cúng bái, dâng lễ vật Ví dụ : trớc khi đisăn, chủ nhà phải đến cạnh cột nhà (côlóc)- nơi ma nhà ở để cầu khẩn ma nhà,thần rú phù hộ Khi săn đợc muông thú thì phải cúng cho thần thổ địa ngay tạichỗ một ít lông, đuôi, và một mẫu tai của con thú săn đựoc Về đến nhà, phảicúng đầu thú cho các loại "thần", "ma" Khi cới vợ, gả chồng cho con…đều phải

có lễ vật cầu khấn Theo đồng bào, có làm nh vậy, "ma", "thần" mới vừa lòngphù hộ cho công việc trôi chảy Có thể kể tên một vai loại ma, nh: Cù muých

Trang 22

Krấm (ma trời), Cu muých Cừnó (ma nhà), Cu muých ul (ma bếp), Cumuýchogấu (ma núi), Cu muých hoóng (ma suối) Trong các loại ma đó, Cu muýchKrấm đợc coi là quan trọng nhất, cai quản toàn bộ các loại ma khác Nhng ma

có ảnh hởng đến cuộc sống đồng bào nhiều nhất là ma nhà Ma nhà (ma ông, bà,

tổ tiên đã chết) ở ngay cột chính của nhà (cột Khâu muých cừ nó)

Về nhân sinh quan, ngời Mã Liềng quan niệm con ngời có nhiều vía, từvía đầu (vái kolôôc) đến vía chân (vái chin), vía tay (vái xi), đâu đâu trong cơthể con ngời cũng có vía Dù phân bổ chỗ nào, các vía cũng đều ra vào từ bàntay, nên đồng bào quan niệm rằng vía bàn tay là quan trọng nhất Khi vía của bộphận nào trên cơ thể đi ra khỏi thể xác (prự) thì bộ phận ấy bị đau, muốn mạnhkhoẻ thì phải cúng tế gọi vía về Khi chết các vía bay lang thang trong khôngtrung và biến thành hồn ma (cu muých), chỉ có vía tay quan trọng nhất là ở trongnhà còn vía chân thì theo xác ra mồ mả

Tín ngỡng thần linh của ngời Mã Liềng đã dẫn đến một số hoạt động tôngiáo tín ngỡng nh cúng tế, dâng lễ vật, ma thuật phức tạp, gây ảnh hởng xấu đếncông cuộc xây dựng đời sống mới của ngời Mã Liềng

- Một số phong tục tập quán.

+ Cới hỏi

Trai gái ngời Mã Liềng trớc khi thành vợ, thành chồng đợc tự do tìm hiểunhau Khi ngời con trai, con gái đồng ý lấy nhau, ngời con trai phải chuẩn bịmột lễ hỏi để mang đến nhà gái Lễ hỏi gồm trầu, cau, rợu và quần áo do ôngmối cùng với nhà trai mang đến nhà gái Nếu gia đình của ngời con gái đồng ý,

họ sẽ nhận lễ hỏi và chuẩn bị cho lễ cới tiếp theo Để tiến hành cới, nhà trai phảimang lễ cới đến nhà gái để xin cới Lễ cới gồm: một cái nồi đồng và một chảogang, một chục cái bát nhỏ và một đôi bát to, một con gà, một con lợn và 5000đ.Khi mang lễ cới đến nhà gái, chàng rể tơng lai không đợc phép ngồi với mọi ng-

ời lúc trao lễ cới mà phải ngồi ở một góc nhà quay mặt vào vách nhà với nghĩa

là mình đang vắng mặt Cho đến khi nào nhà gái nhận lễ cới thì ngời con traimới đợc quay mặt ra và đi lại bình thờng nh những ngời khác

Sau khi nhận lễ cới, nhà gái tổ chức lễ cới tại nhà mình bằng cách mời tấtcả dân bản đến ăn một bữa cơm Phí tổn về rợu và gạo trong bữa cơm này là donhà gái chịu Phần chịu của nhà trai cho bữa ăn ấy chính là lễ vật họ mang theo

Đối với ngời Mã Liềng, ngày cới bao giờ cũng là ngày chẵn trong tháng Nếunhà trai, nhà gái ở những bản gần nhau thì đám cới có thể tổ chức trong mộtngày Còn nếu hai bản ở xa nhau ( đối với những đám cới giữa ngời Mã Liềng

Trang 23

với ngời ngoại tộc) thì ngày đầu là ngày đi đặt lễ cới, ngày sau đa dâu về nhàtrai.

Khi cô dâu trở về nhà chồng, lối cửa mà cô bớc vào là cửa của gian bếp.Lúc cô dâu bớc vào nhà, mẹ chồng hoặc chị chồng đi từ trong nhà ra đón cô dâu

và trao cho cô dâu một món quà (thờng là vài ba ngàn đồng) Sau đó là lễ nhậndâu Lễ này đợc tổ chức ở gian bếp, bằng cách đôi vợ chồng và bố mẹ chồng vàobếp cùng cầm chung đôi đũa cả Chứng kiến lễ này là hai ngời bên nhà trai vàhai ngời bên nhà gái Khi họ cầm tay nhau ngời ta phải nói những câu nh thôngbáo với tổ tiên rằng từ nay ngời con gái đã là thành viên trong gia đình Cùng với

lễ nhận con dâu, gia đình nhà trai làm một lễ cúng ở cạnh bếp rồi mời bà controng bản về ăn một bữa cơm Bà con dân bản đến ăn cới thờng mang theo một ítgạo hoặc một con gà để tặng nhà trai, mừng cho đôi vợ chồng trẻ Năm ngày sau

lễ cới đôi vợ chồng trẻ trở lại nhà vợ để thăm gia dình vợ

Đối với ngời con trai, sau lễ hỏi, nếu cha đủ điều kiện để làm lễ cới thì cóthể xin ở rể Khi ở rể, chàng trai đến sinh hoạt cùng gia đình nhà vợ nh mộtthành viên chính thức (tuy có bị một vài điều kiêng kị) Chàng trai này vừa phảilao động cho nhà gái, vừa phải tiết kiệm của cải làm ra đợc để tổ chức lễ cới bắtbuộc Trong thời gian ở rể, đôi vợ chồng cha chính thức đó có thể sinh con đẻcái nh những cặp vợ chồng khác Thời gian ở rể tuỳ thuộc vào việc chuẩn bị lễ c-

ới của nhà trai đã đầy đủ hay cha

+ Sinh đẻ

Khi biết ngời vợ sắp đẻ, ngời chồng phải làm một cái lều con ngoài ngôinhà chính của mình để cho ngời vợ xuống ở trong những ngày sinh nở Ngời MãLiềng cho rằng nếu ngời phụ nữ khi sinh nở vẫn ở ngôi nhà chính thì gia đìnhmình sẽ gặp những điều không may

Lúc sinh con, ngời mẹ tự tay cắt rốn cho đứa trẻ và bế nó đặt lên chõng trerồi tắm cho nó bằng nớc ấm Nhau của đứa trẻ đợc ngời chồng chôn ngay tronglều đó Trong thời gian sinh đẻ, ngời vợ phải ở lại trong lều trong thời gian 10ngày Trớc khi trở lên căn nhà chính, ngời chồng phải cho vợ uống một thứthuốc cầm máu do ngời chồng lấy ở rừng Khi bế con lên nhà, ngời phụ nữ phảivào nhà qua gian cửa bếp Từ khi lên nhà chính ngời phụ nữ không phải kiêng kịgì nữa, và tuỳ theo từng gia đình, họ có thể phải đi làm ngay

+ Tang ma

Trang 24

Khi trong nhà có ngời chết, ngời ta lấy nứa hoặc vỏ cây bó ngời chết lạirồi để ngời chết nằm ngang ở gian giữa, quay đầu về cửa sổ gian khách Nếu ng-

ời mất đi là ngời có tuổi thì con gái, con dâu và con rể ngồi cúng ở phía chân.Còn con trai thì ngồi cúng ở hai bên ngời chết bắt đầu từ vai trở xuống Ngời MãLiềng đa ngời chết ra khỏi nhà qua cửa sổ ở gian nhà khách Vì thế cửa sổ này

đợc gọi là cửa sổ ma

Ngời Mã Liềng dùng mái tóc của ngời phụ nữ để đánh dấu (thông báo)gia đình họ có ngời mới mất, giống nh cách để tang của ngời Kinh Chẳng hạn,khi một gia đình nào đó có ngời chết, tất cả phụ nữ của gia đình ấy phải búi tócthành một búi ở phía tay phải hay trái mái đầu mà không đợc búi lại ở phía sau.Việc búi ở phía trái hay phải không quy định bắt buộc mà phụ thuộc vào thóiquen của ngời phụ nữ Họ búi nh vậy trong vòng năm ngày thì thôi không búitiếp nữa và từ đó mọi sinh hoạt trong gia đình ngời chết trở lại bình thờng

b Văn nghệ dân gian

Ngời Mã Liềng trong quá trình lao động sản xuất đã sáng tạo ra những giátrị văn hoá tinh thần, thông qua những hình thức văn nghệ dân gian khá đặc sắc,mang đậm sắc thái riêng của dân tộc mình

Về cơ bản, kho tàng văn nghệ dân gian của ngời Mã Liềng đợc thể hiệnqua truyện cổ, dân ca và nhạc cụ

- Truyện cổ

Truyện cổ là loại hình chiếm u thế trong kho tàng văn học dân gian củangời Mã Liềng Nó thể hiện quan niệm của con ngời về vũ trụ, về cuộc đấu tranhchống chọi với thiên nhiên, về khát vọng của con ngời vơn tới cuộc sống ấm no,hạnh phúc

Nói đến truyện cổ, trớc hết phải đề cập đến những câu chuyện về nguồngốc sinh ra các dân tộc (trong đó có ngời Mã Liềng) Đó là câu chuyện "Támgiỏ trứng sinh ra con ngời", đã giải thích các dân tộc đều sinh ra từ giỏ trứng.Ngời Mã Liềng sinh ra đầu, rồi đến ngời Khùa, ngời Lào,…và cuối cùng là ngờiKinh Rồi chuyện "Ngời Mã Liềng không có chữ" vì cha mẹ để lại cái chữ trên

da trâu bị chó ăn mất Còn chữ ngời Kinh đợc cha mẹ viết lại trên đá cho nênvẫn còn đến ngày nay…

Truyện cổ của ngời Mã Liềng cũng thờng lấy các đề tài về sự tích cáchiện tợng tôn giáo tín ngỡng nh sự tích thờ Vua bếp (truyện "Hai ông và một bàbếp"), sự tích về các công cụ săn bắn nh nỏ, lao , bẫy…

Trang 25

Truyện cổ của ngời ngời Mã Liềng cũng thờng lấy hạnh phúc con ngời,lấy tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng làm cốt lõi( nh truyện " Kơilụma" kể

về mối tình thuỷ chung son sắt của một đôi trai gái)

Tóm lại, kho tàng truyện cổ của ngời Mã Liềng tuy còn nghèo nàn, nhng

đã phần nào phản ánh đợc lịch sử tộc ngời, khát vọng của con ngời muốn vơnlên chinh phục tự nhiên để giành lấy cuộc sống bình yên, hạnh phúc Đồng thời

nó cũng thể hiện quan niệm của đồng bào những phạm trù mĩ học nh cái chân,cái thiện, cái đẹp, cái cao thợng, …Truyện cổ của ngời Mã Liềng vì thế có tácdụng giáo dục sâu sắc

Do cha có chữ viết nên việc lu giữ những câu chuyện cổ của ngời Mãliềng gặp rất nhiều khó khăn Những câu chuyện còn giữ lại đợc chủ yếu là bằnghình thức truyền khẩu,

- Làn điệu dân ca

Trong kho tàng văn học dân gian của ngời Mã Liềng, những làn điệu dân

ca nổi lên nh một loại hình đẵc sắc đợm chất trữ tình Với nội dung phong phú,dân ca đợc sử dụng trong nhiều khung cảnh Các làn điệu dân ca phản ánh tìnhyêu lao đông, yêu tự do và tình yêu đôi lứa tha thiết Dân ca gắn bó một cách tựnhiên với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Đó là làn điệu Kà tơm- Kà lềnh"(con trâu đi cày) Điệu này bắt đầu bằng điệp khúc " Kà tơm- kàlềnh" hai lần vàsau đó là nội dung bài hát Làn điệu này thờng dùng để hát đối nam nữ trong lao

đông sản xuất, trong vui chơi (cũng có thể hát một mình hoặc hát hai nam, hainữ) Điệu này có vần điệu rất thô sơ giống nh những là diệu cổ xa của các điệuhát ví, hát dặm Nghệ tĩnh Điệu dân ca này không chỉ tạo nên không khí vuinhộn, hăng say trong lao dộng sản xuất, mà thông qua đó các chàng trai cô gáicòn gửi gắm tâm tình cho nhau:

" Kà tơm- tà lềnh, Kà tơm- tà lềnh, bới chị mới, chiềng chiêng kdang, kói,Tihal ktoi, bới chị mới , Kà tơm- tà lềnh, Kà tơm-tà lềnh che phớng li nơ, phi cochô, che hel vấng tựoc…" (tạm phiên âm)

Tạm dịch: " Kà tơm- tà lềnh Kà tơm- tà lềnh o nàng ơi, mang Kdâng,mang kói đi hái trầu,O có đi không, O nàng ơi, Kà tơm- tà lềnh, Kà tơm- tà lềnh

em cũng muốn đi, mà trầu có chỗ, em sợ, em hái không đợc…"

- Nhạc cụ dân gian:

Sự phong phú về các loại nhạc cụ cũng phản ánh phần nào sự phong phútrong đời sống tinh thần của ngời Mã Liềng Tuy nhiên, do không có chính sách

Trang 26

bảo tồn hợp lí, nên đến nay, các loại hình nhạc cụ của đồng bào đã bị mai mộtnhiều Hiện chỉ còn thấy đợc bóng dáng của một số nhạc cụ sau:

+ Đàn ống (tờ rơbon): ở ngời Mã Liềng có đàn ống dành cho đàn ông và

đàn ống dành cho đàn bà Cả hai loại đàn ống này đều đợc làm bằng ống lồ ô,một đầu có mặt bịt kín và một đầu thông Hai đàn đều cấu tạo có dây nối từ mặt

đàn đến thùng đàn.Theo một số nhà nghiên cứu, đàn ống của ngời Mã Liềng gợilên hình ảnh nguyên thuỷ của đàn nhị

Đàn ống dành cho nam giới có cần kéo Đàn ống dành cho nữ lại có thanh

gỗ gắn ở đầu đàn để nâng dây đàn lên Khi chơi, nghệ nhân dùng ngón tay gảydây đàn

+ Sáo (pi) của ngời Mã Liềng đợc làm bằng ống nứa, hai đầu cắt rỗng.Trên thân sáo có 4 lỗ, một đầu sáo gắn lỡi gà dùng để thổi

Đàn ống và sáo đợc diễn xớng lúc cới xin, dịp tết và còn dùng cho các cặptrai gái thổi để trao duyên, tâm tình Điều đặc biệt là nội dung các bản nhạc của

đàn và sáo đều đợc phổ theo âm điệu của Kà tơm- tà lềnh

+ Tù và (cà vá) là một ống nứa nhỏ, đờng kính khoảng 12cm, chiều dàikhoảng 40 cm, hai đầu để rỗng Tù và thờng đợc sử dụng nh tín hiệu để gọi nhautrong rừng

Tóm lại, nhạc cụ của ngời Mã liềng tuy đơn giản về mặt kết cấu nhng khá

đa dạng về mặt loại hình Để phát huy vốn quý về âm nhạc, góp phần làm phongphú thêm đời sống tinh thần của đồng bào, Đảng và Nhà nớc cần có sự đầu tthích đáng, cần đa giáo dục âm nhạc dân tộc vào chơng trình học tập của họcsinh

2.2 Vấn đề dân c

2.2.1 Quá trình phát triển dân số

Ngời Mã Liềng có tập quán c trú ven các khe suối trong rừng sâu Trớcnăm 1960, ngời Mã Liềng sống ở vùng Cửa Ba- bản Quạt giáp với tỉnh QuảngBình, sát ngay biên giới Việt- Lào Họ sống theo các gia đình nhỏ trong các lántạm đợc che phủ bằng lá rừng hoặc sống trong các hang đá, hốc cây Đời sốngkinh tế, văn hoá rất thấp kém, lạc hậu Tháng 9 năm 1960, bộ đội biên phòngcùng chính quyền địa phơng đã đa bà con về định c tại bản Giằng 2 xã HơngVĩnh- huyện Hơng Khê, sống chung với dân tộc Cọi- Khạ Phoọng ở đây Tộcngời Mã Liềng khi mới về định c ở bản Giằng 2 vào năm 1966 có 7 hộ, 30 ngời,nhập với tộc ngời Cọi- Khạ Phoọng ( có 10 hộ, 40 ngời ), đa tổng số ngời ở bản

Trang 27

Giằng 2 lên đến 70 ngời với 17 hộ Nhng sau đó, do “không hợp” nhau nên đếncuối năm 1970, ngời Mã Liềng đã chuyển về sống ở khe Đằng Đằng thuộc xãHơng Liên- huyện Hơng Sơn Sau khi đất nớc thống nhất, họ về định c tại bảnRào Tre- xã Hơng Liên - huyện Hơng Khê và sống ở đó cho đến bây giờ

Bảng 2: Dân số M Liềng trong thời kì 1996- 2004ã Liềng giã gạo

1 1996 30 Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hiến- cán bộ

khuyến nông khuyến lâm thời đó

Biểu đồ 1: Biểu đồ dân số M Liềng thời kỳ 1966-2004ã Liềng giã gạo

Nhờ kết quả của chơng trình định canh định c, trong giai đoạn 1996- 2000,

số ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre đã tăng lên, tuy mức gia tăng còn thấp Giai đoạn2001- 2004, dân số Mã Liềng có hiện tợng giảm cả về số hộ và số khẩu

Sở dĩ dân số Mã Liềng tăng chậm là do tỷ lệ gia tăng tự nhiên thấp Đờisống kinh tế- xã hội phát triển thấp kém đã dẫn đến đồng bào có tỷ lệ hữu sinhvô dỡng cao Theo số liệu điều tra của bệnh viện huyện Hơng Khê năm 2003, tỉ

Trang 28

Sự chuyển c nh trên đã góp phần làm cho dân số ở bản Rào Tre khá ổn

định trong một thời gian dài

Giai đoạn 2001- 2004, dân số Mã Liềng giảm vì trong giai đoạn này, bảnRào Tre có số ngời chết vì tuổi già và số ngời di c lớn

Hộ gia đình của ngời Mã Liềng có quy mô nhỏ, trung bình 4-5 khẩu/ hộ

Hộ đông nhất là 6 khẩu/hộ Hộ nhỏ nhất là 2 khẩu/hộ

2.2.2 Kết cấu dân số theo độ tuổi

Kết cấu dân số theo độ tuổi của ngời Mã Liềng ở huyện Hơng Khê năm 2004

để giảm bớt gánh nặng phụ thuộc

2.2.3 Nguồn lao động

Do kết cấu dân số trẻ nên nguồn lao động ở bản Rào Tre tơng đối dồi dào.Trong đó: lực lợng lao động chiếm 46,67%, lực lợng dự trữ lao độngchiếm 49,52% Nguồn lao động trẻ, bớc đầu đã tiếp thu đợc những kỹ thuật cơbản trong sản xuất nông nghiệp chính là nguồn lực to lớn để đa đồng bào MãLiềng thoát khỏi cái đói, cái nghèo

Tuy nhiên, nhìn chung chất lợng lao động của ngời Mã Liềng còn thấp, cả

về thể lực, ý thức và kĩ năng lao động Mặc dù đã biết trồng lúa nớc, làm nơngrẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhng đa phần ngời Mã Liềng làm theo kiểu "đ-

ợc chăng hay chớ" Phần lớn thời gian đồng bào vào rừng săn bắn động vật, khaithác lâm thổ sản để đem trao đổi…Nhìn chung, ngời Mã Liềng còn mang nặngtâm lý ỷ lại, trông chờ vào các chơng trình cứu trợ của Nhà nớc

2.3 Một số vấn đề x hộiã Liềng giã gạo

2.3.1 Chất lợng cuộc sống

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban miền núi di dân tỉnh Hà Tĩnh. Báo cáo “ Một số vấn đề chủ yếu về dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh”, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban miền núi di dân tỉnh Hà Tĩnh. Báo cáo “ "Một số vấn đề chủ yếu về dântộc thiểu số ở Hà Tĩnh
2. Ban miền núi di dân tỉnh Hà Tĩnh. Báo cáo “ Một số vấn đề chủ yếu về dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh”, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban miền núi di dân tỉnh Hà Tĩnh. Báo cáo “ "Một số vấn đề chủ yếu về dântộc thiểu số ở Hà Tĩnh
3. Ban miền núi di dân tỉnh Hà Tĩnh. Dự án “ Phát triển kinh tế- xã hội ngời MãLiềng ở hyện Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh”. Năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban miền núi di dân tỉnh Hà Tĩnh. Dự án “ "Phát triển kinh tế- xã hội ngời Mã"Liềng ở hyện Hơng Khê- tỉnh Hà Tĩnh
4. Ban Tôn giáo- Miền núi Hà Tĩnh. Báo cáo tình hình thực hiện công tác dân téc, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo- Miền núi Hà Tĩnh. " Báo cáo tình hình thực hiện công tác dân téc
5. Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Hà Tĩnh. Báo cáo sơ kết xây dựng bản Rào Tre- xã Hơng Liên, mục tiêu nhiệm vụ năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Hà Tĩnh
6. Bế Viết Đẳng (chủ biên). Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế- xãhội ở miền núi . NXB Chính trị quốc gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bế Viết Đẳng (chủ biên). "Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế- xã"hội ở miền núi
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
7. Chủ tịch xã Hơng Liên. Báo cáo về thực trạng kinh tế - xã hội của đồng bào Mã Liềng ở bản Rào Tre, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch xã Hơng Liên. "Báo cáo về thực trạng kinh tế - xã hội của đồng bàoMã Liềng ở bản Rào Tre
9. Lam Hạnh. Ngời Chứt muốn trở thành những nông dân giỏi. Báo Pháp luật số 198/1728 ra ngày 19/8/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lam Hạnh." Ngời Chứt muốn trở thành những nông dân giỏi". Báo "Pháp luật
10. Minh Hằng, Ngô Anh. Phóng sự truyền hình “ Xuân về trên bản Rào Tre”,“Chuyện ngời bộ đội cắm bản”, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự truyền hình “ Xuân về trên bản Rào Tre”,“Chuyện ngời bộ đội cắm bản”
Tác giả: Minh Hằng, Ngô Anh
Năm: 2003
12. Nguyễn Văn Mạnh. Ngời Chứt ở Việt Nam. NXB Thuận Hoá, Huế, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Mạnh." Ngời Chứt ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
13. Phòng NN- PTNT huyện Hơng Khê. Báo cáo công tác phát triển nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số huyện Hơng Khê, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng NN- PTNT huyện Hơng Khê. "Báo cáo công tác phát triển nôngnghiệp ở vùng dân tộc thiểu số huyện Hơng Khê
14. Thái Văn Sinh. Tục cới hỏi của ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre. Tạp chí Hà Tĩnh, số 31, tháng 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Văn Sinh. "Tục cới hỏi của ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre
15. Thái Văn Sinh. Ngời Chứt dới chân núi Giăng Màn. Tạp chí Hà Tĩnh, số Xuân canh Thìn, tháng 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Văn Sinh. "Ngời Chứt dới chân núi Giăng Màn
16. Nguyền Trí Sơn. Đề tài “ Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của tộc ngời Mã Liềng ở tỉnh Hà Tĩnh”, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyền Trí Sơn. Đề tài “ "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của tộc ngờiMã Liềng ở tỉnh Hà Tĩnh
17. Nguyễn Xuân Thai. Bớc đầu nghiên cứu thực trạng kinh tế, văn hoá, xã hội các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Hà Tĩnh và đề xuất giải pháp phát triển. Hà Tĩnh, tháng 5/ 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Thai. "Bớc đầu nghiên cứu thực trạng kinh tế, văn hoá, xã hộicác dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Hà Tĩnh và đề xuất giải pháp pháttriển
18. Tiến Thành, Thành Trọng. Một ngày ở bản Rào Tre. Báo Hà Tĩnh cuối tuần số 4070 ngày 25/8/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến Thành, Thành Trọng." Một ngày ở bản Rào Tre". Báo "Hà Tĩnh cuối tuần
19. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Thêm. "Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam
Nhà XB: NXB Tp. Hồ ChíMinh
20. Xuân Thiều. Xuân về trên bản Rào Tre. Báo Hà Tĩnh cuối tuần số 4537, ngày 9/2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Thiều". Xuân về trên bản Rào Tre. B"áo "Hà Tĩnh cuối tuần
21. Võ Văn Tuyển. Ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre. Tạp chí văn hoá Hà Tĩnh số 14 n¨m 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Văn Tuyển. "Ngời Mã Liềng ở bản Rào Tre. Tạp chí văn hoá Hà Tĩnh
22. UBND Tỉnh. Đề án phát triển KT- XH dân tộc ít ngời ở Hà Tĩnh, 2005 23. Viện dân tộc học. Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học-Xã hội, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam
Tác giả: Viện dân tộc học
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học-Xã hội
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6 :    Số học sinh ngời M  Liềng thời kỳ 2004-2005 ã Liềng giã gạo - Nghiên cứu điều kiện địa lí địa bàn cư trú và đề xuất giải pháp tổng thể phát triển kinh tế   xã hội của người mã liềng ở hà tĩnh
Bảng 6 Số học sinh ngời M Liềng thời kỳ 2004-2005 ã Liềng giã gạo (Trang 30)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w